Monday, February 17, 2014

Năm điểm nên biết về vấn đề ẩm thực

Hỏi: Năm điểm nên biết về vấn đề ẩm thực

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 7-2-2014, Minh Hạnh chuyển biên)

TTGiác Đẳng: Thời bây giờ tuy rằng có nhiều điều chúng ta nghe hơi lạ nhưng nó lại đặc biệt rất hợp với những gì Đức Phật dạy thời xưa. Chúng tôi xin nêu ra ở đây năm điểm thú vị đó là:

1. -  Theo các nhà khoa học nghiên cứu thì lượng calories mang  vào trong người ít sẽ giúp cho chúng ta sống lâu hơn là có quá nhiều hay là dư thừa. 

Ngày xưa ở Việt Nam, hồi chúng tôi còn nhỏ trong nước tình trạng thiếu vật phẩm, mỗi lần chúng tôi đọc báo thì người ta hay nói rằng những người ăn uống đầy đủ bổ dưỡng thì sống lâu. Do vậy người ta thích ăn đồ bổ, thích uống thuốc bổ. Nhưng mà kỳ thực bây giờ các nhà khoa học họ họ nghiên cứu cho thấy rằng những người mang calories vào trong người nó ít nó thiếu một chút thì khỏe. 

Về điều này thì có nhiều người không tin nhưng chúng tôi mong rằng qúi Phật tử có thì giờ đọc lại là Đức Phật Ngài dạy là không nên ăn quá nhiều không nên ăn dư tức là còn một phần nữa mình no thì mình nên ngừng lại. 

2. - Và hồi nhỏ thì mình nghĩ theo Tây Phương là ăn buổi tối tốt, tức là buổi sáng ăn qua loa rồi buổi trưa ăn và buổi tối ăn nhiều tốt. Nhưng đúng ra về phương diện dưỡng sinh bây giờ cách ăn Đức Phật Ngài đề ra là ăn buổi điểm tâm nhiều rồi ăn buổi trưa rồi buổi tối thì không ăn, và nếu ăn thì ăn đại khái qua loa thôi.

Dĩ nhiên về điều này đi ngược lại với văn hóa chúng ta thường nói lâu nay là buổi tối ăn cơm của gia đình ăn cho nhiều nhưng kỳ thật thì ăn buổi tối không tốt. Thành ra nếu chúng ta biết điểm này thì chúng ta cũng thấy thú vị là cái nhìn của những nhà dưỡng sinh hôm nay đưa ra có thể cũng đặc biệt đón chào. 

Chúng tôi nói điều thứ nhất tức là ăn thiếu thì nó khỏe hơn là ăn dư. Bây giờ chúng ta thấy người ta có phong trào kiên ăn. Thứ hai, đừng ăn buổi tối nhiều, hoặc là không ăn buổi tối mà nên ăn vào buổi sáng và buổi trưa.

3. - Trong kinh nói rằng ăn điều độ thì sống lâu. Ví dụ như chúng tôi biết có một vài vị họ ăn có kỷ luật, ngày hôm nay giờ đó ăn thì ngày mai giờ đó ăn thì cơ thể mình làm việc đúng giờ. Còn mình ăn uống bất thường, thật sự có nhiều khi do công ăn việc làm nên bữa nay mình ăn giờ này mai ăn giờ khác, tức là đói lúc nào ăn lúc  đó thì không tốt cho cơ thể bằng tới giờ nhất định nào đó ăn. Chúng tôi nghe một số qúi Ngài trong đó có Ngài HT Hộ Giác Ngài nói rằng ở ngoài Trung có một số các vị sống lâu mặc dầu họ không ăn bổ dưỡng nhiều, nhưng, ví dụ ở miền Trung không có nhiều thức ăn nhưng họ ăn rất điều độ, ngày đó giờ đó chừng đó, ví dụ bữa nay ăn hai chén cơm hay một chén cơm thì mai cũng vậy mốt cũng vậy và ăn đúng giờ, những người đó rất là khỏe. Đó là điều mà chúng tôi nghe qúi HT nói, tức là người ta không phải do ăn bổ dưỡng mà sống lâu, không phải sơn hào hải vị hay là bào ngư vi cá mà sống lâu, mà là do ăn uống điều độ. thì ở trong kinh có dạy như vậy, ở trong kinh dạy ăn điều độ thì sống lâu.

