Friday, June 20, 2014

Học nhiều có lợi cho việc tu tập hay không?

Hỏi: Học nhiều có lợi cho việc tu tập hay không?

(Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT. Tuệ Siêu: Trong việc tu tập có người cho rằng học nhiều sẽ làm trở ngại cho việc thực hành. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng không học hoặc ít học thì không biết đường đâu mà thực hành. 

Ở đây, theo thiển ý của chúng tôi việc học nhiều vẫn luôn có lợi cho việc tu tập chỉ có điều  chúng ta biết ứng dụng, biết gạn lọc trong việc thực hành hay không, đó mới là điều quan trọng. 

Trong mười điều kiết sử - saññojana, tức là mười điều chướng ngại hay mười quán niệm cho vị hành giả tu tập quán niệm về pháp học. Điều này cũng không phải là sai vì khi chúng ta học nhiều quá, biết nhiều quá nhưng cái biết của chúng ta là cái biết doanh thu. Khi chúng ta doanh thu quá nhiều tri kiến, nhiều sự kiện, mặc dù đó cũng là kinh điển nhưng làm cho chúng ta phân tâm. Không dễ dàng an trú trong đề mục tu tập. Việc học như vậy chúng ta không biết cách thì trở nên chướng ngại, trở thành sự kiện chướng ngại cho việc tu học của chúng ta, cho việc hành của chúng ta. 

Nhưng ở đây, chúng tôi có quan niệm học nhiều trong tu tập vẫn là một điều tốt bởi vì khi chúng ta học hiểu nhiều điều trong giáo pháp thì chính điều đó có thể khởi sanh lên một trí tuệ hiểu pháp và chúng ta biết được những phương thức thực hành các pháp. Như vậy, đến khi vị thầy hướng dẫn cho chúng ta thực hành thì vị thầy đó đỡ phải tốn công nhiều giải thích cho chúng ta những điều này hay điều nọ có liên quan đến đề tài tu tập. 

Thứ hai, đối với một vị hiểu pháp nhiều thì niềm tin của vị đó đối với Đức Phật, đối với giáo pháp, đối với tăng chúng vẫn thù thắng. Nhưng ở đây, chúng tôi nói việc học nhiều phải biết gạn lọc khi thực hành, khi chúng ta tu tập thì điều đó còn tùy vào sự khéo tác ý của chúng ta nữa, tức là sự nhạy bén, trí tuệ của chúng ta nữa. Nghĩa là khi chúng ta học hiểu nhiều đến khi  thực hành nếu chúng ta lựa chọn các đề mục, các đề tài tu tập cho thích hợp với trình độ và căn tánh của mình rồi lúc đó hãy để qua một bên những tri kiến thu góp để đừng bị chi phối và chúng ta cứ thẳng hướng đi tới, trong trường hợp đó vẫn tốt đẹp. 

Cũng giống như người thợ khi làm nghề. Thí dụ như người thợ mộc. Dụng cụ làm thợ của người này phải có đủ. Cưa phải có đủ các loại cưa. Đục phải có đủ các loại đục. Bào phải có đủ các loại bào v.v. Để chi vậy? Để gặp trường hợp phải dùng cưa nhỏ thì lấy cưa nhỏ, phải dùng cưa lớn thì lấy cưa lớn. Có trường hợp phải dùng cưa tay thì cưa tay. Có trường hợp phải dùng cưa máy thì ta cưa máy. Có những trường hợp đục bản lớn thì chúng ta dùng đục bản lớn, đục nhỏ thì chúng ta dùng đục nhỏ, khỏi bị chi phối. Chúng ta khỏi phải sử dụng tạm cái này trong trường hợp này vì rằng không có. Như vậy thì sản xuất sản phẩm ra nó không được sắc sảo như khi chúng ta có sẵn, có đủ dụng cụ. Như chúng ta có đủ đồ nghề thì chúng ta làm việc gì cũng khéo léo cả. 

Trong việc chúng ta học nhiều vẫn có lợi cho chúng ta. Chỉ trừ người học nhiều mà mục đích chỉ là để doanh thu kiến thức với dụng ý để tranh luận với người khác, để biện bác với người khác. Khi họ học nhiều quá như vậy, đa ngôn thì loạn ngữ, đa chữ thì loạn thần kinh. Người ta thường nói đùa như thế . Khi chúng ta không khéo tác ý, có khuynh hướng không được tốt đẹp thì lúc bấy giờ nó mới không có ích cho việc chúng ta thực hành. Người đi đến Đức Phật chưa học gì cả nhưng vì Đức Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Nhứt Thiết Chủng Trí, là bậc thấu hiểu rõ về trình độ, cơ tánh của chúng sanh cho nên ngài chỉ khai thị cho pháp môn nào tương ứng với trình độ của người đó và thích hợp với căn duyên, tuệ căn của người đó trong quá khứ thì người đó liền áp dụng pháp đó thực hành thì họ sẽ thành tựu được mục đích cứu cánh. Cũng có những trường hợp vị tỳ kheo xuất gia trong giáo pháp vì không học nhiều Phật ngôn, không biết về pháp cho nên gặp sự chướng ngại. 

Bởi vậy, Đức Phật ngài luôn luôn nhắc nhở trong những pháp dạy cho các vị tỳ kheo, trong đó có một chi phần đa văn. Một vị tỳ kheo đa văn lúc nào cũng được tán thán. Đa văn tức là nghe nhiều học rộng. Bởi vì một vị tỳ kheo đa văn như vậy có thể làm nương tựa cho các vị đồng phạm hạnh mà những bạn đồng phạm hạnh cần tìm hiểu cái gì đó thì vị đó sẵn sàng để giải thích. Một vị đa văn có thể làm rường cột của chánh pháp, chẳng hạn như tôn giả Ananda. Nếu ngài không có nghe nhiều học rộng, không có nhớ nhiều thì có lẽ trở ngại cho Phật pháp. Trong kết tập tam tạng lần thứ nhứt không có ngài thì không có vị nào có thể trùng ghi lại toàn bộ giáo lý. Chính ngài Ananda và tôn giả Ưu Ba Ly là hai vị đã tường thuật tất cả kinh và luật Đức Phật đã thuyết v.v. Ở đây chúng ta thấy trường hợp học nhiều quả vẫn có lợi ích. 

