Thursday, June 21, 2018

Lưỡi Đao Kề Cổ - Quán Tưởng Khổ - TT Giác Đẳng

Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya - Chương 6 - X. Phẩm Lợi Ích

 (VIII) (103) Lưỡi Đao Kề Cổ - Quán Tưởng Khổ


Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 2-9-2017.

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng:  Mở đầu bài kinh, Đức Phật dạy:

1. -Chư Tỷ-kheo, khi thấy được sáu lợi ích nầy thật là  đủ để vị Tỷ-kheo an trú trong nhận thức khổ não đối với tất cả pháp hữu vi một cách không có giới hạn. Thế nào là sáu?

Chúng tôi dùng Nhận Thức ở đây là một chữ tương đối quen thuộc ở trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Ở trong thuật ngữ chuyên mục của Phật học gọi là Tưởng là Sanna. Mình nhận ra một cái gì đó do mình đã từng biết, ví dụ như mình đã từng sài tiền bây giờ cầm tiền mình biết đó là tiền. Nhận diện được, biết được chúng ta gọi là nhận thức.

Chữ nhận thức là Sanna thì dễ hiểu. Chữ tưởng thật ra là chữ rất quan trọng. Nhưng chữ tưởng trong tiếng Việt lại mang hàm ý khác,  như người ta thấy cái này tưởng là cái kia, chữ tưởng là hiểu lầm. Hoặc giả là đi sâu vào có khi chúng ta gọi là tưởng nhớ, nghĩ về cái gì đó. Thật ra chữ Tưởng không phải như vậy mà Tưởng là nhận biết hiện tại do đã từng trải chúng ta tạm gọi là Nhận Thức.

Đời sống của chúng ta trải qua nhiều biến động đau thương, nói cách khác, những gì đã xảy ra không đánh động được tuệ giác của chúng ta, nhưng nếu có thì giờ nhìn lại chúng ta thấy một người mình vốn quen biết 10 năm về trước bây giờ nhìn lại dung nhan ấy đã thay đổi rất nhiều, phải nhìn nhận quả là vô thường. Hồi trước mình rất thích một chiếc xe và lúc mua xe phấn khởi như thế nào bây giờ sau vài năm không còn thích chiếc xe đó nữa nhưng mỗi tháng phải trả bill nợ xe hàng tháng ngán ngẩm, lúc đó thấy quả thật là khổ. 

Quá khứ không phải lúc nào cũng xấu nhưng nếu nó là một bài học tốt thì đủ cho chúng ta thắp sáng trí tuệ mình. Chúng ta đừng quên chính Đức Phật trong đêm thành đạo Ngài cũng đã từng nhìn về quá khứ và Ngài nhìn về không phải dĩ vãng năm ba năm mà là nhiều đời nhiều kiếp chúng ta gọi đó là Túc Mạng Minh. Qua đó Ngài cũng nhận thấy nhiều đầu mối liên hệ  nhân này quả kia cái đó gọi là Túc Mạng Minh. Và Ngài cũng nhìn thấy những phiền não đây là ái dục, và ái dục là anh thợ đã tạo ra nhà cửa, căn nhà này và thân này, cuộc sống này, và sự hiện hữu này là kết tinh của ái của anh thợ xây nhà. Ngài thành tựu được Lậu Tận Minh . 

Ở đây không phải chúng ta sống để tư tưởng quá khứ nhưng chúng ta học những kinh nghiệm quá khứ thí dụ như thử nhìn lại một vài chuyện nào đó xảy ra cách đây 5 năm lúc đó giữa mình và một người nào đó có một cuộc tranh chấp lời qua tiếng lại, ngay lúc tranh chấp lời qua tiếng lại mình thấy chuyện đó rất lớn, chuyện đó là chuyện mình muốn dở sống dở chết muốn ăn thua đủ nhưng 5 năm trôi qua rồi bây giờ nhìn lại nó chỉ là phù du.

 Chúng tôi nhớ hồi nhỏ đi học trong trường thỉnh thoảng bạn bè có những đụng chạm xích mích đôi khi đánh nhau và lúc đó mình thấy lớn chuyện. Hay ở trong chùa đôi khi anh em huynh đệ có những buồn phiền nhau, ngay giờ phút đó mình thấy lớn chuyện, sau 10 năm, 20 năm, 30 năm nhìn lại đó chỉ là dĩ vãng nhạt nhòa, lúc đó mình thấy nó lớn nhưng thật sự nó không lớn. Nếu mình khéo nghĩ và mình biết nghĩ chúng ta sẽ thấy có thể xử dụng được dĩ vãng để biết được các dục, biết về sự vô thường, biết về sự khổ, chúng ta gọi là Tưởng hay sự Nhận Thức. 

Trong bài kinh này Đức Phật có thêm một chữ, Đức Phật chỉ dùng một chữ rất quan trọng là:
 Ukkhittāsika - không có hạn cuộc hay là không có giới hạn. 

 Đúng là chúng ta có nhìn thấy vô thường, chúng ta có nhìn thấy khổ, chúng ta có nhìn thấy vô ngã nhưng chúng ta nhìn rất phiến diện, chúng ta chỉ nhìn một mặt, kiểu chúng ta nhìn như người mù rờ voi, kiểu chúng ta nhìn là có những cái chúng ta nhìn trung thực có những cái chúng ta không nhìn trung thực. Thật sự mà nói, bài kinh này một lần nữa cho chúng ta thấm thía khi chúng ta đọc câu:

Sabbe Sankhàrà aniccà'ti. (tất cả pháp hữu vi là vô thường)
Sabbe sankhàrà dukkhà ti .(Tất cả các pháp hữu vi là khổ)
Sabbe Dhammà anattà ti.(Tất cả các pháp là vô ngã)

Chữ "tất cả" ở đây rất quan trọng, tất cả là nói chung, nói toàn vẹn, nói hết, không có một ngõ ngách nào, không có một mảng nào mà nó còn lại để nó lừa dối chúng ta. Chúng ta thử đọc bài kinh Vô Ngã khi Đức Phật dạy:

- Này các Tỳ Kheo, cho nên các uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn nào, thức nào, dù trong đời quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, thù thắng, gần hoặc xa, sắc uẩn ấy chỉ là sắc thôi, thọ chỉ là thọ thôi, tưởng chỉ là tưởng thôi, hành chỉ là hành thôi, thức chỉ là thức thôi.

Có những người có bịnh quên và quên một cách khôn ngoan, như mượn tiền người ta thì quên nhưng khi người ta mượn tiền mình thì mình không quên, lỗi lầm người khác thì mình nhớ nhưng chịu ơn của người khác thì mình không nhớ, điều đó gọi là "select of memory" nghĩa là "trí nhớ có sự lựa chọn". Nhiều khi nhìn nhận quá khứ mình buồn, hiện tại mình buồn, nhưng chúng ta vẫn có cái gì đó trong tâm sâu kín mình vẫn luôn ảo giác là tương lai sẽ đẹp. vì vậy có nhiều người họ sống luôn mơ mộng về tương lai và họ nghĩ rằng tương lai luôn đẹp hơn hiện tại và quá khứ. Ngược lại có những người bi quan tương lai không thích hiện tại nhưng họ nhắc nhiều về quá khứ vang bóng một thời thuở oanh liệt nào đó trong cuộc đời, và họ nhắc đi nhắc lại điều đó, đối với họ không có gì đẹp như quá khứ. Thậm chí đôi khi trở thành trào lưu thời thượng nữa, nghĩa là người ta luôn luôn nhắc đến thời đại hoàng kim nào đó, người ta luôn luôn nhắc đến thời đại hôm qua. 

Chúng tôi có quen với một người đặc biệt luôn nhìn vào quá khứ là đẹp, người này nói thời cộng sản sau 1975 không bằng thời quốc gia,  thời quốc gia không bằng thời Pháp, và ông cụ này luôn luôn nhắc thời xưa cá đầy sông đầy ruộng, lúa làm một mùa ăn không hết, ông kể đủ thứ. Ông cụ không phải là không có lý nhưng  nếu mình sống chỉ có quá khứ là đẹp hơn hết thì cũng có nhiều người nói quá khứ là xấu, thật ra cái đẹp cái tốt không thuộc về quá khứ hiện tại hay tương lai mà do thói quen của chúng ta là dõi mắt về phía trước, dõi mắt về phía sau. 

 Vì vậy Đức Phật dạy khi chúng ta nhìn sự vật mà nhìn theo cái nhìn của tam tướng phải có dứt khoát. Đúng ra quá khứ, hiện tại, vị lai không khác nhau, quá khứ là hiện tại đã trôi qua, và hiện tại sẽ là quá khứ, và hiện tại cũng đã từng là tương lai, và tương lai rồi cũng sẽ là hiện tại rồi nó cũng trôi về quá khứ. 

Nhà thơ Bùi Giáng là một nhà thơ có tài của Việt Nam ông dịch một câu thơ trong vở kịch Hamlet  kịch bản của nhà soạn kịch  Shakespeare người nước Anh, mới nghe thì rất khôi hài "Hởi ôi, vừa mới đêm qua cũng là đêm trước giờ là đêm sau." Nghe rất khôi hài thật sự nhưng quả thật là quá khứ vị lai thì cũng vậy thôi. 