4.- Và ở trong kinh cũng có nói một điều là một người giữ miệng sạch tức là giữ răng cho sạch thì vị giác sẽ tốt hơn và ăn uống ngon miệng hơn, điều này tốt cho sức khỏe hơn. Ngày hôm nay thì chúng ta cũng thấy điều đó, tức là mình không chỉ lo về thức ăn không mà mình làm sao mà mình giữ răng giữ miệng cho sạch thì nó lại tốt cho vấn đề ăn uống 

5. - Và sau cùng, điểm thứ năm, chúng tôi cũng muốn chia sẻ với qúi Phật tử đó là về điều này cũng có một số qúi vị rất ngạc nhiên là Đức Phật Ngài dạy buổi sáng sớm mình ăn cháo tốt cho sức khỏe, tại vì chất loãng làm cho bao tử hoạt động. Chúng tôi ở chùa để ý như vầy là vị nào bị mất vị giác không muốn ăn thì buổi sáng ăn cháo, ăn cháo sớm rồi tự nhiên khoảng 10 giờ qúi vị đói bụng, còn nếu mình không ăn cháo buổi sáng có khi đến 1, 2 giờ chưa cũng chưa đói bụng, qúi vị thử lâu lâu ăn cháo buổi sáng. Ngày hôm nay tại các nước ở Âu Châu hay ở Hoa Kỳ có cháo oatmeal rất tốt. Buổi sáng hoặc buổi tối ăn không bị tăng đường trong máu. Loại cháo oatmeal rất là đơn giản, qúi vị chỉ lấy cái bình giống như bình thủy để một gói oatmeal vàorồi chế nước sôi vào đậy lại khoảng chừng 10 phút thì nó sẽ thành cháo và đem ra ăn, thường thường ăn với rong biển hay là ăn với nho khô hay là đậu phộng trộn vào còn, qúi vị thích thì có thể ăn với cái gì mặn cũng được nhưng đừng ăn mặn quá muối nhiều cũng không tốt, đại khái là chúng tôi thường ăn với rong biển.

Thì, cháo oatmeal tiện  là mình đi chỗ này chỗ kia chỉ cần có nước sôi là có thể ăn và không làm phiền ai hết,rất là nhẹ nhàng, đối với chúng tôi nó vừa tiện và không  làm hại sức khỏe.

Nói tóm lại, trong đời sống tu tập của mình, ít làm phiền người khác, cái gì gọn tiện thì mình làm. Mình là người xuất gia tu đi đâu cũng khó khăn hay là mình đi đâu cũng làm phiền người khác mình đi đâu trở thành gánh nặng cho người khác thì thật sự điều đó không hoan hỉ, mình làm thế nào mà đời sống mình trong sự ăn uống không làm phiền ai, không làm vất vả cho ai mà trở thành dễ nuôi điều đó là điều mà Đức Phật Ngài khuyến khích tất cả chúng ta ./.

Sunday, February 16, 2014

Có nên phiền não với những thị phi của cuộc đời không?


Hỏi: Có nên phiền não với những thị phi của cuộc đời không?

(Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TTGiác Đẳng: Nếu mỗi chúng ta ở trong một pháp hội, một trường hợp nào đó tâm tư rất là hoan hỷ, nhẹ nhàng, rất trọn vẹn với niềm tịnh tín, mà một người nào khác bước vào với ngôn ngữ sằng bậy với những lời nói không được tốt đẹp làm cho chúng ta phiền não. Thì thật sự chúng ta nên nhớ những lời dạy của Đức Phật, đó là một cách sống rất đẹp. Bởi vì Đức Phật Ngài dạy rằng ở trên thế gian này có rất nhiều lầm lỗi, cuộc đời này vốn nhiều sự phỉ báng, vốn nhiều ác khẩu, vọng ngữ, ỷ ngữ, những thứ đó rất thường thấy ở trong cuộc đời này, và với một người sống khôn ngoan, thật sự khôn ngoan với chính mình thì thay vì bận tâm với những gì của cuộc đời, bận tâm với những gì mà thế nhân đang reo rắc thì chúng ta nên bận tâm với những gì mà mình đã làm hay không làm.
Nếu chúng ta đặt lại cái nhìn của mình. Cái quan niệm ở trong đời sống của chúng ta thường là quan niệm nghĩ đến đúng sai phải quấy của người khác nhiều mà không xét lại chính mình. Nếu chúng ta đặt lại vấn đề, nhìn lại cái gì của chính mình thì mình sẽ thoải mái hơn. Bởi vì khi chúng ta đặt vấn đề đúng sai phải quấy của người khác, mình có rất ít khả năng để hoán chuyển, mình có rất ít điều kiện để thay đổi bởi vì đó là hành động của người, đó là sự cư xử của người, đó là tâm ý của người.
Chúng ta có trách móc, có hờn dỗi, có giận dữ, có bực tức, thì đó là chuyện của chúng ta, chúng ta không có nhiều quyền lực đối với thế gian này, cho dù một tổng thống của một cường quốc đi nữa thì cũng khó có thể dùng quyền lực của mình để có thể điều khiển được tất cả sự suy tư của người khác.
Thay vào đó Đức Phật Ngài khuyên rằng chúng ta nên tự vấn chính mình, khi chúng ta tự vấn rằng mình đã làm được những gì nên làm và đã không làm được những gì nên làm thì lúc đó cái nhìn của chúng ta về cuộc sống hoàn toàn khác, cái thái độ của chúng ta hoàn toàn khác, cái nhân sinh quan của chúng ta hoàn toàn khác.
Thật ra, đôi lúc mặc dầu chúng ta không phải là một vị Thánh đã đoạn tận phiền não, nhưng nếu chúng ta khéo nhận thức, nếu chúng ta khéo hướng tâm về cái nhìn của mình ở trong đời sống thì sự phản ứng và thái độ và nhân sinh quan của chúng ta có thể thay đổi rất nhiều, từ một cảnh giới có bao nhiêu phiền lụy chúng ta có thể trở về sống rất thực với thực tại, rất gần với chính bản thân của mình với một ý thức trọn vẹn cái gì mình nên làm và cái gì mình không nên làm.


Saturday, February 15, 2014

Sự nguy hại của đời sống phóng túng

Hỏi: Sự nguy hại của đời sống phóng túng

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, Minh Hạnh chuyển biên)

TTGiác Đẳng: Trong đời sống chúng ta cố gắng nghe Phật Pháp, cố gắng nghe cảnh khổ lụy của trầm luân sanh tử, cố gắng đối diện với kinh điển, đối diện với Thầy Tổ, sống trong một đạo tràng chúng ta có cố gắng, nhưng sự cố gắng này chỉ là một sự vận dụng tối đa cái mà chúng ta gọi là ráng, cái mà chúng ta gọi là cố làm.

Và trong cái ráng, cái cố làm đó chúng ta thấy rằng cuộc tu là một gánh nặng, thấy rằng những gì mình đang làm, nó vốn là một điều gần như bắt buột, mặc dầu chúng ta tự nguyện để bắt buột chính mình, nhưng nó là một sự bắt buột và cũng là lý do một vị Tỳ kheo không thể đạt đến quả vị giác ngộ được.

Một vị Tỳ kheo chưa thấy được cái hay, chưa thấy được cái đẹp, chưa thấy được giá trị thật sự, và nếu khi chúng ta thấy được giá trị thật sự của nó rồi, thì chúng ta có thể hoan hỷ, rất hoan hỷ để làm một việc mà trước kia mình không bao giờ hoan hỷ hết.

Có nhiều người  từ Việt Nam đi sang Hoa Kỳ, hay đến các nước kỹ nghệ, những người này nói một tâm sụ rằng; qua đây thấy bên này làm việc nhiều quá, bên này làm việc nặng nề quá. Chúng tôi cũng phải nhận rằng như vậy. Có những lần chúng tôi về các nước Á Châu, như Indonesia, như Thái Lan, Ấn Độ, thấy con người ở các nước Á Châu nhàn nhã hơn nhiều, người ta thích la cà vào những hàng quán, ngồi uống cà phê , hoặc ngồi nhậu nhẹt. Cảnh tượng đó có rất ít tại các quốc gia kỹ nghệ, đa số người bên đây đều đi làm. Có những gia đình vợ chồng con cái già trẻ bé lớn đều đi làm, và có những người họ đi làm không phải một việc mà hai việc, mà mỗi lần đi làm như vậy họ thức dậy thật sớm, có thể là 4 , 5 giờ sáng để chuẩn bị xe cộ, ăn sáng vội vàng rồi đến sở làm.