Chúng tôi xin góp ý rằng nếu chúng ta học nhiều, biết nhiều nhưng luôn luôn lúc nào chúng ta cũng nhắm đến một mục đích và tùy theo trường hợp chúng ta sử dụng, chớ không phải lúc nào chúng ta cũng đem cái học, cái hiểu của mình mà chúng ta gom góp rồi chúng ta chỉ lo việc tranh luận với người khác thì như vậy chẳng có ích lợi cho chúng ta mà quái niệm cho việc tu tập. Điều này chúng tôi xin được góp ý ở đây là như vậy. Xin dứt lời. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thursday, June 19, 2014

Thế nào là ý nghĩa của ngã mạn trong Phật pháp?”

Hỏi: Thế nào là ý nghĩa của ngã mạn trong Phật pháp?” 

(câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT. Tuệ Siêu:  Nếu chúng ta nói ngã mạn là sự kiêu căng, phách lối, một sự cống cao, kiêu ngạo. Và nếu chúng ta vội cho rằng nó xuất phát từ nơi sự luyến chấp bản ngã, tức là nâng cao mình thì khi chúng ta nghĩ như vậy thoáng qua ai cũng có thể, hầu hết là họ có thể chấp nhận. 

Nhưng điểm này chúng tôi cũng nói thêm trong mười kiết sử hay mười sợi dây trói buộc, muời thằng thúc thì trong đó bậc thánh Tu Đà Hườn, Tu Đà Hàm, A Na Hàm, ba bậc Thánh Hữu Lậu đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, tức là thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham ái và sân hận. Nhưng sắc ái, vô sắc ái, ngã mạn, phóng dật và vô minh, thì năm pháp đó thuộc thượng phần kiết sử. Năm phiền não này thuộc về thượng phần kiết sử thì chỉ đến mức độ A La Hán thì mới đoạn tận hoàn toàn, cắt đứt hoàn toàn năm thượng phần kiết sử này. 

Nếu chúng ta định nghĩa ngã mạn mà chúng ta không khéo, chúng ta cho rằng sự ngã mạn xuất phát từ nơi yêu chấp bản ngã thì như vậy đối với ngã chấp thủ cũng là một loại tà kiến, hễ bất cứ một hình thức nào có liên hệ đến ý nghĩa tà kiến thì ở đấy đối với vị thánh sơ quả Tu Đà Hườn với kiến sơ đạo đã diệt trừ, đã cắt đứt hoàn toàn không có tà kiến nữa. 

Vậy khi chúng ta định nghiã ngã mạn phải định nghĩa như thế nào để trong ý nghĩa đó chúng ta có thể hiểu được rằng bậc thánh hữu học mặc dầu các ngài diệt trừ năm hạ phần kiết sử nhưng ngã mạn trong thượng phần kiết sử vị ấy vẫn còn. Chỉ có A La Hán mới chấm dứt ngã mạn. Danh từ đó xuất phát từ ngữ căn Pali  "MI" là sự đo lường, so sánh như là động từ "MIṆĀTI" , cân đo đong đếm. Chúng ta lấy ý nghĩa như vậy. Sự ngã mạn nếu chúng ta định nghĩa chung chung là so sánh. Hễ còn có sự so sánh, so sánh giữa cái này với cái khác. So sánh và có sự tự hào như vậy, có ỷ lại thì gọi là mạn chứ không nhất thiết phải là sự cống cao, phách lối mới gọi là ngã mạn hay là yêu bản thân rồi đề cao chính mình mới là ngã mạn. Không phải trong ý nghĩa chung chung đó. Mà ý nghĩa này rất là rộng. 

Theo trong A Tỳ Đàm thì bộ Dhammasangani đã phân tích từ này, bộ Pháp Tụ đề cập đến từ ngã mạn được phân ra chín cách ngã mạn. Trong chín cách ngã mạn đó được xét thành ba trường hợp. Một là ỷ hơn. Hai là ỷ bằng. Ba là ỷ thua. Với ba trường hợp này, mỗi trường hợp ngã mạn theo ba cách. Mình ỷ hơn người khác cũng là một sự ngã mạn. Hơn ỷ bằng, hơn ỷ thua, bằng ỷ bằng, bằng ỷ thua, thua ỷ hơn, thua ỷ bằng, thua ỷ thua đều là ngã mạn. Khi chúng ta có mặc cảm mình thua người ta. Nên khi mình nhận rằng thua thì trong trường hợp đó theo Phật giáo thì đây cũng là một hình thái của sự ngã mạn. 

Nói đến phiền não ngã mạn chúng ta cần phải hiểu rằng tận cùng căn nguyên của từ này là một thứ phiền não hết sức vi tế. Chúng ta chỉ có thể nhìn thấy được sắc thái của pháp ngã mạn theo hình thức thô thiển thôi. Chúng ta thấy người khác có sự kênh kiệu, cống cao thì chúng ta cho rằng đó là ngã mạn. Nhưng, có nhiều trường hợp người khác khen ngợi mình, quả thật mình hơn người ta nhưng mình tỏ ra mình không bằng ai cả, mình còn thua nhiều người lắm. Khi chúng ta biểu lộ trạng thái đó thì đây cũng là một sự ngã mạn mà chính mình mới có thể biết được, mới có thể đánh giá được tâm tư mình có kiêu mạn hay không kiêu mạn. 

Cho nên trong trường hợp này từ "ngã mạn" trong Phật giáo chỉ chung cho tất cả những trường hợp, những trạng thái khi chúng ta có sự so sánh, chúng ta mãn nguyện với sự thành tựu liên hệ tới tâm trạng bất thiện pháp, khi chúng ta, dầu rằng chúng ta có sự tự hào, người ta nói tự hào chứ không nên tự mãn. Nói như vậy là nói theo thói thường. Người ta nói tự hào vẫn là tốt. Nó là nguyên nhân để có thể tiến hóa, để có thể tiến lên thêm nữa. Nhưng ở đây, dầu đối như vậy nhưng sự tự hào vẫn là một hình thái của tính cách ngã mạn. 

Bởi thế cho nên, đề tài này đem ra thảo luận thì chúng ta thấy rằng quả là rất tế nhị. Và có thể nói đây là phiền não chúng ta khó có thể giải thích được cho hết và chúng ta khó có thể dẹp bỏ được. Khi chúng ta hơn người khác, chúng ta tự hào rằng mình có thể hơn người khác. Đó là cách ngã mạn. Khi mình hơn người khác nhưng mình giữ thái độ để cho người khác biết rằng chúng ta có sự khiêm tốn. Chúng ta chỉ giữ phần mình sao cho bằng người khác thôi, không muốn hơn. Mặc dù nói như vậy nhưng trong tận cùng tâm tư của chúng ta vẫn có sự tự hào. 