Cái mà chúng ta gọi là hiện tại thì nó sẽ trôi về quá khứ và nó đã từng là tương lai và tương lai nó sẽ trở về với hiện tại và nó trôi vào quá khứ. Thời gian nó là như vậy, thời gian là cái gì khó hiểu nhưng  ở đó nó là cạm bẫy cho nhận thức của chúng ta, cảm bẫy làm nhận thức chúng ta không nhận thức được điều đó. Do vậy có số người luôn luôn ảo tưởng về tương lai, và có những người sống nặng quá khứ, nhưng một khi Đức Phật Ngài dạy rằng hãy nhìn tất cả một cách không có giới hạn dù quá khứ, dù hiện tại, dù tương lai, bên trong, bên ngoài, chúng ta thấy rõ ràng giống như họ nói  "văn của mình, vợ của người, đứng núi này trông núi nọ", hay đôi khi cũng cái đó nhưng của người khác thì xấu mà của mình thì tốt, đôi khi cũng một thứ đó thôi mà mình làm thì thấy nó tốt nhưng người khác làm thì mình thấy bực. Điều đó nhiều khi chúng ta phải để ý nội giới và ngoại giới cũng làm chúng ta thiên vị, chúng ta không thấy được toàn diện, không phải chỉ quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, thô thiển, hay vi tế.

Thô thiển hay vi tế, ví dụ như mình nói cuộc đời là khổ, nhưng chỉ cuộc sống làm nông lam lũ mới là khổ, mình cứ tưởng tượng nếu mình là ông hoàng bà chúa sống trong cung điện thì hạnh phúc, tưởng tượng như vậy. Thật ra điều đó đa số chúng ta nghĩ như vậy nhưng rồi phải đọc sách nhiều, phải coi phim nhiều thì chúng ta mới thấy rằng đời sống của một vương gia công chúa sống trong hoàng cung bao nhiêu nước mắt bao nhiêu đau thương thậm chí còn khổ hơn đời sống bên ngoài nữa. Nhưng chúng ta vốn không thấy điều đó chúng ta nghĩ  chỉ có mình làm lương ba cọc ba đồng làm lương công nhật mình mới khổ chứ ông hoàng bà chúa tiền bạc như núi không bao giờ khổ hết, thật ra ai cũng khổ. Thành ra không chỉ thấy quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, hay thù thắng. 

Hạ liệt thù thắng, ví dụ, nói cõi trần của mình có sanh lão bịnh tử là khổ, mình nghĩ sanh làm Chư Thiên sanh làm Phạm Thiên, rồi mình nghĩ tu tiên đạt đến kim cang bất hoại như hình ảnh của những vị tiên sống trên núi như người trung hoa vẽ vời ra nhưng thật ra khi chúng ta hiểu Phật Pháp thì chúng ta thấy rằng chúng sanh ở cõi nào cũng bị vô thường khổ vô ngã chi phối.

Thành ra, bên trong, bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, thù thắng, gần hoặc xa. Cái gần hoặc xa đó cái cự ly cái khoảng cách gần hoặc xa đó ảnh hưởng chúng ta nhiều lắm. Có những người chỉ biết cái gì gần mình là nhất không để ý cái xa, có những người để ý cái gì xa thì tốt cái gì ở gần thì không có tốt. Cái cự ly đó cũng ảnh hưởng chúng ta rất nhiều, giống như người ta nói đa số những anh hùng là người ở xa người ở gần mình thì mình không để ý. Nhà văn lỗi lạc người Pháp Victor Hugo ông viết ra những vần thơ những tác phẩm rất vĩ đại rất  đẹp nhưng đôi khi ông cư xử với những người thân của mình thì ông rất keo kiệt không đẹp như những vần thơ của ông. Chuyện đó rất bình thường, tại vì cuộc sống của chúng ta mỗi người sự ứng xử và nhận thức của chúng ta ảnh hưởng ở những khoảng cách. Cũng có những người ví dụ như chúng ta sống bên Mỹ nhiều người có thể bỏ ra 2 ngàn để làm một bữa tiệc đãi bạn bè chung quanh để nhậu nhẹt để đi chơi nhưng gửi 1, 2 trăm cho người thân ở xa thì họ cảm thấy lớn họ tiếc tiền, nhưng ngược lại cũng có người gửi vài ba ngàn đồng cho người thân ở Việt Nam thì họ không tiếc mà sài cho người ở gần thì tiếc. Điều đó chúng ta nên hiểu khoảng cách nó cũng tạo cho chúng ta một cảm giác một cảm nhận là nặng hay nhẹ, trọng hay khinh. Và thường thường người ta nói khi mình thích một người nào đó đôi khi khoảng cách không quan trọng, người mình không thích ở cách càng gần mình càng khó chịu. Nhưng thật ra  gần hay xa nó không ảnh hưởng nhiều như chúng ta nghĩ, nó chỉ là ảo giác. 

Nói một cách khác, khi Đức Phật dạy mọi sự vật là khổ mà không có hạn cuộc không có giới hạn, có nghĩa là nhìn một cách toàn diện, nhìn một cách xuyên xúc, nhìn một cách thấu triệt, dù là quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, thù thắng gần hoặc xa đều phải nhận thức giống nhau.

Sự nhận thức giống nhau rất là khó, chúng tôi lấy một ví dụ, một người học về hóa học con mắt họ nhìn tất cả các nơi mọi sự vật đều là hóa học, một nhà thơ nhìn cả thế giới đều là thơ chứ không phải chỉ có chỗ này có thơ chỗ kia không có thơ, ngày xưa người ta nói những nhà danh họa chỉ vẽ được bức tranh đẹp khi nào họ vẽ người đẹp cảnh đẹp nhưng về sau này họ mới khám phá một bức tranh đẹp một bức tranh có giá trị không nhất thiết chỉ vẽ người đẹp cảnh đẹp mà đôi khi họ vẽ một khuôn mặt già nua khắc khổ nhưng bằng nét bút tài hoa thì bức tranh đó vẫn có giá trị. Thì ở đây điều Đức Phật dạy khi chúng ta có thể lãnh hội được ý nghĩa của khổ ở trong tất cả các hành các pháp hữu vi không có hạn cuộc thì lúc đó chúng ta mới thấy được những lợi ích thiết thực.

Câu kinh đầu tiên rất là ngắn, câu đầu tiên là:

 1. -Chư Tỷ-kheo, khi thấy được sáu lợi ích nầy thật là  đủ để vị Tỷ-kheo an trú trong nhận thức khổ não đối với tất cả pháp hữu vi một cách không có giới hạn.

Thì ở đây chúng ta nói thêm hai chữ khác nữa: Khổ não - dukkha trong đạo Phật là chữ rất khó dịch. Dukkha là một đề tài lớn, bởi vì Tứ Diệu Đế là một giáo lý phổ quát trong đó nói về sự khổ, nhân sinh khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến sự diệt khổ. Không có người học Phật nào hiểu chữ khổ chữ dukkha một cách mơ hồ mà người đó có khả năng đi sâu vào Phật Pháp, người học Phật Pháp phải hiểu chữ khổ là gì.

Thì ngay cả khi chúng ta đọc một số tự điển bây giờ nhìn vào chữ "tam đồ khổ". Tam đồ khổ người ta giải thích rất phiến diện, người ta giải thích tam đồ khổ là khổ của địa ngục như là hỏa khổ, như là khổ của ngã quỉ, khổ của bàng sanh v.v... để nói lên tam đồ khổ của đạo Phật. 

Đạo Phật đề cập đến sự khổ nhiều khía cạnh, cái khổ khổ, những sầu bi, những khổ não là khổ rồi, nhưng có những hành khổ, có những hoại khổ. Hành khổ ở đây tức là chúng ta nói đến một cái nhìn rộng hơn. Chữ khổ người Anh dịch là unsatisfactoriness là không có mãn nguyện không có hài lòng, chúng ta gọi là bất toại, imperfection là không hoàn hảo hay là bất toàn,  và thường chúng ta dịch chữ bất toàn, bất toại. 

Tại sao bất toàn bất toại? Thứ nhất là cuộc sống này nó không hoàn hảo, nó luôn luôn có một khía cạnh nào đó khiến chúng ta không thể mãn nguyện hoàn toàn, sự bất toàn mặt này và bất toại đầu kia làm cho chúng ta hụt hẫn làm cho chúng ta cảm thấy thất vọng. 

Ví dụ như vầy, chúng ta hiểu được chữ dukkha như sau, một người bỏ ra một món tiền lớn để mua một chiếc đồng hồ mắc tiền, hay một cái điện thoại mắc tiền, hay một chiếc xe mắc tiền, và khi chúng ta bỏ ra một món tiền bởi vì mình có tiền mình giàu có thì điều chúng ta kỳ vọng là cái đó phải hoàn hảo, không ai mua cái đồng hồ khám phá ra giây đeo có tỳ vết hay may không khéo, hay mặt kiếng bị trầy, mình muốn nó thật sự hoàn hảo. Tất cả chúng ta đều đam mê với sự hoàn hảo cái gì cũng tốt, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng hoàn toàn, một người bạn đời, một người yêu mình cũng muốn người đó hoàn toàn, cái nhà mình mua cũng hoàn toàn, chiếc xe mình chạy cũng hoàn toàn, một người bạn cũng là người hoàn toàn. Nhưng trong cái hoàn toàn đó nó có cái gì đó mà nó không hoàn hảo, nghĩa là nó có khiếm khuyết như một nhạc sĩ đó viết câu :"Dường như trong em ta cái điều tuyệt vọng." Cái điều tuyệt vọng tức là một cái gì đó mặc dầu mình thấy bên ngoài là tốt là đẹp là hay, nó có cái gì đó mà bản thân mình thấy thất vọng thấy nó không được hoàn hảo. 

Tại vì sao? Tại vì 2 lý do:

- Lý do thứ nhất, là tự tánh của nó là vốn đã không hoàn hảo. Tự tánh của nó là gì? là các pháp nó được cái này thì nó không được cái kia. Cũng như người Tây Phương nói "bạn không thể vừa ăn cái bánh vừa thủ đắc cái bánh" tức là cái bánh mình ăn rồi thì nó không còn nữa, và nếu mình muốn nó còn thì mình không được ăn, mình không thể cùng lúc vừa ăn vừa giữ cái bánh. Cuộc sống nó là như vậy.

