Thursday, July 25, 2013

Nếu một người không học nhiều kinh điển, không có học vị cao họ có khả năng sử dụng đến chánh tư niệm không?

Hỏi: Nếu một người không học nhiều kinh điển, không có học vị cao, không có trí tuệ bén nhạy thì liệu họ có khả năng sử dụng đến chánh tư niệm không, có sử dụng đến như lý tác ý được hay không?

(Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu: Chúng ta cần phải làm sáng tỏ vấn đề gọi là trí tuệ, như lý tác ý và trí tuệ của một người có học thức.  Một người có học vấn, trí tuệ đó chưa chắc là một trí tuệ như lý tác ý'.  Một người mặc dầu không có học thức hay học thức kém, nhưng người này biết suy tư và suy tư đúng mức, suy tư đúng cách thì như vậy được gọi là trí tuệ như lý tác ý, hay là khéo tác ý.  Do vậy, ở đây bất luận là một người có học vị hay  một người không có học vị, hễ những ai có được một sự suy tư chính xác về pháp, về những đặc tánh để có thể làm một sức mạnh thấu hiểu luật đạo lý và giúp cho nhẫn nãi chịu đựng được, người đó được xem như là có như lý tác ý, đó là điểm thứ nhất mà chúng tôi muốn trình bày. 

Điểm thứ hai khi chúng tôi trình bày ở đây, thường thường những người nông dân, những người sống chân lấm tay bùn, hay những người bình dân ít có học thức, người ấy lại có sự kham nhẫn chịu đựng nhiều hơn là người có học thức.  Bây giờ chúng ta hãy nói đến sự nhẫn nại bằng sự chịu đựng, như một người nông phu  họ phải dãi nắng dầm mưa, để cầy sâu cuốc bẩm, như vậy sự nhẫn nại đó có phải là sự nhẫn nại tác dụng trong thiện pháp hay không.  Điều này chúng ta thấy quá rõ ràng là không hẳn là như vậy, bởi vi`, họ vì mục đích khác chớ không phải là mục đích để ngăn chặn ác bất thiện pháp, ngăn chặn những phiền não.

Do vậy cho nên người này sự nhẫn nại đó không phải gọi là đức tánh nhẫn nại, đức tu tập nhẫn nại, họ chỉ ví mục đích nếu họ không làm thì đói, họ có ruộng mà họ không cày thì họ không có thu hoặch, hay là họ muốn được sang năm bội thu, lúa đầy bồ, cho nên họ mới cố gắng họ làm.  Và khi họ làm như vậy cho dù trời nắng hay trời mưa thọ cũng đã có thói quen chịu đựng, sự chịu đựng đó chúng ta không thể nào tán thưởng rằng người đó có tu tập một đức tánh nhẫn nại hết sức đặc biệt, đặc biệt hơn những người có học thức, chúng ta không nên nói như vậy.

Ở đây, khi  chúng ta đặt về vấn đề nhẫn nại theo tinh thần của Phật Giáo, đức tánh nhẫn nại là một thái độ chịu đựng tích cực, có nghĩa là sự chịu đựng có góp phần của tâm thiện tương ưng trí.  Và khi tâm thiện dục giới tương ưng trí tạo nên đức tánh nhẫn nại, thì sự nhẫn nại đó lại là một vấn đề hết sức là quan trọng.

Bây giờ chúng ta lại thử tìm nguồn gốc của pháp nhẫn nại trong 25 tâm sở tịnh hảo.  Trong 25 tâm sở tịnh hảo, trong đó tín, niệm, tàm, quý, vô tham, vô sân, hành xả, chánh thân, chánh tâm, thích thân, thích tâm, thuần thân, thuần tâm, khinh thân, khinh tâm, nhu thân, nhu tâm, bi tùy hỷ và trí tuệ.  Trong đó chúng ta thấy đức tánh nhẫn nại hết sức quan trọng ở chỗ vừa có trí tuệ, và vừa có trạng thái tâm, có trạng thái vô sân (adosa) ở trong đó nó đồng nghĩa với adu.t.tho.  Còn chúng ta thấy một người bình dân khi họ kham nhẫn chịu đựng, khi họ muốn được làm ăn yên ổn họ phải chịu đựng sự hiếp đáp của người quyền thế hay là họ phải chịu dãi nắng dầm mưa để họ làm lụng cực nhọc vất vả v.v... thì trong những trường hợp chúng ta thấy rằng khi họ làm là làm, họ chịu đựng là chịu đựng như vậy, nhưng trên thực tế thì tâm sân của họ cũng không vơi được một chút nào, trong trường hợp đó chúng ta đâu gọi là đức tánh nhẫn nại được.

Tuesday, July 23, 2013

Một hành giả áp dụng như thế nào để chuyển hóa cơn giận?

Hỏi: Một  hành giả áp dụng như thế nào để chuyển hóa cơn giận?

(Thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Pháp Đăng trả lời :  Các vị thiền Sư nói " Không sợ niệm dấy, chỉ sợ giác chầy. " Có nghĩa là tâm chỉ biết có một cảnh thôi. Nếu khi chúng ta hành thiền, chúng ta như lý tác ý cái sân đó đã mất rồi, chứ đâu còn tồn tại một lúc hai tâm được.

 Sân có nhiều : Thứ nhất sân như nước khi nước rút thì hết sân. Thứ hai,sân như vẽ trong cát cần phải có một cơn gió. Thứ ba, sân nóng nảy như chữ in trên đất thì nó sẽ lâu hơn. Thứ tư nếu sân như vẽ trên đá thì cái hận đó phải thâm căn cố hữu, có nghĩa tánh sân đã trở thành thói quen. 

       Như vậy nếu chúng ta tác ý đến sự vô hận, hay chúng ta khéo tác ý như vậy cái sân đã mất rồi, còn nếu tu tiến để diệt trừ cái sân, có thể chúng ta tu tiến từ tâm đưa đến sự an tịnh hay cận định hay an chỉ tịnh, đó là một nguyên nhân để áp chế sân hận. Nếu chúng ta tu tiến tâm từ cho thoát khỏi sân bằng cách rải tâm từ, tinh tấn tu tập liên tục hay  chúng ta quán xét nhiều về nghiệp của mình, thì mình có thể chế ngự được tâm sân, hay  chúng ta thân cận các thiện hữu trí thức, những vị chuyên tu tâm từ, chúng ta chỉ bàn luận vấn đề phát sanh sự thương yêu nhau, như vậy tâm sân sẽ không có.

      Đối trị cơn giận, chuyển hoá cơn giận như thế nào.  Tâm không khi nào tồn tại một lúc, vừa thiện, vừa bất thiện, nó chỉ tồn tại một tâm thôi, vì thoáng qua rất mau, bởi vậy chúng ta biết mình sân, tác ý đến sân thì sân tự động mất liền chứ không phải một lúc tồn tại hai loại tâm, nhưng vì tâm sân sanh đi sanh lại nữa, nếu chúng ta tác ý thì tâm sân mất nhưng lại sanh tâm sân khác do sự hiềm hận cái tánh sân quen, hay hiềm hận quen khiến tâm sân của  chúng ta khó có thễ trừ hơn.

