Thursday, August 11, 2016

Kinh Xúc Động - Tăng Chi Bộ - TT Giác Đẳng

Kinh Xúc Ðộng - Tăng Chi Bộ 

Bài học giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 19-7-2016

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài học này chúng tôi có một số điều trình bày bởi vì cũng có một chút phước duyên được đi hành hương 4 cảnh động tâm, chiêm bái 4 Thánh Tích và cũng có tổ chức hướng dẫn các phái đoàn đi chiêm bái các Thánh tích.

Chánh văn:
- "Có bốn trú xứ, này các Tỷ-kheo, khi một tín nam thấy cần phải xúc động mãnh liệt. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai sanh. Ðây là trú xứ khi một tín nam thấy, cần phải xúc động mãnh liệt. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai đã giác ngộ Vô Thượng Chánh Ðẳng Giác. Ðây là trú xứ khi một tín nam thấy, cần phải xúc động mãnh liệt. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai chuyển pháp luân vô thượng. Ðây là trú xứ khi một tín nam thấy, cần phải xúc động mãnh liệt. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai đã nhập Niết-bàn giới, không có dư. Ðây là trú xứ khi một tín nam thấy, cần phải xúc động mãnh liệt".

1. Điểm thứ nhất-  Việc đầu tiên chúng tôi muốn chia sẻ khi chúng ta đến một Thánh tích dù là nơi Đản Sanh, Thành Đạo, Chuyển Pháp Luân, hay nơi Viên Tịch Niết-Bàn sự cảm nhận của chúng ta, sự cảm xúc của chúng ta tùy thuộc nhiều vào trình độ hiểu biết, vào niềm tin và vào sự khéo léo. 

Nhiều người bỏ ra tiền bạc rất nhiều để làm một chuyến đi hành hương nhưng lại được lợi lạc rất ít vì lý do họ quá bận tâm đến những cái dơ của xứ Ấn Độ khi đến từ những nơi sạch sẽ như bên Âu Mỹ chẳng hạn. Cái phiền ở tại Ấn Độ khi những tiện nghi không được như chúng ta mong muốn. Hoặc giả thất vọng khi chúng ta nghĩ tưởng Thánh Địa như thế này Thánh Địa như thế kia. Nếu quí vị đã từng đến thăm những ngôi chùa vĩ đại tại Trung Hoa, Nhật Bản, Miến Điện, Thái Lan rồi quí vị sang Ấn Độ thì thật ra những kỳ vọng khi chúng ta đến chiêm bái các Thánh Tích, không giống như vậy. 

Đi hành hương đặc biệt đi chiêm bái bốn Thánh Tích là một trắc nghiệm rất lớn về niềm tin của chúng ta, chúng ta hiểu Phật như thế nào? Chúng tôi lấy một ví dụ nhiều người tin Phật đơn thuần nghĩ Đức Phật rất linh thiêng, Ngài có rất nhiều quyền lực. Họ đến những ngôi chùa vĩ đại có những bàn Phật rất trang nghiêm, họ đã quỳ hàng giờ để cầu nguyện. Thậm chí nghe người này nói đi biển thấy Quan Thế Âm Bồ Tát thị hiện như vậy, đi đâu thấy Phật thị hiện như vầy v.v... Họ tin Phật tại họ nghĩ đến sự linh thiêng gia hộ. 

Khi đến những Thánh tích một số bị hoang tàn bị hư hỏng theo thời gian hay bị phá hủy bởi người Hồi giáo nhiều người thất vọng là quyền lực linh thiêng của Đức Phật ở đâu mà Ngài để những nơi Thánh tích xảy ra trường hợp như vậy? Thật ra nếu quí vị hỏi chúng tôi câu hỏi đó chúng tôi sẽ mời quí vị đến tất cả những Thánh tích những di tích của những vị giáo chủ lớn trên thế giới, tất cả những ngôi đền dù đó là đền cổ của Hy Lạp, kim tự tháp thờ Mặt Trời ở vùng cao nguyên miền trung Mexico thuộc nền văn minh Maya, những ngôi chùa vĩ đại v.v... đểu bị tàn phá theo thời gian.

 Đức Phật chưa bao giờ Ngài dạy chúng ta tin Ngài bằng quyền lực bậc siêu nhiên Ngài sẽ bảo vệ ban phước cho chúng ta và thay vào đó Ngài cho những lời dậy rất là minh triết: 

- "Tất cả các hành là vô thường, các con phải tinh tấn"

 Đức Phật đã dạy chúng ta dù đó là đẹp, dù là xấu, dù là thô, dù là tế, bất cứ hiện tượng nào của pháp hành đều là vô thường.

Cũng có những người đi hành hương với tâm tư đi tìm về vùng đất Phật hay Phật quốc phải gặp những con người rất đẹp, có đạo tâm, rất dễ thương, nhưng mà rồi có một vài nơi khi đến họ thất vọng vì thấy những người đi ăn xin bám theo mình như đỉa đói, những viên chức chính quyền lại rất khó chịu khó ưa. Và thậm chí đôi khi trên con đường hành hương chúng ta không được đón nhận thân thiện. Con người chúng ta ngày hôm nay dễ ru ngủ mình bằng kỳ vọng của sự thân thiện, bằng kỳ vọng đẹp, mình đi đến chỗ nào chỗ đó phải vui, phải đẹp, phải tiện nghi, phải thế này, phải thế kia. 

Thật sự, người ta đã quên đi những cuộc hành hương vĩ đại ở trong lịch sử nhân loại và trong lịch sử Phật Giáo không phải là con đường đầy hoa thơm cỏ lạ như vậy. Ngài Huyền Trang từng bị ăn cướp bắt trói cướp sạch đồ, Ngài Pháp Hiển còn tệ hại hơn nữa bị họ lột không còn một mảnh vải che thân may là có những người thương xót giúp đỡ, Ngài Nghĩa Tịnh tưởng đâu bỏ xác ở xứ người bởi vì những chứng bệnh do phong thổ khác biệt. 

Chúng tôi muốn nói một điểm như vầy, những người có niềm tin tôn giáo thường sống nặng về lý tưởng, sống nặng về kỳ vọng và thường hay ru ngủ mình với những gì mình nghĩ rằng màu nhiệm linh thiêng và đôi khi khiến người ta xa rời thực tế. Chúng tôi biết có một vị HT có ngôi chùa lớn ở Texas trong một chuyến đi sang Ấn Độ đã nói : "Tưởng đâu Phật tích là to tát vĩ đại nhưng mà chỉ còn lại mấy miếng gạch ngói hoang tàn thôi". Quí vị tưởng tượng là một vị tu sĩ sống trong chùa đi sang Phật tích mà ngồi tưởng tượng chỗ đó phải lớn như Vatican, phải thế này phải thế kia, khi đến các Thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ thấy hoang tàn thì thất vọng, đó là một vị Hoà Thượng Nam Tông. Có nhiều người đi hành hương Ấn Độ về điều họ nói chỉ về thức ăn, về nhà vệ sinh, chỉ về những bất tiện của Thánh tích, của những nơi họ đi qua, họ không có sự chuẩn bị tâm lý và họ đánh mất rất nhiều lợi ích. 

Cuộc sống của chúng ta là một cuộc hành trình và nếu trên hành trình đó  chúng ta trải qua những giai đoạn, những đoạn đường không được đẹp đoạn đường gồ ghề và chúng ta bất mãn và chúng ta bực bội thì đó là tự mình, tự tâm mình, vấn đề không phải là cuộc hành trình đó mà vấn đề là tại vì chúng ta không chuẩn bị về tâm lý.

Chúng tôi chia sẻ về vấn đề hành hương. Có 2 điểm đối nghịch nhau giữa Nam Truyền và Bắc Truyền, điều này tạo nên một sự khác biệt sâu sắc khi đi hành hương người Phật tử phải biết và người học Phật phải biết. 

Với Phật giáo Bắc Truyền Đức Thế Tôn thành đạo từ vô lượng kiếp và tất cả những gì Ngài hiển lộ trong đời sống của Ngài, ở trong suốt cuộc đời của Ngài sanh ra là Thái Tử, lớn lên lập gia đình rồi từ bỏ Ngai vàng vợ con đi xuất gia rồi viên tịch Niết-bàn chỉ là một sự thị hiện để độ chúng sanh. Chúng ta nói theo ngôn ngữ bình thường chỉ là sự đóng vai tức là Ngài phải đóng nhập vai đó, Ngài phải đóng vai đó để cho chúng sanh thấy mà thay đổi nhưng thực chất phía sau Ngài đã là vị Phật, Ngài đã là một vị có rất nhiều quyền phép, Ngài đã là vị rất tự tại trong cuộc đời bởi vì Ngài đã thành đạo lâu rồi bây giờ cái gì Ngài làm chỉ là sự hiển hóa chỉ là sự hiển thị ra bên ngoài để chúng sanh tin.

Nhưng quan điểm đó không được chia sẻ bởi Phật tử thọ trì kinh tạng Pali Phật Giáo Nam Truyền. Khi đi hành hương đến những chỗ Ngài tu khổ hạnh đến những đoạn đường Ngài đã đi qua trời nóng trời lạnh, đến những cam khổ, đến những gì Ngài đối diện trong đời sống đều là thật rất thật, chúng ta nói theo người Hoa Kỳ là face value (như vậy là như vậy). Đức Thế Tôn Ngài không cố tình làm như vậy mà Ngài đã đối diện với như vậy Ngài đã trải qua như vậy. 

Đã có một sự trái trống rất lớn khác biệt giữa hai truyền thống Phật Giáo trong vấn đề chiêm bái đó là:

- Phật Giáo Bắc Truyền, chúng tôi nói ở đây là có một số lớn không phải hầu hết đạt đạo về vấn đề linh thiêng của Đức Phật. Cái linh thiêng đó là họ nói đi họ cầu nguyện thế này họ cảm nhận thế kia rồi về nói lý do tại sao mình chiêm bái. 

- Nhưng trong quan niệm của kinh Pali của những người Phật tử Nam Truyền thì chúng ta về chiêm bái là để cảm nhận sự cao cả, cảm nhận sự vĩ đại của Đức Phật, cảm nhận một bậc Đại Giác đã đi như vậy, đã đến như vậy, đã sống như vậy, đã hoằng hóa như vậy và điều đó có một giá trị lớn đối với tất cả chúng ta. 

Hai điểm này rất trái ngược với nhau. Vì vậy khi đi hành hương chúng ta phải hiểu, chúng tôi lấy ví dụ vị Hoà Thượng ở Texas khi đi hành hương qua Ấn Độ nói rằng nếu Đức Phật Ngài linh thiêng tại sao Ngài không gìn giữ những nơi Thánh địa đó vẹn toàn không bị Hồi giáo xâm chiếm tàn phá. Thật ra quan niệm đó không phải là một quan niệm xác thực mặc dầu vị Hòa Thượng đó tu theo Nam Tông và cũng là người lớn tuổi có suy nghĩ nhưng chúng ta cảm nhận Đức Phật như vậy, chúng ta đảnh lể một pho tượng rồi tình cờ bị cơn sóng thần tsunami hay bị sao đó mà pho tượng Phật bị bể bị hư thì chúng ta cũng phải nói pho tượng Phật đó tại sao nói linh thiêng tại sao không giử hoài, tại sao bị hư hỏng. Pho tượng là pho tượng, một người Phật tử tỉnh táo không ai nghĩ Đức Phật phải bảo vệ pho tượng đó, Đức Thế Tôn Ngài không có bận thì giờ để bảo vệ tất cả những pho tượng của Ngài ở trên thế gian này. Đây là một vài điểm chúng tôi muốn nói với quí vị là đi hành hương phải chuẩn bị tâm lý. 