Rồi khi hơn người khác chúng ta tỏ vẻ khiêm tốn nhúng nhường nhưng thực tế trong tâm vẫn có sự tự hào. Trong trường hợp đó cũng là sự ngã mạn gọi là hơn ỷ hơn, hơn ỷ thua. 

Cũng vậy, khi ta bằng người khác chúng ta nghĩ rằng chúng ta hơn người khác thì đó là một sự ngã mạn phải rồi. Khi chúng ta bằng người khác thực tế là chúng ta có cái gì tốt đẹp hay có cái gì thành tựu bằng người khác thì chúng ta giữ thái độ đó khi chúng ta so sánh với người khác. Chúng ta nghĩ rằng người kia cũng không hơn gì tôi. Khi mà chúng ta có thái độ như vậy thì gọi là ngã bằng. 

Còn bằng ỷ thua, mình bằng người khác, người khác cất nhắc mình mặc dù chúng ta biết tài năng hay sự thành đạt của chúng ta có thể bằng họ nhưng vì chúng ta muốn để cho mọi người đánh giá và có sự tôn trọng mình hơn nữa cho nên lúc đó chúng ta lại hạ mình xuống thấp thì trong trường hợp đó cũng là sự ngã mạn. 

Còn trường hợp thua ỷ hơn, thua ỷ bằng, thua ỷ thua thì cũng tương tự như vậy. Khi chúng ta có một thái độ tự ty với bản thân mình, chúng ta chịu khuất phục người khác. Chúng ta nghĩ rằng mình thua người khác, dầu trong trường hợp đó là một sự thiệt thòi nhưng chúng ta vẫn chấp nhận và vẫn ngoan cố như thế. Đây cũng là sự ngã mạn. Chúng ta không chịu có một thái độ cởi mở hơn để chúng ta có sự tiến bộ thì trong trường hợp này tất cả gọi là đặc tính của pháp ngã mạn. 

Nói tóm lại, ngã mạn là một pháp phiền não  làm cho tư tưởng con người trở nên cục bộ và tiêu cực. Do vậy  khi đề cập đến pháp này, Đứa Phật Ngài đã dạy trong tám pháp chướng ngại trong đó khi một vị tu tập hễ có tâm ngã mạn sanh khởi thì khi đó có trở ngại như khúc gỗ trôi theo dòng sông không thể trôi ra biển cả do bị mắc cạn. 

Và ở dây, trường hợp ngã mạn còn được so sánh, phân lọai nhiều hình thức khác mà ở đây phạm vi thời lượng này chúng tôi không thể trình bày hết. Chúng tôi chỉ nói vắn tắt như thế này. Khi chúng ta có sự cống cao hách dịch thì ở đây được gọi là "ABHIMĀNA" tức là "QUÁ MẠN". Còn khi chúng ta có sự nâng cao bản ngã, chấp thủ bản ngã thì trong trường hợp đó thì gọi là "MĀNA". Đúng ra từ Attã Màna dịch từ ngã mạn là đúng vì chữ "Attã" đồng nghĩa với chữ "TÔI", chữ "TA". Thì ở đây rơi vào pháp tà kiến. Còn nếu sự ngã mạn thông thường thì chỉ gọi Màna hay gọi là adhimāna gọi là tăng thượng mạn. Trong trường hợp đó cũng là khuyết điểm, một lỗi lầm nhưng hình thái ngã mạn đó cũng không đến nỗi nào nguy hiểm như Attã Màna , tức là sự kiêu mạn như là chấp thủ bản ngã. Đối với một vị tu tập vì sự nhận thức, sự ngộ nhận, hiểu lầm, mình chưa đắc được pháp thượng nhân nhưng trong một vài trường hợp như 500 vị tỳ kheo đắc thiền mà nghĩ rằng mình thành tựu samôn hạnh, đã làm tròn pháp samôn thì vị đó được gọi là adhimāna, tăng thượng mạn. Chỉ vậy thôi.

 Và một điều nữa chúng ta cũng cần phải lưu ý, là khi một vị tỳ kheo chưa chứng đắc mà vị này đi khoe khoang với người khác là mình đã chứng đắc thượng nhân, thiền định hay đạo quả để người khác có sự cung kính, tôn trọng, cung kỉnh cúng dường thì trường hợp này phạm vào điều giới. Nhưng ngọai trừ trường hợp adhimāna, tăng thượng mạn thì không phạm vào trọng giới đó. adhimāna là vị đó do sự ngộ nhận, có sự hiểu lầm chính bản thân mình do chưa đạt được pháp mà mình tưởng lầm là đã đạt được pháp thì trong trường hợp đó vị đó sẽ không có tội  v.v. Những trường hợp đó chúng tôi xin trình bày một cách tóm tắt ./.

Wednesday, June 18, 2014

Vẽ lên bức tranh áo não của tuổi già có làm xã hội ruồng bỏ người già chăng?

Hỏi:  Vẽ lên bức tranh áo não của tuổi già có làm xã hội ruồng bỏ người già chăng? 

(câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp - chương trình giảng giải kinh Pháp Cú - Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Có thể có một số người sẽ nói rằng Đạo Phật khi trình bày tuổi già một cách ảm đạm như vậy làm cho người ta sợ hãi tuổi già. Quả thật, trong các xã hội Tây phương, là xã hội người ta có nhiều mặc cảm với tuổi già. Ở Tây phương hỏi tuổi, nhất là khi hỏi tuổi người nữ là một xúc phạm rất lớn. Các xã hội Tây phương người ta yêu sự trẻ trung. Cái gì trẻ trung được xem như có tính quyến rủ nhiều. Cái gì già nua thường bị xem như là bỏ đi, là cái gì không đáng hoan hỷ. Tuy nhiên người ta nói một xã hội văn minh là xã hội người già được phụng dưỡng và trẻ em được chăm sóc đầy đủ. Không may đã có nhiều cái nhìn trong lịch sử cận đại của nhân loại, một số xã hội đã cố gắng đào thải đi những người già, những người lớn tuổi, nghĩ rằng những người đó không còn là những thành viên hữu dụng của xã hội nữa cho nên kết thúc mạng sống của họ. Và trong thế kỷ này chúng ta đã thấy bản tuyên ngôn về quyền làm người, quyền sinh họat chính trị do Liên Hiệp Quốc công bố, trong đó mọi người đều được tôn trọng, kể cả trẻ em và người già.