      Chúng ta phải tu tập tâm mình, hay thân cận, hay khéo tác ý, hay quán về nghiệp của mình, mỗi chúng sanh có nghiệp riêng của mình, nếu mình sân hận, mình làm ác bất thiện pháp, như vậy mình sẽ chịu hậu quả về nghiệp của mình đã tạo, nhất là chúng ta thân cận với thiện hữu trí thức, sự sân hận sẽ được áp chế, bởi vậy không phải chúng ta chỉ tồn tại một loại tâm thôi, chúng ta có rất nhiều loại tâm, tâm sân đơn thuần chỉ là loại tâm sân, chỉ vì chúng ta không khéo  tác ý.  Nếu chúng ta khéo tác ý  sẽ đưa đến tâm thiện, khi chúng ta không khéo tác ý sân hận sẽ nổi lên.  Như vậy chúng ta áp dụng cách nào để đối trị cơn giận thì chúng ta áp dụng cách tác ý khéo, như lý tác ý, hoặc bằng cách giải tâm từ, hoặc quán xét về mỗi người có nghiệp riêng của mình, thân cận thiện hữu trí thức và chỉ bàn vấn đề sanh sự thương yêu nhau thôi.  Như vậy cũng có thể dứt trừ được sân.

      Chúng ta nói về người có nhân sân, có năm điều kiện để cho nhân sân sanh khởi :  Người có tánh đa sân, có nghĩa là có quá nhiều sân, điều kiện thứ hai là không khéo suy nghĩ cho nên sân sanh khởi, điều kiện thứ ba là không có học pháp và nghe pháp, điều kiện thứ tư là gặp cảnh nghịch lòng, điều thứ năm là mười  hiềm hận sự, có nghĩa là mình suy nghĩ rằng người này đang làm tổn thất cho ta, người này đã làm tổn thất cho ta, đang làm tổn thất cho ta, sẽ làm tổn thất cho ta, đã gây sự với người ta yêu mến, đang gây sự và sẽ gây sự, hay là người này đã tạo sự lợi ích cho người đối nghịch với ta, đang tạo sự lợi ích cho người đối nghịch với ta, và sẽ tạo sự lợi ích cho người đối nghịch với ta, hiềm hận thứ mười do vấp ngã gốc cây hoặc do đạp gai hoặc hư bể cái gì đó thì chúng ta có sự sân hận nó nổi lên.

      Chính Đức Phật nói có năm điều kiện để sân hận sanh khởi, và nếu chúng ta biết nghĩa của sân hận rồi, chúng ta chế ngự bằng tâm từ, rải tâm từ hay là chúng ta khéo tác ý, khéo suy nghĩ, hoặc chúng ta khi nghe pháp và học pháp, chúng ta gặp cảnh nghịch lòng chúng ta nghĩ đây là sự thử thách mình, như vậy mình có thể chế ngự được cái sân hận của mình, còn nếu không cái sân hận sẽ lớn mạnh lên, chúng ta áp chế bằng cách chúng ta khéo dụng tâm. Tâm là tâm của mình, không phải tâm của ai, mình phát sanh lòng sân hận lên. 

Các vị Thiền Sư nói " mình không sợ niệm dấy, chỉ sợ dát chày thôi " có nghĩa là niềm sân hận khởi lên mình không sợ, nhưng sự tỉnh thức của mình quá yếu đuối, điều này mới quan trọng, chứ còn sân hận, si mê ai cũng có, nhưng phiền não sanh lên mà biết được liền thì sân sẽ không có. 

      Sự sân hận đồng nghĩa với bóng tối, khi chúng ta tác ý  đồng nghĩa với ánh sáng, ánh sáng có bóng tối sẽ mất thôi, chứ không thể nào tồn tại giữa bóng tối và ánh sáng trong tâm chúng ta, điều này không có, chúng ta thấy sân hận sanh diệt quá lẹ, chúng ta nghĩ rằng một tâm lâu dài trong tâm chúng ta một tiếng hay hai tiếng đồng hồ, thật sự nó không phải, nó xen kẽ và diệt liên tục.  Chúng tôi xin trả lời câu hỏi này là như vậy.  

Monday, July 22, 2013

Những Pháp của Đức Phật nêu ra có tánh cách phương tiện phải không?

Hỏi: Những Pháp của Đức Phật nêu ra có tánh cách phương tiện phải không?

(Giảng trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma 17-3-2010 Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Chữ phương tiện ở đây là một từ mà rất là chúng ta phải cẩn trọng, chúng tôi nói một lần nữa là người học Phật phải cẩn trọng với chữ phương tiện. Chữ phương tiện có nghĩa là giả lập, có nghĩa là bày ra chứ nó không thật. Chúng tôi lấy ví dụ như bây giờ có nhiều vị thầy giảng Tịnh Độ Tông là ở thế giới Phương Tây có một cảnh giới cực lạc, có 7 hàng cây báu, có chim ca lăng tần già v.v.... Nhưng có vị khác nói rằng điều đó Đức Phật Ngài phương tiện chế ra chúng sanh thích một cảnh giới, sanh chỗ này, chỗ kia rồi được như vậy, là Đức Phật Ngài chế ra chứ thật sự thì 7 hàng cây báu tượng trưng cho Thất Giác Chi, rồi chim ca lăng tần già tượng trưng cho cái gì đó. Chúng ta gọi đó là phương tiện mà nói. Thì khi chúng tôi đi sang Ấn Độ chúng tôi thấy có một điều như vậy là tận trong tâm của người Phật tử đi hành hương có hai khuynh hướng: một khuynh hướng xem rằng những sự kiện liên quan đến cuộc đời của Đức Phật là những điều thật. Lấy ví dụ như Ngài sanh ra là một vị Thái Tử, rồi Ngài dứt áo ra đi từ giả thê nhi, trên đường Ngài tu khổ hạnh, chúng ta đọc qua mỗi giai đoạn như vậy chúng ta cảm động tại vì đó là đời sống thật. Nhưng một lý thuyết được phổ thông trong Phật giáo Đại Thừa đó là điều đó chỉ là sự thị hiện mà thôi. Chữ thị hiện có nghĩa là bày cho thấy thôi, thị hiện giống như chúng ta tạm gọi là mình viết kịch bản chẳng hạn, tức là câu chuyện đó là một hư cấu mình viết ra để làm cảm động lòng người. Thì đối với Phật giáo Đại Thừa đa số những chi tiết về cuộc đời của Đức Phật mang tánh cách thị hiện có nghĩa là Đức Phật Ngài muốn cho những chúng sanh có căn cơ thấp căn cơ cao họ thấy họ biết như vậy thôi chứ không phải là chân lý, và những điều đó là điều không để ý thấy. Ví dụ như Đức Phật Ngài già hay Đức Phật Ngài bệnh đó chỉ là điều thị hiện chứ thật sự không phải là như vậy.

Thì chúng tôi thưa với qúi Phật tử ở một điểm này nên cẩn thận, thật ra trong giáo pháp của Đức Phật và ở trong nhiều bài kinh chúng ta thấy trong đó có bài kinh Abhaya Sutta tức là kinh Vô Uý Vương Tử, Đức Phật nhắc một điều rằng những pháp nào mà Đức Phật giảng dạy đó là Pháp có hiệu năng dẫn đến giải thoát, Đức Phật Ngài không dạy những điều phù phiếm vô ích, và những Pháp nào mà có hiệu năng giải thoát thì Pháp đó phải tương ứng với sự thật.