2. Điểm thứ hai:  Đa số đi hành hương Ấn Độ bận tâm về số tiền mình chi ra, đi hành hương vì người quen, nhưng hai điều đó không quan trọng, điều quan trọng nhất phải biết trong chuyến đi hành hương đó mình làm cái gì, mình hiểu được điều gì và mình nghe được điều gì. Chúng tôi biết có nhiều người tìm những tour tương đối rẻ rồi đi qua Ấn Độ người ta chỉ đây là chỗ Đức Phật thành đạo rồi vô lạy, đây là chỗ Đức Phật Đản Sanh rồi vô lạy, lạy xong đi ra hay tụng bài kinh rồi đi ra, như vậy không đủ, chúng tôi phải nói thật sự là không đủ. 

Khi chúng ta đến một nơi có những sự kiện lịch sử mang tầm vóc quan trọng, ví dụ như Thánh địa nơi Đức Thế Tôn chuyển Pháp Luân là nơi Đức Thế Tôn thuyết pháp đầu tiên đó là Đại Tháp Dhamek đó là nơi Đức Thế Tôn đã cho 5 vị Tý Kheo xuất gia đầu tiên, nơi bắt đầu thời kỳ giáo pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Nơi hình thành đầy đủ ba ngôi báu Phật Pháp Tăng, một nơi đánh dấu cha mẹ của Yasa đã đến gặp Đức Thế Tôn đã qui y. Lần đầu tiên có một người Phật tử qui y Tam Bảo như thế nào? Tam Bảo xuất hiện như thế nào? Những điều đó người ta không biết, tại vì họ không quan trọng đến lịch sử, họ chỉ nói đây là nơi Đức Phật chuyển Pháp Luân. 

Thậm chí nếu đi mà chúng ta không hiểu rõ về kinh Chuyển Pháp Luân Đức Phật dạy điều gì? Sự cô đọng ra sao? Nền tảng của giáo pháp đã được giảng dạy như thế nào? Dẫn mọi người đến để chiêm bái Thánh tích Phật chuyển Pháp Luân mà các vị đó coi giáo lý Tứ Đế không có gì quan trọng hết thì thật sự đáng tội nghiệp. Mình đi không phải quan trọng là tiền, không phải quan trọng đó là người quen hay là tiện nghi, mà quan trọng là ở mỗi một chỗ như vậy mình được hiểu gì, cảm nhận điều gì. 
Thật sự mỗi một Thánh tích là một đạo tràng, mỗi một Thánh tích là một chương lịch sử rất quan trọng, mỗi một Thánh tích khẳng định một số những giá trị rất cao quí đối với người Phật tử trên thế giới. Nhưng rất tiếc người ta đi theo dịch vụ, người ta đi theo sự quen biết bình thường và đi cho có đi không cảm nhận trọn vẹn điều đó. 

Khi đi hành hương sang Ấn Độ cũng phải khéo để sắp xếp lộ trình. Ba nơi người ta thường đến Ấn Độ đầu tiên là New Delhi thủ đô Ấn Độ hoặc giả Bombay một thành phố Nam Ấn, hoặc giả thành phố Kathmandu của quốc gia Nepal. Tùy vào chỗ mình đi người ta tạo ra một hành trình thí dụ như lộ trình New Delhi thường đến đó rồi đa số phái đoàn cách rẻ nhất là lấy xe lửa, đi xe lửa ở tại Ấn Độ là một ác mộng đối với những người hành hương, nhà ga như một biển người rất nhiều chuột chạy ở dưới đường rầy, chạy tới chạy lui tung tăng thoải mái và sô bồ vô cùng, có nhiều người sang Ấn Độ mới đến Tân Đề Li ngủ một đêm sáng ra nhà ga thấy cảnh như vậy khóc đòi về. Một cách tiện nhất là lộ trình từ New Delhi hay Bombay lấy máy bay bay đến Varanasi nơi có Thánh tích Sarnath nơi Đức Thế Tôn chuyển Pháp Luân. 

Di chuyển từ Thánh tích này qua Thánh tích khác có một điều bắt buột là phải đi xe bus, và hầu như một chuyện rất cần thiết là để bớt bụi và để dễ chịu xe bus phải tốt có máy lạnh, nếu mướn xe bus rẻ tiền chạy chút xíu người ta nói máy lạnh hư và họ quay cửa xuống quí vị sẽ hứng bụi rất nhiều, ngày hôm nay đường xá Ấn Độ bụi nhiều và đi rất dễ bị bịnh vì bụi. Người đi hành hương phải có một thái độ rất tích cực đi khám phá học hỏi và thử thách với chính mình, nếu một người đi hành hương phải đúng như tiểu thư và công tử thì thật sự quí vị sẻ rất khổ sở.

Có những lộ trình có lẽ 5 năm 10 năm nữa có thay đổi nhưng ở trong xuyên suốt từ năm 1989 lần đầu tiên chúng tôi đi Ấn Độ cho đến năm vừa rồi có những con đường họ làm chưa xong, nó dài và gập ghềnh người ta không nói ổ chuột mà là ổ voi. Như vậy, một kinh nghiệm thực tế tất cả ai đi Ấn Độ kỳ vọng một chuyến đi tiện nghi thoải mái người đó sẽ thất vọng. Nhưng những tour tổ chức đi họ không dám nói điều đó sợ người ta sẽ ngại không dám đi nữa, về vấn đề tiếp thị người ta ngại nói về những điều đó nên ai muốn đi hành hương Ấn Độ phải chuẩn bị tâm lý rất nhiều về điểm này.

Mỗi một nơi đến chúng ta phải cảm nhận từ một góc cạnh nào đó mà điều đó khả dĩ có thể tạo cho chúng ta sự xúc động tinh thần ví dụ: 

Đến Bồ Đề Đạo Tràng chúng ta có thể dành ít thì giờ ngồi yên lặng nhìn cây Bồ Đề và tưởng tượng 26 thế kỷ về trước Đức Thế Tôn một vị vua từ bỏ ngai vàng đã đến đây lúc đó ở đây là rừng rậm hoang vu dưới một cột cây Ngài đã ngồi vào một đêm trăng tròn Vesak, những gì Ngài giác ngộ những gì Ngài cảm nhận đã ảnh hưởng bao nhiêu thế hệ ở tại bao nhiêu quốc độ ở trong suốt 26 thế kỷ vừa qua. Chúng ta thử nghe âm thanh tụng kinh của những người Tích Lan, những người Đài Loan, người Nhật Bản, có thể nói ngồi tại Bồ Đề Đạo Tràng thấy bao nhiêu là Phật tử từ tứ phương đổ về họ tụng kinh bằng nhiều ngôn ngữ bằng nhiều tâm lành, họ lạy Phật bằng sự thành kính chúng ta mới cảm thấy sự vi diệu Đức Phật là vị Cha Lành. Cho đến ngày nay Đức Phật vẫn còn là cội nguồn quan trọng cho mọi người. 

Đến nơi Đức Thế Tôn chuyển Pháp Luân có những giai thoại rất nhỏ nhưng ảnh hưởng rất lớn, ngay sau bài pháp đầu tiên Đức Thế Tôn bằng tuệ nhãn hiểu được tâm tư của Ngài Kiều Trần Như, lúc này Ngài Kiểu Trần Như không nói gì chỉ yên lặng nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp nhưng Đức Phật gọi "Annata Kondanna đã tỏ ngộ - Kiều Trần Như đã tỏ ngộ", đó là một sự khẳng định, nếu Kiều Trần Như không tỏ ngộ thì Đức Thế Tôn không khẳng định được như vậy, có khi nào chúng ta tưởng tượng đến một người nói chuyện nói pháp cho ai mà nói xong khẳng định là người đó tỏ ngộ nhưng Đức Thế Tôn đã khẳng định "Annata Kondanna đã tỏ ngộ - Kiều Trần Như đã tỏ ngộ", chỉ khi Ngài thật biết thật thấy bằng cái nhìn của một vị Phật bằng hiểu rõ thì khẳng định điều đó. Nếu Ngài thuyết pháp Ngài Kiều Trần Như và các thầy Tỳ Kheo im lặng mà Ngài không hiểu không biết được các vị có giác ngộ hay không mà Ngài tuyên bố như vậy thì thật sự là một điều không tưởng. 

Có vô số những Thánh tích chúng ta đi qua liên quan đến cuộc đời của Đức Phật như núi Linh Thứu, thành phố Vesali nơi Đức Phật thành lập giáo đoàn Tỳ Kheo Ni, nơi Đức Thế Tôn còn là vị Thái Tử và rất nhiều nơi khác, nhưng 4 Thánh tích nơi Đức Thế Tôn Đản Sanh, Thành Đạo, Chuyển Pháp Luân và Niết-bàn thì riêng đối với 4 Thánh tích này người Phật tử phải cảm nhận điều gì nên cảm nhận từ góc cạnh nào đó cần cảm nhận.

Thì ở đây, hành trình đi hành hương Ấn Độ,  Thánh tích Đản Sanh của Đức Thế Tôn nằm trong quận Kapilavastu là một thị trấn của Nepal sát biên giới Ấn Độ. Ngày hôm nay chúng ta về đó còn thấy trụ đá của vua A Dục đánh dấu nơi Đức Phật Đản Sanh và ở trên trụ đá đó ghi hàng chữ "Đây là nơi đản sanh của bậc Mâu Ni giòng Thích Ca". Kế bên là hồ tắm nơi Hoàng Hậu Maya đã xuống tắm sau khi hạ sanh Thái Tử. Phía trong ngôi đền thờ có một phiến đá, phiến đá đó vua Tịnh Phạn đã đánh dấu bước chân chào đời của Thái Tử Sĩ Đạt Đa được giữ yên tại đó, 3 điểm đó rất quan trọng. 

Hơn 30 ngôi chùa lớn vĩ đại được xây dựng chung quanh Thánh Địa trong một khuôn viên Liên Hiệp Quốc thành lập gọi là Trung Tâm Hòa Bình thế giới. Thánh Địa Lumbini không thay đổi nhiều nhưng chung quanh có những ngôi chùa cực kỳ tráng lệ. Chúng ta phải đi phải đến những ngôi chùa đó để hiểu được những người Phật tử trên thế giới này đã vinh danh đã giữ gìn Thánh tích như thế nào.

 Khi đến Thánh tích nơi Đức Thế Tôn thành đạo tại cội Bồ Đề còn đó cội Bồ Đề và Đại Tháp Mahabodhi do vua A Dục xây cất để đánh dấu nơi Đức Phật thành đạo. Dòng sông Niranjana (Ni Liên Thiền) vẫn chảy ngang trước mặt gần đó và nếu chúng ta đi 27 cây số về phía tây thì đến Khổ Hạnh Lâm nơi Đức Thế Tôn đã hành khổ hạnh ở trong thời gian dài. 