Nhưng chúng tôi cũng đã có thời gian dài sống với những chế độ, những chế độ đó ca ngợi sự lao động, nhưng con người ở đó thì rất lười lao động, rất lười làm việc. Trong khi ở bên này không ai ca ngợi lao động là vinh quanh hết, nhưng người ta vẫn phấn đấu, vẫn thích làm, bởi vì cái động lực bên này nó khác hẳn. Và cái động lực đó là trong cái làm họ có phần thưởng, họ tìm thấy được kết quả, và khi họ làm không ai bắt họ làm, họ cảm thấy rằng có được việc làm là thích thú, vì được làm họ thích thú, do vậy họ ráng làm, họ cố gắng làm với tất cả khả năng của mình. Điều này giống như điều người xưa nói rằng: "dầu cho việc có hay đi nữa, nhưng mình bị bắt buột phải làm, không bằng mình muốn mà làm, mình muốn mình làm, không bằng mình hoan hỷ mà làm".

Cái hoan hỷ đó là điều rất quan trọng. Vì vậy đối với phần đông chúng ta, chúng ta chỉ xem lời dạy của Đức Phật, xem cái giá trị của đạo đức, của luân lý, của lẽ phải, đó là những thứ bổn phận, có đôi khi nó là cái gì làm chĩu nặng đôi vai của mình, mình không tìm thấy ở đó một sự ưa thích hoan hỷ thích thú, và chúng ta không tìm thấy một động lực khiến chúng ta có thể làm được việc đó.

Khổng Tử suốt cuộc đời học hoài không biết mệt, dạy hoài cũng không biết mệt, đó cũng là một cách nói lên sự nỗ lực. Trong chúng ta đều ý thức rõ ràng rằng, đi vào cuộc tu cũng như trong cuộc đời luôn luôn như lội ngược dòng nước. Khi chúng ta lội ngược dòng nước, chỉ cần lơi tay, chỉ cần một chút lơ đễnh là chúng ta có thể bị cuốn ngược về phía sau. Một người lội ngược dòng nước không bao giờ dám lơ là, không bao giờ dám chễnh mãn đối với nỗ lực của chính mình. 

Cũng tương tự như vậy ở trong cuộc sống này, chỉ một chút mà chúng ta buông thùa, một chút mà chúng ta phóng túng và một chút mà chúng ta buông tay, thì có thể là làm hỏng cả công trình.

Vô số Chư Phật ở trong quá khứ đã hoàn thành đạo nghiệp giác ngộ của Ngài, và đối với chúng ta thì chúng ta nghĩ rằng có lẽ chúng ta đã đến ngưỡng cửa giải thoát, chúng ta không có chuyện gì phải lo lắng. Nhưng không có chuyện gì để bảo đảm rằng chúng ta sẽ không luân hồi nhiều kiếp nữa trong sự trôi dạt của cuộc đời, cái sự trôi dạt của trầm luân sanh tử quả thật là chúng ta không biết được. Dĩ nhiên là trong cuộc tu thì ai cũng có niềm tin, nhưng một phút sơ xảy, những gì xảy đến để làm cho đời sống của chúng ta khác đi, để làm cho đời sống của chúng ta cuốn hút về một phương trời vô định, chuyện đó hoàn toàn có thể xảy ra ở trong đời sống này. Chúng ta cũng thường nghe người ta nói rằng, có thể một người rất là hiền lương mà trở thành kẻ sát nhân, có thể một người đang theo đuổi một hoài bão bình sinh to lớn của mình, rồi buông tay bỏ cuộc, chuyện đó không phải là hiếm thấy ở trong cuộc đời, nó có vô số, tại vì ở một phút nào đó, chúng ta không nhận ra sự nguy hại của đời sống phóng túng.