 Thì không có bằng chứng gì, không có luận cứ nhỏ bé nào trong Đạo Phật khi Đạo Phật đề cập đến bản chất của tuổi già mà hàm ý nghĩa là ở đó Đạo Phật chủ trương ruồng rẫy tuổi già. Chúng tôi có thể trích tại đây bốn, năm và cả chục đoạn kinh. Ở trong các chục đọan kinh đó, Đức Phật ngài đã dạy thái độ nên cư xử với người niên trưởng, lớn tuổi ra sao.

 Ví vụ như trong Kinh Đại Bát Niết Bàn khi đề cập đến sự hưng thịnh của tăng chúng, khi đề cập đến sự hưng thịnh của xã hội thì phụ nữ và người lớn tuổi đều được xem là những đối tượng, nghĩa là một xã hội, một tổ chức mà có quan tâm và đối xử một cách phải lẽ đến người lớn tuổi và phụ nữ thì ở đó ở đó sẽ hưng thịnh, tăng già sẽ hưng thịnh.

 Trong một bài kinh khác, Đức Phật có đề cập đến; người nào kính trọng những vị lớn tuổi, những vị trưởng thượng thì người đó sẽ được bốn phước là sống lâu, sắc đẹp, an vui và sức mạnh do quả phước cung kính bậc niên trưởng. Đó là trên phương diện nghiệp báo. 

Trong bài kinh Đại Kinh Người Chăn Bò, Đức Phật ngài dùng ví dụ của những người chăn bò, những người khéo léo phải biết chăm sóc đàn bò của mình như thế nào, cách chăm sóc những con bò già  Đức Phật ngài dạy rằng ở trong một hội chúng tăng già mà biết chăm sóc những vị lớn tuổi một cách thích đáng điều đó sẽ mang lại sự lợi lạc cho tăng già. Đó là một truyền thống. 

Có thể nói rằng còn có rất nhiều ví dụ trong kinh mà ở đó những vị niên trưởng, những vị lớn tuổi có chỗ đứng hết sức quan trọng, được cung kính, được phụng dưỡng chứ không phải là bị ruồng rẫy. 

Riêng ở tại đây. Khi quí vị đến Chùa quí vị thường gặp những bà cụ tuy rất già nhưng tâm đạo rất thuần thành và đặc biệt là lòng cung kính. Những vị đó nói liều một chút thì người ta gọi đó là những bà già trầu, nếu người ta kính trọng một chút thì người ta gọi đó là những bà cụ. Đa phần những người nhìn những bà cụ này họ nghĩ rằng những bà cụ này hoàn toàn không có hy vọng gì để đi xa hơn trong việc tu học hết. Nhưng trong thực tế thì không phải như vậy. 

Khi vị lão ni bước lùi một bước để đảnh lễ Đức Phật thì bị vấp ngã. Đức Phật biết được sự đau đớn mà vị này phải trải qua khi một người lớn tuổi bị té ngả như vậy. Hãy tưởng tượng một vị lão ni 120 tuổi mà ở đó Đức Phật thấy cả một tiềm năng giác ngộ và ngay lúc đó Đức Phật dạy cho vị lão ni này nên quán niệm về thân của mình như thế nào. Đây là một điểm rất đặc biệt trong Đạo Phật. 

Ngay cả trong một hoàn cảnh khổ nhứt, trên một thân xác già nua cằn cỗi, một trường hợp mình nghĩ rằng không có ánh sáng hy vọng nào của đời sống thì lúc đó Đức Phật đã khai thị tuệ giác bừng sáng. 

Và khả tính giác ngộ không nằm trong tuổi tác, không nằm trong ngoại hình bề ngoài. Dù đó là một người rất trẻ, rất đẹp hay rất già cằn cỗi rồi, điều đó không quan trọng. Quan trọng chúng ta thấy rõ Đức Phật ngài thấy được khả năng giác ngộ tiềm tàng trong con người.

 Nên chi, khi Đạo Phật nói lên cái khổ của sanh, của già, của đau, của chết. Điều đó không phải là thái độ miệt thị, nó không phải là thái độ xem thường hay nó mang mục đích khiến cho người ta thấy cuộc sống bi quan. Mà điều đó là phương linh dược, là một đề mục quán niệm. Điều mục quán niệm này có lợi, đặc biệt có lợi cho chúng ta trong lúc tuổi già. Chúng ta có thể làm được gì với xác thân này? Có người nhìn xác thân này như vật phế thải, không có gì sử dụng được thì dựa trên xác thân đó Đức Phật ngài dạy có ai có thể khai được chánh trí, có thể dùng xác thân làm một điểm tựa làm đề tài thiền quán thì người này có thể từ đó trỗi dậy để thành tựu tuệ giác.

 Do đó trong câu hỏi: ‘vẽ một bức tranh ảo não về người già có làm cho xã hội ruồng bỏ người già không?’ . Trên thức tế Đức Phật đã có một hình ảnh về tất cả pháp hữu vi là vô thường, khổ, vô ngã, không có nghĩa là có thái độ kỳ thị với bất cứ ai hết vì nói tất cả pháp hữu vi tức là một hình ảnh bao trùm trọn vẹn tất cả mọi thứ.

Tuesday, June 17, 2014

Tại sao nhận chân thực tướng các pháp lại quan trọng?

Hỏi: Tại sao nhận chân thực tướng các pháp lại quan trọng? 

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, chương trình Kinh Pháp Cú giảng giải, Minh Hạnh chuyển biên)

TT. Giác Đẳng: Có ba lý do, chúng ta có thể nói ngắn gọn ở tại đây, 

1. Điểm thứ nhất. Trong cái khổ chúng ta cảm nhận, cái khổ không thể tránh được của đời sống Đạo Phật gọi là hành khổ, tức là cái khổ tự nhiên của đời sống. Ví dụ con người sanh ra phải có già, bịnh, chết, thương phải xa, ghét phải gần, chỉ là một phần của cái khổ. Nhưng ở bên cạnh đó, ta lại thêm vào cái khổ khác. Đó là cái khổ của nhận thức sai lầm. Chính nhận thức sai lầm làm cho chúng ta khổ nhiều hơn.