Thánh Địa Bồ Đề Đạo Tràng rất đặc biệt bởi vì ngôi chùa đã được vua A Dục xây dựng khoảng 20 thế kỷ sau khi Đức Thế Tôn thành đạo mà bây giờ theo thời gian thì nguyên cả công viên của chùa nằm sâu dưới lòng đất chúng ta đi chung quanh giống như đi chung quanh lòng chảo, rất thú vị, từ trên đó có một con đường quí vị đi chung quanh có thể nhìn xuống, ở tại đó thật sự là có đánh dấu 5 tuần lễ nơi Đức Thế Tôn đã ở lại sau khi Ngài thành đạo. Vào tuần lễ thứ 6 sau khi Ngài thành đạo Ngài đến bờ hồ Mucalinda cách đó khoảng 4 cây số ngày hôm nay hồ vẫn còn và nước vẫn trong nơi vua Long Vương hồ Mucalinda đã lên che mưa cho Đức Thế Tôn.  Một nơi khác nằm bên kia Dòng sông Niranjana Ngài ngồi dưới cội cây Ajapala. 

Đến Thánh Địa chúng ta có thể cảm nhận lại rất đầy đủ rất chi tiết rất tường tận những giờ phút lịch sử, Đức Thế Tôn đã đem về 3 bó cỏ tranh trải dưới cội Bồ Đề Ngài đã ngồi Ngài đã trải qua những gì trong đêm thành đạo và sau đó 7 tuần lễ Ngài lưu lại Bồ Đề Đạo Tràng trước khi lên đường chuyển Pháp Luân. 

Chúng ta đến Thánh Địa Chuyển Pháp Luân sẽ gặp đại tháp Chaukhandi đánh dấu nơi Đức Thế Tôn gặp lại 5 anh em Kiều Trần Như sau một thời gian xa cách khi Ngài chuyển từ khổ hạnh sang trung đạo 5 vị này thất vọng bỏ đi, khi Ngài gặp lại 5 vị này thì điều gì đã diễn ra trong giờ phút đó đã được vua A Dục xây cất một đại tháp đánh dấu. Đức Thế Tôn đã dẫn 5 vị Kiều Trần Như đến một nơi các vị đã ngồi xuống nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp bài kinh Dhammcakkappavattana Sutta - kinh Chuyển Pháp Luân hay Khởi Chuyển Bánh Xe Pháp. Bài kinh Khởi Chuyển Xe Pháp này được Đức Thế Tôn giảng ở một vị trí quan trọng đó là nơi hình thành đầy đủ của Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo khi Đức Thế Tôn Ngài cho 5 vị đạo sĩ Kiều Trần Như trở thành 5 vị Tỳ Kheo và một đại tháp được xây cất tại đó.

Chúng ta cũng đến gần tháp Mùlagandhakuti là nơi xây cất và Ngài Huyền Trang đã ghi lại và tướng Alexander Cunningham đã khai quật đánh dấu nơi Đức Thế Tôn đã an cư kiết hạ mùa mưa đầu tiên tại Lộc Giả. Và ở trước mặt đó có một tháp đánh dấu nơi cha mẹ của Yasa đã đến gặp Đức Thế Tôn khi đi tìm con là Yasa, 2 ông bà là hai người cư sĩ đầu tiên đã qui y Phật, qui y Pháp, quy y Tăng trở thành vị Tu Đà Hườn. 

Varanasi muôn đời là một thành phố huyền bí, giòng sông Hằng chảy qua Varanasi đã là một sự mời gọi hàng triệu người đến đó hành hương. Varanasi là nơi khai sinh đạo Jain (Kỳ Na Giáo) , khai sinh đạo Phật, Và là một chiếc nôi rất quan trọng của Ấn Giáo. Con người phải hiểu chiều dầy của lịch sử phải hiểu sự quan trọng của tôn giáo thì mới thấy thành phố Varanasi không phải chỉ có bụi, không phải chỉ có bò đi trên đường, không phải chỉ có những con đường phố nhiều người ăn xin, mà đó là một trong những thành phố đã tồn tại liên tục ít nhất hơn 4000 năm, và từng được gọi là Kashi nơi sản xuất tơ lụa nổi tiếng nhất thời Thái Cổ, thời Trung Cổ và cho đến bây giờ Varanasi vẫn còn là nơi sản xuất tơ lụa nổi tiếng. Đại học Varanasi đã là đại học có thẩm quyền nhất về Phạn ngữ về văn học của Ấn Độ. Và Varanasi là nơi có Thánh tích chuyển Pháp Luân. Khi mình đi về đó giữa Thánh Địa và những ngôi chùa chung quanh cùng với môi trường văn hóa tôn giáo của Varanasi chúng ta mới hiểu được, chúng ta phải đem tất cả những điều đó lên để cảm để nhận được chúng ta mới thấy điều đó không đơn giản chỉ là một ngày đến rồi đi.

 Khi chúng ta về Kusinara nơi Đức Thế Tôn viên tịch Niết-bàn thì đó là một không khí khác, một không khí hoàn toàn khác, tất cả những vị nào đi hành hương thường đi vào từ tháng 10 Dương lịch cho đến tháng 3 Dương lịch chúng ta gọi là mùa khô trời không có mưa và trời mát. Sáng sớm ra Thánh Địa nhìn sương mù mờ ảo ở trong rừng xa và 2 tháp một tháp thờ Xá Lợi Phật và một nơi để gìn giữ pho tượng Niết-bàn. Chúng ta đến đó vào một buổi sáng rất tĩnh mịch ở trong sự trầm lắng chúng ta mới hiểu được sự thiêng liêng mới cảm được sự viên tịch vô dư Niết-bàn của bậc Đại Giác. Thật ra Kusinara sẽ mang cho chúng ta rất nhiều xúc động nếu chúng ta có sự thanh tịnh và có sự hiểu biết lịch sử như thế nào. 

Di tích ngôi nhà của thợ rèn Cunda nơi Đức Thế Tôn thọ thực cuối cùng, ở góc đường Pala nơi Đức Thế Tôn đã dùng tách nước cuối cùng trước khi Ngài viên tịch, và ở trên một nơi đánh dấu chỗ Đức Thế Tôn đã nằm trên một phiến đá giữa hai cây long thọ viên tịch như thế nào thì không ai có thể nói với chúng ta những điều đó trừ khi chúng ta có mặt tại chỗ, trừ khi chúng ta là một người hành hương, là một người đi chiêm bái đến đó không sợ bụi không sợ dơ quì dưới đất để lạy Phật. Và nếu chúng ta đi ra ngoài thành nơi làm lễ trà tỳ kim thân Đức Phật một nền tháp vĩ đại, chúng ta được chứng kiến nơi mà di thể của Đức Thế Tôn được trà tỳ như thế nào, xá lợi của Đức Thế Tôn được phân bố như thế nào, tất cả trở thành một cái gì rất đẹp rất cao cả về đời sống nội tâm nó rất khác với những gì chúng ta nghĩ về Đức Phật. 

Nếu một người đi hành hương Ấn Độ trước khi đến Ấn Độ hiểu Phật như thế nào và khi ra về cũng hiểu Phật như vậy thì thật là đáng tiếc. Cái sự hiểu biết bằng ánh mắt nhìn về Đức Phật phải khác biệt khi chúng ta đến các Thánh Địa. Và thật ra chúng ta thường học về lời dạy của Đức Phật qua những gì Ngài nói nhưng chính cuộc sống của Ngài chính cuộc đời của Ngài với những gì Ngài đã làm thay đổi tận cùng ở trong cái căn để của xã hội của tôn giáo Đạo Phật thời bấy giờ là điều chúng ta không thể không biết. 

Và khi chúng ta đến đó tiếp xúc với những người Ấn Độ bây giờ thấy được nền văn hóa của Ấn giáo của Balamon giáo và trở về thì chúng ta sẽ hiểu một phần nào tại sao Đức Phật vĩ đại. Không ai tu giùm chúng ta cũng như không ai cảm nhận giùm chúng ta. Thật ra có những sự hiểu biết chúng ta có thể trao tay được có thể truyền đạt. Nếu quí vị hỏi chúng tôi từ Gorakhpur về Kusinara bao nhiêu cây số? Đến Kusinara để làm gì? Ngủ ở đâu? Chúng tôi có thể nói được, nhưng trong sự cảm nhận sâu kín tận cùng thì mỗi người hành hương phải đặt để cho mình chuyện đó.

Và điều tuyệt vời nhất, đi hành hương không phải là những người trẻ đi hành hương thật sự có những người rất lớn tuổi, 80 tuổi, 85 tuổi đi hành hương họ đi với tâm thành. Không phải chỉ có những người giàu có tiện nghi có tiền bạc bên Mỹ hay những người đại gia thì đi hành hương tốt hơn những người không có nhiều tiền, có nhiều người chỉ đủ tiền để đóng lệ phí đi và có một ít vài ba trăm đồng để dằn túi rồi đi nhưng họ đi qua bên đó từ ngọn đèn từ bông hoa cúng Phật và từ những giờ phút họ ngồi lắng tâm tại Đạo Tràng Bồ Đề chúng tôi tin rằng họ đạt được nhiều thứ hơn là những người khác. Chúng ta không thể chỉ đơn thuần nhìn một phiến đá nhìn một pho tượng mà chúng ta hiểu được giá trị chứng đạo, trừ khi những nhà khảo cổ những người chuyên môn họ nói với chúng ta phiến đá đó được tạc như vậy được khắc như vậy từ niên lịch nào, thời gian đó tại sao con người có thể làm được chuyện như vậy và điều đó mang giá trị lớn. 

Lần đầu tiên khi đến viện bảo tàng Bharat Kala Bhavan chúng tôi bị xúc động mạnh vì lý do chúng tôi vào nhìn thấy đầu trụ đá do vua A Dục tạc bằng đá Chula đỏ đó là thời điểm 2300 năm trước lúc đó còn là vùng đất hoang dã đất nước Anh chưa có, ngôn ngữ Anh chưa có, chúng ta nói 2300 năm trước người ta đã tạc được một tuyệt phẩm thi vị đẹp ngay cả cho đến ngày hôm nay. Đầu 4 con sư tử ngó về 4 phương, ở trên là bánh xe pháp, chung quanh tạc những biểu tượng ngưu vương, bạch tượng, tuấn mã, sư tử, ở dưới nữa là một liên đài với những cánh sen rất mểm mại, rất nghệ thuật. Thật là may mắn tác phẩm nghệ thuật đó đã tồn tại với thời gian với sự tàn phá và ngày hôm nay đã là quốc huy của Ấn Độ. Nếu chúng ta không biết về giá trị thời gian thì chúng ta chưa hiểu được một nền văn hóa tầm cỡ như thế nào của Ấn Độ thời đó 2300 năm trước, Ashoka Pilla (trụ đá của vua A Dục). 