Đời nhà Lý có một vị Thiền Sư làm bài thơ ở trong đó có câu được dịch là: " Ngàn mây, ngàn nước, ngàn trăng hiện, mấy dặm không buông, mấy dặm đường". Trong hành trình dài của chúng ta ở đâu có nước thì ở đó có ánh trăng, trăng hiện ra trong từng hồ nước, ngay cả trong thau nước nhỏ đặt ở trước mặt, trăng cũng hiện trong đó, dĩ nhiên đó không phải là trăng thật. Nhưng mặc dầu trăng ở trong thau nước, trăng ở trên mặt hồ hay trăng ở dưới dòng sông thì tất cả điều đó cũng cho chúng ta thấy đó là quê hương, đó là ánh trăng quen thuộc, đó là vầng trăng vốn có mặt từ thưở chúng ta vừa được chào đời và biết bắt đầu thưởng thức vẻ đẹp của trăng, "ngàn mây, ngàn nước, ngàn trăng hiện, mấy dặm không buông mấy dặm đường".

Đối với chúng ta là một người tu tập, thì thiên nhiên hay những ấn tượng bên ngoài có thể là một gợi ý, mà những gợi ý đó đôi lúc phải mở rộng cánh cửa để chúng ta chiêm nghiệm. Có nhiều người họ bị ràng buột bởi nhiều điều rất tầm thường ở trong cuộc sống, có những người bị ràng buột bởi bản năng to lớn hơn, ví dụ như chúng ta nói thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ v.v...đó là những thứ thằng thúc lớn, thì dù lớn dù nhỏ, nó là những sợi dây cột trói, và ở trong sợ dây cột trói đó khi một vị Tỳ kheo đã tìm thấy được niềm hoan hỷ thật sự với đời sống nỗ lực, vị này đã tìm thấy được sự sợ hãi, thấy được sự nguy hiễm, và vị này thấy sợ hãi trong đời sống buông thả, thì lúc đó vị Tỳ kheo có thể tiến tới như lửa hừng thiêu đốt những kiết sử lớn nhỏ.

Đối với chúng ta trong đời sống này, thường thường chúng ta tu tập rất đặt nặng về kinh điển, đặt nặng về lý thuyết, nhưng với những gì chúng ta tìm được trong kinh Phật thì Đức Phật dạy chúng ta nên chắc chiu kinh nghiệm cá nhân của mình, những kinh nghiệm đó nếu chúng ta chiêm nghiệm đúng chỗ nó sẽ giúp cho chúng ta đi một bước xa trong cuộc tu. Như một lần Đức Phật Ngài dạy trong Tăng Chi Bộ Kinh Đức Phật Ngài dạy giống như một hạt thóc, nếu đặt cho đúng chỗ thì nó sẽ cắt đứt ngón tay của mình, quí vị thỉnh thoảng thấy trang giấy của mình mà nó có thể cắt được ngón tay, không phải chỉ có con dao mới cắt được ngón tay của mình, mà giấy đặt đúng chỗ nó cũng cắt được ngón tay của mình.

Thì cũng tương tự như vậy, nếu chúng ta khéo tác ý, nếu chúng có thể nhìn sự thật ở góc cạnh gọi là sáng sủa nhất, nhìn ở góc cạnh chân thật nhất và lợi lạc nhất, thì cái nhìn đó có thể là cái nhìn xuyên xúc, và cái nhìn đó có thể thay đổi toàn bộ cuộc sống của mình

Friday, February 14, 2014

Sự phê phán, chỉ trích có giúp người ta trong sự sáng tạo không?

Hỏi: Sự phê phán, chỉ trích có giúp người ta trong sự sáng tạo không?

(câu hỏi trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, Minh Hạnh chuyển biên)

TTGiác Đẳng: Chúng ta nói ở đây về thái độ phê phán hay tìm lỗi người, chúng ta cũng phải nhận thêm một sự việc một người tu tập ở trong lãnh vực tôn giáo,  trong lãnh vực nội tâm, thì con người hay có thái độ phân biệt, và từ thái độ phân biệt, mặc dù có lúc họ nhân danh tình thương của thượng đế, hoặc đưa ra chân lý lẽ phải, nhưng ở trong ý nghĩa của tình thương đó, cái danh nghĩa chân lý lẽ phải đó, người ta lại ít có cảm thông, người ta ít có tìm được điểm tương đồng, người ta ít có khi tìm sự hiểu biết, thay vào đó một thái độ phê phán hết sức nặng nề, hết sức khốc liệt. Vì vậy ở tại đây một lần nữa, chúng ta lại thấy rằng cuộc sống tu tập không phải một việc đơn giản, đơn giản ở chỗ tự mình hay tạo ra nội kết, hay tạo ra những ngăn ngại nào đó, chúng ta thấy rằng điều đó quả thật là điều hết sức tốt.

