Sunday, September 15, 2013

khi nằm chiêm bao thấy mình đang khóc, như vậy thì họ đã khởi lên tâm gì?

Hỏi: khi nằm chiêm bao thấy mình đang khóc, như vậy thì họ đã khởi lên tâm gì?

. (Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu: Thưa qúi vị, tất nhiên theo trong Vi Diệu Pháp (Abhidhammattha) giải thích thì hễ chúng ta khóc là do tâm sân chứ không thể là khóc bằng tâm tham thọ hỷ hay là tâm thiện thọ hỷ được, bởi vì sắc tâm hành động khóc tức là do trạng thái tâm sân tạo nên hành động khóc mà thôi. Nói một cách tóm tắt như thế.

Nhưng ở đây Sư cũng xin mở ngoặc để nói thêm là khi chúng ta khởi lên tâm sân trong giấc chiêm bao như vậy có ảnh hưởng gì đến phiền não, nó có phải là loại phiền não đưa đến luân hồi, đưa đến quả khổ đau trong tương lai hay không? Thì ở đây thưa qúi vị, chúng ta yên tâm đi, không sao cả vì trong giấc chiêm bao tất cả những tâm thuộc về tâm tham hoặc tâm sân, tâm si hay là ngay cả khi mà chúng ta khởi lên tâm thiện trong giấc chiêm bao, chúng ta thấy mình đang cúng dường đang đảnh lễ Chư Tăng chẳng hạn, hay đang bố thí cho người ăn xin nghèo khổ, chúng ta thấy như vậy bằng tâm hoan hỷ tâm thiện, nhưng tất cả những tâm đổng lực trong giấc chiêm bao dầu thiện hay bất thiện đều không có tác thành nghiệp quả. Sư khẳng định điều đó giải thích theo trong A Tỳ Đàm không tác thành nghiệp quả cho nên ở đây khi chúng ta chiêm bao thấy khóc bằng tâm sân thì chúng đừng nghĩ rằng như vậy làm phiền não sanh khởi ngay cả lúc ở trong giấc chiêm bao như vậy thì nguy hiểm quá. Nhưng không thưa qúi vị, trong giấc chiêm bao dù cho có phiền não hoặc là tâm bất thiện hay tâm thiện sanh khởi thì cũng không ảnh hưởng gì đến lý nghiệp báo vấn đề nhân quả nghiệp báo ở trong tương lai cả. Nhưng có điều chúng ta hỏi như vậy tại sao lại chiêm bao, nguyên nhân gì chiêm bao, thì ở đây Sư cũng xin trình bày với qúi vị là có sáu hoặc bốn nguyên nhân chiêm bao mà chúng ta cần phải hiểu

1) là có thể do chúng ta bị bệnh như mật hàm, máu, bị cảm mạo v.v... làm chúng ta chiêm bao đó cũng là một nguyên nhân hay nói một cách tóm tắt là nguyên nhân do bệnh.

2) Nguyên nhân thứ hai để chiêm bao tức là do tâm của chúng ta bị phóng dật, hằng ngày trong đời sống bình thường bình nhật chúng ta suy nghĩ chuyện này suy nghĩ chuyện kia, ấn tượng với cảnh sống thực ở bên ngoài. Cảnh thực bên ngoài của đời sống hằng ngày ấn tượng như thế nào, chúng ta đã có dấu ấn như thế nào thì trong giấc ngủ cũng khởi lên chiêm bao, bởi vì nguyên nhân mà chúng ta bị phóng dật trạng thái tâm đó làm cho chúng ta chiêm bao được.

3) Nguyên nhân thứ ba là do thần quyền. Thần quyền là do Chư Thiên hay là loại phi nhân chuyển tâm làm cho mình chiêm bao.

4) Nguyên nhân thứ tư là điềm nghiệp do tâm của chúng ta mạnh quá, do phước trong quá khứ mạnh quá, có tâm nguyện như thế nào đó để ngay kiếp hiện tại thì gọi là phước với tâm linh là cái gì sẽ xảy ra trong vài ngày sắp tới chúng ta chiêm bao thấy trước.

Thì tại ở đây thưa qúi vị, cho dù nói đến bốn nguyên nhân của chiêm bao là: tứ đại bất hoà, gặp cảnh thường gặp, hay là điềm nghiệp, hoặc là Chư Thiên chuyển nghiệp đi nữa, nói chung lại chỉ có hạng phàm phu chúng ta và bậc hữu học mới có thể chiêm bao, vị A La Hán không có chiêm bao bởi vì vị A La Hán đã đoạn trừ được phiền não phóng dật, tâm vị đó đã an trú trong chánh niệm một cách vững vàng, luôn luôn có sự kiểm soát ghi nhớ biết mình do vậy vị A La Hán hoàn toàn không có chiêm bao. Còn chúng ta vì tâm còn phóng dật, không định tâm, không chánh niệm được do đó chúng ta thường hay khởi lên chuyện chiêm bao. Vì vậy thay vì đã trả lời câu hỏi một cách vắn tắt về ý nghĩa chiêm bao là trạng thái tâm sân, ở đây Sư cũng nói qúi vị nghe hai khía cạnh là chiêm bao dầu cho chúng ta tham hay sân hay là thiện cũng không có quả báo đâu mà sợ, chỉ là chiêm bao thôi, tâm động lực đó không có mãnh lực tạo thành nghiệp cho quả dị thục, và Sư cũng đã trình bày thêm qúi vị nghe về những yếu tố chiêm bao đồng thời cũng nhắc thêm cho qúi vị biết là hạng người có loại chiêm bao. Thì như vậy Sư đã trả lời tương đối khá đầy đủ rộng rãi về những điều mà Phật tử chúng ta cần biết ./.

Chư Thiên chuyển tâm là gì?