Một số người than phiền Ấn Độ dơ, Ấn Độ mê tín, Ấn Độ thế này Ấn Độ thế khác. Thật ra xã hội Ấn Độ là xã hội của tương phản. Có những người cực kỳ giàu có ở trong một căn nhà giá một tỷ dollars, ở Mỹ chúng tôi chưa nghe có ai là tỷ phú nào mà ở căn nhà trị giá 1 tỷ dollars, ngay ở giữa thành phố Mumbai trên một cao ốc trên đó có sân bay cho trực thăng và đủ thứ tiện nghi và có những người nghèo đến đỗi chỉ có một cái quần sọt ngắn và họ phải đào đất để ở trong hang giống như thời tiền sử. Có những ông Thánh có những người cực kỳ cao cả như Thánh Gandhi, thi hào Tagore, Tổng Thống Radhakrishnan. Cũng có những người rất bần tiện, bần tiện đến đỗi  vừa đi xin ăn mà vừa đòi hỏi vừa chửi bới. Thì Ấn Độ có những người rất xấu nhưng cũng có những người rất đẹp, Ấn Độ là quê hương của tương phản. Chúng ta thấy sự tương phản đó có cái nhìn khác thì chúng ta mới thấy tại sao chúng ta học được nhiều. Người Mỹ quen cuộc sống với tiện nghi ra khỏi nhà là có xe hơi đi, đến nơi nào thì từ nhà vệ sinh từ con đường đi tất cả mọi thứ đều được chính phủ hay những người khác lo tất chu đáo, đi khắp nước Mỹ chỗ nào cũng có McDonald, có Target, có Walmart rất tiện lợi để mua những thứ cần thiết. Sự tương phản của những xã hội phát triển cũng nhiều như ở Ấn Độ nhưng trong sự tương phản đó cho chúng ta hiểu được những giá trị của kinh điển tại sao có những hủ tục có những cực đoan, tại sao Đức Phật Ngài kêu gọi lời kêu gọi đầu tiên, đoạn đầu tiên trong bài pháp đầu tiên, lời nói đầu tiên của Đức Phật khi Ngài Chuyển Pháp Luân: 

- "Có hai cực đoan này, này các Tỷ-kheo, một người xuất gia phải tránh. Một là đắm say trong lợi dưỡng thấp hèn, hạ liệt, đê tiện, không lợi lạc. Hai là tự hành khổ mình, khổ đau vô ích. "

 Nếu chúng ta không có xã hội tương phản không có những cực đoan về đạo giáo không cực đoan về tri kiến thì chúng ta không cảm nhận được con đường trung đạo là gì. Do vậy, mình đi để thấy được những sự tương phản trong cuộc sống.

Những bài học rất sâu sắc Đức Phật dạy chúng ta, thí dụ bài học về Vô Thường. Vô Thường trong hơi thở ra vào, Vô Thường ở trong cái vui cái buồn của chúng ta. Vô Thường ở trong xã hội bên ngoài lúc thế này lúc thế khác. Thí dụ như người Việt Nam chúng ta hay nói Mỹ thế này, Tây thế kia, Tàu thế nọ nhưng đến khi sống ở Mỹ thì mới thấy Mỹ có đủ thứ một xã hội có những giá trị cao cả, có những vụ bắn những người dân vô tội, cũng có những người quá cực đoan bắn chết những cảnh sát vô tội, đủ thứ chuyện. Đầu óc chúng ta là đầu óc muốn đưa ra một nhận định đạo là thế này, cuộc sống là thế kia, quốc gia này là thế nọ, nó luôn luôn đóng khuôn vào những giá trị lâu bền, Đức Phật chưa hề dạy chúng ta như vậy Ngài dạy cuộc sống là bương trải biến dịch không ngừng:

 - "sabbe samkhàrà aniccà -  tất cả các hành luôn biến dịch không đứng yên một chỗ".

 Và từ cái không đứng yên một chỗ nó tạo cho chúng ta một điều gì? 

Đó là sự bất an. Ai trong đời này đi vào xã hội mới, đi vào cuộc sống mới, chẳng hạn những người đi sang Mỹ cũng mong có đời sống ổn định. Ra trường mong tìm được việc làm ổn định. Lập gia đình cũng muốn một cuộc hôn nhân ổn định. Chăm sóc sức khỏe cho mình muốn sức khỏe mình được ổn định. Ổn định là một trong những chìa khóa làm chúng ta an tâm, cái gì vô định làm chúng ta bất an, nhưng mà không may là cuộc sống không ổn định, cuộc sống không nằm yên mà luôn biến đổi bài học đó lớn. 

Khi chúng ta đi hành hương nếu chúng ta đến những đại tháp rất là vĩ đại và bị tàn phá theo thời gian như ngôi đền cổ đại Borobudur bị đổ nát vùi sâu dưới rừng nhiệt đới Javas ở Indonesia, hay Đại Tháp Mahastupa, hay Mahabodhi Temple - Đại Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng. Nhìn thấy Borobudur với những hoa văn họa tiết rất tinh vi ở bên cạnh những tàn phá theo thời gian của con người, nó là sự tương phản, đời sống là như vậy, con người làm ra những cái rất đẹp của đời sống và con người cũng tàn phá những điều đó. Thiên nhiên cũng cho chúng ta rất nhiều và cũng lấy đi rất nhiều, thời gian tạo nên nỗi đau của con người nhưng cũng là thuốc nhiệm màu để xóa bỏ nỗi đau. Không có cái gì nằm yên một chỗ. 

Lúc chúng ta đi hành hương là lúc tốt nhất để chúng ta quên đi mình là ai, nếu chúng ta đi đâu mà có câu hỏi mình là ai, mình muốn cái gì, hay là cái "tôi" cái "ta" nó to quá nó chật cả xe bus, nó chật cả cuộc hành trình. Thật ra, điều đó chúng ta không cảm nhận được gì hết. Những lúc chúng ta quên đi thật sự, quên đi mình là ai, đi để hòa mình sống cảm nhận thắp sáng được ý thức thì những lúc đó là lúc chúng ta có được những giây phút xúc động rất chân thành.

3. Điều sau cùng, chúng tôi muốn nói trong bài học hôm nay sự ra đời của vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác là điều hạn hữu, nếu chúng ta quì hay chúng ta ngồi thiền dưới cội Bồ Đề và cơ hội đó cho tất cả mọi người. Năm nào chúng tôi về Bồ Đề cũng mang mùng theo và đến đóng tiền xin phép ban quản trị ở lại Thánh Địa qua đêm, buổi tối chúng tôi thường nhìn vào cội Bồ Đề với sự cảm nhận đó là nơi Đức Thế Tôn đã từng ngồi thiền định tại cội Bồ Đề này, và những giây phút rất hiếm hoi, là một cơ duyên rất hiếm hoi, hiếm hoi vì nhiều thứ, những lúc đó mình phải thấy được ở trong đời này có những thứ không dễ dàng mình nên quí từng giờ, từng phút, từng giây có mặt ở đó. Thật tình mà nói một điều chúng tôi thường cảm thấy tiếc trong lòng tiếc cho rất nhiều người đi hành hương nhưng lại bận lòng nhiều với những cái vui buồn, với những cái thoải mái không thoải mái, cái thích cái không thích. Khi mình đi hành hương đó là cơ hội để tu để vượt qua những thứ đó nếu chúng ta không vượt qua những thứ đó thì thật sự chúng ta mãi mãi chỉ là người sống theo thói quen tập quán, và thói quen đó có là do sự vô minh.

 Là một cơ hội đến để vượt ra khỏi cái ngã của mình, để thật sự hiểu đây là một nơi liên quan đến một vị Chánh Đẳng Chánh Giác và điều đó có giá trị lớn một giá trị quan trọng, và nếu chúng ta biết chúng ta có thể thay đổi.

Nếu quí Phật tử nào đã từng đi hành hương và với hoàn cảnh của chúng ta ngày hôm nay rất nên đi dù chỉ một lần, và nên đi bằng sự chuẩn bị tâm tư, cầu chúc quí vị khi đến các Thánh Địa thật sự xúc động khi quỳ xuống đảnh lễ chiêm bái Thánh tích nơi Đức Thế Tôn thành đạo, nơi Đức Thế Tôn đản sanh, thành đạo, chuyển Pháp Luân và viên tịch Niết-bàn ./.

Thursday, July 21, 2016

Kinh Tránh Né - Tăng Chi Bộ - TT Giác Đẳng

Kinh Tránh Né - Tăng Chi Bộ

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 6-4-2016

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Như chúng tôi nói có một số bài kinh trong chánh văn Phạm ngữ tương đối dễ hiểu nhưng khi dịch sang tiếng Việt khó hiểu, ví dụ ở đây mở đầu chúng ta có chữ "trừ khử sự thật cá nhân" dịch như vậy ở trong tiếng Việt không biết là đang nói cái gì.

- Tỷ-kheo trừ khử sự thật cá nhân, này các Tỷ-kheo, đã từ bỏ hoàn toàn các tầm cầu hay thân hành được khinh an, vị ấy được gọi là vị độc hành.
Và này các Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo đã trừ khử sự thật cá nhân?

Điều quan trọng trong đời sống tu tập là chúng ta tránh né những cạm bẫy, tương tự như mình làm một chuyến đi vào trong rừng kiếm củi, người đi trong rừng lâu năm họ nhắc chúng ta coi chừng rắn, những hố sụp, những gai độc chẳng hạn. Thật ra những điều đó là những điều đáng lo ngại hơn những chuyện khác. 

Đức Phật trong cái nhìn của bậc Đạo Sư Ngài dạy chúng ta biết trong đời sống tu tập có một số cạm bẫy chúng ta rất dễ rơi vào. 

1 - Đầu tiên, chữ anunapajjika là những sự thực phù phiếm hay những sự thật không liên hệ đến cá nhân. Nói một cách khác là sự khao khát để thỏa mãn tri thức. Thỏa mãn tri thức ở đây tương tự như có những người bị bịnh mọt sách cứ ôm sách vở đọc hoài, đọc hết ngày này qua ngày khác. Thật ra đọc sách cũng là một chuyện tốt nhưng nếu chỉ tập trung vào sách vở không bắt tay làm chuyện gì hết thì không có lợi gì cho đời mặc dù sách vở cũng là chuyện tốt.

Một điểm chúng ta thấy ngày hôm nay con người càng có nhiều dụng cụ nhất là viễn vọng kính  Hubble hay Chandra, hoặc giả những phi thuyền đi rất xa đi đến những nơi trước kia chúng ta chưa hề biết. Khi nhìn ra ngoài vũ trụ mênh mông chúng ta có những câu hỏi: "Phải chăng địa cầu chúng ta chỉ là một vật thể rất rất nhỏ bé ở trong hàng tỉ tỉ vật thể của vũ trụ này? Phải chăng có nơi nào đó có sự sống như chúng ta? Và chúng ta cũng hiểu được một số nguyên tắc về sự vận chuyển của vũ trụ hay hiện tượng của thiên hà. Nhưng, chúng ta tự đặt câu hỏi đến mức độ nào là ranh giới của vũ trụ? Vũ trụ lớn đến mức độ nào? Nó là vô tận hay hữu tận, vô biên hay hữu biên? Nếu chúng ta đọc những bài viết về thiên văn học sẽ thấy sự tò mò đó là vô cùng vô tận. 

Đời sống của người tu tập phải coi chừng có sự khao khát về tri thức, khao khát về sự hiểu biết. Nhưng, sự khao khát hiểu biết đó chỉ hướng vào sự thật phù phiếm nó không liên hệ đến giác ngộ giải thoát. 

Có nhiều người ngày hôm nay đôi khi biết rất nhiều thứ nhưng nấu cơm thì không biết nấu, người thân chung quanh bệnh mình không biết chăm sóc như thế nào, mình có kiến thức rất rộng rãi nhưng sự xử thế không biết sống như thế nào đó mang lại an lạc cho những người chung quanh mình. 