Tương ứng với sự thật là thế nào?

Như là đây là Tứ thần túc, Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo những pháp đó đều phải tương ứng với sự thật không phải là một phương tiện giả lập. Về điểm này là một sự khác biệt sâu sắc, sự khác biệt lớn giữa Phật Giáo Bắc Truyền và Nam Truyền. Phật Giáo Nam Truyền tin rằng những gì liên quan đến giác ngộ giải thoát thì điều đó phải tương ứng với sự thật, và sự thật này lấy ví dụ như hôm nay chúng ta nói về Vô thường, Khổ, Vô ngã thì bốn pháp này là bốn chân lý là những phương tiện tu tập. Giác ngộ giải thoát không có gì trái chống mâu thuẫn với những lời dạy về Vô thường, Khổ não, Vô ngã.

 Đức Phật Ngài ân cần nói rằng những sự thật là Vô thường, Khổ, Vô ngã dù Chư Phật có ra đời hay không thì nó là một tự tánh vốn không có khác biệt không có thay đổi ở trong quá khứ, hiện tại, vị lai, điều đó là điều chúng ta nên nhớ. Và chúng tôi cũng muốn nhắc qúi Phật tử rằng ở trong lời dạy của Đức Phật thì có những lời dạy mang tính bất di bất dịch nói về hiện tượng của các Pháp nhưng mà nó có những điều do Đức Phật chế định thí dụ như Tạng Luật chẳng hạn.

Bây giờ thì chúng tôi nói gọn phần sau cùng đó là theo trong kinh điển Pali thì tất cả những gì liên quan đến sự tu tập thì điều đó phải là điều tương ứng với sự thật, nó không thể là điều giả lập không thể là điều phương tiện được và đây là sự khác biệt giữa Phật Giáo Nam Truyền và Bắc Truyền./.

Saturday, July 20, 2013

Xin định nghĩa các chữ Thiền Quán, Thiền Minh Sát, Thiền Tứ Niệm Xứ, Thiền Tuệ

Hỏi: Xin định nghĩa các chữ Thiền Quán, Thiền Minh Sát, Thiền Tứ Niệm Xứ, Thiền Tuệ
. 
(Câu hỏi được hỏi trong rơom Diệu Pháp , Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Ðẳng : Kính bạch quí Ngài vài thưa quí vị, hôm nay chúng ta học một bài kệ, Ðức Phật Ngài thuyết ra trong một bối cảnh tương đối rõ ràng cho thính chúng biết về những gì Ngài nói, do vậy Ngài đã không sử dụng ngôn từ nhiều. Ðối với chư Tỳ khưu những vị đã quen với đời sống thiền định, Ðức Phật chỉ nói một vài lời, Ngài chỉ nhấn mạnh một vài điểm là các vị có thể thấy được, nhưng với phần đông của chúng ta ngày hôm nay thì khi nói đến thiền định thì phải nói rằng chúng ta có cả một rừng ngôn từ, rừng ý niệm và hầu như ngay cả những người thực hành một pháp môn thiền thôi, thì đã có nhiều sự tranh luận với nhau về cái nào là đúng, cái nào là sai.

Kính bạch quí Ngài và thưa quí vị, thiền định ở Ðông phương và thiền định tại các quốc gia Tây phương ngày hôm nay, mặc dù xuất phát từ nguồn gốc nhưng nếu chúng ta nhìn một cách kỹ lưỡng, thì chúng ta thấy mỗi nơi có một khuynh hướng tương đối khác biệt, cho dù sử dụng cùng một bài kinh, sử dụng cùng một pháp môn. Chúng tôi lấy ví dụ là tại Ðông phương của chúng ta, những pháp môn thiền nào có cơ sở càng li chi, càng nhiều chi tiết, thì chúng ta nhận ra đó là một pháp môn có chiều sâu. Trong lúc đó tại các thiền viện Tây phương, người ta cố gắng đơn giản hoá các pháp thiền, đơn giản đến mức độ nào mà một người vừa mới bước vào giảng đường, hay ở trong thiền đường có thể nghe trong vòng nửa tiếng đồng hồ là có thể bắt tay ngay vào việc thực hành.

Cả hai đều có một số có lợi và có một số bất lợi. Cái lợi của xã hội Ðông phương là chúng ta cân nhắc rất nhiều, đào sâu vào kinh điển ở nhiều bài kinh khác nhau để tìm ra một ý nghĩa chân thật. Còn cách của người Tây phương, thiền định là một con đường thể nghiệm, trong con đường thể nghiệm đó nên bắt đầu từ bước đơn giản nhất, là làm sao để ngồi, làm sao để tập trung vào hơi thở, và những gì tiếp theo sẽ được nói đến bởi các vị thiền Sư về sau này. Và chính về điểm nay chúng ta không ngạc nhiên thấy rằng một số lớn những người Âu Mỹ ngày nay có thể nhanh chóng bước vào trong thiền đường, và với sự hướng dẫn hết sức là giản dị, họ có thể bắt tay ngay vào việc thực hành thiền. Trong lúc đó người Ðông phương của chúng ta đôi lúc chuẩn bị cả nửa đời người, vẫn chưa thấy đủ can đảm để ngồi xuống tu tập thiền định.

Cách nào cũng có điểm lợi, cách nào cũng có điểm bất lợi, không có cách nào hoàn hảo hết, chỉ có cách gì mà hợp với căn tính của mình. Ðức Phật, có thể nói rằng Ngài biết được căn tính của chúng ta, còn riêng về mỗi chúng ta thì sanh sau thời Phật trụ thế, chúng ta chỉ có thể từng bước một dọ dẫm trên con đường mình đi, để cuối cùng mình có thể xác định được cái gì thật sự có lợi cho mình.

Thưa quí vị, trong bài kệ này đề cập đến hai pháp, chữ hai pháp ở đây nếu chúng ta nói ở trong sinh hoạt hàng ngày, thì thật ra làm cho người ta đặt vấn đề là hai pháp, là hai pháp gì, tại sao chúng ta nói một cách hết sức đơn giản như vậy, nhưng trong hội chúng thời Ðức Phật còn tại thế, thì các vị Tỳ kheo là các vị đã quen sống với đời sống có pháp hành, các vị đã quen với đời sống tu tập do Ðức Phật giảng giải, khi nói lên hai pháp thì các vị nhận ra ngay lập tức, đó là hai pháp gì (dvayesu dhammesu) ở đây hai pháp trong sớ giải nói là hai pháp chỉ và quán.

Và hai pháp chỉ và quán này không những chỉ cần định nghĩa mà chúng ta còn có một số điểm phải nói rằng tranh luận với nhau rất nhiều tại môt số các quốc gia Phật Giáo Nam Tông. Như Thái Lan và Miến Ðiện người ta vẫn có những sự tranh luật với nhau nên hay không nên hành thiền chỉ, và có người thì chủ trương chỉ quán song tu, có người lại chủ trương chỉ riêng thiền quán thôi, và không cần đến thiền chỉ. Trong số các đệ tử cửa Ngài Ajahn Chah, với cách hành thiền của Ngài Sumedho và Ngài Ajahn Brahmavamso tuy cùng một Thầy nhưng cũng có quan niệm tương đối khác biệt. Ngài Ajahn Brahmavamso thì nói nhiều đến thiền chỉ như là một cơ sở bước đầu, còn Ajahn Sumedho đi trực tiếp vào trong pháp quán niệm xứ.