Vấn đề Chư Thiên chuyển tâm thì cũng nên biết như thế này. Bốn loại sanh chủng là noãn sanh là loại sanh bằng trứng, thai sanh là loại sanh ra từ tử cung hay là từ bụng mẹ mà sanh ra, rồi thấp sanh là loài sinh vật mà sanh ra từ nơi ẩm thấp do môi trường ẩm thấp, ấp ủ dưới lòng đất nơi đống rác cây mục thì gọi là thấp sanh, hoá sanh là những loài sanh ra bằng cách là tự nhiên hiện hình ra chớ không phải do người mẹ cưu mang thai bào 9 tháng 10 ngày để sanh ra hay là cũng không phải do từ quả trứng rồi lọt khỏi lòng mẹ, quả trứng đó nhiều ngày mới chín mùi để rồi tự nứt vỏ khảy mỏ mà chui ra, cũng không phải là do nơi ẩm thấp thì như vậy gọi là hoá sanh, hoá sanh tức là hiện ra một thân tưóng đột ngột, hoá sanh ở đây như là Chư Thiên, Phạm Thiên hoặc là dạ xoa hoặc là ngã qủi hay là a tu la, địa ngục đó là những loài hoá sanh.

Nhưng loại hoá sanh có năng lực thì trừ ra hoá sanh ở dưới địa ngục, các loài hoá sanh ở dưới địa ngục họ đau khổ quá cho nên họ không thể nào có thời gian để họ đi chuyển tâm mình, nhưng các loài hoá sanh khác như Chư Thiên, Phạm Thiên hoặc là loài ngã qủi a tu la thì họ có thể làm chuyển tâm mình được. Thí dụ như thời Đức Phật có những trường hợp là ngã qủi quyến thuộc của vua Bình Sa Vương đêm về báo mộng cho Đức Vua biết, Đức Vua nhìn cảnh chiêm bao đó tâm sợ hãi, sáng ngày hôm sau Đức Vua đi đến bạch với Đức Phật, Đức Phật Ngài chỉ cho phương pháp là hãy làm phước cúng dường đến tứ phương Tăng chúng thì Chư Tăng sẽ phúc chúc phước báu rồi vua hồi hướng cho các loại ngã qủi thì ngã qủi quyến thuộc của Vua sẽ được siêu sanh sang nhàn cảnh. Như vậy thì loài ngã qủi cũng có thể chuyển tâm mình được.

Hay vị Chư Thiên cũng có thể chuyển tâm mình được, đang trong lúc chúng ta ngủ mà muốn cần báo mộng điều gì đó thì Chư Thiên có thể báo trong giấc chiêm bao cho chúng ta biết, báo bằng cách là cho chúng ta chiêm bao thấy v.v... thì như vậy gọi là Chư Thiên chuyển tâm. Và một điều mà chúng ta phải nói rằng Chư Thiên chuyển tâm hay là loài phi nhân chuyển tâm chúng ta, ở đây chúng ta nên dùng từ gọi là phi nhân chuyển tâm chứ chúng ta không nên dùng từ khẳng định là Chư Thiên chuyển tâm, bởi vì Chư Thiên thì ngoài ra a tu la và ngã qủi hay dạ xoa, càng thác bà chúng ta gọi là phi nhân chuyển tâm, chúng ta phải hiểu như thế đó thì loài phi nhân là loài hoá sanh do đó cho nên họ rất là vi tế và họ có thể làm cho mình chiêm bao thấy được những gì họ muốn cho thấy.

Saturday, September 14, 2013

Phải chăng quả bất thiện trổ dễ dàng hơn quả thiện?

Hỏi: Kính thưa Thầy có phải quả bất thiện trổ dễ dàng hơn quả thiện phải không. Thí dụ người nông dân đã dấu túi tiền và bị lính bắt ngay sau đó, còn nếu người nông dân giúp đỡ người nghèo khó thì người nông dân đó có được phước ngay hay phải đợi đến kiếp sau? 

. (Câu hỏi ntrong buổi giảng kinh Pháp Cú kệ 67, lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên )

TT Giác Đẳng: Trong phương diện nghiệp báo thì cho dù tâm thiện hay tâm bất thiện, quả có nặng hay là nhẹ, nhiều hoặc ít, nhanh hoặc mau là dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, nhưng nó không có dựa hoàn toàn vào quyết định là thiện thì quả nhanh hoặc nhiều hơn hay là bất thiện thì quả nhanh hơn hoặc nhiều hơn.

Như chúng ta được biết ở trong A Tỳ Đàm giảng rằng một nghiệp thì có một chủng tử, chủng tử đó chúng ta gọi là cetana hay là thuộc tánh tư, gọi chung là tư tâm sở. Tư ở đây tức là chủ tâm. Tư nó giống như là hạt giống mà chúng ta gieo xuống nếu hạt giống đó là hạt giống tốt, hạt giống lấy từ cây tốt, ví dụ cây trái đầu mùa chẳng hạn thì cây sẽ mọc mạnh hơn là hạt giống èo ọt.

Thì cái gì làm cho cetana mạnh, cái gì làm cho sự chủ tâm tạo nghiệp mạnh?

Theo trong A Tỳ Đàm có ba yếu tố.

Nếu là thiện thì cảm thọ làm cho mạnh hoặc yếu, cảm thọ hỷ mạnh hơn là thọ xả, tức là mình làm việc thiện mà mình vui mừng, mình làm bằng hoan hỷ thích thú thì quả về sau này sẽ mạnh hơn, sẽ tốt hơn là quả làm bằng tâm thiện thản nhiên, bằng tâm xả. Và nếu việc làm của mình, chủ tâm tạo nghiệp của mình, chủ tâm tạo tác của mình mà làm bằng tâm đi với trí tuệ tức là hợp trí, có trí tuệ trước khi, trong khi và sau khi làm thì quả nhanh hơn là làm việc bằng không có trí tuệ, và nếu chúng ta làm công việc một cách nhậm lẹ mau mắn thì quả sẽ thù thắng hơn là bởi vì tâm cetana mạnh hơn là tâm do được nhắc bảo được khuyến khích được thúc đẩy, tâm đó gọi là tâm được khuyến khích được thúc đẩy là tâm hữu trợ, tâm hữu trợ thì cái quả không bằng tâm vô trợ.