Tinh thần thực tiễn rất quan trọng, quan trọng đến đỗi Đức Phật Ngài ví dụ người tu phải hiểu như mình đang bị mũi tên bắn vào, việc quan trọng nhất là nhổ mũi tên đó ra chứ không phải ngồi đó để tìm hiểu ai là người bắn mình, người đó đến từ đâu, giòng họ như thế nào? v.v... và v.v... Đi tìm người bắn mình nghĩ chuyện đó cũng nên tìm lắm nhưng kỳ thực mình sẽ chết trước khi biết được những chuyện đó. Người phát nguyện bỏ tất cả đi vào chùa tu tập ăn cơm của đàn na tín thí, sống một cuộc đời tu tập thì mình nên hiểu cái gì thuộc về kiến văn phù phiếm nên có chừng mực chứ không nên là tất cả. Bệnh lớn nhất của tôn giáo là bệnh bao biện, chúng ta thường muốn từ cái nhìn của tôn giáo đi giải thích tất cả mọi chuyện ở trên cuộc đời này. Đó là một điểm sai theo trong Đạo Phật. Mục đích của đời sống tu tập không phải là trả lời cho tất cả mọi việc mọi thứ từ khoa học, kỹ thuật, văn học v.v.. mình không tìm được câu trả lời đó và mình nên tìm cái gì thiết yếu cho đời sống thật sự. Điều này không dễ dàng, người tu có thể bỏ rất nhiều thứ nhưng bệnh khao khát về tri thức đôi khi trở thành một chứng bệnh nan y bất trị, nhưng mình không chịu ngồi xuống để tu tập cứ lúc nào cũng muốn tìm hiểu.

Có một nhà Sư người Nhật sang Miến Điện tu thiền nhưng khi sang Miến Điện ông lại say sưa với nền kiến trúc chùa tháp của Miến Điện, vị này bỏ ra 8 năm như vậy đến khi gặp Ngài Tangpulu Ngài rày bỏ nhà bỏ cửa bỏ quê hương để đi mà chỉ tìm được mớ kiến thức về nghệ thuật đối với người đời có giá trị còn đối với người tu không có giá trị gì hết, người tu đến đây không phải để tìm hiểu những chuyện đó, mà quan trọng là làm sao ngồi xuống sống với hơi thở của mình, sao sống với thân tâm của mình. 

Mười điểm ở đây đề cập như thế giới thường còn hay không thường còn, tức là một ngày nào đó mọi người đều giải thoát hết và biển trầm luân cạn không còn nữa. Hay thế giới hửu biên hay vô biên, vũ trụ này có ranh giới hay không ranh giới, nếu có ranh giới thì ngoài ranh giới là cái gì v.v... và v.v... điều đó không có cần thiết. Vì vậy chúng ta phải coi chừng cái bệnh khao khát với tri thức.

2 - Điểm thứ hai Đức Phật gọi là từ bỏ tầm cầu, tầm cầu ở đây là sự truy cầu:

Dục tầm là thỏa mãn những cái gì thuộc về sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc. Ví dụ, mình xây chùa bỏ quá nhiều đầu tư vào trong đó, suốt đời làm sao mình xây ngôi chùa hoàn hảo, ngôi chùa đẹp, ngôi chùa lớn, điều đó thật sự Đức Phật Ngài không khen ngợi. Quí vị đừng hiểu lầm là chúng tôi chỉ trích người xây chùa, không phải. Có những người thật sự tốt rất tốt cho họ nếu họ phát tâm làm việc đó. Nhưng nếu mình đi tu tập mà mình quá nặng về những chuyện đó thì làm hỏng đi giá trị thật sự của đời sống phạm hạnh. Mình đi tu không phải là để xây chùa, hay đi tìm một thế giới của thanh âm làm sao cho tụng kinh thiệt là hay, hay là viết những bản nhạc đạo rất là hay. Thậm chí có nhiều vị còn cảm nhận việc tụng kinh hay là một nghệ thuật cao nhất mà họ có thể có trong chùa được. Thật ra việc đó đối với Đức Phật Ngài gọi là đó chỉ là sự thỏa mãn, là dục tầm.

Hữu tầm nghĩa là đi truy cầu mình sẽ trở thành một ai đó, mình sẽ làm trụ trì, mình sẽ làm thiền sư, mình sẽ làm người có địa vị cao có học vị cao, mình sẽ làm thế này mình sẽ làm thế kia. Ý tưởng đi truy cầu về hữu tầm có nghĩa muốn mình sẽ trở thành cái gì, mình trở thành một ai đó. Nhưng hiện tại thở vô thở ra mình không biết, hiện tại thân tâm mình ra sao mình cũng không biết, hiện tại mình bị phiền não chi phối mình cũng không biết, mình chỉ muốn là mình sẽ trở thành ai đó, gọi là hữu tầm.

3. Thứ ba: "Phạm hạnh tầm cầu được khinh an" thực ra ở đây không rõ nghĩa mạch văn. Tức là tầm cầu sự khinh an trong đời sống tu. Ví dụ quí vị ở ngoài đời mệt mỏi quá bây giờ muốn vô chùa để tìm một chốn bình an. Đi tu không phải là đi tìm một chốn bình an. Nếu một người quan niệm mình vào chùa để đi tìm chốn bình an trong đó, là mình hoàn toàn sai, sai trên thực tế và sai trên căn bản của sự tu tập. Ở đây căn bản tu tập không phải là đi tu để đi tìm sự bình yên, ở ngoài đời khổ quá mình đi chùa để bình yên, không phải. Sai ở trong thực tế là ngay cả bây giờ quí vị vô chùa thì cũng không tìm được sự bình an như ở nhà, ở nhà quí vị có thể tìm sự bình an như đói có cơm ăn nhưng nếu mình vào chùa tu thì có nhiều thứ chuyện thành ra đi vô chùa đi tìm sự bình yên là sai.

 Ngài Ajahn Jayasaro có chỉ trích một việc về một khuynh hướng thiền rất tai hại là người Mỹ ca ngợi Thiền Tứ Niệm Xứ là meditation relaxation. Relaxation tức là thư giãn, học cách nào để relax.  Thiền không phải là relax, relaxation là sự thư giãn không phải là mục đích của thiền. Thật sự điều này rất nguy hiểm là chúng ta tu tập mà chúng ta đi tìm sự thoải mái. Người tu tập không đi tìm sự thoải mái cũng không đi tìm sự hành xác. Mình không cố ý hành xác tức là không khổ hạnh cũng không có cố ý tìm sự thoải mái mà chỉ làm sao để thắp sáng chánh niệm. 

Thắp sáng chánh niệm nghĩa là sự tỉnh táo biết rõ cái gì đang xảy ra, chứ không phải là đi tìm một cái gối êm ấm để nằm, tìm một thế giới cảm thấy thoải mái bình yên, mình tu tập rồi có tiền đi tìm một miếng đất hay tìm một cái cốc nào đó có chim hót suối reo để ở, cái đó không phải là cuộc sống của phạm hạnh. Ngay cả một buổi sáng thức dậy ngồi thiền không lẽ mình đi tìm sự trong lành buổi sáng rồi mình ngồi đó cảm thấy con người mình phiêu phưởng, cái đó không phải là mục đích của phạm hạnh. 

Mục đích của phạm hạnh không phải đi tìm sự khinh an, không phải đi tìm sự nhàn rỗi. Thật sự mà nói nếu trong câu chuyện tu tập cái gì luôn là chướng ngại thì làm cho mình khổ sở nhưng cái gì thoải mái thì làm mình bị ru ngủ làm mình bị trì trệ. Nó tương tự như vầy, khi mình đi học nếu lúc nào cũng đi tìm cái vui cái thoải mái cái thích thú thì sẽ thất bại, làm việc gì cũng thất bại, có nhiều người nghĩ mình làm phước phải hoan hỉ, mình đi chùa mình phải cảm thấy yên tịnh, mình tu tập mình phải cảm thấy thanh thản không có phiền não. Những cái cày đặt trước con trâu như vậy những điều kiện mình đưa ra như vậy chỉ tự mình làm cản trở chính mình.

Tại vì sao vậy? Tại vì có kỳ vọng ở đó, có mong mỏi. Sự kỳ vọng và mong mỏi đó mới nhìn rất vô hại. Ví dụ, bây giờ cuộc đời mình phiền toái quá mình nói mình đi tu thiền hay vào chùa tu để không phiền toái. Nhưng thái độ đi tu để không phiền toái đó không phải là mục đích của phạm hạnh. Mục đích của phạm hạnh là ở trong đời sống hiện tại có chánh niệm tỉnh giác, xa hơn nữa là giác ngộ giải thoát chặt đứt phiền não. Chứ không phải vô chùa để tìm một chốn bình yên. Cái chốn bình yên mình mơ ước rất là thơ mộng rất êm đềm rất đẹp nó được minh họa như một cõi thiên thai, một cảnh giới thần tiên nào đó, cái đó nó không phải hoàn toàn là mục đích phạm hạnh. Bởi vậy đôi khi chúng ta nghe nói mình tu để kiếp sau lên thiên đàng hay cực lạc hay về cảnh giới nào đó và mình muốn đưa ra hình ảnh rất thơ mộng rất đẹp rất trang nghiêm.

Thỉnh thoảng chúng tôi đến Đài Loan, thấy có một vài ngôi chùa người ta cố gắng để làm một cái gọi là cực lạc thế giới thì chúng tôi phải nhìn nhận rất đẹp, ở trong cực lạc thế giới đó có hoa, có kiểng, có núi, có hồ, có chùa, có tháp mọi thứ thơ mộng. Nhưng trong cái nhìn thật sự của thiền quán những cảnh giới gọi là rất thơ mộng đó nó chỉ ru ngủ chúng ta nhiều hơn là có giá trị tỉnh thức. Nói điều đó thì có lẽ là một số vị sẽ bị đụng chạm nhưng mục đích của đời sống tu tập không phải là đi tìm một cảnh giới cực lạc, không phải như vậy,  mà là cái gì đó chúng ta có khả năng thắp sáng chánh niệm tỉnh táo nhận biết, nếu chúng ta có thể ngồi xuống trong một giờ lẳng lặng nhìn hơi thở ra hay vô thì đối với Đức Phật điều đó quan trọng hơn là chúng ta tìm đến một nơi mỗi thứ đều đẹp, mỗi thứ đều tốt, mỗi thứ đều thoả mãn, cái thỏa mãn của mắt của tai của mũi lưỡi mà thôi. 

Trong câu thứ hai Đức Phật giảng: "Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã từ bỏ hoàn toàn các tầm cầu?"

Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo, dục tầm cầu được đoạn tận, hữu tầm cầu được đoạn tận, Phạm hạnh tầm cầu được khinh an. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đã từ bỏ hoàn toàn các tầm cầu.

- Dục tầm là thỏa mãn các giác quan của mình như tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc gọi là dục tầm. 
- Hữu tầm là mình mong muốn trở thành một ai đó, trở thành ông này vị kia, trở thành thiền sư, trở thành vị viện chủ, trở thành vị pháp sư, thiền sư, ngay cả muốn người ta biết mình là người tu đàng hoàng thì cũng là vấn đề. 

Ở trong trường thiền Wat Nong Pah Pong Ngài Ajahn Chah có để một câu trên con đường đi rất hay, đó là "Personal desire is not the problem". Mục đích đời sống phạm hạnh không phải để mình trở thành một vị thánh hay người cao thượng, hay mình có những ý tưởng cao thượng, mà là sự thật như thế nào mình biết rõ như vậy. Điều này quan trọng. Đời sống của mình không phải mình nói tu để mình trở nên cao quí, trở nên cao thượng hay trở nên thế này thế kia mà là cái gì nó vô thường biết nó là vô thường, cái gì khổ biết là khổ, cái gì vô ngã biết là vô ngã, mình thở vô biết thở vô, thở ra biết thở ra, tâm của mình cao thượng biết tâm cao thượng, tâm mình thấp hèn biết tâm thấp hèn. Chứ không phải mình tu là để mình muốn mình trở thành cái này, trở thành cái kia. 