- Lý do thứ hai, cuộc sống nó luôn luôn đặt chúng ta vào trong tình trạng chọn lựa, đúng là mình có cả hai sự chọn lựa nhưng mình không thể có trong một lần cả hai, muốn nó là sự lựa chọn lưỡng toàn, đầu này cũng tốt đầu kia cũng tốt, nhưng đời sống không bao giờ có sự lưỡng toàn như vậy, được cái này thì mất cái kia, được cái kia thì mất cái này. 

Thường quan hệ giữa con người với con người từ tài sản vật chất, giống như nhiều người họ nghĩ nước Mỹ là một thiên đàng tại vì ở đó làm ra tiền, nhưng rồi khi qua Mỹ người ta sớm nhận ra rằng để làm ra tiền thì người ta phải lao khổ người ta phải làm việc rất nhiều chứ không phải qua Mỹ tự nhiên ngồi trên đống tiền,  nó có cái giá phải trả cho nó. Đời sống con người thành công ai cũng muốn nhưng thành công có giá của nó, một địa vị cao là một điều làm cho người ta hãnh diện nhưng điều đó "gót danh lợi bùn pha sắc sám" nó có vô số khía cạnh ở trong đời sống, là đời sống nó vốn bất toàn.

Vì vậy chữ dukkha đôi khi nó đồng nghĩa với rỗng không. Rỗng không là ở đây tức là mình đi tìm cái lõi ở trong củ hành hay ở thân cây chuối, củ hành chính nó có vấn đề là nó không có lõi, mình cứ lột từ lớp này qua lớp khác nhưng rồi cuối cùng đã là phù ảo, nó giống nhau, lớp đầu tiên và lớp sau cùng giống nhau, thì cuộc sống nó là như vậy, nó không có lõi, chúng ta đã đi từ sự hy vọng này đến sự hy vọng khác, hồi nhỏ thì mình mong lớn lên mình trông cậy vào chuyện học hành có học vị, rồi trông cậy vào hôn nhân, có hôn nhân trông cậy vào con cái, con cái trông cậy vào chính phủ hưu trí về già, luôn luôn thân phận của chúng ta ở trong kinh Phật nói giống như hình ảnh một con ngựa bị treo bó cỏ phía trước mõm và dõi mắt đi theo phía trước nhưng mà chúng ta không bao giờ thỏa mãn vì cuộc sống nó bất toàn, nó làm cho chúng ta rỗng không, chính bản thân của chúng ta không thể thoả mãn. 

Chúng ta phải nhìn nhận là Tôn Giả Ratthapala Ngài từng nhắc "Thế giới là khiếm khuyết, nô lệ cho tham ái". Nô lệ cho tham ái tức là chúng ta giống như một người bị bịnh ngứa ngãi hoài không đã ngứa, bị khát nước uống nước muối uống hoài không hết khát. Chúng ta đã từng tự mình lừa dối mình là có cái đó thì tôi sẽ hạnh phúc, nhưng  không, có cái đó rồi vẫn không hạnh phúc, có cái đó rồi bỏ vào một xó nào đó rồi lại đi tìm và đời sống chúng ta tiếp tục đi tìm tiếp tục đi tìm. 

Vì vậy trong ý nghĩa chữ dukkha nói trong kinh Phật hiểu ý nghĩa  ba khía cạnh có thể chính xác đó mới thật sự là tam đồ khổ: Như là khổ khổ, hành khổ, họai khổ.

- Điều thứ nhất,  trong ý nghĩa tổng quát, người Phật tử nên hiểu là cuộc sống nó là rỗng không, không có cái lõi, giống như củ hành lột hoài không thấy lõi. 

- Điều thứ hai. Cuộc sống là bất toàn, vì cuộc sống vốn không hoàn hảo, chúng ta không thể có hết và chúng ta chỉ lựa chọn một trong hai và nó tốt cái này nó xấu cái kia, được cái này mất cái kia. 

- Điều thứ ba là cuộc sống không bao giờ hoàn toàn mãn nguyện và không bao giờ thoả mãn hết, đó là chữ dukkha.

 Không phải là sự bi quan nhưng Đức Phật Ngài dạy đó là bản chất của hữu vi pháp, pháp hữu vi ở đây trong tiếng Anh dịch là concoctiness là cái gì đó, concocted là cái gì kết cấu bởi nhiều nhân nhiều duyên chúng ta gọi là kết cấu.

Chúng ta lấy thí dụ đại khái chữ Sankhara là các hành, nó giống như là một cái công ty mở ra với nhiều phần hùn, và bởi vì nó có nhiều phần hùn thành ra nhiều rắc rối, ai cũng muốn làm chủ, người đòi kiểu này người đòi kiểu kia người đòi kiểu nọ, thành ra bản chất của các hành là sự kết hợp của nhiều điều kiện. Ví dụ, một bữa ăn ngon không phải thức ăn ngon là đủ mà cách ăn ngon nữa và đôi khi chúng ta phải đói, phải thèm ăn, thành ra bữa ăn ngon đòi hỏi nhiều lý do hợp lại. Mình lái xe an toàn thì tài xế phải giỏi, chiếc xe phải tốt, đường phải tốt, thời tiết phải tốt v.v... nó nhiều điều kiện chứ không phải một điều kiện. 

Thì cuộc sống của chúng ta Đức Phật gọi là pháp hành hay là pháp hữu vi nó dựa trên một nguyên lý là một sự tổng hợp của nhiều thành tố, không may ý muốn của chúng ta chỉ là một trong những thành tố đó. Và có đôi lúc chúng ta không có ý muốn nữa, như mình sinh ra mình đâu lựa chọn mình là người Việt Nam, mình sanh ra mình cũng không lựa chọn ai là cha ai là mẹ mình, ngay cả trong cuộc sống. Cụ Nguyễn Du nói: "Những diều trông thấy mà đau đớn lòng"  mình không thích thấy mà dôi khi cũng phải thấy, không thích nghe đôi khi cũng phải nghe, không thích sống nơi đó đôi khi cũng phải sống nơi đó, hỏi tại sao vậy? tại vì là sự đưa đẩy, ở cái tuổi nào đó thì con người mình tin rằng tất cả đều do sự lựa chọn của ý trí, nhưng mà rồi ngưòi ta cũng nói là "lục thập nhĩ thuận" ở tuổi 60 rồi tự nhiên mình thuận theo tại vì mình muốn sống tại Seattle nhưng rồi mình lại về sống tại New Orleans, mình muốn làm nghề này nhưng rốt cuộc mình làm nghề kia, ai cũng muốn làm giàu nhưng rốt cuộc cũng phải đi làm cho chính quyền làm cho công sở, như vậy là cuộc sống không phải hoàn toàn theo ý muốn mình. 

Chúng tôi có nhận thức là nó có nhiều nhân duyên, Đức Phật gọi là một mớ hỗn độn, là một sự kết hợp. Cuộc sống của chúng ta có quá khứ, có hiện tại, và có tương lai, nó trộn với nhau, nó có ảnh hưởng chi phối của quả của nghiệp và ảnh hưởng sức ý trí của tâm, ảnh hưởng giữa mình và người, giữa cuộc sống và môi trường.  

Đức Phật Ngài không bao giờ nói rằng tâm của chúng ta quyết định tất cả. Nhiều khi chúng ta cứ nói là tâm bình, thế giới bình, mình tưởng mình vui rồi thế giới mình vui, không phải như vậy. 

Đức Phật dạy rằng tâm khéo tu là được sự an lành. Nhưng mà bạn tốt mình thân cận là yếu tố quan trọng, ở xứ mình nên ở cũng là sự quan trọng, mà cái gì mình lãnh hội từ thế giới này cũng quan trọng, nó có nhiều  điều kiện pha trộn nhau, giống như là mình nấu một nồi canh, mình có nhiều vị chua, vị ngọ,t vị mặn, nêm nếm và mỗi thành tố mỗi nguyên liệu bỏ vào trong đó nó đều có sự quyết định của nó. Và do vậy cuộc sống này là vậy, cuộc sống mà gọi là pháp hữu vi là một sự kết cấu, một sự tổng hợp, một sự hòa hợp của nhiều thứ, mình có phước thì sự hoà trộn đó nó hòa điệu và nếu chúng ta thiếu phước một chút nó là một thứ ô hợp một thứ hỗn hợp và nó gây cho chúng ta nhiều sự phiền phức vô cùng. 

Quí vị cứ tưởng mình sống trong một gia đình hay trong một ngôi chùa nhiều người, bá gia bá tánh, con nhiều cha nhiều ý, ở trong một gia đình hai vợ chồng với vài đứa con thì mỗi người một ý cuối tuần đi chơi ở đâu làm gì đã thấy phiền, sống trong một ngôi chùa có hàng trăm Phật tử hàng trăm ý kiến khác nhau đôi khi nó cũng phiền. Chúng ta nói đến một quốc gia hay một cơ chế chính quyền, nó đủ thứ chuyện lộn xộn, sự hỗn độn đó là kết quả tất nhiên của một cái  chúng ta gọi là có quá nhiều thứ, có quá nhiều thành tố, có quá nhiều nhân tố, và đó là bản chất của sankhara.

Sankhara là pháp hữu vi, pháp kết cấu của nhiều thứ, pháp hành, chúng ta phải hiểu rất rõ chữ sankhara nghĩa là gì. 

Thành ra câu kinh đầu tiên ngắn nhưng quan trọng là chúng ta hiểu rõ thế nào là Sanna hay là nhận thức, thế nào là chữ khổ và thế nào là một cách không giới hạn. 

Nhưng có một chữ nữa mà chúng ta đừng quên đó là chữ "đủ"

"Thấy được sáu lợi ích nầy thật là  đủ để vị Tỷ-kheo an trú trong nhận thức khổ não đối với tất cả pháp hữu vi một cách không có giới hạn. "

Đủ ở đây là cái mức độ giống như mình uống thuốc liều lượng đạt đến điểm không quá và không thiếu để trị bịnh, đó gọi là đủ. 