Ở trong trường hợp đối với bất thiện. Tâm bất thiện nghiệp cũng vậy ở trong bất thiện nghiệp thì thay vì đi đến trí tuệ thì nó đi với tà kiến, một người làm việc bất thiện bằng tâm bất thiện, và tâm bất thiện đó đi với tà kiến thì cái quả nó nặng hơn là không có tà kiến.

Tức là chúng ta nói đến cảm thọ là một chi phối hoặc là vô trợ hữu trợ tức là làm việc gì nhanh hay chậm đó là một yếu tố khác và hoặc giả nó đi với trí tuệ hay đi với tà kiến, hoặc không đi với trí tuệ không đi với tà kiến nó là một yếu tố khác. Nhưng không có điều gì để nói rằng là mình làm việc thiện thì quả không bằng việc bất thiện. Tuy nhiên chúng ta cũng phải nói là phần đông con người chúng ta nhất là những người gọi là phàm phu không thông hiểu pháp của bậc Thánh thì khi chúng ta làm việc bất thiện tâm của chúng ta nhanh chóng hơn, tâm của chúng ta nhanh hơn là chúng ta làm việc thiện. Khi chúng ta làm việc thiện thì vốn dĩ chúng ta không quen làm việc thiện hay chúng ta ít làm việc thiện, nên khi một người thường thường làm việc thiện thì tâm họ không mạnh mẽ như là việc bất thiện.

Chúng tôi lấy ví dụ một người nói lời nói ác khẩu thì họ nói lời nói ác khẩu đa phần là họ cảm thấy rằng mình bực tức do tâm sân nó tuôn ra lời ác khẩu như vậy nó nhanh chóng hơn, và tâm của họ nó gắng bó hơn là nói lời mang lại an lạc cho người khác, tại vì mình không có quen nói điều đó và đôi khi mình nói mình phải lựa lời nói một cách rất là mệt mỏi giống như leo đồi cao vậy.

Nên chi đối với đời sống của chúng ta những người không quen tu tập thì làm việc thiện nó khó nó không mạnh và làm việc bất thiện thì nó nhanh chóng và nó khắn khích hơn. Nên Đức Phật Ngài cũng ở trong kinh Pháp Cú này Ngài nhắc nhở rằng:

"Nếu khi một niềm bất thiện khởi lên thì chúng ta hãy nhanh chóng diệt trừ nó bởi vì tâm bất thiện nó sẽ lan rộng rất nhanh, nhưng nếu khi một niệm thiện khởi lên thì chúng ta hãy ráng nuôi dưỡng bởi vì niệm thiện đó nó sẽ biến mất rất nhanh."

Đó là một thái độ mà Đức Phật gọi là không dễ duôi, không giải đãi. Một người không giải đãi tự hiểu rằng khuynh hướng nghiên về bất thiện, cái khuynh hướng mà nghiên về điều không có hay nó lại là một cái khuynh hướng chủ vị, đó là một khuynh hướng cố hữu chúng ta. Còn đối với một người có ý thức thì biết rằng bởi vì chúng ta trên con đường làm thiện do đó cái thiện tâm coi vậy mà rất là yếu, nó không được mạnh. Thì giống như là cỏ trong vườn, trong vườn thì cỏ dại luôn luôn có khuynh hướng rất mạnh, cái cây mà bông hoa thì thường thường nó lại không mạnh bằng cỏ dại, và điều này có thể gần một phần nào với cái ý mà cô Minh Hạnh hỏi, tức là tâm bất thiện thì thường thường lại là bản năng cố hữu, có thể nói rằng nó chủ động ở trong đời sống của chúng ta nhiều hơn.

Tuy nhiên nói về phước nghiệp thì không đơn giản, bởi vì trong đạo Phật nói rằng một việc làm mà tạo quả nó bởi ba cái yếu tố là: sức mạnh của ý chí, sức mạnh của cetana, sức mạnh của tâm làm. Là điều mà hồi nãy chúng tôi nói là thọ hỷ, thọ xả, hợp trí, vô trí, hữu trợ, vô trợ. Nhưng phải có đối tượng và phải có hành động. Đối tượng là ví dụ như cũng lời nói đó mà chúng ta nói với cha với mẹ cái quả nó khác mà chúng ta nói với bạn bè con cái nó khác. Cũng thời một miếng xôi đó mà miếng xôi đó cho một người ăn mày khác, mà so với một vị Thánh với một người vừa nhập diệt thọ tưởng định ra thì nó lại khác đi. Là bởi vì sao vậy? Bởi vì đối tượng đó nó giống như qúi vị chọi trái banh mà chọi trái banh vô vũng bùn nó khác, mà chọi trái banh vô bức tường nó khác, độ dội nó khác, rồi điều đó nó cũng phải dựa trên hành động của mình nữa.

Dù sao đi nữa thì nghiệp thiện hay nghiệp bất thiện đều có khả năng để sanh quả của hiện tại gọi là hiện báo nghiệp, quả đời sau là sanh báo nghiệp và sau nữa gọi là hậu báo nghiệp. Thiện và bất thiện đều có như vậy hết chứ không nhất thiết là chỉ có nghiệp bất thiện mới trổ quả mạnh và nghiệp thiện không trổ quả mạnh. Thưa quí vị, như trường hợp qúi vị cố gắng đi học chẳng hạn, cố gắng tập trung vào chuyện đi học, thì đi học ra trường xong thì có thể rằng những gì mà chúng ta đã học hành ở trong 5 năm, 7 năm, 10 năm hồi thời niên thiếu cho chúng ta cả một đời sống dư ăn dư mặc suốt cuộc đời của mình, nó mang cho chúng ta một địa vị. Thì cho chúng ta thấy rằng nghiệp thiện và bất thiện đều có khả năng để trổ sanh ở trong cuộc đời này. Nhưng mà một điều mà nhân câu hỏi của cô Minh Hạnh chúng ta cũng phải lưu ý tại đây rằng khuynh hướng làm việc bất thiện thường thường trong chúng ta mạnh hơn là khuynh hướng thiện, cái thiện là cái rất là dễ mai mộ,t dễ bị suy giảm, dễ bị biến mất, nhưng mà cái bất thiện thì dễ lan rộng và lan rất là nhanh và chúng ta phải cẩn thận./.