Lấy ví dụ, nếu đi ra ngoài trời có một cơn mưa tuôn xuống làm cho chúng ta bị ướt áo thì không có buồn nhiếu bằng chúng ta đi ngang một khu chung cư, lở có ai tạt nước trên lầu xuống dù là một thau nước sạch đi nữa thì chúng ta cũng rất giận vì sự vô ý đó. Nhưng nếu gặp trời mưa chúng ta nghĩ rằng mưa là điều tự nhiên do đó chúng ta chỉ lẳng lặng trở về lo thay quần áo rồi tiếp tục lên đường chứ không ngồi đó phí thời giờ trách trời mưa vì trời đã mưa rồi. 

Phải nói rằng có nhiều cái khổ trong đời sống là do phản ứng của mình và do phản ứng sai lầm này chúng ta làm cho tình hình càng tồi tệ thêm. Nó tệ hại thêm vì lẽ ra nó chỉ có năm mà chúng ta làm cho nó thành mười, mười lăm, hai mươi. 

2. Điểm thứ hai, theo trong kinh Phật thì căn gốc của sự luân hồi chính do sự vô minh. Vô minh tức là sự mê mờ, mê tối, không thấy rõ chân tướng đâu là khổ, đâu là nhân sanh khổ, đâu là diệt khổ, đâu là con đường đưa đến diệt khổ. Cho dù chúng ta phủ nhận rằng mình không cố tình để tạo ra tiến trình sanh tử, đã không cố tình làm việc này, việc khác để tiếp tục sự hiện hữu trong đau khổ, tiếp tục ngụp lặn trong trầm luân nhưng tự trong bản chất của vô minh, của ái dục nó đã kết cấu ra những điều đó một cách, nói theo ngôn ngữ hiện đại của ngành tâm lý học tây phương là vô thức. Vô thức là cái việc đó tuy chúng ta nói là chúng ta không làm hay là chúng ta có chủ tâm không làm nhưng chính vô minh và ái dục đã kết cấu ra mầm móng của sanh tử và sanh tử tiếp tục. 

Do vậy, nhận ra chân thực tướng của vạn pháp thì điều đó chấm dứt. Như lúc chúng ta còn nhỏ có thể thích ra bờ ao đi vọc nước chơi. Và cha mẹ la đừng có ra ngoài đó. Mặc dầu chúng ta nghĩ rằng cha mẹ có lý do để không cho chúng ta ra bờ ao nhưng chúng ta chưa bao giờ nghĩ đến sự nguy hiểm thật sự của nó. Chỉ vì sợ cha mẹ mà không ra bờ ao thôi. Cho đến khi chúng ta nhìn thấy một em bé nhỏ đi đủng đỉnh ra ngòai bờ ao thì chúng ta mới thấy rằng, à cái đó mới thật sự có nhân nguy hiểm. Tại vì em chạy tới chạy lui lỡ trượt chân xuống ao thì thật sự nguy hiểm cho nó vì em bé còn nhỏ. Phải có một cái nhìn thật sự sáng tỏ về một việc gì đó thì mới làm cho chúng ta tách hẳn sự việc đó ra hoàn toàn. Và Đạo Phật cho rằng ý thức hết sức quan trọng. 

3. Điểm thứ ba, liên quan đến thiền quán là khả năng hóa giải của chánh niệm. Chánh niệm đến từ sự ghi nhận chân thực điều gì đã xảy ra. Ví dụ cái gì xảy ra trong thân của mình, cái gì xảy ra trong tâm của mình. Sự ghi nhận như vậy khiến cho chúng ta tách rời khỏi một số kết cấu. Kết cấu này vốn là tập khí, do nghiệp chướng của chúng ta hay do phiền não. Ví dụ một người có cái bệnh hay ganh tị. Nếu chúng ta có điều kiện đem sự ganh vị vào trở thành đối tượng của thiền quán. Nghĩa là khi nào cảm xúc đó dâng lên trong lòng mà chúng ta có thể nhìn nó một cách rõ ràng, sáng suốt. Thì chính với đề mục thiền quán, chính vì cái nhìn đó nó thay đổi rất nhiều.

 Có những pháp đoạn tận do thấy và có những pháp đoạn tận do sự chú tâm. 

Những pháp đoạn tận do thấy, ở trong A Tỳ Đàm nói phiền não được đoạn tận do sơ đạo tức Tu Đà Hườn đạo. Những phiền não đó là thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ. Thật ra ở đây chúng ta không có thì giờ nếu có thì gì giờ thì chúng ta đi vào thì chúng ta thấy rằng vai trò của thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ nó không phải là đơn giản. Ảnh hưởng của thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ đều đoạn tận do thấy. Do thấy tức là bây giờ người ta nói rằng anh A, anh B thế nào đi nữa nhưng dù chúng ta có nghe trăm ngàn quyển sách diễn tả thì cũng không bằng thấy mặt người đó. Ngài Ajahn Chah cũng thường nhắc cho dù mình học kinh sách nghe nói những phiền não như thế nào cũng không bằng chính bản thân mình nhìn thấy nó đã sanh tử xảy ra trong lòng mình mới giây phút vừa qua mà chúng ta phản tỉnh. Khi nhìn thấy gương mặt thật của nó rồi thì chúng ta sẽ xóa đi những ảo giác hoàn toàn. 

Như vậy, việc nhìn thấy chân tướng của vạn pháp đóng ba vai trò chúng ta thấy rõ ràng là khi chúng ta nhìn thấy chân tướng vạn pháp chúng ta không có thêm thắt vào, không đổ dầu vào lửa trước những đau khổ của mình, nghĩa là không phản ứng nông nổi trước những đau khổ để tự mình đau khổ thêm. 

Thứ hai, bởi vì vô minh và ái là những cơ năng chính, cơ năng rất quan trọng, đặc biệt vô minh là cơ năng của tất cả những bất thiện pháp, nguyên nhân của luân hồi sanh tử. Cho nên cái thấy, cái biết, giác ngộ là đối trị với vô minh.

 Sau cùng, cái thấy, cái biết trong tâm tư của một vị thiền giả, một vị hành thiền có khả năng chuyển hóa. Bởi vì do thấy, do biết nên Đạo Phật dùng rất nhiều chữ Jnana và Prajna nghĩa  là trí. Ngay cả biết mình cũng là trạng thái sơ khởi của thiền định mặc dù nó chưa bằng minh sát sau đó.