 Ở đây Đức Phật dạy rằng với một người mà trong cái nhìn thấy tất cả pháp hữu vi,  ở trong đó gồm: người, cõi, nghiệp. 

- Người ở đây nói đến 12 hạng người tất cả chúng sanh trong tam giới.

 -Cõi ở đây là 31 cõi chia ra làm tam giới. 

-Nghiệp ở đây dầu là nghiệp trắng, nghiệp đen, không trắng không đen. 

Người, cõi, nghiệp, tất cả điều đó đều được nhận thức rằng thật ra  không có cái nào hoàn hảo, thật ra không có cái nào làm cho mình mãn nguyện hoàn toàn, khi một người tu Phật mà nghĩ rằng thế giới của cõi người này mình chán bây giờ mình muốn sanh về thiên đàng, sanh về tịnh độ, sanh về cõi nào đó để mình hưởng, điều đó cho thấy chúng ta chưa thấy tính phổ quát của khổ, chưa thấy được tính toàn diện của khổ và chưa thấy được rằng khổ có mặt trong mọi nơi. 

Thành ngữ người Trung Hoa nói "Tam giới như hỏa trạch - ba cõi như nhà lửa" nó không đơn giản là một điều triết lý. 

Thật sự, Đức Phật Ngài dạy mắt là lửa, tai là lửa, nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý, sắc thinh vị xúc pháp đều là lửa thì Ngài dạy sự nung nóng một sự nhiệt não, một sự phiền khổ. 

Và câu nói để nhận thức tất cả pháp hữu vi là khổ não một cách không có giới hạn, một cách không có hạn cuộc, câu nói đó là một câu nói lớn lắm chứ không có đơn giản, chúng ta cần hiểu rõ điều này.
Sau đoạn 1 chúng ta bước qua đoạn 2 nói về 6 lợi ích. 

1. Lợi ích đầu tiên là mình sẽ đạt được sự ngán ngẩm. 

Sự ngán ngẩm ở đây trong kinh Phật nói là do nhàm chán ly tham, ngán ngẩm là mình thấy không thích thú với chuyện đó nữa, nó quá đủ rồi để nhàm chán. Ở đây, Đức Phật Ngài đưa hình ảnh một người tử tội nhìn thấy thanh đao của đao phủ đưa lên là thấy phiền khổ và ngán ngẩm. 

Khi thấy được mức độ đó, chúng ta có thể mườn tượng phần nào trạng thái tâm của đức Bồ Tát khi sống trong cung vàng điện ngọc khi Ngài đi dạo 4 cửa thành thấy cảnh già đau chết, Ngài xuất gia, và Ngài suy nghĩ rằng cuộc sống này bị sanh già đau chết chi phối tại sao mình cứ luẩn quẩn sanh già đau chết chi phối và Ngài khởi lên tâm ngán ngẩm, sự ngán ngẩm đủ mạnh đủ lớn đủ thôi thúc để Ngài bỏ tất cả sau lưng mà lên đường và trở thành vị Samon. Thật ra chúng ta không hình dung nổi chuyện đó nhưng mà lớn lắm. Hay Yasa là một người sống trong cuộc sống nhung lụa nhưng trong đêm tối chỉ nhìn thấy vài hình ảnh không đẹp đã bỏ nhà ra đi và cảm thấy cả thế gian này đều là bẩn chật, thì cái đó cũng không phải là chuyện đơn giản để mình hiểu, chúng ta không lượng định được điều đó. Trong kinh Thánh Cầu khi Đức Phật kể lại lúc Ngài chưa xuất gia còn ở trong hoàng cung Ngài nghĩ tại sao mình bị sanh già đau chết chi phối mà mình lại đi tìm cái bị sanh già đau chết chi phối, tâm trạng ngán ngẩm đó là một người thấy các hành nó cũng là phiền. 

Chúng tôi lấy một ví dụ là có nhiều người tự nhiên họ được mời làm chức vụ này chức vụ kia họ không cần biết chức vụ đó làm cái gì chỉ nghe đến chức vụ là cảm thấy thích, khi một người đã trải qua nhiều thứ khi nghe đến chức vụ là thấy phiền lắm, có chức vụ là có thị phi có chức vụ là có chuyện ghen ghét, có chức vụ là có những trách nhiệm nặng nề, có phiền hà có những chuyện làm bận lòng, chức vụ đó không biết mình ăn được cái gì mà gặp toàn chuyện phiền hà trong đó mỗi lần mình nghe mình cảm thấy ngán ngẩm cực chẳng đã thì làm, và cái ngán ngẩm nó phải giống như một người tử tù nhìn thấy thanh gươm kề cổ đưa lên rồi chém xuống cổ mình. Đức Phật dùng hình ảnh thanh gươm kề cổ là một thí dụ rất mạnh như vậy mình đạt được tâm yểm ly hay tâm nhàm chán hay tâm ngán ngẩm đối với các hành đó là lợi ích thứ nhất 

2 - Lợi ích thứ hai là tâm chúng ta sẽ vượt trên cả thế gian này.

Tầm nhìn của chúng ta phải cao cái thấy mới toàn diện giống như bây giờ người ta dùng drone (một loại thiết bị bay không người lái) để khi muốn quay phim hay chụp hình từ trên cao nhìn cảnh ở dưới cho chúng ta ở một góc cạnh. Thì tâm mình vượt lên thế gian này. Trong kinh Đức Phật Ngài đưa ra hình ảnh một người leo lên lầu cao nhìn xuống những người đi lại dưới đất. Về bậc trí giữa quần sanh đang ngụp lặn, bậc trí leo lên lầu cao của trí tuệ, tâm vượt lên, cái nhìn phải vượt lên trên thì cái nhìn đó mới đủ rộng đủ sáng đủ tốt được.

3- Lợi ích thứ ba là mình thấy được Niết-bàn là tịnh lạc.

 Đời sống của chúng ta sống với sắc thinh khí vị xúc chúng ta không có dễ dàng để thấy được sự tịnh lạc của Niết-bàn. Tương tự như, một người lớn lên đi vào cuộc đời thấy ông cụ đang vui thú điền viên hàng ngày ra vườn chậm rãi tưới cây làm vườn thì những người trẻ không thấy cái gì hạnh phúc của việc làm vườn, những người trẻ phải trải qua những năm tháng dài lăn lộn nhọc nhằn rồi bây giờ họ mới trở về mới cảm nhận được thế nào là vui thú điền viên. Hay một người mới qua Mỹ chưa bao giờ sài thẻ tín dụng (credit card) mà họ xin được thẻ tín dụng thẻ credit card để vay nợ thì họ mừng lắm, nhưng sài nhiều quá phải trả nợ đến khi trả hết tiền nợ và không sài thẻ nữa thi lúc đó cảm thấy hạnh phúc vì không thiếu nợ chứ chúng ta khó cảm nhận được Niết-bàn. Và do chúng ta thấy được sự trầm thống khổ, sự trầm thống của các hành thì chúng ta mới thấy Niết-bàn là tịnh lạc, Niết-bàn đúng là một sự hạnh phúc. 

4. Lợi ích thứ tư. Các phiền não tùy miên sẽ được nhổ lên.

Khi chúng ta học về sáu lợi ích của quán pháp vô thường có một câu tương tự là các kiết sử được chặc đứt, sợi giây trói buộc được chặc đứt, thí dụ mình bị ai cột lại không nhúc nhích được làm chuyện gì cũng bị trói tay trói chân, hay mình giống như con voi con trâu bị cột chân vào cột không đi đâu được hết, đó gọi là giây kiết xử mà chặt đứt kiết xử đó là chặt đứt trói buộc. Đó là lợi ích khi quán về vô thường.

Khi quán về khổ, Đức Phật đưa ra hình ảnh các pháp phiền não tùy miên được nhổ lên.

Chúng ta nói bảy pháp tùy miên, bảy pháp tiềm thùy tức là pháp ngủ ngầm hay pháp tàng ẩn, lấy ví dụ như  một miếng đất để không thấy gì nhưng nó có khả năng cỏ mọc lên mặc dầu lúc đó là đất trống. Khả năng sanh khởi phiền não lấy ví dụ khi nghe pháp mình cảm thấy rất sáng, trí mình rất an lạc nhưng rồi "giác thời tự ngộ đáo cảnh hoàn mê"  khi chúng ta trở về cuộc sống bình thường chúng ta cảm thấy phiền não sanh khởi. Bấy giờ mình an lạc nhưng mà rồi những phiền não ngủ ngầm nó luôn luôn có khả năng để khởi sanh. Điều đó chúng ta tạm gọi như  ở trong y khoa ngày nay có những con vi trùng chẳng hạn vi khuẩn candidiasis khi thân mình mạnh hệ thống đề kháng mạnh vi trùng nằm ngủ trong quần áo nhưng khi mình bị căng thẳng có nhiều lo lắng phiền muộn thì con vi trùng gây cho mình bị đẹn hoặc các bịnh này bịnh kia. Thì phiền não ngủ ngầm tiềm thùy cũng giống vậy nó không biến mất nó tiềm ẩn như lửa tiềm ẩn trong đống tro tàn và có khả năng làm cháy rừng lần nữa, thì đó cũng là một căn bệnh di căn một căn bệnh rất là phiền của đời sống chúng ta, giả dụ như  bây giờ mình đang vui nhưng có ai đến đe dọa để lấy gì của mình thì tâm bỏn xẻn khởi lên. Hay mình thấy có một người cùng nghề cùng tuổi với mình thành công hơn tự nhiên mình cũng ganh tị, cũng bỏn xẻn đủ cho chúng ta bị giông bão và chúng ta có nhiều thứ để làm cho chúng ta phiền toái.
 Do vậy một người quán tưởng về khổ thì người đó có thể hoan hỉ thấy một lợi ích là pháp ngủ ngầm pháp phiền não có thể nhổ lên, nhổ lên ở đây chúng ta tạm dùng hình ảnh như là cỏ nhổ tận gốc.