Cách đây khoảng bảy năm, chúng tôi có dịp được nói chuyện với một vị ký giả, ông đã viết rất nhiều tờ báo từ hồi ở Việt Nam, và sau này mới sang Hoa Kỳ, cho đến năm lúc đó ông 67 tuổi, trong một chuyến đi xe hơi, từ Houston lên Dallas gần 5 tiếng, chúng tôi được dịp ngồi chung nói chuyện với ông, vị ký giả này đã có lời tâm sự hết sức chân thành với chúng tôi rằng, trong suốt cuộc đời cầm bút của ông, ông đã phê phán rất nhiều người, từ các cấp chính quyền cho đến dân chúng, từ giới nhà tu cho đến giáo sư, từ những người lao động chân tay cho đến trí thức. Chúng tôi hỏi ông, cái cảm giác của ông như thế nào, bây giờ đã 67 tuổi rồi. Ông nói rằng, nếu ông có thể làm lại cuộc sống một lần nữa, ông nhất định không làm chuyện đó, bởi vì nếu có người nào đó đáng để phê bình thì tự bản thân mình đáng phê bình trước nhất, và ông nói rằng ở cái tuổi nào đó, ông quan niệm chuyện phê bình chỉ trích là của kẻ đứng ngoại cuộc, nhưng bây giờ lớn tuổi rồi ông hiểu rằng ông không thể đứng ngoài xã hội được, hay đứng ngoài lề của vấn đề, mà ông là một phần của vấn đề, là một kẻ sĩ ở trong thời đại, chứ không thể nói mình là kẻ ngoại cuộc được, đồng thời ông cũng nói rằng qua thái độ chỉ trích đó ông nghĩ rằng điều đó có lợi cho tờ báo, nó có lợi cho thế này thế khác, nhưng khi đã có tuổi rồi ông phải nhận rằng những lời chỉ trích đó có hại nhiều hơn có lợi về mặt xây dựng.

Điều này là ý kiến cá nhân của một con người đã làm ở trong báo giới trong một thời gian rất dài, nhưng chúng tôi chỉ nhắc ở đây như ví dụ cho thấy rằng chúng ta thường có thái độ hết sức gay gắt, nhất là những người càng trở về với điều thiện càng muốn đi xa trong sự tu tập, và cái quan niệm đây là chân lý, kia không phải chân lý, đây là đúng, đây là sai. Nhưng chúng ta làm sao để nó không dựa trên tinh thần nhân ngã, quan niệm làm thế nào để nó không tạo môi trường cho lậu hoặc sanh khởi, bởi vì trong lời khen và tiếng chê ở trong đó có gởi gấm cái thái độ lựa chọn.

Trong Đế Thích Sở Vấn, một bài kinh hết sức quan trọng, vua trời Đế Thích hỏi Đức Phật rằng tại sao người ta có chiến tranh trong thế gian này, và Đức Phật đã cho biết rằng, sở dĩ người ta có chiến tranh là bởi vì tâm ganh tỵ và bỏn xẻn, và tâm ganh tỵ bỏn xẻn nó đến từ thái độ phân biệt.

Có thể nói sự phê phán chỉ trích là một trong những thái độ hết sức nguy hiểm, nếu chúng ta không thấy được nó để đạt đến độ vừa chừng, thì thái độ đó trở thành thói quen ở trong đời sống của mình, chúng ta cứ nghĩ rằng lời chỉ trích của mình không ảnh hưởng đến ai hết, nhưng phải nói rằng nó ảnh hưởng rất nhiều, ảnh hưởng rất lớn đến những người chung quanh, và chúng ta cũng không ngờ rằng lời chỉ trích dành cho người khác, nó là hàng rào cản cái bước tiến của chúng ta, cản sự tu tập của chúng ta, và nó là môi trường sanh ra phiền não.