 Nói chung là cái thấy trong thực tế giúp cho chúng ta rất nhiều

Monday, June 16, 2014

Sự lãnh hội vô thường bằng trí tuệ suy luận khác biệt gì với lãnh hội bằng chánh niệm, chánh định? -

Hỏi: Sự lãnh hội vô thường bằng trí tuệ suy luận khác biệt gì với lãnh hội bằng chánh niệm, chánh định? - 

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 9-6-2014, Minh Hạnh chuyển biên)

ĐĐ Pháp Tín: Trong Phật Pháp sự tu tập sự thành công đến là do chúng ta có sự tu tập và sự tu tập này là do mình nỗ lực đến một lúc nào đó tâm của mình có niệm, có định rồi tuệ quán phát sanh thì lúc đó chúng ta mới lãnh hội được sự vô thường.

Trong đời sống bình thường của chúng ta thì chúng ta cũng nhận thấy vô thường nhưng sự nhận biết đó chỉ qua khía cạnh trí văn, nghĩa là chúng ta học hỏi bằng cách viết, bằng cách nghe, bằng cách thảo luận v.v... 

Đời sống là như vậy; sanh ra rồi trải qua một thời gian ấu niên, rồi trải qua thời gian trung niên, trải qua thời gian lão niên. Trong những thời đó có khi già, có khi bịnh, có khi tai nạn xảy ra chi phối mình. Hoặc mình nhìn lại tất cả những gì đã xảy ra từ trước khi mình có sự biết cho đến ngày hôm nay thì thấy rằng không có cái gì trường tồn hoặc không có gì tồn tại lâu dài, thành ra mình nhận thức được đó là vô thường. Nhưng đối với sự nhận biết đó chúng ta chỉ nhận biết qua sự học hỏi và cách để ý của chúng ta thôi. Còn một người tu tập có niệm có định và trí tuệ phát sanh lên thì người này có nhận định sự vô thường sâu sắc hơn.

 Cũng như chúng tôi nói có những vị hành giả tại sao người ta tu thiền người ta thích cuộc sống thiền. Thì tại sao những người này có được khả năng đó, tại vì có hai trường hợp thứ nhất là khi người ta sống đời sống bên ngoài bề bộn phiền não do công việc ở sở làm, do công việc ở gia đình, rồi những sự qua lại với bà con quyến thuộc bạn bè v.v... thì khi người ta dứt bỏ được hết có nghĩa là người ta tạm ngưng lại hết những điều đó thì người ta bước vào trong trường thiền chính chỗ này đã làm cho chúng ta có một an lạc . 

Có thời gian chúng tôi ở bên trường thiền  khoảng 20 ngày, trong những ngày đầu do đường xa di chuyển hơi mệt nên không tu tập được nhưng khi tu tập 5, 6 ngày hoặc một tuần lễ thì lúc đó tâm tĩnh lặng lại rồi thì dễ dàng tu tập. Và cứ tu tập như vậy đến một ngày nọ chúng tôi thấy có trạng thái của mình giống y như một người đắc thiền hoặc đắc được cái gì đó nhưng lúc đó chúng tôi ngồi quán xét kiểm lại là không phải. Tại vì trước kia bề bộn công việc quá nhiều, như  qúi vị thấy các vị giảng sư phải đi giảng nơi này nơi kia rồi quay về lo công việc chùa v.v...nói chung công việc chùa rất nhiều và phải nói rằng rất là nhiều việc. Ý chúng tôi nói rằng cuộc sống của chúng ta đôi khi công việc bề bộn quá nhiều khi bước vào trường thiền nhất là những trường thiền ở bên ngoài có những lợi điểm ; không còn máy móc, không có laptop, mà có điện thoại cũng không sài được, mà muốn nói chuyện thì cũng không nói với ai được tại vì tất cả người ta vào tu hết rồi.

Thật sự, chúng ta chưa tu mà chúng ta cũng cảm thấy người  nhẹ nhàng, chúng ta chưa hành mà tâm chúng ta được nhẹ nhàng, có những người khi bước vào trường thiền đã cảm thấy an lạc hoặc có những người ngoài chợ ở thành phố đông đúc bước vô chùa là cảm thấy rất nhẹ nhàng. Điều này ở đây là sự nhận định sơ ở bên ngoài là do công việc nhiều quá rồi khi chúng ta rũ sạch công việc thì lúc này chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng. Còn đối với một người tu tập mà được sự an lạc là nó khác. Thì cũng vậy, chúng tôi muốn nói  ở đây là sự so sánh về vô thường bằng trí mình bằng sự học hiểu học biết của mình thì cũng giống như một người đang gánh nhiều đồ nặng người ta bỏ xuống người ta thấy rằng nó an vui an lạc. 

Còn một người với tâm có niệm, có định, có tuệ rồi thấy được sự vô thường thì người này sẽ sâu sắc hơn. Giống như hành giả yêu đời sống thiền, qúi trọng đời sống thiền thì cũng giống như trạng thái như vậy.  

Đọc kỹ trong kinh điển, một người lãnh hội sự vô thường bằng niệm, bằng định, bằng tuệ thì người này sẽ thấy rất sâu sắc. Thí dụ như tâm của họ sanh khởi họ nhận thức được liền. Hồi mới đây chúng ta có tâm hoan hỉ có tâm thiện nhưng bây giờ đường nét bị dựt hoặc bị đứt quãng thì tâm của chúng ta khó chịu, thì một người có niệm có định có tuệ người này nhận được sự vô thường ngay đó liền, nhận được cái cảm thọ cái tâm đó mình sanh lên rồi cảm thọ đó sanh lên như vậy như vậy thì cái vị mà có niệm có định có tuệ thì nhận xét một cách tích tắc bằng trí tuệ, có nghĩa là những gì sanh lên ở xung quanh tâm của vị hành giả thì vị đó sẽ nhận được liền, đây là sự khác biệt của một người mà biết được vô thường qua cách học hỏi cũng như là người ta nói rằng là sự học thôi chứ chưa có thực hành, còn một người có định có tuệ thì người này nhận biết được sự vô thường một cách sâu sắc đối với danh pháp và sắc phá,p đối với những cảm thọ sanh lên ở trong tâm hoặc là những sự thay đổi nhiều ở trong thân và ở xung quanh thân và tâm này thì vị ấy nhận được một cách nhanh lẹ bằng trí của vị đó đây là sự khác biệt nhau./.