5 - Lợi ích thứ năm là ta sẽ hoàn tất việc cần làm. 

Một người khởi hành một cuộc hành trình có thể đi đến nơi về đến chốn không có vướng mắc. Tất cả những vị giác ngộ đều có ý thức rất rõ "phạm hạnh đã thành những gì nên làm đã làm" câu đó là một câu rất nặng ký, những gì nên làm đã làm tức là vị đó giống trường hợp một người đi học chăm chỉ rồi thi ra trường tốt nghiệp rồi thì không cần phải học nữa lúc đó cảm thấy sung sướng, mình đã hoàn thành việc học sau những năm dài mài đũng quần ở ghế nhà trường bây giờ thì học xong rồi cái gì cần làm đã làm thì đó là một niềm hi vọng rất lớn với một vị có khả năng quán chiếu sự khổ, đối với tất cả các hành một cách không giới hạn. 

6 - Phụng sự bậc Đạo Sư với tâm mát mẻ.

Bậc Đạo Sư ở đây chỉ cho Đức Phật. Cuộc sống của Chư Tăng sống đời sống tu tập và hoàng trì Phật Pháp đó là tôn ý của Đức Phật. Chư Tăng khi nói đến phụng sự Tam Bảo, phụng sự Bậc Đạo Sư có nghĩa là mình làm cái gì làm trong trách nhiệm và nếu sống trong quán tưởng sự khổ thì mình cảm thấy tâm tư mình nhẹ nhàng mát mẻ và chịu khó, chịu thương, chịu cực, chịu khổ mình thích nghi được dễ dàng, còn nếu sống coi thường quán tưởng về sự khổ đôi khi gặp một chút cực khó khăn thì nó làm cho chúng ta trở nên bực bội tại sao mình thế này tại sao mình thế kia. Ở đây cũng là một nghệ thuật sống là nếu chúng ta có cái nhìn đại quang có cái nhìn rộng lớn đối với cuộc đời này là khổ  như vậy bản chất là như vậy thì khả năng dung dị  khả năng chấp nhận được những trái ý nghịch lòng dễ hơn. Một người được nuông chiều được mơn trớn quá nhiều tâm tư của người đó đi đâu cái gì cũng phải đẹp cũng phải tốt cũng phải vừa ý cái gì cũng phải theo ý của mình thì khi đối diện với nỗi khổ họ sẽ không đủ kiên nhẫn. Đời sống của vị tu sĩ khi nghĩ đến sự phụng sự Tam Bảo cũng là sự phụng sự Bậc Đạo Sư thì luôn luôn nhắc nhở chúng ta một điều rằng chuyện đó nó không có dễ, chuyện đó không có đơn giản mà chuyện đó đòi hỏi nhiều phấn đấu. Nhưng nếu chúng ta thường xuyên quán tưởng về sự khổ thì chúng ta sẽ có tâm mát mẻ hơn ở trong công việc phụng sự Tam Bảo, phụng sự Bậc Đạo Sư là Đức Phật.

Đó là sáu lợi ích của một vị quán tưởng sự khổ một vị nhận thức về sự khổ đối với tất cả các hành và Đức Phật dạy chỉ đối với sáu lợi ích này là quá đủ để cho một người thường xuyên nhận thức thường quán tưởng về sự khổ./.

Thursday, May 31, 2018

Phân biệt danh sắc có tác dụng gì với hành giả tu Tứ Niệm Xứ?

Thảo luận. Phân biệt danh sắc (như ý định hành động và hành động) có tác dụng gì với hành giả tu Tứ Niệm Xứ? 

Thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 29-3-2018, Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu: Đối với một người không tu tập thì họ chấp thể xác và linh hồn (tâm) là một, hoặc  thể xác là khác  và linh hồn là khác. Và hễ họ chấp là một hay là khác thì  cũng rơi vào tình trạng thường kiến hay đoạn kiến, hoặc họ chấp ngã sở, ngã đắc, ngã chấp thủ, ngũ uẩn là ta, ta là ngũ uẩn, ngũ uẩn có ta, trong ta có ngũ uẩn, sắc thọ tưởng hành thức. 

Đối với một người tu tập Tứ Niệm Xứ,  vị này có chánh niệm tỉnh giác sanh diệt sẽ hiện khởi và sự diệt mất của danh và sắc, vị này sẽ đạt được trí tuệ Nāmarūpapariccheda ñāṇa tức là tuệ phân biệt danh sắc.

Thất giác chi có tác dụng gì?  

Ở đây, khi chánh niệm nhận thức được rõ ràng, ghi nhận rõ ràng sự sanh diệt của danh sắc thì tác dụng thứ nhất là thấy  danh sắc có sanh có diệt nó vô thường, và cái gì vô thường sanh diệt không theo ý muốn thì  là vô ngã, vị đó  nhận thức được. 

Rồi lại ghi nhận cái này là danh cái này là sắc. Chẳng hạn như ghi nhận hơi thở ra hơi thở vào. Vị hành giả chánh niệm nhận biết hơi thở đó là sắc pháp, thuộc về sắc nó  sanh khởi ở rún và nó diệt ở chóp mũi được gọi là hơi thở ra sanh và diệt. Hơi thở vào thì hơi thở được ghi nhận sanh ở mũi và diệt ở rún. Bởi vì hơi thở vào trước hết là mình cảm nhận được từ ở chóp mũi và vô cho đến khi không còn thở vô nữa để mà thở ra thì nó dừng lại ở rún. Ghi nhận như vậy  hơi thở vị đó thấy sự sanh diệt rõ ràng.

Hơi thở đó là sắc tâm cittasamuṭṭhānarūpaṃ và hơi thở này  thuộc một trong bảy sắc hành động do tâm điều khiển do tâm sanh khởi, do tâm khiến cho sanh lên thì  tâm là  ý muốn thuộc về danh pháp. Thì hễ hơi thở có sanh có diệt, thì tâm khởi lên nhanh hơn gấp 17 lần sanh diệt của sắc pháp. Cứ ghi nhận như thế  vị hành giả sẽ thấy rõ ở đây danh sanh diệt sắc sanh diệt cái đó là vô thường. Mặc dù danh và sắc có sự liên đới với nhau nhưng  danh  sanh diệt nhanh hơn sắc pháp cứ như thế hành giả chánh niệm cho đến khi vị hành giả nhận thức rõ danh sắc này vốn  tương quan nhưng nó độc lập.

 Rồi lại danh sắc này vì có sanh có diệt cho nên  có đặc tính là vô thường, không có gì là trường tồn, không có gì là vĩnh hằng bất hoại. Và rồi vì sanh diệt một cách tự nhiên theo định lý sanh rồi diệt, diệt rồi sanh cho nên vị hành giả nhận thức được không theo ý muốn thế là các pháp danh sắc là vô ngã. Mà trọng tâm của vị tu tập quán Tứ Niệm Xứ là để nhận thức được danh sắc là vô thường, khổ đau và vô ngã, cái tiêu chí của vị đó, cái đặc điểm mục đích của  vị hành giả tu tập Tứ Niệm Xứ là để nhận thức được sanh diệt để nhận thức được nó vô thường, khổ đau, vô ngã và khi đã nhận thức được 3 ấn tướng của pháp hữu vi thì lúc bấy giờ tuệ đạo tuệ quả sẽ sanh khởi.

Cho nên ở đây  nhận thức và  phân biệt được danh sắc quan trọng lắm, người mà có tuệ quán phân biệt được danh sắc là bắt đầu tuệ quán thấy được pháp chân đế của danh sắc. Còn như hàng ngày đối với chúng ta thì chúng ta  quen chấp nơi tục đế, chúng ta cũng biết đây người nam, đây là người nữ, đây là đẹp, đây là xấu, chúng ta nhận thức theo khái niệm giả lập, khái niệm qui ước cho nên lúc bấy giờ làm cơ sở cho phiền não, ngã chấp cứ như thế mình chấp do vọng tưởng, mà cứ như thế đó thì bắt đầu phiền não dựa vào đó sanh khởi, chúng ta không nhận ra được. 

Cũng giống như khi một bức tường bị đóng rong nhìn thấy nó bị ố người ta sơn hay quét vôi đè  lên, người ta tưởng làm như vậy cho nó đẹp nhưng thật sự bên trong bị ẩm ướt người ta không nhận thức được, người ta không khắc phục được từ chỗ bức tường loan lỗ do rong rêu đóng, lẽ ra người ta phải cạo bỏ lớp rong đó hoặc chỗ nào hư mục  phải lóc chỗ đó ra xong rồi mới trám vữa hồ làm cho bằng phẳng rồi để khô  mới sơn lên thì nó mới đẹp bền.

 Cũng như phàm phu chúng ta hễ gặp phiền não chúng ta cứ cố gắng suy nghĩ để khỏa lấp sự phiền muộn đó, nhưng mà cố gắng làm cho khoả lấp bằng quan niệm chấp thường, chấp lạc, chấp ngã, chấp tịnh thì là môi trường để cho phiền não sanh lên. Muốn giải quyết vấn đề này thì phải làm sao nhận thức được danh sắc (ý muốn hành động và hành động) rõ ràng thì lúc đó phiền não mới dừng lại. Đây là vấn đề mà chúng tôi xin được chia sẻ qua câu thảo luận vừa nêu ./.