Dĩ nhiên chúng ta không đem hai vị đó ra để làm đề tài thảo luận ngày hôm nay, chỉ là một thí dụ đơn cử cho thấy rằng đã có những cuộc tranh luận rất gay gắt, các cuộc tranh luận gay gắt này là một thói quen mang tánh cách đại quần chúng, là hiện tượng xã hội. Như ở Việt Nam của chúng ta, người ta thường nói thiền tịnh song tu, người theo pháp môn Thiền Tông, người theo Tịnh Độ, hai môn đó ít khi gặp nhau được, tuy nhiên người ta cố gắng để làm một nhịp cầu. Trường hợp của Thiền Tịnh song tu không giống như Chỉ Quán song tu ở tại đây, bởi vì mỗi một phương cách có ý nghĩa khác nhau, chúng ta hãy bắt đầu buổi thảo luận hôm nay với TT Trí Siêu.
Kính bạch quí Ngài và thưa quí vị, chúng ta có nhiều từ ngữ định nghĩa về pháp Thiền Quán hay là Thiền Tứ Niệm Xứ. Gần đây Ngài Hộ Pháp trong một số tác phẩm, đặc biệt là quyển phương pháp hành thiền tuệ, Ngài đã dùng chữ Thiền Tuệ để chỉ thiền Vipassana, thì nhân câu thảo luận số một, xin TT Trí Siêu điểm sơ qua một vài ý nghĩa của những chữ như là Thiền Quán, Thiền Minh Sát, Thiền Tứ Niệm Xứ, Thiền Tuệ.v.v... để cho qúi Phật tử có vài khái niệm, và sau đó chúng ta sẽ đào sâu vào sự so sánh giữa Thiền Chỉ và Thiền Quán. Chúng tôi hy vọng trong 45 phút mà chúng ta có được cho buổi thảo luận ngày hôm nay, ít nhất cũng cho các Phật tử sẽ có một ít ý niệm tổng quát về Thiền Chỉ là gì và Thiền Quán là gì.

Trước hết xin thỉnh TT Trí Siêu hoan hỷ cho biết ý kiến của TT về một số từ ngữ mà chúng ta chuyển dịch từ chữ Vipassan: Thiền Quán, Thiền Minh Sát, Thiền Tuệ, và chúng ta cũng có thể thêm một chữ khác không phải dịch từ Vipassana, mà cũng là Vipassana đó là Thiền Tứ Niệm Xứ, xin thỉnh TT Trí Siêu.

TT Trí Siêu: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật: Kính bạch chư Tôn Ðức, kính bạch TT Giác Ðẳng, hôm nay trong bài kệ thứ hai của phẩm BàlaMôn trong kinh Pháp Cú, trong bài kệ này có đề cập đến hai pháp, và theo sớ giải thì hai pháp ở đây như TT Giác Ðẳng vừa trình bày cho chúng ta biết là Ðức Phật đã thuyết một cách tóm tắt. Nhưng trong hai pháp được sớ giải đề cập đến tức là chỉ và quán, trong câu thảo luận số một, chúng tôi xin được đóng góp một vài lời giải thích về các chữ như là Thiền Quán, Thiền Minh Sát, Thiền Tứ Niệm Xứ và Thiền Tuệ.

Kính thưa quí vị, danh từ Thiền Quán cũng còn gọi là Thiền Minh Sát, ở đây có một danh từ Pali để chỉ cho hai danh từ dịch này đó là Vipassana. Chữ Vipassana xuất phát từ một động từ pati có nghĩa là thấy hay là nhìn, nhìn xem xét và chữ VI ở đây là giảng lược cho chữ Visesana như vậy thì chữ Visesana có nghĩa là đặc biệt và do đó cho nên thấy và thấy bằng cách đặc biệt thì như vậy được gọi là quán, thấy đặc biệt là như thế nào, tức là thấy bằng cách đặc biệt, có nghĩa là thấy bằng trí tuệ, trí tuệ thấy chứ không phải con mắt thấy, nếu nhục nhãn tức là con mắt thường của chúng ta thấy thì trong trường hợp đó chỉ là vin~n~àta chứ không phải là Vipassana. 
Còn ở đây khi đề cập đến chữ thiền quán, thì chúng ta nên hiểu rằng vì loại thiền này vị hành giả không phải định tâm trên một đề mục nào như là đề mục nghiệp xứ, mà vị hành giả cần phải quán thấy với trí tuệ, quán thấy sự sanh và diệt của danh và sắc, như vậy cho nên mới gọi là Thiền Quán. Nhưng ở đây sau này lại có một từ dịch khác tức là Minh Sát, chữ minh có nghĩa là sáng suốt cũng đồng nghĩa với trí tuệ, còn chữ sát tức là xem, sát có nghĩa là thấy, như chữ quan sát v.v... thì như vậy chữ minh sát cũng có nghĩa là thấy bằng trí tuệ hay là thấy bằng sự sáng suốt, nhận chân sự thật, nhận chân thực tính của danh và sắc, thì như vậy đó là một danh từ để chỉ cho Thiền Tứ Niệm Xứ.

Bây giờ chúng ta lại nói qua danh từ gọi là Thiền Tứ Niệm Xứ. Thật ra Thiền Tứ Niệm Xứ cũng là Thiền Quán hay là Thiền Minh Sát, nhưng vì đối với Thiền Quán dựa trên đề mục bốn niệm xứ, mà phát triển tu tập, nên Thiền Quán hay Thiền Minh Sát cũng được gọi là Thiền Tứ Niệm Xứ, là do lấy theo đề mục phát triển thiền này nên gọi là Thiền Tứ Niệm Xứ. Chữ Tứ Niệm Xứ tức là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm,niệm pháp, hay là thân quán niệm xứ, thọ quán niệm xứ, tâm quán niệm xứ, và pháp quán niệm xứ.

Niệm thân tức là lấy sắc uẩn làm đề tài để suy niệm, để quán xét, như là hơi thở ra hơi thở vào, hoặc là chánh niệm tỉnh giác đối với sự đi, sự đứng , sự nằm, sự ngồi hoặc là có chánh niệm ghi nhận quán xét về thân thể trược v.v..Như vậy gọi là lấy sắc uẩn làm đề tài.

Niệm thọ tức là chánh niệm tỉnh giác đối với các cảm thọ như là thọ khổ, thọ lạc, thọ hỷ, thọ xả.

Niệm tâm tức là chú ý chánh niệm tỉnh giác đối với tâm sân, hay thức uẩn, tức là nhận biết được rõ ràng về tâm thiện hay tâm bất thiện đang sanh, do nhân nào mà nó sanh ra và cho đến khi nào nó không sanh trưởng nữa, trong trường hợp đó gọi là tâm quán niệm xứ.

Pháp quán niệm xứ tức là dùng trí tuệ để suy niệm những đề tài như ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới, hoặc ngũ triền cái, hay thất giác chi, bát chánh đạo, tức là suy sét ý nghĩa của từng pháp môn.Thì như vậy gọi là tứ niệm xứ, do tu tập, dùng tứ niệm xứ làm đề tài nên loại thiền quán này cũng còn gọi là Thiền tứ niệm xứ.