Sunday, June 15, 2014

Trong cái nhìn bình đẳng đối với tất cả chúng sanh sao có thể nói là có người này hơn người kia?

Hỏi:“Trong cái nhìn bình đẳng đối với tất cả chúng sanh sao có thể nói là có người này hơn người kia?”

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, giảng kinh Pháp Cú, Minh Hạnh chuyển biên)

TT. Giác Đẳng: Con người trong thế gian này thường có những cực đoan. Có những người coi rẻ học vị, coi rẻ bằng cấp. Có những người quá chú trọng, chú trọng đến nỗi họ quên rằng ngoài việc đó ra còn có những giá trị khác nữa.

 Chúng ta có thể nói rằng do sự cực đoan của con người nên chi chúng ta đánh giá những sự việc không được tinh tường, chính xác. Cái chỗ không đánh giá tinh tường chính xác này đã tạo ra bao nhiêu bi kịch trong cuộc sống, về những cách nhìn cái nào là đẹp, cái nào là xấu, cái nào là hư, cái nào là thực. 

Chúng tôi nhớ ở tại chùa thỉnh thỏang chúng tôi có nghe một số Phật tử bàn với nhau xe Mỹ tốt hay xe Nhật tốt hoặc xe hiệu này là tốt hay hiệu kia là tốt. Khi bàn với nhau có đôi lúc mình không biết lấy gì làm cơ sở. Thí dụ như một người lấy hiệu Nissan so với Toyota chẳng hạn. 

Đó là ý thức cá nhân. Phải nói rằng ý thức này đặc biệt gắn chặt vào tâm tư của mỗi người. Chúng sanh sống trong cuộc đời này sự dị biệt về cái nhìn tự nhiên nó dẫn đến dị biệt về hành động và dẫn đến sự dị biệt về quả của hành động. 

Một trong những bài học khó nuốt nhất của Đạo Phật mà chúng ta biết đến là tinh thần bình đẳng. Tinh thần bình đẳng là làm sao thấy được chúng sanh có thức tánh, thấy tất cả chúng sanh có điều kiện để giác ngộ, thấy tất cả chúng sanh có tiềm lực để dẫn đến giác ngộ, giải thoát và phải vượt ra ngoài quan niệm khinh người này, trọng người kia. 

Nhưng khi chúng ta đọc những câu Phật ngôn kinh Pháp Cú như: 
Người ít chịu học hỏi
Như trâu già lớn xác
Bắp thịt thì nở nang
Nhưng trí năng cùn mạt

Nếu một người không có lòng từ, không có sự hiểu biết thì đọc câu này như là một cách Đức Phật coi trọng người này, coi rẻ người kia? Tuy nhiên nếu chúng ta quen với những Phật ngôn thì chúng ta hiểu rằng những câu này hàm ý nói lên một khía cạnh, nói nôm na là chỉ đề cập đến pháp, chứ không nhắm đến một cá nhân. Nếu một giai đọan nào đó có một cá nhận làm một việc sai lầm thì Đức Phật ngài cũng quở. Chúng tôi lấy ví dụ trong Lục tạng có lần Đức Phật ngài quở tôn giả Anirudha. Tôn giả Anirudha là một tỳ kheo xuất gia. Nguyên trước khi xuất gia là một hoàng tử trong dòng Thích Ca. Sau khi xuất gia rồi là một vị thánh nhân, là một vị có thần thông, đặc biệt là thiên nhãn thông. Nhưng rồi có đôi lúc Đức Phật ngài cũng quở bởi vì một vài hành động không thích hợp. Hay hoặc giả là tôn giả Xá Lợi Phật là một vị thượng thủ Thanh Văn có trí tuệ. Có lúc tôn giả trả lời Đức Phật và Đức Phật coi câu trả lời đó không thích đáng thì Ngài cũng dạy rằng không nên nói như vậy hay không nên nghĩ như vậy. Như một lần tôn giả Xá Lợi Phất nghĩ rằng có lẽ là trong quá khứ, hiện tại, vị lai không có ai có trí tuệ như Đức Phật  thì Đức Phật nói với tôn giả Xá Lợi Phất là đừng nói như vậy và hỏi Xá Lợi Phất có biết được hành xứ của chư Phật ở trong quá khứ, hiện tại, vị lai hay không thì tôn giả có thưa về một số cái biết của tôn giả đối với chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng cái biết đó không đủ để đo lường để có thể nói rằng đức Thích Ca Mâu Ni là vị có trí tuệ vượt trội hơn những vị từ xưa đến giờ không ai bằng ngài hết. Trong những trường hợp như vậy Đức Phật Ngài không có quở hay không có la rầy nhắm vào cá nhân hay phủ nhận cá nhân mà ngài dựa trên pháp, dựa trên sự thật. 

Con người chúng ta sống trong thế giới này, mỗi kiếp sống, mỗi một con người chúng ta chỉ là một giai đọan. Lấy ví dụ như hôm nay có nhiều người đi làm họ mặc quần áo tươm tất. Còn chúng ta không đi làm, chúng ta đi vào rừng để có một buổi cắm trại thì có thể chúng ta mặc quần ngắn, mặc áo thun mà đi. Mặc đồ như vậy không có nghĩa là người này sang hơn người kia hay người kia hèn hơn người này mà nó chỉ là một giai đọan. 

Trong nhân sinh quan về luân hồi chúng ta biết rằng có khi chúng ta sanh làm đàn ông, có khi sanh làm đàn bà, có khi sanh ra làm người, có khi sanh ra làm thú, có khi sanh ra làm người hữu phước, có khi sanh ra làm người không hữu phước. Trong tiến trình luân hồi đó nói lên tính bình đẳng của chúng sinh và mỗi thứ là một giai đọan. Điều này nói lên Đạo Phật không có cái nhìn khinh rẻ, miệt thị, hay trọng người này, xem người kia cao. Tuy nhiên ở một thời điểm nào đó thì chánh pháp phải được thắp sáng, chánh pháp phải được nêu rõ. Và điểm này là điểm rất tự nhiên. Đức Phật Ngài giảng dạy như cho thuốc. Khi cho thuốc thì liều thuốc phải đủ mạnh để trị một căn bịnh trầm kha nào đó của đời sống.