Monday, May 7, 2018

Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. - Kinh Bàhhiya - TT Giác Đẳng

Kinh Bàhiya Sutta

Trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy

Bài kinh TT Giác Đẳng giảng trong lớp Phật Pháp Buđdadhamma 27-3-2018

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: kinh Bàhiya Sutta là một bài kinh quen thuộc trong Phật Pháp chúng ta rất cần đọc kỹ. Ở trong bài kinh này kể câu chuyện một vị thương buôn đi biển, thương thuyền bị chìm và ông trôi dạt vào một nơi xa làng, lúc bơi thì y phục không còn khi đến bờ trong tình trạng loả thể, vị này lấy vỏ cây quấn tạm quanh người. Những người dân làng đi đốn củi gặp vị này mặc vỏ cây họ nghĩ vị này là một đạo sĩ mặc vỏ cây họ sùng bái, cũng giống trường hợp bên Việt Nam thấy người nào ăn ớt nhiều hay ăn dừa nhiều ăn chuối nhiều thì họ gọi là đạo ớt, đạo dừa, đạo chuối vì thấy đặc biệt.

Ban đầu ông nhân sự tùng sự, tức là ông lấy vỏ cây che thân tạm thời khi gặp người dân trong làng nhưng khi ông thấy dân làng trọng vọng không cãi chính mà lại chấp nhận sự cúng dường của những người đó, thì từ sự chấp nhận đó sanh cho ông ảo giác ông nghĩ có lẽ trong những vị Thánh  Alahán ở đời thì mình là một ở trong những vị Alahán đó. Cái ảo giác này tương tự như ban đầu mình gạt người khác sau này mình tin điều đó luôn. Khi ông đến mức độ nghĩ mình là Alahán, ông lại có một phước duyên là một vị Chư Thiên bà con kiếp trước của ông mách với ông rằng thật ra ông không phải là vị Alahán và ở tại thành Xá Vệ Xa (Sàvatthi), ở hướng bắc có đấng Thế Tôn Ngài là vị Alahán giảng pháp đưa người ta trên con đường dẫn đến đạo quả Thánh nhân.

Bàhiya mặc dầu đã có ảo giác mình là Alahán nhưng được cảnh tỉnh như vậy ông tỉnh ngộ và không còn tiếp tục sống đời sống như vậy, ông làm một cuộc hành trình từ Suppàraka nơi ông ở đi về hướng Bắc tới thành Xá Vệ (Sàvatthi). Khi ông đến chùa, Chư Tỳ Kheo nói Đức Thế Tôn đang đi khất thực, trong đầu ông có sự chiêu cảm là mạng sống của ông sắp hết nên ông nôn nóng rất muốn gặp Đức Phật và ông đi ra ngoài hỏi thăm  người ta chỉ ông đến gặp Đức Phật, đúng lúc Đức Thế Tôn đang đi khất thực, ông qùi xuống xin Đức Phật dạy đạo cho ông.

 Đức Phật Ngài dạy rằng: 

- Đây không phải là thời để thuyết pháp tại vì Như Lai đang đi khất thực. 

Và do ông biết nghiệp ông không sống lâu do đó ông khẩn thiết năn nỉ Đức Phật thuyết pháp: 

- Bạch Đức Thế Tôn, nó có thể là chướng ngại mạng sống của Đức Thế Tôn, nó có thể là chướng ngại mạng sống của con, xin Đức Thế Tôn thuyết pháp cho con. 

Chưa có người nào khẩn thiết như vậy, Đức Phật ngay khi đó dạy Bàhiya một câu mà câu này chúng ta rất cần học và suy ngẫm cho kỹ.

- Vậy này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri ". Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.

"Do vậy ông không là chỗ ấy" tức là chuyện nào ra chuyện đó, sắc thọ tưởng hành thức chỉ là sắc thọ tưởng hình thức thôi, thinh khí vị xúc pháp chỉ là thinh khí vị xúc pháp thôi, ông không phải là chỗ ấy, tức là đó không phải là ta, không phải là của ta, không phải tự ngã của ta "Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau."

Nếu chúng ta có tu Tứ Niệm Xứ rất thấm thía câu này, một lời dạy rất đẹp, đoạn kinh này quí Phật tử liên tưởng đến đề tài bằng cách nào Tứ Niệm Xứ giúp cho chúng ta đối diện với 5 trần cảnh mà không bị dục chi phối, 5 dục đó không còn là dục trưởng dưỡng nữa mà cảnh chỉ là cảnh thôi.

 Câu đó là trong cái thấy chỉ là cái thấy, trong cái nghe chi là nghe, trong cái thọ tưởng chỉ là thọ tưởng, trong cái thức tri chỉ là thức tri.

 Trong kinh Vô Ngã Tướng, Đức Phật Ngài dạy một vị khi được nghe được thấy là sắc thọ tưởng hình thức không phải của ta, sắc thọ tưởng hành thức là vô thường vị đó sanh tâm nhàm chán đối với tất cả sắc thọ tưởng hành thức nào dù trong quá khứ hiện tại vị lai, bên trong bên ngoài thô thiển vi tế hạ liệt thù thắng, các sắc ấy chỉ là sắc thôi, thọ ấy chỉ là thọ thôi, tưởng ấy chỉ là tưởng thôi, thức ấy chỉ là thức thôi, tức là thấy nó như vậy thì biết nó như vậy đừng vẽ rắn thêm chân, đừng tô hồng chuốt lục. Cái vẽ rắn thêm chân là cái gì xảy ra mình nói đây là ta, đây là tự ngã của ta, đây là ta,

 Ngài Xá Lợi Phất Ngài dạy chúng ta về pháp nhẫn nại, khi nào người ta chửi mình thì mình nhớ lời chửi đó là âm thanh và tai mình nghe là nhĩ thức, đừng giải thích xa hơn là người đó ác với tôi, người đó hại tôi, người đó thế này thế kia. Sự giải thích của mình làm tình trạng tệ hại thêm và đa phần sự giải thích của chúng ta về trần cảnh là lợi bất cập hại. 

Nên ở trong cách tu Tứ Niệm Xứ thấy biết là thấy, nghe biết là nghe. Ví Dụ như đang ngồi thiền với mọi người có người ngồi kế bên mình trong lúc thiền họ ngủ quên mà lại ngáy lớn, thì khi họ ngáy lớn mình bực mình nói rằng "sao người này vô duyên đi tu thiền ngồi với người ta mà lại ngủ mà còn ngáy lớn làm chi phối người khác không tu được nếu như vậy thì ở nhà đi". Chúng ta càng giải thích thì chúng ta càng bực, càng giải thích thì càng khó chịu. Nhân gian có câu: "nhà cháy mình tức người hút gió",  tâm của mình cái cảnh của mình không đến nỗi nhưng cách chúng ta giải thích cảnh nó có vấn đề, 

Ngài Ajahn Chan có một người đệ tử, vị này trên đường đi có tá túc ở một ngôi chùa một đêm, vị đó về nói với Ngài Ajahn Chan: 

- "Con rất bực chùa chiền gì mà từ sáng cho đến chiều mở băng pháp âm các bài pháp rất ồn con không ngồi thiền được, chùa thì phải yên lặng." 

 Ngài trả lời:

"Người ta mở bài pháp cho Phật tử nghe chứ không phải mở bài pháp để cho mình bực"

Tức là mình ở tá túc chùa người ta vốn là sinh hoạt như vậy mình vào mình ở mình cảm thấy ồn ào mình bực bội thì cái bực bội với âm thanh đó là do mình giải thích. 

Bài học này quan trọng lắm

- Vậy này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri ". Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. 

Người Mỹ có câu rất hay "Do not take it personal" nghĩa là nghe chỉ là nghe thấy chỉ là thấy thì không có vấn đề gì nhưng mình cho cái tôi cái ta liên hệ vào thì có vấn đề, chuyện này không phải là dễ.

Bài kinh này rất là ý nghĩa, Đức Phật khi Ngài nói xong câu đó do duyên lành từ kiếp trước Ngài Bàhiya trở thành vị Alahán ngay lập tức, và vị này khi chứng quả Alahán không thể sống đời sống nên xin xuất gia rồi đi nhặt vải rách cũ người ta bỏ về làm y. Nhưng có vấn đề do nghiệp quá khứ Bafhiya bị một con bò húc chết, khi Đức Phật đi khất thực về Ngài nhìn xác chết của Bàhiya Ngài gọi các vị Tỳ kheo mang một cái cán đến chở xác của Bàhiya về hỏa táng, "đó là một vị đồng phạm hạnh với các con". Chỉ nghe Đức Phật thuyết pháp một lúc mà Đức Phật gọi là vị đồng phạm hạnh với các con có nghĩa là Ngài xác chứng vị đó là vị Alahán.

 Bài kinh đó rất đẹp, nhất là lời dạy của Đức Phật, lời dạy đó có ba phần:

1) Phần đầu tiên là thái độ của chúng ta khi đối với các trần cảnh. khi thấy biết là thấy. khi nghe biết là nghe. khi thọ tưởng biết là thọ tưởng. Thọ tưởng là cảm giác vui buồn khổ lạc bi hỉ xả thay vì làm lớn chuyện thì mình thấy đây là khổ, đây là lạc, đây là ưu, đây là hỉ, đây là xả, thấy như vậy gọi là thọ tưởng. Ví dụ, mình đang ngồi thiền ai đó mở nhạc mình nhủ rằng ai đó mở nhạc thì cảm giác thích hay không thích đó là thọ, nhưng biết đây là nhạc Trịnh Công Sơn, nhạc bolero hay là nhạc gì đó cái đó thuộc về thọ tưởng 

2) Khi thọ tưởng khởi lên là trạng thứ hai, các cảnh đến mình thấy mình nghe, trạng thứ hai là thọ tưởng. Nhưng khi thọ tưởng mình vẫn còn có thì giờ để tu tập tức là biết nhìn thọ tưởng, thọ tưởng là thọ tưởng thôi, và trong thức chỉ là thức tri là cái biết của các giác quan như là thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác, cái biết của giác quan v.v.... và trạng thứ hai của người hành giả là "do vậy này Bàhiya ông không là chỗ ấy" .