Saturday, September 7, 2013

Như thế nào là trí tuệ rộng lớn?

Hỏi: Như thế nào là trí tuệ rộng lớn?

(bài giảng trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Đức Phật Ngài đề cập đến một thứ trí tuệ gọi là trí tuệ rộng lớn, trí tuệ này biết lắng nghe, biết lãnh hội và biết thẩm thấu tức là biết tiêu hóa.

 Đức Phật Ngài dùng nhiều thí dụ, ở trong một thí dụ Ngài nói rằng cái lưỡi mà tinh tế dù chỉ nếm một chút vị canh cũng cảm nhận được mùi vị của canh. Một người có mắt tinh tế khi có ánh sáng họ nhìn thấy họ sẽ nhận ra được vật nào xấu, vật nào đẹp, vật nào gần, vật nào xa. Người có tinh tế thì họ rất dễ nhận ra pháp nào là pháp nào. 

Có một sự việc, đôi lúc thật ra chúng ta không thể truyền cho nhau được, chúng tôi lấy một ví dụ,  việc học Phật Pháp cũng có một điều là vị nào quen đọc kinh điển hay thường đọc sách cầm lên một quyển sách chỉ đọc thoáng vài ba trang hay chỉ nhìn lượt qua thôi thì đa phần là có thể đánh giá được quyển sách đó có giá trị hay không có giá trị, nhất là khi chúng ta đứng trước một tủ sách lớn, nhưng một người không quen thuộc với việc đó thì đứng cả ngày lựa hết cuốn sách này đến cuốn sách kia rốt cuộc lựa cuốn sách nào bìa đẹp nhất in đẹp nhất mang về, nhưng đẹp nhất về hình thức không nhất thiết là có giá trị về nội dung. Khi chúng tôi ở Sàigòn với HT Tịnh Sự thì chúng tôi có đem tâm sự này nói với một người ở trong chùa đó là cô Tư Yên, bây giờ cô đã mất rồi, cô là người nấu ăn cho HT ở trong chùa. Có lần chúng tôi nói với cô Tư là nếu mình quen thuộc với sách vở thì không cần đọc hết cả ngàn trang mình mới biết giá trị của cuốn sách, mình cầm cuốn sách lên đọc cách họ chú thích, cách họ viết thì mình có thể nhận được giá trị của cuốn sách. Cô Tư Yên cười và nói cho chúng tôi nghe một thí dụ mà chúng tôi vẫn nhớ đến bây giờ, cô nói rằng: "Chuyện đó giống như đi chợ Sư ơi. Một người biết đi chợ hay quen đi chợ, ra chợ ngó thoáng qua là biết cái nào mình nên mua, cái nào nó tươi cái nào nó tốt thì mình mua, còn người không quen đi chợ đi ra mua trái cây thì trái cây không ngon, đồ ăn thì lại không tươi mà mua mang về, tại vì không biết đi chợ".

Cái biết và cái không biết, cái tinh tế và cái không tinh tế, cái chính xác và không chính xác này là cái khéo mà đôi khi chúng ta rất khó để giải thích. Ở trên cuộc đời này, người ta gọi là chợ đời có trăm muôn ngàn thứ cho mình lựa chọn, nào là bạn bè, nào là sách vở, nào là những gì nên nghe và không nên nghe. Có Phật tử nói với chúng tôi rằng không hiểu tại sao mà những chuyện thị phi ông này bà kia nghe xong thì nhớ liền, thí dụ như nghe người ta nói xấu bà này thế này bà kia thế kia thì dễ nhớ, nhưng sao nghe Phật Pháp thì cứ lùng bùng bên tai vậy, không nhớ được. Thì thưa qúi vị, chúng tôi cũng phải nhìn nhận rằng quen trong cảnh giới nào thì mau mắn để ghi nhận, mau mắn để lãnh hội, mau mắn để ghi nhớ về điều đó, nó quen thuộc thôi.

 Chúng tôi muốn qúi Phật tử có cơ hội làm quen với văn phong của kinh điển, khi chúng ta làm quen với kinh điển, có nhiều Phật tử nói với chúng tôi rằng hồi xưa đọc kinh rất ngán, bây giờ đọc kinh bắt đầu thích là bởi vì quen thuộc với sự hành văn với văn phong, với cách trình bày kinh điển, đó là một điều lợi cho chúng ta. Khi chúng ta quen với điều gì thì chúng ta dễ phân biệt, dễ đón nhận, dễ lãnh hội, dễ nhận thức, và thế giới đó là một thế giới mở rộng ra, chúng ta đi vào thế giới đó chúng ta được một điều mới và đi vào thế giới đó là chúng ta tìm thấy được cả một vùng trời cao rộng.

Friday, September 6, 2013

Làm thiện pháp gì để cho chúng ta sống thọ?

Hỏi: Làm thiện pháp gì để làm cho chúng ta sống thọ?

(Bài giảng trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu: Khi thực hành thiện pháp có ba tác nghiệm lớn: 

1 - Thứ nhất là, khi thực hành thiện pháp, sống trong thiện pháp thì những phiền não không sanh khởi. Thí dụ người hay sát sanh thì tâm sân sanh khởi, mà tâm sân sanh khởi để làm việc sát sanh chính tâm sân đó làm cho khí huyết của họ trở thành một độc tố dễ sanh ra bệnh hoạn và chết yểu. Người ta làm một thử nghiệm cho thấy rằng khi nộ khí sanh khởi thì máu huyết sẽ thành máu độc, một kẻ tử tù trước hết người ta xét nghiệm máu của anh ta rất bình thường nhưng khi tuyên án tử hình thì tâm của anh ta hốt hoảng sợ hãi, người ta lấy một mẩu máu đem xét nghiệm thì thấy trong máu bị nhiễm độc rất mạnh có nồng độ ngộ độc rất mạnh. Đó là lý do chúng ta nên hiểu tại sao khi con người sống an trú trong thiện pháp được sống lâu là như vậy. Một người sống có tâm tánh hiền thiện lúc nào cũng cởi mở cũng bình thản an lành thì máu huyết của họ không trở thành độc. Một người sống với tâm tham tâm sân với sự ngã mạn tà kiến thì những người đó cơ thể họ hay bị biến chứng bởi vì việc bất thiện sanh ra những độc tố mà chúng ta gọi theo Vi Diệu Pháp là Cittasamutthāna rūpam tức là sắc tâm do tâm tạo. Tâm thiện thì tạo ra một sắc tâm tươi nhuận còn tâm bất thiện thì tạo ra sắc tâm bầm dập.