 Có một bài kinh là kinh Vương Tử Vô Úy trong Trung Bộ Kinh. Ở trong kinh đó Đức Phật Ngài có dạy là: Những lời dạy của Ngài có mục đích dẫn đến giác ngộ, giải thóat. Mà điều gì dẫn đến giác ngộ giải thóat thì điều đó phải tương ưng với sự thật. Ngài cũng nói thêm rằng cho dù người đó thích nghe hay không thích nghe thì Đức Phật Ngài vẫn dạy. Điều đó có nghĩa là đôi lúc chúng ta không cảm thấy thỏai mái về một lời dạy gì đó hay một lời nhắc nhở gì đó. Nhưng trong trường hợp như vậy không nhắm vào người này thấp, người kia cao mà chỉ nói đến lúc đó, pháp đó, sự việc đó mang phẩm chất như vậy và phẩm chất đó có thể làm cho chúng ta thăng hoa hay làm cho chúng ta trở nên hèn kém, tồi tệ hơn trong đời sống này vì chúng ta thiếu những phẩm chất này. Và những lời dạy này áp dụng cho tất cả mọi người, mọi trường hợp chứ không phải riêng gì vị tỳ kheo nào hay bất cứ ai. /.

Saturday, June 14, 2014

Người ta bỏ tất cả vì người mình yêu có phải là họ thương mình hay thương người mình thương?

Hỏi: “Người ta bỏ tất cả vì người mình yêu có phải là họ thương mình hay thương người mình thương?”

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp giảng kinh Pháp Cú, Minh Hạnh chuyển biên)

TT. Giác Đẳng Có một câu nói mà người ta thường hay nói; ở trong tình yêu đôi khi người ta phải quên chính bản thân của mình và chỉ sống cho người mình yêu. Câu hỏi ở đây là, “Người ta bỏ tất cả vì người mình yêu có phải là họ thương mình hay thương người mình thương?” Ví dụ anh A thương cô B và anh A đi làm việc rất cực khổ để lo lắng cho cô B để mong đáp ứng lại những gì cô B cần hay anh A vì nhu cầu tình cảm của mình, quá thương cô B và muốn thỏa mãn nhu cầu tình cảm đó?

 Câu này có quan hệ rất lớn khi chúng ta nói ở đây trong đời sống con người mình, nhiều chuyện mình nghĩ  mình đang sống cho người khác nhưng chính thật ra mình đang cố gắng để làm cái gì đó mà mình muốn làm hay mình quá muốn làm và những lúc nào đó người ta khám phá ra rằng bản thân mình không phải là thương người khác mà chỉ thương bản thân mình mà thôi. 

Lấy một ví dụ, chúng ta muốn người khác phải như thế này, như thế kia. Chúng ta thương một người nào đó vì họ làm theo ý mình muốn, vì điều mình đòi hỏi chứ không phải vì họ ra sao mình chấp nhận như vậy. Bà Dolphy Coneil có nói rằng một người có dấu hiệu trưởng thành là người có thể nhìn nhận được sự thật có thể chấp nhận người mình thương họ ra sao thì mình nhìn nhận họ như vậy. Nhưng con người phần đông thì không có được sự suy nghĩ như vậy. 

Mình thương một người nào đó mình muốn người đó phải vuông, phải tròn, phải thế này, thế kia theo cách ý của mình. Cho dù đó là một tình thương rất chân thành, tình thương đó rất nồng ấm thì tình thương đó chỉ là để thỏa mãn tâm tư của mình nhiều hơn là vì nghĩ đến người đó. 

Do vậy ngài Narada, ngài có viết rằng một trong những kẻ thù trực tiếp của lòng từ tức là tâm sân hận nhưng kẻ thù gián tiếp cùa lòng từ chính là sự dính mắc hay là sự ái luyến. Khi người ta dính mắc ái luyến thì ở một khía cạnh nào đó rất là vị tha nhưng quả thật trong nhiều trường hợp nó đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng đó là thái độ ích kỷ, ích kỷ đến độ tàn nhẫn. 

Chúng ta đã được nghe rất nhiều bi kịch của đời sống. Chúng tôi có quen một người, người đó có một đứa con. Bởi vì trong gia đình người này rất trọng danh vị, trọng về môn đang hộ đối nên khi đứa con ra trường có bằng cao học thì người con này thương một anh thanh niên chỉ có bằng cử nhân thôi đang làm engineer cho một hãng xăng Shell. Gia đình rất thương con gái nên nghĩ rằng con gái của mình vừa đẹp, vừa có bằng cấp cao bây giờ đi ra lấy một anh thanh niên có bằng cấp thấp hơn như vậy là bất xứng. Nên gia đình đã tạo một áp lực nặng nề để cho cô con gái bỏ anh này. Cuối cùng cô không có cách nào khác. Cô đã tự lựa chọn bằng quyên sinh. Cô đã tự bắn vào đầu mình bằng khẩu súng trong phòng ngủ của mình. Khi cha mẹ biết được chuyện này thì có thể nói rằng là nỗi buồn khôn nguôi cho đến bây giờ. Và có nhiều người hỏi rằng trong điều đó cha mẹ đã quá ít kỷ khi nghĩ đến đòi hỏi của mình hơn là nghĩ đến hạnh phúc của con gái của mình. Có người khác hỏi rằng, đứa con gái đó có ích kỷ hay không là bởi vì một điều mà mình không thỏa mãn được lại gây ra một thương tổn cho suốt cuộc đời còn lại của cha mẹ của mình. Đó là bi kịch của đời sống.

Chúng ta biết rằng trong con người của chúng ta khi nói đến tình thương yêu chúng ta thường quan niệm đó là thái độ vị tha, sống vì người khác. Có thể mình dãi nắng dầm sương. Có thể mình trèo non, vượt suối; bao nhiêu sông cũng lội, bao nhiêu đèo cũng qua. Nhưng mà rồi điều đó không biểu thị cho lòng hy sinh cho tha nhân. Mà điều đó rất có thể là mình quá đam mê tha thiết với một cái gì mà mình muốn và mình đã hết sức dốc toàn lực ra để thỏa mãn như vậy. Do đó chúng ta phải coi chừng. 

Và câu nói của ngài Narada ở đây xin lập lại một lần nữa là "kẻ thù trực tiếp với lòng từ là sự não hại, sân hận đối với người khác nhưng kẻ thù gián tiếp chính là sự dính mắc, ích kỷ, luyến ái". Đó là điều mà chúng ta phải nhắc tại đây.