3) "không là chỗ ấy" - Ở đây có ba phương diện là ngã, ngã sở và mạn tùy miên. Ngã ở đây tức là đây là ta, ngã sở đây là của ta, mạn tùy miên đây là tự ngã của ta. 

Vấn đề mình thấy ngã, ngã sở là ta, là của ta là tự ngã của ta chuyện đó là  manh mối của nhiều vấn đề. Ví như là mình là người Việt Nam mà ai chê người Việt Nam mình nổi giận hay là ai đó họ khen họ chê mình cái mà mình nổi giận, cái mà mình bực bội, cái mà mình hận thù, thật sự nó đều xuất phát từ ba ý nghĩ đây là ta, đây là của ta, đây là tự ngã của ta.

- Đây là ta họ nói như vậy là đụng chạm đến mình.

-  Đây là của ta họ đang đá động đến cha mình, mẹ mình, vợ mình, chồng mình.

- Đây là tự ngã của ta họ nói như vậy họ coi thường mình tức là họ hạ giá mình là họ biếm nhẽ mình. 
Thì ba ý tưởng đây là ta, của ta, tự ngã của ta nó nối theo cái đó nó làm cho mình phiền não, từ chỗ này mình thấy mấu chốt của tại sao chánh niệm cẩn trọng.

 Trong kinh Vô Ngã Tướng: Do vậy này các Tỳ Kheo, sắc thọ tưởng hình thức nào dù thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, thù thắng, gần hoặc xa, sắc ấy các sắc chỉ là sắc uẩn thôi, các thọ chỉ là thọ thôi, các tưởng chỉ là tưởng thôi, các hành chỉ là hành thôi, thức chỉ là thức thôi.

Chúng tôi nhớ hồi ở với Ngài HT Hộ Giác, trong chùa Chư Tăng có làm chuyện gì phiền lên nói với Ngài, thật sự chúng tôi rất biết ơn Ngài là khi bực mình thưa với Ngài thì thay vì Ngài nói vô Ngài nói ra Ngài bào chữa thì Ngài không nói gì chỉ ngồi lắng nghe và lẳng lặng pha trà, sau khi Ngài lắng nghe Ngài nói một câu "Thấy vậy chứ không đến nỗi vậy đâu Giác Đẳng" câu đó là một phép màu rất tuyệt. Tại vì mình có bịnh thổi phống suy diễn phóng đại, có chuyện gì đó mình suy diễn thổi phồng lên nhưng khi gặp vị thiện trí nhắc nhở cho mình thấy chuyện đó để yên không thổi phồng lên thì nó không đến nỗi nào nghiêm trọng. Thì thật ra đa phần chúng ta là nạn nhân của sự mình suy diễn, có những người bị bịnh là chuyện bé xé to chuyện nhỏ hóa lớn cái gì mình cũng xé to ra, thật ra cái đó tại sự suy diễn của mình thôi, nếu mình không suy diễn chuyện đâu để nằm yên đó nó như vậy mình ghi nhận nó như vậy, ghi nhận xong để đó, mình suy diễn để làm gì, mình suy diễn chỉ làm mình khổ thôi, tại sao mình suy diễn mình khổ là tại thói quen tại tật của mình.

 Một trong những bí quyết sống Đức Phật dạy đó là chánh niệm là khả năng ghi nhận. Ghi nhận ở đây đồng nghĩa với không có vẽ rắn thêm chân, không phóng đại, không tô hồng chuốc lục. Cái biết không phóng đại là khó, cái biết của tất cả chúng ta thường là cái biết làm hại cho mình là mình nghĩ mình biết, mình nghĩ mình giỏi nhưng đa phần sự suy luận đó làm khổ mình, nhưng mình lại không thấy khổ.

Trong Kinh Tứ Niệm Xứ nói không phải mình làm khổ mình mười mà mình làm khổ mình gấp trăm lần. Đôi khi  chúng tôi nghe một ai đó nhắc lại câu chuyện xảy ra cách đây năm ba năm với sự căm thù tức tối, sự căm thù tức tối đó chỉ một lời nói nhưng lời nói đó đến giờ này vẫn còn hặm hực. 

Trong Cổ Học Tinh Hoa có một câu chuyện rất thú vị. Một người ngủ chiêm bao thấy có người đẩy cửa đi vào nhà mình rồi nhổ nước bọt vào mặt mình và nói lời phỉ nhổ rồi đi ra, người này thức dậy ấm ức giận mấy ngày trời, không biết mình như vậy mà ai lại sỉ nhục mình. Giận một người trong chiêm bao giống như kiểu giết người trong mộng nhưng còn có một người nào để nghĩ để muốn giết trong mộng, đằng này người đó hoàn toàn không biết ai vậy mà giận mấy ngày trời và giận ghê gớm không biết ở trong chiêm bao ai đó lại nhổ nước bọt vào mặt mình và nói lời phỉ nhổ mình. 

Thật ra quá khứ giống như chiêm bao dầu nó có thật nhưng bây giờ người đó không còn nữa sự việc đã đi qua rồi giờ mình đem chuyện đó mình nhào mình nhai lại thì tự mình làm khổ mình thôi, đôi khi mình làm khổ mình mà mình không biết mình không hay. Mình đi đến chân trời góc biển, sống chỗ này chỗ kia bây giờ ngồi nhớ lại chuyện thời còn đi học bạn bè có người tốt kẻ xấu đánh nhau gây gỗ bây giờ ngồi nhớ lại chuyện thời đi học như vậy thì thấy chuyện đó vô duyên lắm, nhưng không phải chỉ thời đó chúng ta vô duyên mà bây giờ chúng ta vẫn còn vô duyên, chuyện không đáng mà mình cứ giận hoài.

Chúng ta nên đọc và thuộc lòng những lời kinh ngắn sẽ thấy thấm thía:

- Này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri ". Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. 

Câu này giải thích rõ hơn là những chuyện đó không phải là ta không phải của ta không phải tự ngã của ta.

 - Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.

Tại sao chúng ta thấy quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, thù thắng không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngã của ta mà đoạn tận khổ đau? 

Thì Đức Phật Ngài giải thích thêm rằng bậc Thinh Văn được nghe và thấy như thế rồi liền sanh tâm nhàm chán đối với pháp, do nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham tâm được giải thoát.

 Đức Phật Ngài không dạy sự giải thoát một cách mơ hồ, và sự tu tập Tứ Niệm Xứ không phải là một điều mơ hồ, nhưng ở đó có một cái lợi lạc rất lớn cho chúng ta, 

Bài kinh Đức Phật dạy cho Ngài Bàhiya rất ngắn chúng ta  nên đọc và nhớ kỹ bài kinh đó rất lợi lạc, đọc kỹ bài sẽ thấy bài này giải thích cho chúng ta biết tại sao có một liên hệ giữa Tứ Niệm Xứ và sự từ bỏ các dục. Các dục không dễ từ bỏ, mình sống trong cảnh trần không dễ từ bỏ, mình phải có phương pháp và lời dạy của Đức Phật cho chúng ta phương pháp.

 Đối với chúng ta, cho dù có tu thiền hay không tu thiền, có tu Tứ Niệm Xứ hay không thì chúng ta nên biết cái biết của chánh niệm rất có lợi lạc cho đời sống của mình. 

Và chánh niệm là một cái biết chỉ là biết không phóng đại, không khuấy tán, không vẽ vời thêm. Nếu trong đời này có ai nói mình nhìn sự việc một cách trung thực thì cái trung thực nhất là chánh niệm và chánh niệm là sự trung thực nhất. 

Chánh niệm là nhận diện, và mấu chốt của chánh niệm là sanh và diệt. Lấy ví dụ như người nào đó chê mình một câu và khi họ chê làm cho mình buồn thì thay vì mình giải thích, thay vì mình nói, thay vì mình bàn non tán rộng ra, thì mình biết mình đã nghe, và ghi nhận cảm giác buồn, ghi nhận cảm giác bực tức, và chỉ ghi nhận có mặt của sự bực tức, cái đầu mối mình cần phải ghi nhận đó là sanh và diệt, cái sanh và diệt lợi lắm.

Kinh Pháp Cú có câu:

Người sống đến trăm năm,
Không thấy pháp sanh diệt,
Chẳng bằng sống một ngày,
Thấy được pháp sanh diệt

 1. Chúng ta thử tập thay vì mình chạy theo cảm giác, thay vì mình phóng đại cảm giác, mình đơn thuần chỉ lẳng lặng ghi nhận cảm giác trong lòng mình sự bực bội sự khó chịu sự hân hoan đó lúc nào sanh lúc nào diệt, hai mấu chốt sanh và diệt.

2. Chúng ta biết được danh và sắc, Ngài Xá Lợi Phất dạy người ta chửi mình âm thanh đó là thuộc về vật chất trong kinh Phật gọi là sắc - rupa. Rupa cảnh của mắt là sắc mà còn có nghĩa là vật chất và tâm giận là danh. Và danh và sắc không nhất thiết tương đồng nhau tại vì cũng âm thanh đó có khi mình nghe bình thường có khi âm thanh đó mình nghe mình bực bội, lấy một ví dụ là mình thấy một đứa nhỏ bày bừa thì con nít thường bày bừa mình không giận  nó là con của mình muốn xả rác bao nhiêu cũng được, nhưng nếu có một đứa nhỏ nào ở đâu đến hay là một ai đó bày bừa thì mình bực tại vì mình lý sự người đó đáng lẽ phải giữ sạch sẽ.

Cái nhận diện của danh và sắc hay nhận diện của sanh và diệt là cái nhận diện đơn thuần của Tứ Niệm Xứ và nó giúp chúng ta đối phó với 5 cảnh trần. Và làm sao chúng ta từ bỏ 5 cảnh dục thì chúng ta cần tu Tứ Niệm Xứ. 