Và bây giờ khi chúng ta đề cập đến Thiền Tuệ, danh từ này cũng để chỉ cho Thiền Quán, Thiền Minh Sát, ở đây thưa quí vị, như chúng tôi đã nói là quán thấy, quán sát bằng trí tuệ hay quán xét danh và sắc một cách đặc biệt, tức là thấy bằng trí chứ không phải thấy bằng mắt thường, và trong trường hợp này chúng ta cũng nên hiểu là đối với thiền quán đặt nặng vấn đề phát triển tuệ, vì khi có trí tuệ mới có thể chánh niệm tỉnh giác. Đối với các đề mục và có sự phân tích kỹ lưỡng, chúng ta cũng nên nhớ rằng đối với Thiền Sắc và Vô Sắc, hay là Thiền Chỉ Tịnh thì chỉ đặt trọng tâm ở chỗ đắc định mà thôi, nhưng đối với Thiền Quán hay Thiền Minh Sát thì phải phát triển về tuệ, mà chúng ta gọi là tuệ minh sát hay là tuệ quán, những tuệ đó nắm bắt pháp chân đế, tức là thấy sự sanh diệt của danh sắc, ngộ được lý vô thường, và khi đã nhàm chán, đã sợ hãi hiện trạng của sự luân hồi, hiện trạng khổ của sự luân hồi, thì vị này sẽ đạt đến tuệ đạo, tuệ quả và tuệ phản kháng, và do vậy cho nên khi dựa trên tính chất hay là mục đích của thiền mà gọi là thiền tuệ.

Như vậy nói tóm lại chúng ta có bốn danh từ, thì hai danh từ trước thiền quán nói một cách đơn giản, nói một cách ngắn gọn, nhưng nói cho rõ hơn thì phải gọi là Thiền Minh Sát cả hai từ này đều dịch từ chữ Vipassana. Còn riêng về Thiền Minh Sát hay là Thiền Quán mà gọi là Thiền Tứ Niệm Xứ vì y cứ trên đề mục mà thiền này tu tập phát triển, còn nếu gọi là Thiền Tuệ là dựa trên mục đích của thiền mà gọi, bởi vì đối với Thiền Quán, Thiền Minh Sát đặt trọng tâm ở chỗ là làm như thế nào đó để thành tựu được trí tuệ thấu triệt được danh sắc, hay là trí tuệ trong đạo quả, cho nên ở đây mặc dù chúng ta có bốn danh từ để gọi, nhưng bốn danh từ này đều ám chỉ cho Thiền Quán, không có cái gì khác, và chỉ tùy theo khía cạnh mà đặt tên gọi v.v...

Friday, July 19, 2013

Ngoài con đường thiền định phải chăng không có phương pháp nào để diệt trừ tam độc tham sân si để có sự giải thoát trong đạo Phật ?

Hỏi: Ngoài con đường thiền định phải chăng không có phương pháp nào để diệt trừ tam độc tham sân si để có sự giải thoát trong đạo Phật ? Kính mong quí Giảng Sư chỉ dạy thêm cho con, kính cảm ơn.

(Câu hỏi được hỏi trong rơom Diệu Pháp , Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu trả lời : Nếu chúng ta nói chữ thiền định, chữ thiền Chana hay gọi là thiền na là chúng ta nói theo nghĩa chung,là ý nghĩa rất thoáng, như là tư tưởng thiền, hành thiền thì như vậy, ngoài phương pháp thiền định sẽ không cọ̀n con đường nào khác để diệt trừ tham sân si đưa đến sự giải thoát cả, nhưng nếu ở đây nếu ta dùng ý nghĩa thiền với một ý niệm là sự tu tập thiền chỉ, tu tập thiền quán, thì chúng ta chỉ giới hạn trong việc tu tập thiền định bằng những án sứ, bằng những thiền án Tứ Niệm xứ, hoặc là những công án thuộc về nghiệp xứ, như mười đề mục Kasina chẳng hạn.

Thì khi chúng ta giới hạn chữ thiền định trong những đề mục như thế, chúng ta có thể nói rằng ngoài con đường thiền định này, vẫn có thể với một phương pháp khác, với một pháp môn khác để chúng ta có thể diệt trừ phiền não tam độc tham sân si đưa đến sự giải thoát, điều này chúng ta có thể đọc qua bài kinh Sabbàsava sutta kinh Nhất Thiết Lậu Hoặc ở Trung Bộ Kinh quyển một.

Ở đây những phiền não lậu hoặc cần được đoạn trừ bằng bảy cách, tức là đoạn trừ bằng tri kiến, tức là không tác ý đến chuyện không đáng tác ý, mà chỉ tác ý đến những gì cần tác ý. Một người có trí tuệ tri kiến chân chánh, không phải bận rộn, không phải tác ý đến những vấn đề không đáng, như là suy nghĩ về có tự ngã hay không có tự ngã v.v... trong trường hợp đó với tri kiến thẳng tiến như vậy, thì người này có thể đoạn trừ được các lậu hoặc phiền não, trong các lậu hoặc phiền não đó thì tham si là chủ yếu.

Chúng ta có thể đoạn trừ phiền não bằng sự pḥòng hộ tức là gìn giữ chánh niệm khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần.
Có thể đoạn trừ phiền não lậu hoặc bằng cách thọ dụng, nghĩa là khi thọ dụng bốn món vật dụng ăn mặc ở bịnh thì có sự chi túc, và có sự quán tưởng một cách đúng pháp. 

Có thể đọan trừ phiền não lậu hoặc bằng sự kham nhẫn, tức là khi gặp hoàn cảnh trái ý nghịch ḷòng, cảm giác khó chịu về thân tâm thì có sự chịu đựng có sự kham nhẫn, điều này cũng có thể giúp cho đọan trừ được các lậu hoặc phiền não. 

Hay là đọan trừ bằng cách tránh né, tức là những nguyên nhân nào, những điều kiện nào, những môi trường nào có thể gây cho ác bất thiện pháp sanh khởi thì mình né tránh đi, như vậy thì mình cũng có thể đoạn trừ được những lậu hoặc phiền não. 

Hoặc là có thể đọan trừ bằng cách là trừ diệt, có nghĩa là không chấp nhận cho những dục niệm, sân niệm, hại niệm, tức là không cho ba tà tư duy sanh khởi, diệt trừ chúng ngay trong mầm móng, tức là vừa khi khởi lên, hay là có một mầm móng sắp sanh khởi thì phải đoạn trừ đi, như vậy nhờ đó các lậu hoặc phiền não được đoạn trừ.