Chúng tôi hy vọng rằng chúng tôi nói như vậy không làm cho quí vị lộn xộn nhưng mà: 

Đại khái: hữu tầm là chúng ta muốn trở thành người này, trở thành người kia, điều này không cần cho người tu. Người tu nên biết hiện tại tốt biết là tốt, xấu biết là xấu, điều đó mới là quan trọng, cái gì sanh biết sanh, cái gì diệt biết diệt, hơi thở vô biết hơi thở vô, hơi thở ra biết hơi thở ra. Chứ không phải mình tu để mình trở thành người cao quí hay mình trở thành thế này thế kia. Có những người nói chỉ muốn sống giản dị và đi đâu cũng đòi chỗ ở phải giản dị, ăn giản dị, cái giản dị của người này trở thành thứ cầu kỳ. Ngày hôm nay có nhiều người muốn có kiểu sống giản dị mà kiểu sống đó lại trở thành một điểm phiền cho nhiều người chung quanh. 

Chúng ta sống làm sao cho cuộc sống mình dễ nuôi đừng làm rộn ràng làm phiền người khác, không cần người ta phải chú ý đến mình, nhẹ nhàng không làm phiền ai, mình không trở thành gánh nặng cho ai, Đức Phật gọi cuộc sống như vậy là nên. Còn nếu mình đòi hỏi, và khi người ta cho mình vô nơi có nhiều màu sắc mình nói không, tôi muốn nơi không có màu sắc, người ta cho mình vật tốt mình nói không, phải đi tìm cho tôi cái gì giản dị, như vậy nó trở thành một kiểu sống một lối sống đặc biệt thì lối sống đặc biệt đó  cũng là một sự đòi hỏi. Thành ra điểm thứ nhất không phải sự trừ khử sự thật cá nhân mà là sự đi truy tìm những chân lý phù phiếm không liên hệ đến giải thoát. Đó là ý nghỉa của câu thứ nhất. 

Câu thứ hai là đi truy cầu sự thỏa mãn mắt tai mũi lưỡi thân, đi truy cầu sự thỏa mãn mình là ai, hay là đi tìm sự an tịnh. Đó là ý nghĩa của câu thứ hai.

 Câu thứ 3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thân hành được khinh an?

Thân hành được khinh an, trong kinh Phật đề cập đến thân hành là đề cập đến hơi thở, tâm hành là đề cập đến tầm hay sự đi truy cầu. Thân hành trong Phật Pháp là hơi thở rất quan trọng, nếu tu tập một lúc chúng ta sẽ nhận ra được hơi thở đi liền với nhu cầu của thân, hơi thở đi liền với trạng thái của tâm. Mấu chốt nằm ở chỗ này là tâm mình an tịnh thì hơi thở tế nhị, tâm mình phiền não thì hơi thở nặng nề. 

Về điểm này có một dịp khác chúng tôi sẽ nói. 

Trong sự điều tức, hiện tại lạc trú trong sự hoá giải trước tuế toái của cuộc sống, người tu tập hoá giải bằng sự an tịnh của hơi thở là vượt qua những lạc thọ, khổ thọ và đạt đến xả thọ, về điểm này liên hệ đến các chi thiền đây là một công phu rất lớn ở trong Phật Pháp, và là một trong những khó nhất của người tu tập tại vì nó không nằm ở trong thế giới của tri thức sự hiểu biết mà ở trong sự thuần thục của sự tu tập. Đạo Phật gọi là Samadhi. 

Khi nghe nói về giới định huệ thì chữ Samadhi. Một trong những dấu ấn để cho thấy trình độ cao của Samadhi của Định của Tam Muội đó là sự tế nhị của hơi thở. Đại khái, có nhiều sự tu tập như tu tiên, luyện tinh khí thần của Trung Hoa hay các vị Du Già, Yoga của Ấn Độ điểm này điểm kia nhưng riêng đối với Đạo Phật sự tu tập nằm ở chữ Samadhi. Giới chỉ cho kỷ cương, giới chỉ cho sự thấu triệt hiểu biết nhưng Định là công phu tu tập. Định-Samadhi là tam muội, công phu, cái công phu bản thân dựa trên hơi thở, hơi thở đạo Phật gọi là thân hành. 

Trong thế giới thân hành có nhịp đập, khi bệnh bác sĩ bắt mạch mình mà mạch nhanh quá cũng có vấn đề mà chậm quá cũng có vất đề, mạch điều hòa đôi khi nó ở  mức nhẹ nhàng. Thì mạch không phải tất cả nhưng mạch là một dấu ấn một sự biểu thị của sức khỏe, bắt mạch thì biết nhiều về sức khỏe hơi thở nhanh hay chậm, hơi thở là thân hành được xem như sự biểu thị của Samadhi.

Một người làm một cuộc cách mạng, một người không đi theo xu thế ở đây Đức Phật gọi là mạn. Thí dụ như mình tu cho dù mình tu nhiều hay tu ít cũng hay nghĩ về cái "tôi" cái "ta". Đó là điểm rất tế nhị. Đức Phật Ngài thường dạy đối với dù là sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì cũng không nên đó là "ta", là "của ta", là "tự ngã của ta". Trường hợp chúng ta hay gặp phải đó là ý nghĩ về bản thân của mình "tôi cao qúi" "tôi là người phải được trọng vọng". Lấy một ví dụ Đức Phật Ngài thường nhắc một vị tỳ kheo cho dù tu đến bao nhiêu hạ hay trở thành vị trưởng lão chẳng hạn, trở thành vị pháp sư, thì có những điều nên tâm niệm ghi nhớ thí dụ sự sống của mình phải nhờ nơi kẻ thế gian, đi khất thực thì đi bằng chân không và nhớ một điều bản thân của mình sống là do sự giúp đỡ của đàn na tín thí thì không có gì phải tự hào. Ngã tính trong đời sống là một cái gì cực kỳ tế nhị. Chữ attamana Đức Phật Ngài dùng chỉ cho ý tưởng về tôi là cái gì, chúng ta nên nhớ điều này nó ăn sâu nó tiềm tài cực kỳ sâu thẳm đôi khi mình đi đến đâu nó đi theo tới đó.

Một câu chuyện, chúng tôi nghe ông ngoại kể về người cha vợ với con rể ở chung.

 Ở bên Việt Nam miền quê buổi tối không có đèn, trời thì tối căm, câu chuyện hài hước được kể là bữa đó ở trong nhà có làm bánh rất ngon nhưng làm xong không được ăn vì chưa cúng, bánh cất trong tủ đồ ăn để chờ sáng mai cúng xong rồi cả nhà ăn. Chàng rể mới nghĩ ra một chuyện là buổi tối cả nhà ngủ  mình lén đi nhè nhẹ ra tủ ăn một vài cái, nhưng buổi tốt đen thì làm sao thấy lối đi ông mới nghĩ kiếm một sợi giây cột vào cái tủ để thức ăn rồi leo lên giường ngủ. Nhưng đầu giây bên kia cột vào cái tủ còn đầu này lúc ngủ nó rớt hồi nào không biết không có đèn pin để biết nó nằm ở đâu, anh rể mới cột vào chân anh. Việc làm của anh con rể này không qua mắt được ông già vợ, ông già vợ mới cắc cớ tháo đầu giây ở chỗ tủ đồ ăn đem cột qua cái giường của ông, ông nghĩ người con rể đi lò mò tìm đồ ăn đến gặp ông thì chắc là một phen hốt hoảng. Thì đúng như vậy, đến khi mọi người ngủ rồi thì người con rể đi tìm lấy đồ ăn thì lại đụng ông già vợ và lúc đó mới giựt mình là đầu giây này không phải dẫn đến tủ đồ ăn mà lại đụng ông già vợ, chú này sợ quá phóng chạy và lúc phóng chạy thì sự việc xảy ra là một đầu giây thì cột vô chân mình và một đầu kia lại cột vô thanh giường một cái nẹp bằng tre, ở miền quê người ta đóng giường bằng tre nó có cái nẹp, vì giựt mạnh quá cái nẹp đó xúc ra. Khi người con rể sợ quá nhảy ra ngoài ao nhảy ngang qua cái ao thì sợi giây có cái nẹp tre nó đánh trúng vào chân của mình, chú đó nghĩ ông già vợ hay quá buổi tối đen mình nhảy ngang ao trời tối căm mà ông phang mình mấy cái mà cái nào cũng trúng hết. Đó là chuyện vui, cái nẹp tre cột vào sợ giây mà sợi giây cột vô chân mình thành ra mình đi đâu cái cây cũng đánh trúng chân mình rồi nghĩ trời tối ông già giỏi quá quăng cái nào trúng cái đó. 

Chúng tôi kể chuyện này là một thí dụ về mạn trong đời sống của mình. Mình bỏ nhà đi tu đó là chuyện hay nhưng mình tự hào mình là người dám bỏ nhà đi tu, đó cũng gọi là sự kiêu mạn. Mình thấy những người khác không tụng kinh mình tự hào là mình tụng kinh nhiều, mình tụng kinh đều đặn thì đó cũng là sự kiêu mạn. Hoặc, ai tu không thành pháp sư chứ mình tu thành pháp sư đó là kiêu mạn.  Cái mạn nó giống như cái nẹp tre mà cột vào sợi giây đi đâu nó phang mình trúng cái đó là tại vì đầu kia sợi giây cột vô chân của mình. Con người mình đi tu phải cẩn thận, ngay cả trong tận cùng sâu thẳm của mình thì cái "tôi" cái "ta" cái "tự hào" liên hệ đến ngã tính nó vẫn tồn tại. Đức Phật dạy người nào cắt được ngã mạn được xem là người làm cuộc cách mạng. Chữ panitito trong chữ Hán họ dịch là "thoái khứ giả" tức là một người có khả năng trở về, thay vì mọi người họ bị lôi kéo đi còn mình có khả năng quay lại có khả năng trở về, không phải dễ dàng. Ở đây không biết tại sao dịch là độc cư, không phải là độc cư không phải là người độc cư.

Thì bốn pháp này là bốn pháp chúng ta phải rất cẩn thận, coi chừng nó vẩn tồn tại ở trong đời sống của chúng ta và chúng ta phải có khả năng để vượt qua:
1- Chúng ta phải vượt qua sự khao khát về tri thức.
2- Chúng ta vượt qua những truy cầu dù đó là dục cầu, hữu cầu hay phạm hạnh khinh an cầu.
3- Chúng ta phải đi đạt đến khả năng khai triển công phu của tam muội hay của định mà tiêu biểu là an tịnh thân hành chứng các thiền
4- Chúng ta phải có khả năng vượt qua sự kiêu mạn. 

Thật sự, trong đời sống hàng ngày những điều này không có giá trị lớn nhưng với một người tu tập thì những điều này là những điều giá trị cực kỳ lớn tại vì nó đạt tới chỗ rất tế nhị./.


Monday, June 13, 2016

Tăng Chi Bộ - Không thỏa mãn

Kinh Không thỏa mãn - Tăng Chi Bộ

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 17-11-2015

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Người tu tập là người phải đối diện với những phiền não trong tâm tư mình. Trong binh pháp có câu: "Biết người biết ta trăm trận trăm thắng". Chúng ta đối diện với phiền não cũng nên biết rõ cái mạnh của phiền não hoặc cái yếu của phiền não. 