Chúng ta lấy ví dụ rất dễ hiểu: một người bình thường rất đẹp rất duyên dáng với căn tánh hiền thiện cởi mở vui vẻ thì sắc mặt của họ hồng hào tươi trẻ nhưng, một khi giận dữ lên thì nét mặt của họ thay đổi nhìn thấy xấu, hoặc là một người sống trong sự âu lo phiền muộn thì bắt đầu mặt của họ sẽ bị nám hoặc bị nổi mụn v.v... trong trường hợp đó chúng ta cũng nên biết rằng tâm ảnh hưởng sắc tâm rất nhiều, ngay cả khi chúng ta sống bằng tâm bất thiện pháp, sống trong sự lo âu sợ hãi hoặc trong sự thù oán, lúc đó chúng ta ăn cũng không thấy ngon, ngủ cũng không thấy yên giấc. Chỉ một chuyện đơn giản như vậy chúng ta cũng thấy tâm tốt hay tâm xấu ảnh hưởng đến sắc pháp này rất nhiều.

Một người sống trong thiện pháp thì người đó có nhiều lý do khiến cho họ sống thọ; lý do thứ nhất, bởi vì tâm thiện bao giờ cũng tạo ra sắc tâm tốt đẹp. 

2 - Thứ hai là, khi một người sống bằng tâm bất thiện thì có thể là nguyên nhân khiến cho họ bị đột quị, có thể chết khi quá căng thẳng, lúc bấy giờ có thể đứt gân máu rồi chết, hoặc là nộ khí nhiều khi họ giận dữ lên thì đứng tim rồi chết. Còn đối với người có tâm thiện sống trong tâm thiện thì họ tránh được những đột quị đó, áp huyết của họ bình thường không cao không thấp thình lình và thần kinh của họ bao giờ cũng được thư giãn do vậy họ mới sống thọ không chết yểu. Chúng tôi đọc trong một bài báo nói về một trang trại ở nước ngoài có rất nhiều chuột, chúng vào ăn thóc hay ăn hạt của người ta, nếu dùng bẫy để bẫy chuột thì những con chuột khôn ngoan không đi vào trong bãy, còn nếu dùng thuốc cho chúng chết thì đôi khi chúng ăn xong không chết tại chỗ mà chạy vào trong xó kẹt chết ở đó sẽ tạo ra hôi thối và làm ô nhiễm không khí, cho nên người ta nghĩ cách là làm cho chúng sợ hãi rồi bỏ đi hay không sanh sản nữa. Người ta gắn những chuông điện chung quanh kho cất trữ những bao hạt hoặc những bao thóc, cứ cách khoảng 1 giờ 2 giờ thì chuông reo đồng loạt và tiếng chuông kêu rất to. Có những tiếng chuông người ta sản xuất ra kêu như tiếng đờn nhè nhẹ thanh thanh ít làm giựt mình, còn tiếng chuông do cái cây ở bên trong khua lớn làm cho chúng ta giựt mình, và khi tâm giựt mình hốt hoảng như thế thì làm tâm khó chịu đó là tâm sân, và khi tâm sân có mặt thì lúc bấy giờ là người này không an giấc được, không có thư giãn được. Cũng vậy những con chuột này khi nghe tiếng chuông đột ngột như thế chúng bị căng thẳng thần kinh và do đó hệ hormone của chúng không phát triển nên chúng bị tuyệt tự không sanh sản được do vậy số chuột giảm dần, những con chuột khác cảm thấy ở chỗ này không yên ổn nên bỏ đi, sau đó người ta mới phát hiện rằng do những tiếng chuông đột ngột làm cho con chuột khó chịu phải bỏ đi nơi khác hoặc không sinh sản nữa. Chúng ta dựa theo đó mới thấy rằng hệ thần kinh của chúng ta ảnh hưởng tình trạng tâm lý rất mạnh, bởi tâm lý của chúng ta vui tươi thì hệ thần kinh của chúng ta được thư giãn nhẹ nhàng thoải mái, còn hễ tâm bất thiện sanh khởi thì hệ thần kinh của chúng ta nặng nề căng thẳng và dễ sanh ra sự đột quị. Cho nên một người sống trong pháp thiện trong sự vô tư thì người này sẽ sống trường thọ. Đó là lý do thứ hai.

3. - Lý do thứ ba là trong những thiện pháp đặc biệt là thiện pháp không sát sanh. Trong bài kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt (Kinh Cula-kammavibhanga), khi thanh niên Subha Todeyyaputta đến hỏi Đức Thế Tôn rằng:

"Bạch Đức Thế Tôn, tại sao ở giữa cõi người, có người sống lâu có người yểu thọ?"

 Đức Phật Ngài đã thuyết về pháp hành dẫn đến chúng sanh bị yểu thọ hay trường thọ. Đức Phật dạy rằng:

- "Này Subha Todeyyaputta, những người nam nữ nào trong đời này không có tâm ác độc, không giết hại những chúng sanh khác, không đoạt mạng của chúng sanh khác thời do nghiệp này sau khi mệnh chung được sanh về cõi trời, nếu sanh trở lại làm người thời người đó sẽ được trường thọ. Nhưng nếu những người sống với ác tâm và giết hại chúng sanh khác thì sau khi mệnh chung do nghiệp này phải sanh xuống địa ngục, nếu trở lại làm người thì người đó sẽ sống yểu thọ tức là chết trong tuổi thanh xuân."