Và đến phương pháp thứ bảy, pháp môn thứ bẩy mới là đoạn trừ bằng sự để tu tập. Có nghĩa là tu tập theo bảy giác chi, bảy giác chi đó là tánh chất hay phẩm cách của thiền định và khi tâm tu tập như vậy sẽ làm các phiền não lậu hoặc được đoạn trừ. Ở đây thưa quí vị, pháp môn Đức Thế Tôn thuyết giảng có rất nhiều, và khi chúng ta tu tập trong giáo pháp này, thì chuyện tu tập này ở tùy theo vị trí nào, tùy theo căn cơ chứng đạt được, Khi một vị Tỳ kheo Ni nhìn thấy những giọt nước rơi từ trên tay vị ấy rửa mặt và những giọt nước đó rơi xuống giòng nước và tan biến, vị này cảm nhận được tánh cách vô thường cũng có thể chứng ALaHán được. Khi một vị Tỳ Kheo thấy đám lửa cháy và hễ lửa đi tới đâu thì càng quét và thiêu sạch cây cỏ lớn nhỏ, thì vị Tỳ Kheo này suy xét thấy được như vậy, khởi lên tri kiến chân chánh và đoạn trừ những kiết sử lậu hoặc lớn nhỏ và chứng AlaHán. Hay nàng Tỳ Kheo Ni Tisa Gotami khi nhìn thấy ngọn nến chập chờn, ngọn lửa chập chờn trên đầu cây nến và vị này đem tâm quán xét thấy sự bấp bênh, sự tạm bợ, sự mỏng manh của kiếp sống này và vị đó chứng được quả AlaHán v.v.. có những trường hợp như vậy.

Cho nên chúng ta không thể nào bỏ qua những chi tiết đó, có như vậy thì chúng ta mới yên tâm được trong việc tu tập. "Đường nào cũng đến La Mã cả, nếu chúng ta đi" đó là một câu châm ngôn của phương Tây. Thì chúng ta nên biết rằng, chúng ta ở góc độ nào ta sẽ hành theo góc độ đó, có đôi khi phải sử dụng chi kiến để đoạn trừ, chỉ tri kiến chúng ta đoạn trừ cũng được, hay bằng sự kham nhẫn, bằng sự né tránh, bằng sự tìm diệt cũng được, bằng sự tu tập, bằng sự pḥòng hộ, bằng sự thọ dụng cách nào chúng ta cũng diệt trừ được. Nhưng khi chúng ta thực hành, thì tất cả đều phải nói rằng, chúng ta nên tập trung vào một lý duy nhất là tư tưởng thiền quán, tư tưởng thiền quán đó là quan trọng , bởi vì khi chúng ta né tránh, hay chúng ta có chánh niệm, hay là chúng ta phọ̀ng hộ , hoặc chúng ta thọ dụng, chúng ta cũng phải đều sử dụng tâm thiện và tác ý một cách chân chánh vào đề tài và khởi lên trí tuệ. Trí tuệ tu tập như thế sẽ thành tựu sự giải thoát.

Ở đây chúng ta nói như vậy để chúng ta có một lối thoáng, thoáng một chút là trong con đường chúng ta đi, chúng ta không phải lo sợ là phải đi qua cổng rào, một cửa ngõ rồi mới đi được, mà chúng ta có thể đi bằng những ngõ ngách nào cũng ra được con đường cái, thì ở đây chúng tôi chỉ xin được góp ý kiến như vậy và chắc chắn là có một điều quí vị sẽ cọ̀n có sự thắc mắc nữa, nhưng và ở đây chúng tôi không có thời gian để trình bày, đó là điều Đức Thế Tôn tuyên bố về Tứ Niệm Xứ,và Ngài tuyên bố rằng đây là con đường duy nhất để dẫn đến Niết-bàn, để dẫn đến sự giải thoát, đoạn tận khổ ưu, đọan tận tham ái ưu bi ở đời.

Thì khi chúng ta nghe nói như vậy, mà chúng tôi lại trình bày cách này quí vị sẽ có một sự nghi vấn khác, chúng tôi biết rõ là như vậy. Nhưng điều đó không sao cả khi nào có dịp thì chúng tôi sẽ trình bày trên tinh thần học hỏi và làm sáng tỏ những vấn đề thuộc về pháp, đó là một điều mà chúng tôi hết sức là hoan hỷ, và chúng tôi sẽ hẹn với quí vị một dịp nào cùng với Chư Tôn Đức để giải lý vấn đề này cho quí vị. Và bây giờ chúng tôi xin kết thúc câu trả lời ở đây. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật 

Thursday, July 18, 2013

Câu "tướng tùy tâm sinh" có đúng theo tinh thần của Phật Pháp chăng?

Hỏi : Câu "tướng tùy tâm sinh" có đúng theo tinh thần của Phật Pháp chăng?

(Câu hỏi được hỏi trong rơom Diệu Pháp , Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng giảng:  Đây là câu chúng ta thường nghe quí Thầy, đặc biệt là quí Thầy ở các ngôi chùa miền Trung nói rất nhiều. Khi người ta đề cập đến câu " tướng tùy tâm sinh", thì đa phần chúng ta nói đến sự liên hệ mật thiết giữa điều gì gọi là tánh hạnh ở bên ngoài và đời sống nội tại ở bên trong của chúng ta, hai điều đó ảnh hưởng trực tiếp với nhau.

Như người ta nói ở ngoài đời có câu nói là "văn tức là người", điều gì để trên giấy mực mà chúng ta diễn đạt bằng ngôn ngữ, thì ngôn ngữ đó, giòng chữ đó, văn chương đó nói lên cá tính của con người, do vậy người ta dùng điều này như một luận cứ để nói rằng tánh hạnh ở bên ngoài là biểu chưng cho trong lòng. Nếu ở bên ngoài chúng ta uy nghi, tế hạnh, cách đi, cách đứng, cách ăn, cách nói hết sức tế nhị tốt đẹp, thì ở trong đời sống nội tại của chúng ta cũng tốt đẹp như vậy, tuy nhiên đây là vấn đề chúng ta phải đặc câu hỏi, bởi vì hình thức ở bên ngoài đôi khi chúng ta không có đủ để lượng đựng hết ẩn ý ở trong lòng.

Có những người rất khéo, và họ rất khéo đóng kịch, chúng ta lấy ví dụ những diễn viên điện ảnh chẳng hạn, có thể ở bên ngoài hay một cách nào đó thì họ cho chúng ta những ấn tượng rất đẹp, nhưng rồi cuộc sống nội tại của họ, có bao nhiêu thứ hết sức là nhiêu khê, hết sức là rắc rối, hết sức là phiền toái chứ không như ở bên ngoài. Và chúng tôi cũng được biết rằng, có nhiều người viết văn rất hay, văn rất trong sáng, nhưng đời sống nội tại của họ đầy rãy những gúc mắc. Một số các thi sĩ khi họ viết những giòng chữ liên quan đến thi ca, họ viết điều đẹp, điều tác kiệt, nhưng đời sống của họ rất ích kỷ, ích kỷ đến độ tàn nhẫn và chúng ta được biết như vậy.
Hãy nói đến Victor Hugo là một thi hào của Pháp, ông có những vần thơ bất hủ dành cho không phải những người đương thời, mà cả bao nhiêu thế hệ về sau này. Nhưng phải nói rằng đời sống của ông có nhiều khuyết điểm rất lớn, ví dụ ông là người rất bủn xỉn, và tính toán từng xu từng cắc với một người tình mà đem trọn vẹn tình cảm dành cho ông. Hoặc giả Victor Hugo là một người mà đã có lúc ông mơ ước rằng người ta dùng tên của ông để đặt cho thành phố Paris, dùng tên của ông đặt cho con đường Saint Elysée. Và phải nói rằng khi chúng ta nói như vậy, thì Victor Hugo không phải là một người có thể thể hiện được hoàn toàn vẻ đẹp của văn thơ của ông, mặc dầu lời văn của ông rất chau chuốt, rất diễm lệ, rất đẹp.