Khi nói đến phiền não, một ở trong cơ sở của phiền não đó là sự hưởng thụ và chúng ta nên hiểu sự hưởng thụ đôi khi không phải là cái tội nhưng nếu ở mức độ quá độ đi quá xa thì sẽ trở nên tai hại. Tương tự như ngày hôm nay là thời đại thực phẩm hơi dư thừa, chúng tôi nhớ hồi còn nhỏ thực phẩm thiếu nên ít nghe người ta nói kiêng cử mà làm sao chỉ có thức ăn thôi, nhưng ngày hôm nay ăn uống nếu không để ý dễ lên cân vì nó tạo ra nhiều chất đường dễ tạo ra nhiều chứng bệnh, do vậy việc ăn uống cũng phải có chừng mực. 

Trong cái nhìn của Đức Phật cho chúng ta 3 chuyện chúng ta thường say đắm nghĩa là đi quá xa quá độ và điều này chúng ta phải lưu ý. Chúng tôi có đọc rất nhiều bài viết về điểm này và cũng nhận ra được, đó là, ngày hôm nay trong nghiêng cứu chung ai cũng phải nhìn nhận Đức Phật là bậc Giác Ngộ, những điều Ngài dạy quả thật không có sai chạy chút nào. Và ở đây Đức Phật dạy có 3 điều  chúng ta không bao giờ thỏa mãn. 

Atitti là không bao giờ đạt đến mức thỏa mãn hoàn toàn. 

Chúng ta cứ nói nếu chúng ta được thỏa mãn thì sẽ không đòi nữa, không phải, nó cứ đòi hoài.

1. Thứ nhất, ngủ nghỉ. Thông thường người ta nói "tham ăn mê ngủ". Thấy vậy với cái ăn có thể chúng ta ăn đến mức độ nào đó no, ăn đến mức độ nào đó thì ngán. Nhưng chúng ta phải coi chừng chuyện ngủ nghỉ, cái ngủ nghỉ là một thứ khoái lạc ở trong đời sống.

 Trong kinh đề cập đến một điểm rất tế nhị ít có người Phật tử để ý là có 2 thứ phiền não hôn trầm và thụy miên. Phiền não hôn trầm và thụy miên hết sức tế nhị, người thường không phân biệt được điểm này. Dĩ nhiên, người có tu hay không có tu đều phải ngủ nhưng cái ngủ của hôn trầm thụy miên và cái ngủ không hôn trầm thụy miên khác nhau.

Hôn trầm thụy miên là một thứ phiền não, hôn trầm là trạng thái dã dượi, uể oải, buồn ngủ không phấn chấn. Và trạng thái hôn trầm ảnh hưởng từ hai phương diện thân và tâm. Thông thường chúng ta nghĩ trạng thái dã dượi gọi là hôn trầm là do thân mình cần ngủ thì ngủ thôi chứ không có gì gọi là phiền não nhưng kỳ thật khi nội tâm chúng ta thụ động, khi nội tâm chúng ta hướng về chỗ ngủ nghỉ mà bấy giờ chúng ta không cưỡng được.

 Khi chúng ta đi hành thiền, những lúc sắp ngồi thiền có hai trạng thái thường phải để ý; một là chúng ta rất phấn chấn mong cho đến ngày ngồi thiền mang tọa cụ lên chánh điện lên thiền đường để ngồi với mọi người. Nhưng cũng có nhiều lúc tới giờ ngồi thiền chúng ta rất ngán, không ngồi thiền thì bị rày, không ngồi thiền các vị thiền sư để ý nhưng ngồi thiền thật ra lúc đó chỉ muốn về cốc để nằm hoặc muốn chung quanh không có người thì mình nằm xuống. 

Có một lần chúng tôi tu tập tại một trường thiền ở Thái Lan thời gian ngủ rất ít, đi ngủ lúc 10 giờ tối  thức dậy lúc 3:30 sáng và từ 3:30 sáng sinh hoạt cho đến tối. Thật ra thời gian đầu cảm thấy ngủ không đủ, sáng 3:30 thức dậy làm vệ sinh, 4:00 lên chánh điện tụng kinh, chấp tác, rồi đi khất thực, rồi dùng cơm, liên tục cho đến chiều nên thường có ý thích ngủ. Thì ban đầu mình nghỉ đó là hiện tượng về thân tức là thân mình thiếu ngủ thì nó ngủ thôi, nhưng có vài lần chúng tôi đi khất thực chung với vị thiền sư Ngài hỏi "Chúng tôi qua đây có trở ngại gì không?" Chúng tôi thưa với Ngài "Mọi việc rất ổn, chúng tôi rất là an lạc rất là hoan hỉ nhưng dường như vô trường thiền ít có thì giờ để ngủ nên hay buồn ngủ". Thì Ngài lưu ý chuyện buồn ngủ là một thứ phiền não rất lớn. Cuộc sống chúng ta bình thường có những chuyện tham sân si tranh danh đoạt lợi. Chuyện sân si chửi qua chửi lại mình thấy lớn nhưng kỳ thực khi đi hành thiền cái phiền não chi phối mình không phải là chuyện tranh danh đoạt lợi không phải chuyện hơn thua mà chính là hôn trầm thụy miên chính là sự uể oải buồn ngủ. 

Trạng thái hôm trầm mang nhiều tánh cách, như là thụ động, làm biếng. Ở đây chúng tôi nói làm biếng nghĩa là mình không có siêng năng. Và một điều chúng ta phải để ý phần lớn người ta bị bịnh sleep disorder (rối loạn giấc ngủ) nghĩa là con người mình hay làm ngược lại, người bị sleep disorder thường lúc mình làm việc thì muốn ngủ và lúc mình cần đi ngủ thì lại trổi dậy muốn làm việc, lên internet tìm cái này cái kia thì mắt sáng, coi phim thì mắt sáng ra nhưng để ngồi thiền để tụng kinh hay ngồi lạy Phật thì tự nhiên lại buồn ngủ người thụ động lại. Trạng thái buồn ngủ lúc đó đa phần đến từ cái mà không có cái gì để cho mình thích thú nó không có cái gì làm cho mình cảm thấy phấn khởi  và điều đó có nghĩa chúng ta chưa có được sự phấn chấn đối với cái gì mình đang làm.

 Bên cạnh trạng thái dã dượi buồn ngủ của hôn trầm còn có trạng thái khác gọi là thụy miên. Thụy miên nếu dịch cho rõ thì giống như là mê ngủ, mình có ham ăn rồi có mê ngủ, ở trong trạng thái mê ngủ là một cái gì thống khoái cái gì thích thú để mình có thể ngủ chứ không phải ngủ là vì nhu cầu. Chúng ta ngủ là vì nhu cầu là nằm xuống chỉ đơn thuần là ngủ cho vừa phải thôi. Nhưng trạng thái mê ngủ là trạng thái ham ăn mê ngủ tức là hễ ngủ không được là cứ nằm đó hưởng thụ cái ngủ của mình. Chúng tôi nói điều này không biết quí vị có chia sẻ được không nhưng nhiều lúc mang mán đâu đó cái ngủ là một thứ thỏa mãn và người ta muốn tiếp tục ngủ người ta muốn kéo dài giấc ngủ nếu có thể được. Muốn biết trạng thái thụy miên như thế nào thì để ý có những người ngủ chưa đủ chưa thỏa mãn và tiếp tục muốn ngủ nữa trạng thái đó gọi là mê ngủ . 

Ỏ đây, Đức Phật Ngài dạy tâm thái mê ngủ không bao giờ thỏa mãn, nếu chúng ta lao vào đó sống với nó càng ngày thì nó càng tệ thêm và không có nghĩa ngủ nhiều là thỏa mãn được mà là chúng ta không thỏa mãn, Atitti có nghĩa không thỏa mãn, cho dù chúng ta ngủ nhiều chúng ta cũng không thỏa mãn được.

2 Điểm thứ 2 Đức Phật dạy sự say sưa rượu không bao giờ cho chúng ta thỏa mãn được. Chúng ta phải để ý.

Say sưa cho người ta có cảm giác, cái vị thì ít nhưng cảm giác say sưa lâng lâng thì nhiều, và nhiều khi cảm giác say sưa của rượu cho người ta đến một cảnh giới mà cảnh giới đó cảm nhận cuộc sống bên ngoài khác đi. 

Ví dụ, Nga là một quốc gia có nhiều sự bất công ở trong xã hội, ngày xưa có giai cấp quí tộc và giai cấp nông dân. Người Nga một số lớn những người ở trong giới lao động thợ thuyền làm việc rất cực nhọc, rất khổ, đời sống bị chèn ép đủ thứ và do vậy phần lớn người Nga họ tìm sự khuây khỏa trong men rượu, họ uống rượu rất nhiều, loại rượu Voka là loại rượu người Nga uống rất nhiều. Thì chuyện một người uống rượu bình thường uống một hai ly khác với những người đi làm việc xong về uống gọi là say bí tỉ tức là họ uống không chỉ là một hai chung mà họ uống sao cho người họ đi vào trạng thái say sưa, cái say đó làm cho người ta cảm thấy quên đời, cái say đó người ta cảm thấy ít nhất có giây phút nào đó mình là mình. 

Người Việt Nam chúng ta có nhiều chữ để chỉ cho tình trạng này, một người bình thường uống nhiều rượu gọi là say rượu. Nhưng rồi có những người say rượu họ cảm thấy chưa thỏa mãn họ đi vào tình trạng gọi là nghiện rượu. Nghiện rượu là không có rượu thì không được tức là phải uống thường xuyên. Rồi từ nghiện rượu đi đến chỗ nát rượu tức là không có rượu thì tay chân run lẩy bẩy, buổi sáng sớm không có rượu thì con người giống như chết rồi, không có làm gì được. Và khi uống rượu vào với một người nát rượu thì nhà tan cửa nát tức là cuộc sống không bình thường chỉ còn cách là phải đi cai rượu. 

Đức Phật Ngài cho chúng ta biết đi vào con đường nghiện ngập rượu là nó hoàn toàn không thể nào thỏa mãn được tận cùng của nó chỉ có một cách phải dùng ý trí để dừng lại, và những người thân phải khuyên để dừng lại, càng lún sâu thì con người càng mất đi khả năng định hướng, mất đi khả năng để làm lại cuộc sống tại vì mình sống trong cái gọi là impregnation tức là trạng thái ngâm tẩm, đắm chìm hưởng thụ một cách quá đáng, hưởng thụ một cách không có chừng mực. Xã hội ngày hôm nay phải nói rằng về điều này lại rất nặng nề, ở Mỹ tai nạn xảy ra do người ta uống rượu lái xe nhiều hơn những tai nạn do những nguyên nhân khác, những ngày lễ người ta đi dự tiệc tùng số người chết lên cao vì chuyện uống rượu lái xe. Nhưng phải nói ở Mỹ mọi người cần lái xe để di chuyển và việc nghiện ngập vấn đề say xưa đã trở thành một thảm họa không phải chỉ cho người lái xe mà cho cả những nạn nhân nữa. 

3. Sự không thỏa mãn thứ ba. Đức Phật dạy không bao giờ thỏa mãn đầy đủ đó là nhục dục. 

Cái gì cũng vậy, sự hưởng thụ ở mức độ tương đối thì có thể không gây tác hại. Ví dụ, trong cuộc sống con người có nam có nữ, có sự liên hệ giữa nam và nữ. Nhưng một khi con người đã đắm chìm ở trong một thứ gì quá, cũng giống như về vấn đề mê ngủ hay giống như vấn đề nghiện ngập rượu chè thì vấn đề hưởng thụ nhục dục có thể dẫn đến tình trạng quá độ.