Không chỉ là do thiện nghiệp không sát sanh mà còn những thiện nghiệp khác thí dụ như bố thí cũng là nguyên nhân giúp cho sống thọ. Trong một bài kinh Đức Phật Ngài dạy rằng:

-"Này các gia chủ, những người bố thí vật thực là những người đem lại cho người thọ thí sự sống lâu, an vui và sức mạnh, và vì rằng khi họ thí thực họ đem lại sự sống lâu an vui sức mạnh cho người thọ thí, bởi vậy họ được quả báo là họ sẽ được sống lâu được sắc đẹp được an vui được khỏe mạnh."

Do năng lực bố thí, người ta đang bịnh yếu mà mình cho họ vật thực để họ ăn vào họ khỏe, hoặc bố thí thuốc men cho họ uống vào họ được khỏe, họ không bị chết, họ được sống lâu, vì quả thiện đó mà chúng ta được sống lâu, như tiền thân của Ngài Bakkula là một vị tỳ kheo mà Đức Phật Ngài tuyên dương giữa chúng tăng là tối thắng trong các đệ tử Như Lai về thiểu bịnh, tức là từ nhỏ cho đến 80 tuổi không hề uống thuốc và khi xuất gia rồi trong 80 năm xuất gia cũng không hề uống thuốc không hề bị bịnh do nguyên nhân đời quá khứ làm thầy thuốc trong thời kỳ Đức Phật Kappa đã chăm sóc sức khỏe Đức Phật và chư tăng, do nguyên nhân này mà phước phát sanh ít bịnh hoạn và được sống lâu đó cũng là nguyên nhân gọi là bố thí đưa đến sự sống lâu. Rồi lại nữa, ở trong kinh Pháp Cú nói một câu chuyện về một người Balamon có đứa con trai rất thương yêu, một hôm ông ta cúng dường cho một vị đạo sĩ và nguyện cho đứa bé được sống lâu được trường thọ. Vị đạo sĩ đó biết rõ đứa bé này sẽ chết cho nên không nói lời phúc chúc, ông Balamon hỏi tại sao thì vị đạo sĩ đó mới nói rằng hãy đi đến hỏi Samon Gotama cách như thế nào thì hãy làm như vậy để cho đứa con được sống lâu. Lúc bấy giờ ông Balamon đó liền tìm đến Đức Phật đảnh lễ Đức Thế Tôn:

-"Bạch Đức Thế Tôn, đứa con trai duy nhất rất là thương, con cầu mong cho nó được sống lâu, xin Đức Thế Tôn làm phép như thế nào để cho nó sống lâu."

Đức Phật Ngài dạy rằng:

- "Người thường kính nể các bậc trưởng thượng những bậc có giới đức, do sự kính nể đó người này được tăng trưởng bốn pháp sống lâu sắc đẹp an vui sức mạnh."

Ông Balamon nghe nói như vậy ông thỉnh Đức Phật và Chư Tăng về nhà để cúng dường cho đứa con trai nhỏ của ông ta, thật ra để diện kiến Chư Tăng và dạy cho cách cung kính Chư Tăng, và lúc bấy giờ Chư Tăng ngồi ở chung quanh đứa bé được đặt ở giữa Chư Tăng. Chư Tăng an trú trong thiện pháp, an trú ở trong pháp thiền định và phúc chúc cho đứa bé đến ngày thứ bảy thì Đức Thế Tôn đích thân Ngài đi đến và Ngài đã chúc phúc cho đứa bé. Nguyên nhân đứa bé sẽ chết yểu là vì có sự oan trái với một con dạ xoa và con dạ xoa đó sau khi phục vụ cho Đức Vua Tứ Thiên Vương xong thì đi tìm đứa bé để giết, nhưng khi dạ xoa đến thì bị các vị Chư Thiên dùng uy lực ngăn lại không cho đến gần Đức Phật và Chư Thánh Alahan. Dạ xoa đứng chờ qua hết bảy ngày thì phải về phục vụ cho Đức Vua Tứ Thiên Vương thành thử mạng sống của đứa bé được giữ lại. Cũng vậy, trong thành ngữ Việt Nam cũng có câu "kính lão đắc thọ" tức là kính trọng các bậc trưởng thượng nhất là bậc có giới hạnh thì sẽ phát sanh trường thọ.

Ba nguyên nhân chúng tôi vừa trình bày đó là những thiện pháp căn bản để làm cho chúng ta được sống thọ.

Nói tóm lại là, người sống nhiều thiện pháp sẽ tạo nên uy lực để quả phát sanh lên khiến cho người này sống được thọ và trong những nguyên nhân phát sanh trường thọ ở đây chúng ta có rất nhiều nhưng chỉ kể ba nguyên nhân chính:

-1 là do giữ giới không sát sanh, không đả thương chúng sanh khác, không làm cho chúng sanh bị mất mạng.
- 2 là năng bố thí vật thực để giúp cho người ta sống được an vui sống trường thọ duy trì được mạng sống do phước bố thí vật thực đó mà quả chúng ta phát sanh được sự sống lâu.
- 3 là do sự kính lão bậc trưởng thượng nhất là bậc có giới hạnh bậc có ân đức cao qúi như Đức Phật và chư vị Alahan kính trọng các vị ấy thì chúng ta sẽ được sống thọ. Đó là nguyên nhân sống thọ.

Thursday, September 5, 2013

Tại sao nói Niệm đối với ta là gậy thúc?

Hỏi: Niệm đối với ta là gây thúc.

(Bài giảng trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Chúng ta làm việc gì thì chúng ta đặc biệt là phải có cái tâm, chúng ta làm việc gì thì chúng ta cũng phải có sự gắng bó, nhưng trong sự gắng bó của tâm của ý thì Niệm chính là cây gậy thúc, Niệm làm cho chúng ta áp sát và dán chặt. 