Và rồi nếu có vị nào có dịp đọc tiểu sử của ông Leo Tolstoy một văn hào khác của Nga, mà chúng ta được biết qua những tác phẩm như "Chiến Tranh và Hoà Bình" chẳng hạn, phải nói rằng đời sống của ông có nhiều đầy dãy những sự mâu thuẫm, mâu thuẫn giữa trong và bên ngoài, ông hô hào bãi bỏ nô lệ, nhưng những điền trang mênh mông của ông thường muớn rất nhiều những người nô dịch làm việc, ông là người chống đối rất mạnh về sự có mặt của người đàn bà trong cuộc đời, nhưng người ta nói rằng ông Leo Tolstoy không thể sống một ngày mà không có đàn bà. Ông cũng nói rất nhiều về bao nhiêu thứ mà người ta tôn sùng ông như bậc thánh, tuy nhiên đời sống của ông có rất nhiều phức tạp, và phải nói rằng ông Leo Tolstoy là người sống với muôn ngàn sự mâu thuẫn.

Thì bây giờ câu người ta nói "tướng tự tâm sinh" nó chỉ có đúng ở một phương diện là như vầy, là thường thường nó chiêu cảm đời sống bằng cách này hay cách khác, nhưng chúng ta đừng quên rằng có đôi lúc, nội tâm một con người hoàn toàn không giống như ngoại hình của họ. Ngoại hình của họ vốn là do nghiệp ở quá khứ, một nghiệp nào đó chi phối, như Bucatara bị lưng gù là do nghiệp ở quá khứ có một lời nói khinh xuất, phạm thượng, tuy nhiên Bucatara có một nội tâm rất trong sáng, và là một người trí tuệ phi thường, đã được Đức Phật Ngài khen ngợi, và đã để cho chúng ta những tác phẩm rất có giá trị .

Phải nói rằng trong cách nói đại loại thì ngoại hình nói nên rất nhiều về tánh chất của nội tại, tuy nhiên chúng ta không lấy điều đó để làm một điều câu chấp, nghĩa là đặt tuyệt đối quá. Có những con người tuy rằng ở bên ngoài, mới nhìn thì chúng ta không có thiện cảm, không thấy họ có vẻ đẹp khả ái, nhưng họ có một tâm hồn rất dễ mến, có những con người thì ngược lại ở bên ngoài của họ thì hết sức là đáng cho chúng ta để ý, nhưng trong lòng họ thì trống rỗng, việc đó chúng ta gặp rất thường.

Và ý tưởng gọi là võ đoán, hay ý tưởng chúng ta nhận định một cách vội vã thì rất dễ dẫn cho chúng ta đến cái nhìn tai hại. Câu trả lời là như vậy

Wednesday, July 17, 2013

Như thế nào là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới?

Hỏi:  trong kinh Phật dạy thường niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới v.v... vậy làm sao niệm Phật, Pháp, Tăng, Thí, Giới cho đúng với lời Phật dạy, kính nhờ Chư Tăng giảng dạy.

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu Giảng:  Thực ra câu hỏi về cách niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới cần có nhiều thời gian để giảng. Thì ở đây, với 6 pháp môn trì niệm này là đề tài của một thời pháp, nếu chúng tôi giảng rộng thì cần thời gian một giờ đồng hồ, một câu hỏi chúng ta chỉ có 10 hoặc 15 phút thôi, do đó nếu chúng tôi trả lời ngắn gọn thì xin quí vị Phật tử nghe thì hoan hỷ vì thời gian có hạn không thể giải thích dài được, nếu sau này Phật tử chúng ta muốn tìm hiểu những pháp môn tu tập như vậy thì chúng ta nên có thời gian riêng để học hỏi từ nơi các vị Tôn Ðức hoặc là  nghiên cứu lại kinh điển thì mới rõ ràng.

         Ở đây thưa quí vị, trước hết là chúng ta ngăn ra làm hai, tức là phần niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, và phần thứ hai là niệm thí, niệm giới, nói đúng ra chúng ta còn thêm một pháp nữa mới đủ gọi là 6 pháp tùy niệm hay là lục tùy niệm.  Trong kinh Tăng Chi Bộ thì ghi như thế, nhưng có khi dùng tới 10 pháp tùy niệm trong 40 đề mục, ở đây trong Tăng Chi Bộ chỉ đề cập đến 6 pháp tuỳ niệm thôi, và đề mục thứ sáu là niệm Chư Thiên.

         Niệm Phật (Buddhànussati) niệm Pháp (Dhammànussati) niệm Tăng (Sanghànussati), niệm thí (Càgànussati), niệm giới (Silànussati), niệm Thiên (Devatànussati), bây giờ chúng ta phân ra làm hai.  Phần thứ nhất là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.  Niệm là gì, chữ niệm danh từ sati được sử dụng trong kinh điển là một thuật ngữ, mà chúng ta không nên hiểu theo nghĩa thông thường, như là niệm ở đây tức là đọc lầm thầm , không phải như vậy.  Nếu mà chúng ta đọc lầm thầm, đọc lâm râm thì trường hợp này chỉ gọi là  tụng đọc lầm thầm hay là đọc lâm râm, thì theo ý nghĩa là nhớ thông thường là vậy.

         Còn chữ niệm, chữ sati ở đây có nghĩa là nhớ thì ở đây là nhớ, là chúng ta nhớ cái gì, chúng ta nhớ Phật, tức là chúng ta nhớ đến công hạnh của Ðức Phật, nhớ đến các đức tánh từ bi vô lượng của Ðức Phật chúng ta nhớ tưởng lại về phạm hạnh của Ðức Phật, chúng ta nhớ tưởng lại các trí tuệ cao siêu tuyệt diệu của Ðức Phật, nghĩa là chúng ta niệm (nhớ tưởng) cái bi đức, trí đức của Đức Phật, để cho chúng ta có sự hoan hỷ và tìm thấy sự an vui về tinh thần, vì chúng ta thấy là chúng ta đang sống gần với Đức Phật một vị cao cả, một chúng sanh mà trong thế gian này không có vị Chư Thiên, Phạm Thiên,Ma vương, Sa Môn, Bàlamôn nào mà có cả về bi đức về trí đức, khi mà chúng ta ngồi chúng ta suy nghỉ và niệm bằng cách đó, chứ không phải chúng ta đọc hồng danh của Đức Phật là niệm Phật, không phải chúng ta đọc  “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, không phải chúng đọc như vậy gọi là niệm Phật, mà đúng cái nghĩa niệm Phật là “Niệm Phật giả cảm Phật tri ân , lễ Phật giả cảm Phật như đức”, nhưng mà chúng ta niệm Phật hay lễ Phật, chúng ta nhớ đến, chúng ta cảm nghiệm ân đức của Ngài, chúng ta ghi nhớ như vậy, đó là cách niệm Phật.

      Còn niệm Pháp như thế nào, sự ghi nhớ, nhớ tưởng khi mà chúng ta nhớ rõ sáu cái ân đức, do Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, Đức Thế Tôn thiện thuyết, Pháp được Đức Thế Tôn thiện thuyết thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian đến để mà thấy có hướng thượng, chỉ có bậc trí được rõ khả năng cái tác dụng, từng cái trí năng của các pháp như vậy, thì lúc bấy giờ chúng ta ngồi chúng ta suy niệm từng cái tính năng đó, chúng ta thấy sự cao cả của giáo pháp như là những lời dậy thiết thực để rồi chúng ta hoan hỷ chúng ta chấp nhận giáo pháp này trong đời sống của chúng ta đó là cách chúng ta niệm pháp.