Bài kinh Bàhiya tuy rất ngắn rất cô đọng nhưng lại là chìa khóa rất quan trọng về sự tu tập mong rằng chúng ta cảm nhận cái tinh túy đó và nó là một phần gia tài Đức Phật để lại cho chúng ta./.

Tuesday, April 17, 2018

Như lai nói : Y chỉ vào Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận - TT Tuệ Siêu

Thảo luận: Như lai nói : Y chỉ vào Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận ( jhānaṃ nissāya āsavānaṃ khayaṃ vadāmi) mang ý nghĩa thế nào? 

Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 14-3-2018 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu: Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật Ngài dạy: Natthi jhānaṁ apaññassa, paññā natthi ajhāyato

Natthi jhānaṁ apaññassa - Người không có tuệ thì không có thiền
paññā natthi ajhāyato - Người không tu thiền thì không có tri tuệ
- Natthi jhānaṁ apaññassa, paññā natthi ajhāyato
 - người không tuệ thì không có thiền, người không tu thiền thì không có tuệ

Chỉ có trường hợp: 

yamhi jhānañ-ca paññā ca sa ve Nibbānasantike. - người có thiền và có trí tuệ nhất định nhập Niết-bàn

Tức là chứng Niết-bàn - Nibbānasantike

Thì ở đây, rõ ràng trong câu kinh Pháp cú này cũng như trong bài kinh Tăng Chi Bộ (V) (36) Thiền, Đức Phật Ngài  khẳng định Y chỉ vào Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận. Chúng ta phải hiểu ý nghĩa như thế nào khi nói đến y chỉ vào thiền có tuệ quán đoạn trừ lậu hoặc.

Trong bộ Visuddhimagga - Thanh Tịnh Đạo đề cập đến 3 phần là:

- Giới hay  Tăng Thượng Giới - Adhisīla, 
- Định - Samadhi - hay là Tăng thượng tâm - Adhicitta
- Tuệ hay là Tăng Thượng Tuệ paññā hay Adhipaññā

Như vậy, trong bộ chú giải Thanh Tịnh Đạo đặc biệt nhắc đến Giới là nền tảng sanh định, định làm nền tảng sanh tuệ .

Định làm nền tảng sanh tuệ là nói theo Tam Học gồm có 3 chi phần:

Trong Bát Chánh Đạo thì Chánh tinh tấn (Sammāvāyāmo), Chánh niệm (Sammāsati), Chánh định (Sammāsamādhi) thuộc về Tăng Thượng Tâm hay là định học.

Khi nói đến  Chánh ngữ (Sammāvācā), Chánh nghiệp (Sammākammanto), Chánh mạng (Sammā-ājīvo) thuộc về Tăng Thượng Giới.

Và Chánh kiến (Sammādiṭṭhi), Chánh tư duy (Sammāsaṅkappo) thì thuộc về tuệ. 

Chúng ta phải hiểu như vậy. 

Cho nên khi chúng ta nói thiền ở đây bao gồm cả sự nhiệt tâm (ātappa) sato hay là sati tức là niệm vững chắc, niệm bén nhạy và thứ ba nữa là Samadhi, hay samadho là sự an trú hay sự an định

 Như vậy rõ ràng nếu tâm chúng ta bị phóng dật biếng nhác thì tuệ không thể  phát triển mạnh mẽ được. Cho nên chính vì thiền định sẽ thay đổi cuộc sống của vị hành giả, vị hành giả mà có thiền định là vị hành giả có sự nhiệt tâm mà có sự nhiệt tâm thì tuệ sẽ phát sanh.

Rồi lại nữa, vị hành giả có được thiền định thì có chánh niệm bén nhạy. Một người không tu thiền đừng nghĩ rằng sẽ có chánh niệm, mà thường hay quên trước quên sau bởi vì tâm phóng dật tâm thất niệm. Còn đối với người có tu tập thiền thì người đó chánh niệm bén nhạy. Chúng tôi nói có tu tập thiền ở đây là tu thiền thật sự chứ không phải tu thiền theo phong trào gọi là tu thiền nhưng ngồi lim dim ngủ gật, đó không phải là loại thiền để tạo sự tinh tấn và có chánh niệm.

3. - Thứ ba là, hễ tu tập thiền thì tâm định rất mạnh mẽ, gọi là Tăng Thượng Tâm, tâm định mạnh mẽ an trú vững vàng trên đề mục, khi cần quán xét sắc thọ tưởng hình thức là vô thường, khổ và vô ngã thì trí tuệ phải dựa trên nền tảng của định mới soi thấu được,

 Giống như khi người ta muốn khoan một lỗ ở trên miếng gỗ hay trên tường mà cầm cây khoan không vững nó cứ chạy qua bên đây chạy qua bên kia, nhít qua nhít lại một hồi là lỗ tầy quầy hoặc không đưa được mũi khoan vào điểm mình muốn khoan, nhất là trên tường có gắng gạch men. Thì lúc bấy giờ người ta phải dùng cái đinh nhỏ hoặc một cái mũi nhọn bằng thép  khẻ lên trên miếng gạch men dán trên tường để cho nó có một dấu bể nhỏ (nếu đóng mạnh thì bể luôn miếng gạch men) người ta đóng làm cái dấu xong rồi tựa mũi khoan vào cái dấu đó thì mũi khoan không chạy đâu hết, khi mũi khoan không chạy đâu thì tức khắc nó sẽ xuyên thủng bức tường. 

Tương tự như vậy, chúng ta phải hiểu như thế nào là tuệ, nhất là tuệ quán vô thường, khổ, vô ngã để diệt trừ các lậu hoặc phiền não thì tuệ đó phải dựa trên định tâm, tâm định thì tuệ mới có sự quán chiếu ngũ uẩn một cách tường tận rõ ràng được, cho nên chính vì vậy một người tu tập thiền nếu cần thì họ chuyển qua tuệ quán họ đắc đạo quả nhanh. 

Cũng có trường hợp một số vị hành giả vì không có duyên đối với Thiền Hiệp Thế, vị đó do đời quá khứ làm phước tu tập thiền quán, làm phước mà có tuệ quán liên quan đến pháp quán. Đức Phật  Ngài  nói làm phước liên quan đến pháp quán tức là khi làm phước gì, bố thí hay trì giới gì cũng quán vô thường khổ, vô ngã quen đi cho nên bây giờ chỉ cần nghe Đức Phật thuyết pháp là đắc đạo quả Alahán. Trong trường hợp này chúng ta phải nói rằng là đối với vị đó thì không cần định ở trong pháp thiền, không y chỉ vào thiền vị đó cũng vẫn chứng đạt được, nhưng cũng chỉ là số ít thôi. Hồi thời Đức Phật số vị hành giả không y chỉ thiền mà đoạn tận các lậu hoặc thì chỉ số ít thôi còn đa phần các vị hành giả khác thì phải dựa trên phương diện thiền.

Nhưng, thiền ở đây chúng ta cần phải hiểu khi một người hành thiền  sẽ dẫn đến 3 loại định,

1. Sát na định (Khaṇikasamādhi). Vị hành giả tu tập thiền khi có Sát na định (Khaṇikasamādhi) vị đó tương đối vững mặc dầu chỉ chớp nhoáng đủ để cho tuệ quán phát sanh để phá trừ phiền não, nhưng cao cấp hơn chút xiú nữa thì thiền dẫn đến trạng thái thứ hai là:

2. Trạng thái cận định (upacārasamādhi) thì kiên cố hơn, thí dụ một người hành thiền có ấn chứng hỉ lạc phát sanh, dựa theo đó mặc dầu chưa đắc thiền  nhưng đã có ấn chứng có hỉ lạc rồi thì vị đó chuyển sang tuệ quán cũng được.

3. Trạng thái thứ 3 là An chỉ định  (Appanāsamādhi).Khi thiền đến nơi đến chốn thì đạt đến kiên cố định hay an chỉ định  (Appanāsamādhi), định này thuộc về thiền sắc giới vô sắc giới rồi, là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. 

Ở đây không nhất thiết, chúng tôi dùng chữ "không nhất thiết" mặc dầu Đức Phật Ngài dạy là y cứ vào sơ thiền nhị thiền mà các lậu hoặc được đoạn trừ đoạn tận là đức Phật Ngài muốn nói đến một trạng thái hoàn chỉnh của một vị tu tập đạt đến giải thoát. 

Cũng có trường hợp ngoại lệ nhưng trường hợp ngoại lệ đó không đi thứ lớp thì cũng không sao. Thí dụ như bây giờ trên thế giới mặc dầu trong ngành giáo dục người ta đưa ra thứ tự cho các em nhỏ  6, 7 tuổi cho vô học mẫu giáo, rồi lên lớp một, rồi lên lớp hai, lớp ba, lớp bốn, lớp năm, hết tiểu học rồi lên trung học, hết trung học lên đại học, hết đại học rồi chuyển qua làm nghiên cứu sinh và khi tốt nghiệp cử nhân hay là nghiên cứu sinh để làm luận án thạc sĩ hay tiến sĩ  theo thứ lớp tuần tự như vậy, nhưng cũng có những em bé thông minh học giỏi nhất là ở các nước phương tây họ chuộng trí tuệ cho nên họ cho những đứa bé vượt lớp không cần theo trình tự vẫn đạt được bằng cấp miễn làm sao vượt trội mấy môn. Thì trong trường hợp này chúng ta miễn, trường hợp ngoại lệ đó không thể đưa vào nguyên tắc được.

 Còn trường hợp này Đức Phật Ngài nói đưa vào thiền để các lậu hoặc đoạn tận là đưa vào nguyên tắc tu tập. 

Đó là câu trả lời tóm tắt của chúng tôi ./.