Các vị thiền sư thường nhắc chữ "nương nhớ và biết mình" và khi mình nói đến phóng dật là quên mình. Dĩ nhiên qúi vị chấp nhận Phật Pháp, chúng ta chấp nhận một lối sống, chấp nhận một số giá trị nào đó, nhưng thiếu Chánh Niệm thì chúng ta không có được sự bền bỉ, thiếu Chánh Niệm thì chúng ta rất dễ lơ là, thiếu Chánh Niệm thì như con trâu cày không có cái gì để thúc đẩy nó. 

Chúng tôi không biết là từ bao giờ nhưng ở miền quê người cày ruộng thường hò hét con trâu là "thá" là "ghí", rồi có khi họ lấy cây gõ vào mông. Thì chúng ta tưởng tượng là con trâu hay con bò cày từ giờ này qua giờ khác, từ luống cày này qua luống cày khác, từ thửa ruộng này qua thửa khác, nó sẽ không tập trung được nếu không có cây gậy thúc, không có cái roi để thúc, không có tiếng hô của người cày chẳng hạn. Đời sống của chúng ta có những việc làm mà được xem là kéo dài trong thời gian, cho dù chúng ta có lòng đi nữa thì một lúc chúng ta sẽ lơ là, như vậy chúng ta phải có Niệm. Chánh niệm nó thường xuyên nhắc chúng ta trở lại là chúng ta đang làm gì. Do vậy đối với người tu tập một điều đáng sợ nhất là quên mình và một điều đáng hoan hỉ nhất là khả năng Chánh Niệm, khả năng nhắc nhở, nhắc nhở giờ phút đó mình đang ở đâu, mình đang làm gì, thân mình như thế nào, tâm mình như thế nào, và có thể chúng ta tưởng tượng bằng cách theo dõi hơi thở, đây là hơi thở ra, đây là hơi thở vào, thở ra dài thở vô dài, thở ra ngắn thở vô ngắn, những điều đó trả chúng ta về cái hiện thực cái gì đang xảy ra đối với thân và tâm của mình. Và Chánh Niệm có khả năng ở đây như gậy thúc là nhắc chúng ta không quên mình.

Chúng tôi ở gần một người mà người này không biết bị bịnh gì mà hay nói lớn nói ào ào dù là một người hay là có khách đến cũng vậy, đã có tính hay nói mà lại còn nói lớn, lâu lâu chúng tôi ở trong phòng có khách đến chúng tôi nghe vị này nói chuyện rổn rảng, nói từ đầu tăng xá đến cuối tăng xá cũng nghe được, thì chúng tôi ra nhắc là hoan hỉ nói chuyện nhỏ lại một chút tại vì có người nghe, thì nếu chúng tôi nhắc thì một ngày mấy chục lần cũng không hết, tại vì nhắc được một vài lần rồi sau đó cũng trở lại nói lớn, thí dụ như là nói mấy câu đầu nói lớn khi nhắc thì vị đó nói nhỏ lại, thậm chí sau này vị đó nói với chúng tôi rằng khách thì khách mình nói chuyện đâu có sao đâu. Nhưng thật sự điều đó là điều quên mình, người có Chánh Niệm là người biết cái gì vừa phải. Thí dụ mình có tật là hay nói về bản thân của mình, đúng ra mình nói chuyện với ai mình cũng than ngắn thở dài cũng nói bản thân của mình cái đó cũng là một sự thất niệm. Mình có Chánh Niệm thì mình hiểu là nói cái gì vừa phải cái gì cần thì nói, không cần thì thôi chứ không nên ngồi đó nói những chuyện thừa thãi, đó là làm mất thì giờ người khác.

Nhưng nói chung thì Chánh Niệm đặc biệt được Đức Phật Ngài đề cập đến đây là giống như cây gậy thúc hay cây roi. Và từ chỗ Đức Phật đề cập đến nông cụ và hạt giống thì Ngài bước qua một đoạn khác ở trong đoạn này Ngài nói về một mảnh đất sẵn sàng để gieo trồng, mảnh đất đó phải được dọn sạch cỏ hoang, mảnh đất phải được cày sới, mảnh đất đó phải sẵn sàng đủ tốt để gieo trồng:

Wednesday, September 4, 2013

Ý nghĩa khổ hạnh là cơn mưa là gì?

Hỏi: Ý nghĩa khổ hạnh là cơn mưa là gì?

(bài giảng trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Chữ khổ hạnh ở đây là chữ phải minh định rõ, chữ khổ hạnh này không có cái nghĩa là thực hành khổ hạnh của Balamon giáo, chữ khổ hạnh ở đây đúng ra là sự thanh hạnh tức là đời sống giản dị, đời sống thanh bần, đời sống ít nặng về khuynh hướng ở bên ngoài và nhờ như vậy sẽ cho chúng ta cái giá trị cuộc sống tinh thần. 

Thật ra về điều này là một yếu tố tốt, trong nghệ thuật sống hàng ngày một con người ăn uống quá thừa thãi thì thường thường họ ăn không ngon, tại vì dư thừa quá, đời sống con người mình có quá nhiều tiện nghi có quá nhiều sự hưởng thụ thì tinh thần mình bị trì trệ. Chúng ta nói như vầy là hễ được cái này thì lại mất cái kia, về vật chất nếu chúng ta có những thành tựu lớn, về vật chất nếu chúng ta sung túc, về vật chất nếu chúng ta nặng quá thì về tinh thần kém.

 Một thí dụ cụ thể nhất là chúng tôi có nghe Chư Tăng nói ở Việt Nam thời khổ sở về kinh tế như thời 75 đến 85, 10 năm đó là 10 năm đất nước rất đen tối, kinh tế lụi bại, chùa chiền rất khổ, thì thời gian đó có nhiều vị tăng nhiều vị sư học được tu được và về sau này có thể làm được nhiều việc. Nhưng về sau khi kinh tế khá nhất là bây giờ Việt kiều về nước nhiều hơn, những người ở trong nước làm ăn khá hơn, hay chùa được xây cất qui mô lớn hơn, thì hình thức có phát triển nhưng chư tăng về nội điển thì lại kém. 