     Niệm Tăng là gì ?, niệm Tăng ở đây nghĩa là chúng ta suy tưởng về các ân đức của những vị Thánh Tăng, là những vị thiện hạnh, những bậc trực hạnh, những bậc nguyên lý hạnh, những vị chánh hạnh, là những bậc đáng được nhận lễ phẩm, tặng phẩm, đáng được cúng dường, đáng được lễ bái là phước điền vô thượng của thế gian, khi mà chúng ta suy niệm như theo đó, thì sẽ cảm thấy rằng đời sống củaTăng chúng là đời sống hướng đến hướng cầu tịch tịnh. Những bậc thánh đã đắc đạo quả Tu Đà Hàm, A Na Hàm, A la Hán, thì những vị đó là những vị thanh tịnh đã đi trên con đường đến sự giải thoát, còn đối với các vị phàm Tăng thì các vị này đang có sự nỗ lực, đang cố gắng để đoạn trừ các lậu hoặc phiền não trong tương lai, như vậy những vị này đáng cho chúng ta lễ bái cúng dường, và chúng ta thấy rõ bốn ân đức quan trọng, Tăng là những bậc có thiện hạnh tức là những bậc có sở hành tốt, những bậc có trực hạnh tức là có sở hành ngay thẳng, như lý hạnh có nghĩa là những vị này luôn luôn làm việc gì cũng dùng trí tuệ, Tăng là những vị có chánh hạnh tức là cái sở hành của các Ngài đều khả kính tốt đẹp cả, cái đó gọi là niệm ân đức Tăng, cái đó cũng để phát sanh nên niềm tin.

     Khi mà chúng ta niệm thí, niệm giới, niệm Chư Thiên.  Niệm thí ở đây tức là chúng ta niệm về ân đức của sự bố thí, nhưng mà trước khi chúng ta niệm về ân đức của thí, chúng ta phải đã có từng bố thí, mình đã có từng hoan hỷ trong việc bố thí,chia sớt tài sản đến cho chúng sanh khác, lúc bấy giờ ngồi lại chúng ta mới suy niệm, sự bố thí là để dứt lòng bỏn xẻn, là con đường đi của các hạng bồ tát để mong cầu  giải thoát.  Sự bố thí để được Đức Phật Ngài tán thán khen ngợi là nhân sanh quả báu tương lai, sự bố thí là nhân sanh về cõi trời cõi người v.v...chúng ta suy nghĩ như vậy xong, chúng ta mới nghĩ rằng nếu sự bố thí là nhân dứt trừ phiền não bỏn xẻn thì sẽ diệt trừ được bỏn xẻn, sự bố thí là nguyên nhân để sanh cõi người cõi trời, ta đã bố thí rồi, như vậy ta cũng được sanh về cõi người, cõi trời v.v...mà có đầy đủ, mà ta đã bố thí xong, khi ta nghĩ như thế thì, tự nhiên có sự so sánh như thế, so sánh về ân đức thù diệu của sự bố thì rồi mình nghĩ tưởng đến các hạnh bố thí mà mình đã làm, như thế gọi là niệm thí.  Nói một cách tóm tắt là như vậy.

      Niệm giới cũng tương tựa như vậy, mình phải giữ giới  cho thanh tịnh, cho trong sạch cái đã, mình không sát sanh, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, mình hoan hỷ trong cái việc giữ giới, mình giữ giới nghiêm trang, rồi lúc bấy giờ chúng ta mới ngồi xuống, chúng ta niệm, chúng ta suy nghĩ Đức Phật Ngài thường tán thán về cái hạnh giữ giới, giới được trong sạch, được trang nghiêm được thanh tịnh, thì đây là nguyên nhân mình sanh về cõi trời v.v... đây là nguyên nhân làm cho mình thanh tịnh tam nghiệp, chúng ta suy nghĩ như vậy cho nên chúng ta có sự hoan hỷ khi nghĩ rằng mình cũng là người giữ giới.

      Bây giờ chúng ta niệm Thiên là chúng ta suy nghĩ về ân đức của Chư Thiên chúng ta niệm Thiên không có nghĩ là chúng ta cầu nguyện cứu giúp chúng ta, đừng có cầu nguyện Chư Thiên ơi, Chư Thiên hỡi hãy cứu con, hãy ban cho con được giàu có, cho con được tiêu tai nạn khỏi v.v... chúng ta niệm Chư Thiên ở đây là chúng ta suy xét về đức tánh của Chư Thiên, chúng ta suy xét rằng, có những chúng sanh trong đời này mà được sanh vào cảnh giới an lạc, có sự sung túc về vật chất, được đẹp về sắc đẹp, được an vui, được làm Chư Thiên, và những chúng sanh này do đâu mà có phước báu như vậy. Và chúng ta biết là những Chư Thiên này do nơi đức tin mà được hưởng quả báu ở cõi trời, do nơi đời quá khứ chúng sanh này nghe pháp thính pháp, với cái tâm hoan hỷ chúng sanh này năng bố thí, năng trì giới mà chúng sanh này được sanh làm Chư Thiên.  Mình suy nghĩ rồi, bắt đầu mình suy nghĩ lại, mình luôn luôn phải so sánh với chính mình, trừ khi mình có niềm tin và nghĩ rằng ta đã có niềm tin rồi cho nên mình yên trí sẽ sanh về cõi Chư Thiên, cộng trú với Chư Thiên.  Chúng sanh được sanh về cõi Chư Thiên nhờ bố thí, ta đã bố thí rồi, chúng sanh được sanh về cõi Chư Thiên nhờ giữ  giới trong sạch, ta đã giữ giới rồi, chúng sanh được sanh về cõi Chư Thiên nhờ có tâm hoan hỷ nghe pháp khi ở cõi người, ta đã có tâm hoan hỷ nghe pháp rồi.  Chúng ta nghĩ rằng chúng sanh được sanh vào cõi Chư Thiên là nhờ chúng sanh đó hành thiện pháp, ta đã hành thiện pháp rồi, thì do đó chúng ta cũng sẽ được sanh làm Chư Thiên.  Ðó là cách mà chúng ta niệm Thiên.

          Ở đây chúng tôi chỉ xin được giảng trong khoảng 15 phút cho câu hỏi này thôi, chúng tôi chỉ gợi ý cho quí vị mà thôi, chứ thật ra chúng ta không thể nào hành một cách trọn vẹn được.  Tuy nhiên ở đây chúng tôi cũng xin mách với quí vị là, nếu Phật tử chúng ta có sẵn ở trong tay quyển Thanh Tịnh Ðạo , và với nhiều bản dịch Việt ngữ, chúng tôi xin giới thiệu với bản dịch của Thích Nữ Trí Hải, chúng ta hãy xem ở đó bản dịch này sát với nguyên văn Pali, và như vậy chúng ta sẽ học từ nơi đó các đề mục tu tập, hy vọng Phật tử được tiến hoá trên con đường tu tập.  

Ghi chú: Sáu đề niệm niệm : Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm Thiên .  Hợp với tánh người có đức tin nhiều