 Như ngày hôm nay chúng ta nghe nói rất nhiều trường hợp càng ngày con người càng có nhiều cách thỏa mãn mà nó rất bất bình thường nó đi quá xa và vì vậy nó tạo ra không biết bao nhiêu vấn đề của cuộc sống. Cái vấn đề cuộc sống con người đơn giản phải biết nó ở chừng mực nào đó, cuộc sống con người lớn lên ai cũng muốn xây dựng cuộc đời tương đối là ổn. Nhưng chính vì những đam mê và những đam mê không tự chủ được dẫn đến sự đổ vỡ của gia đình dẫn đến sự đổ vỡ của trăm muôn ngàn thứ trong cuộc sống. Ngày nay hơn bao giờ hết con người chúng ta nên hiểu trong sự tự do của một thời đại, trong sự cở mở, trong sự cho phép của truyền thông của internet v.v... thì con người có nhiều phương cách để tìm đến để kích dục và để thỏa mãn dục vọng nhưng thỏa mãn nghĩa là thỏa mãn nhứt thời chứ nó không có gì thỏa mãn mãi mãi được. 

Nếu không có đủ ý trí đủ sự hiểu biết dừng lại ở mức độ nào đó thì chúng ta sẽ rơi vào ở trong một giai đoạn hầu như quá lậm, và chúng ta không thể có cuộc sống bình thường, cái cuộc sống gọi  bình thường nói theo chúng ta là cuộc sống quân bình là chúng ta tương đối có khả năng sống chừng mực. Cái đó không phải là dễ dàng.

Thì ở đây, Đức Phật dạy chúng ta về 3 điều không thể nào thỏa mãn, Ngài đặc biệt lưu ý nó là những thứ phiền não đến từ sự hưởng thụ và sự hưởng thụ này mang đặc tính ngâm tẩm, chìm đắm, quá lậm trong đó.

 Chúng ta đọc  giáo lý duyên khởi sẽ thấy một hệ lụy đơn giản là có 6 căn tiếp xúc với 6 cảnh:

- Xúc duyên cho Thọ là do tiếp xúc với các cảnh nên có cảm thọ, và cảm thọ tại đây không đơn giản như chúng ta nói Khổ Lạc Ưu Hi Xả mà cảm thọ ở đây đôi khi có một thứ cảm giác đặc biệt. Thí dụ như một người mê ngủ thích chuyện ngủ nghỉ khi họ nằm xuống họ cảm giác khoái lạc đặc biệt. Rồi một người đam mê về rượu nghiện ngập những dân nhậu chẳng hạn những người say sưa nhậu nhẹt trong cái say sưa đó họ cũng có một cái cảm thọ và cái cảm thọ đó khiến cho họ đắm chìm.

- Nhưng trong cái Thọ đó duyên cho Ái là sự thích thú.

- Nhưng Ái dẫn đến Thủ, Thủ ở đây là sự bám lấy không buông, uống rượu đến mức nghiện rượu hay nát rượu thì có nghĩa không có buông được. Một người đam mê nhục dục dẫn đến sự hưởng thụ nhục dục mà nó đi quá xa tầm thường thì họ không có bình thường nữa họ tạo ra rất nhiều chuyện không cho phép bởi xã hội. Hay một người quá đắm chìm trong ngủ nghỉ có thể họ đánh mất đi khả năng minh mẫn, khả năng phấn chấn để làm những việc khác mà chỉ chìm đắm trong sự ngủ nghỉ.

Ở đây, khi chúng ta nói đến "Ái duyên cho Thủ" chúng ta hiểu nó không đơn thuần chuyện đó mình thích hay chuyện đó mình đặc biệt ưa chuộng mà chữ "Thủ" ở đây là một sự đắm chìm, một sự nghiện ngập, một cái gì đó nó quá đà, quá chớn, quá độ. Cái "quá" đó để lại không biết bao nhiêu hệ lụy của đời sống và nó thể hiện thành những hạnh nghiệp chúng ta gọi là "Thủ duyên cho Hữu".

 Khi Đức Phật đề cập đến 3 việc ở tại đây không nhất thiết đối với tất cả mọi người đều giống nhau nhưng với người khi đã tự dấn vào những lãnh vực này nên hiểu đôi lúc nó vượt ngoài khả năng tự chủ và nên để ý.

Tại các thiền viện người ta nói sự phấn đấu chống lại chuyện mê ngủ hay buồn ngủ hay ưa thích ngủ nghỉ đôi khi không dễ dàng giống như chúng ta nghĩ. Nhiều người ngồi thiền buồn ngủ có nhiều vị họ để hộp quẹt trên đầu khi ngủ gật hộp quẹt rớt xuống họ thức tỉnh, hay có người dùng cây kim may loại kim may bao bố cầm trên tay lúc buồn ngủ họ lơi ra nó rớt xuống đâm vào lòng bàn tay làm tỉnh thức. 

Chúng tôi học cách trấn áp cơn buồn ngủ từ ngài Ajahn Pasanno; ở trong lúc buồn ngủ quá mình rời khỏi am thất của mình tức là chỗ ở của mình trong đêm, nơi am thất mình tu không có điện chung quanh, trời tối ban đêm lúc mình đi nhà vệ sinh hay đi đâu cần có đèn pin, nếu có đèn pin mình mới biết ở dưới chân mình có rắn rít có bồ cạp hay không còn nếu mình đi không có đèn pin buổi tối rất dễ sợ, nhưng buồn ngủ quá mình nhắm hướng đi không cầm đèn thì khi đi như vậy người mình tỉnh lại, đó là một cách.

 Chúng ta phải có ý trí, đầu tiên ý thức là những chuyện ngủ nghỉ, say sưa, nhục dục mình hưởng thụ bao nhiêu cũng không đủ, và khi mình biết bao nhiêu cũng không đủ thì mình phải dừng lại ở mức độ nào đó. Giống như ngày hôm nay có nhiều người bị bịnh đi shopping, mỗi khi đi shopping họ cảm thấy hạnh phúc, nhưng một lúc nào đó họ hiểu được đi mua bao nhiêu cũng không thỏa mãn được bắt buộc họ phải dừng lại. Cái ý thức được thắp sáng trong lòng mình "như vậy là vừa đủ rồi, ngưng lại" đó là một điểm chúng ta có thể làm được.

Một việc khác chúng ta có thể làm được, chúng ta có thể hiểu khi mình bị chi phối bởi những thứ đó nhiều quá thì mình không thể làm được chuyện gì khác được. Lấy ví dụ, những lần chúng tôi đi xa đến những nơi sái giờ thì tới giờ sinh hoạt trong room rất buồn ngủ những lúc đó chúng tôi vẫn thường phấn đấu cơn buồn ngủ là đi rửa mặt hay làm việc gì đó và tự nhủ "nếu mình không cố gắng thì ngày hôm sau nó cũng buồn ngủ tiếp tục nó có thể tệ hơn", vì mình cố gắng thì từ từ mình sẽ dành lại được sự tự chủ của mình. Như bây giờ chúng tôi đang rất buồn ngủ vì khác giờ nếu chúng tôi bỏ room không sinh hoạt và leo lên giường ngủ thì ngày mai nó cũng trở lại giống như vậy, tại vì mình chiều nó, cách làm tốt nhất là mình tự phấn đấu tới giờ đó cứ thức cứ làm, đôi khi mở mắt không lên nhưng vẫn cố gắng làm.

 Cái quan trọng ở trong cuộc sống là cái ý trí của mình, mình phải tin vào ý trí mình hơn là tin vào phiền não. Nếu mình không tin vào ý trí thì mình sẽ bị phiền não sai xử. Những lúc cảm thấy con người mình yếu đuối hay cảm thấy con người mình không có nhuệ khí không có sự tinh tấn lúc đó mình tự đặt câu hỏi là ý trí mình ở đâu. Mình sống mà không có sự phấn đấu thì đời sống mình sẽ lui sụt, và mình thấy rất rõ cuộc sống phải có sự phấn đấu với những phiền não.

 Đức Phật dạy tại đây, khuynh hướng của con người là muốn thỏa mãn sự ham mê ngủ nghỉ, ham mê say sưa trong rượu, ham mê trong nhục dục nếu chúng ta không đủ trí tuệ và không đủ ý trí nói mình phải dừng lại ở mức độ nào đó nó vừa phải, không nên đi quá đà, không nên đi quá xa, vì càng đi thì càng lún sâu, càng lậm, và càng lậm thì chúng ta sẽ mất hết tất cả thứ khác, không có khả năng tự chủ, không có khả năng làm việc nữa. Thì thường là những con người không phấn đấu một lúc nào đó tự nhiên mình không còn là mình nữa, mình không tự chủ được nữa, và nó sẽ đi quá đà. 

Do vậy, rất cần để chúng ta nói với chúng ta rằng những thứ đó nó không bao giờ thỏa mãn mình, không bao giờ thỏa mãn, bao nhiêu cũng không đủ. 

Có lần chúng tôi ngồi nghe một vị cư sĩ, người này tương đối rất thành công ở trong công ăn việc làm, thấy người ta mở nhà hàng cũng muốn mở nhà hàng, và vị này mở 4,5 nhà hàng và nhà hàng nào cũng thành công và cứ làm và cứ thấy tiền vô. Tiền vô là một lẽ nhưng người thì cực, làm nhà hàng thì cực. Có một đêm người đó ngủ nằm suy nghĩ tuy mình làm thành công trong việc kiếm ra tiền mình thỏa mãn nhưng mình làm một lúc mình quên vợ quên con, quên gia đình, quên đi chùa, quên Phật Pháp, vị này ngày xưa có tu ở chùa Ngài Hộ Giác, và bây giờ vị này nói mình không thể chạy theo hoài được có một lúc nào đó mình phải dừng lại. Đó là thắp sáng ý trí của mình. Con người mình cứ chạy đuổi theo danh lợi hơn thua. Riêng cuộc sống nội tại thì mình có những thứ hưởng thụ mình nghĩ mình sẽ đến chừng mực nào đó nhưng mà nó cũng không thỏa mãn được.

Thì Đức Phật dạy chúng ta phải bừng dậy phải trội dậy như trong kinh kể về vị tướng Santati ông là một danh tướng của vua Ba Tư Nặc đi đánh giặc chiến thắng và trên đường trở về ông ngồi trên thới voi trong niềm kiêu hãnh của vị tướng thắng trận khải hoàn trở về, Đức Phật Ngài đã độ ông cho ông thấy được niềm kiêu hãnh đó đối với ông là cao điểm mà ông cảm thấy trân trọng nhất trong cuộc đời đó là kiêu hãnh của cái chiến thắng nhưng mà điều đó không dẫn đi về đâu hết.

Cuối cùng chúng ta phải nói rằng thì nó như vậy đó, đến lúc mình cảm thấy nó không có đủ khả năng để dừng lại thì chúng ta phải đẩy mạnh ý trí của mình bằng trí tuệ bằng ý thức của mình. Ở trên đời này hơn nhau hay không hơn nhau là người biết dừng lại, hơn nhau hay là thua nhau ở chỗ là người có chừng mực hay không? Khả năng chừng mực mà biết vừa phải không phải dễ dàng.

Đó là vài điều chúng tôi muốn chia sẻ với quí Phật tử trong buổi sinh hoạt ngày hôm nay./.