Chúng tôi so sánh Thái Lan và Miến Điện, thành thật mà nói vị sư Thái đời sống về vật chất thoải mái hơn, phương tiện ăn ở Phật tử lo đầy đủ, đi khất thực ít có bao giờ tại Thái Lan mà không đủ ăn, chỗ ở thì chư tăng mỗi vị có một cái cốc và có đầy đủ tiện nghi, chúng tôi về Bangkok hay về các vùng xa thì cốc của Chư Tăng xây trên bên dưới có nhà vệ sinh nhà tắm và được xây cất với một huy hoạch rõ ràng, nhưng chúng ta phải nhìn nhận một điều rằng nếu nói về số trung bình thì Chư Tăng Miến Điện học và tu nhiều hơn, tại vì đời sống vật chất hạn chế hơn, đất nước Miến Điện rất nghèo. 

Bao giờ cũng vậy nếu được cái này thì mất cái kia. Người ta nói khi thị giác của chúng ta yếu như một người bị khiếm thị hoặc không có thị giác chẳng hạn thì tai bén nhạy hơn. Và nếu chúng ta muốn đời sống tinh thần của chúng ta được sung mãn thì vật chất đừng có phát triển nhiều quá, phải nói thời nào mà về vật chất phát triển mạnh thì thời đó tâm linh không phát triển mạnh, chúng ta không thể nào có một lúc cả hai. Thành ra khi chúng ta nói sự khổ hạnh ở đây được hiểu theo cách của Đạo Phật đó là đời sống về vật chất không bận rộn nhiều không hưởng thụ nhiều thì cuộc sống tinh thần sẽ phát triển..

Tuesday, September 3, 2013

Có thể nói về Duyên Hành Paccayo trong Phật Pháp mà không cần biết về kết cấu hỗn hợp của tâm hay không?


Hỏi: Có thể nói về Duyên Hành Paccayo trong Phật Pháp mà không cần biết về kết cấu hỗn hợp của tâm hay không?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, Ngày 23-7-2013, Thiên Ân chuyển biên, Minh Hạnh hiệu đính)

TT Tuệ Siêu:  Ở trong kinh điển, trong Phật Pháp khi chúng ta nói đến Duyên Hệ, kết cấu hỗn hợp của tâm, chúng ta không cần biết đến kết cấu đó như thế nào. Ở đây, chúng ta nêu lên ít nhất 4 duyên, còn nhiều lắm, nhưng chúng tôi chỉ nói duyên đại thôi, còn duyên tiểu, duyên lớn để chỉ cho tâm, cấu trúc tâm có rất nhiều, nhưng ở đây nói duyên lớn như Câu Sanh Duyên, tức ám chỉ cho bốn danh uẩn trợ nhau một trợ ba, ba trợ một, hai trợ hai, một trợ ba như thọ uẩn, tưởng uẩn, ba trợ một rồi hai, thọ tưởng trợ cho hành thức hoặc hành thức trợ thọ tưởng, đó là hai trợ hai, cho nên khi chúng ta nói Câu Sanh Duyên sahājāta paccaya thì chúng ta biết rồi chứ không cần biết kết cấu hỗn hợp như khi học Vi Diệu Pháp. 

Một duyên nữa cũng là duyên lớn, chúng ta gọi là Hỗ Tương Duyên aññamañña paccaya, tức là ở đây nói như vậy để chúng ta biết rõ trong một sát na tâm bốn danh uẩn hỗ trợ lẫn nhau, ví dụ như Thọ uẩn trợ cho Tưởng uẩn sanh lên, Tưởng uẩn cũng trợ cho Thọ uẩn sanh lên, Thọ, Tưởng trợ cho Hành, Thức. Hành, Thức cũng trợ cho Thọ, Tưởng. Bốn danh uẩn trợ nhau, hỗ tương nhau cũng giống như ghế bốn chân, một chân này nâng đỡ cho ba chân kia, ba chân kia nâng đỡ cho chân này, hai chân trước nâng đỡ hai chân sau gọi là hỗ tương duyên, đó là thứ hai. 

Còn duyên đại thứ ba chúng ta gọi là sampayutta paccayo, tức là Tương Ưng Duyên, bởi bốn danh uẩn Thọ, Tưởng, Hành, Thức thuộc về danh pháp, cho nên danh pháp tương ưng nhau cũng giống như nước với sữa, hay nước với đường, khi sữa hòa tan trong nước thì chúng ta biết rằng, nước nhờ có sữa nên nó màu trắng và ngọt, sữa nhờ có nước mà trở thành thức uống loãng, hòa tan được, nếu không có nước thì sữa không hòa tan được.

Nên ở đây, chúng ta phải hiểu Tương Ưng Duyên, tức bốn danh uẩn tương ưng lẫn nhau, nói như vậy, một người có học Vi Diệu Pháp là hiểu chứ không cần nêu sự kết cấu, và thêm Hiện Hữu Duyên, rồi Bất Ly Duyên. Hiện Hữu Duyên cũng mô tả về tâm, bốn Danh Uẩn trợ nhau bằng cách đồng có mặt với nhau cũng giống như khi người ta đặt cái bàn xuống, thì bàn có bốn chân, bốn chân phải đồng hiện hữu, đồng có mặt với nhau thì nó mới nâng đỡ nhau được, mà có hiện hữu tức có bất ly (avigata paccayo).

Đó là ý nghĩa chúng tôi trả lời một cách đại khái về câu thảo luận nói về Duyên Hệ trong Phật Pháp, không cần biết đến kết cấu hỗn hợp của tâm, chúng ta có thể nói như vậy được. Chúng ta mô tả tâm sanh lên thì trong đó có Câu Sanh Duyên, Hỗ Tương Duyên, Tương Ưng Duyên, Hiện Hữu Duyên, Bất Ly Duyên. Như vậy với những duyên đó chúng ta đủ nói tâm có sự kết cấu với nhau rồi. Chúng tôi xin được trả lời câu hỏi này như vậy.