Bây giờ, chúng ta đi sang một câu hỏi khác, người ta nói rằng chính nhờ sự phê phán sáng tạo ra bao nhiêu việc, nhưng chúng ta lại được ý kiến trả lời cho câu này, vấn đề đả thông, sáng suốt là do tâm tư lắng đọng, chứ không phải do thái độ chỉ trích, xưa nay thái độ chỉ trích, nhất là chỉ trích bằng thái độ nặng nề ít khi nào làm được sự việc được sáng tỏ, mà nó chỉ làm cho rối ren thêm.

Thời Đức Phật còn tại thế có thể nói rằng tương đối rất đặc biệt ở trong hội chúng của Đức Phật, thường là hội chúng của yên lặng. Những người ngoại đạo mặc dù họ không tu trong đạo tràng của Đức Phật, nhưng họ thường nói với nhau rằng : " Samôn Gotama là người tán thán sự yên lặng, và các đệ tử của người cũng vậy. " điều đó cũng nói lên đời sống Tăng Già thời Đức Phật còn tại thế cũng như người tu tập và những hội chúng chung quanh Đức Phật, thường là những hội chúng rất tịch mịch, ít có lời được phát biểu nếu không có gì cần thiết, người ta không có phê phán chỉ trích nhau. Dĩ nhiên trong những năm về sau cuộc đời của Đức Phật với sự phát triển rộng lớn của tổ chức Tăng Già, có thể có rất nhiều người vào, và hạnh kiểm của những người này không được tốt. Nhưng phải nói rằng chủng mực mà chúng ta tìm thấy trong kinh điển, Đức Phật Ngài là một người sống theo cuộc sống thanh tịnh ít có nói năng, về nhiều vấn đề.

Chúng tôi đã từng sống nhiều hoàn cảnh khác nhau, chúng tôi có thể kết luận rằng, phần lớn những trường hợp giữa Chư Tăng với Chư Tăng, giữa Chư Tăng với Phật tử, giữa Phật tử với Phật tử có sự chia rẽ buồn phiền lẫn nhau nó đến từ những lời nói, đáng lẽ ra những lời nói đó không dẫn đến tình trạng như vậy. Phải nói rằng có một vị Tăng khi được hỏi rằng làm thế nào để cải thiện hiện tình Phật Giáo, vị đó đưa ra là chúng ta phải có chánh ngữ. Mới nghe nói như vậy thì không nghĩ rằng một câu nói thỏa đáng, nếu xây dựng lại thì phải nói đến chuyện làm ra tiền, nói chuyện đào tạo nhân sự, phải nói chuyện này chuyện khác, tại sao phải dùng đến chánh ngữ.

 Khi được dịp ngồi xuống nói chuyện và duyệt lại cho kỹ, thì tất cả chuyện phân tán đã manh tâm, đến chuyện giữa người này phiền hà người kia, nói đến chuyện trong một cộng đồng có lời qua tiếng lại, phần lớn chúng ta thiếu chánh ngữ, một trong những cơ sở quan trọng nhất của chánh ngữ là nên nói những gì cần nói, và những cái gì vô ích, không cần thiết chúng ta cũng không nên nói, bởi vì nói như vậy chỉ có hại mà không có lợi gì hết.

Trong một lần chúng tôi nói chuyện với một vị thiền Sư người Miến Điện, Ngài có nhắc đến pháp Bát Chánh Đạo, trong đó Ngài có nói rằng những người tu tập thường quên rằng Chánh Ngữ là một trong những yếu tố hết sức cần thiết của pháp hành. Nếu một người tu tập thiền định mà không có khả năng để nói năng một cách thích hợp, thì người đó chưa đạt được Chánh Ngữ, nếu chưa đạt được chánh ngữ thì người đó khó tiến xa hơn trong sự tu tập. Bởi vì nếu không có Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, cái khó, vì lời nói được tạo nên bởi tư tưởng, nhưng mà chính lời nói cũng tạo ra ý nghĩ của chúng ta rất dễ dàng. 

Thursday, February 13, 2014

Chúng ta phải làm sao ở trong sinh hoạt chùa chiền mà một người Phật tử nghèo, ít tiền họ đi chùa không có mặc cảm?

Hỏi: Chúng ta phải làm sao ở trong sinh hoạt chùa chiền mà một người Phật tử nghèo, ít tiền họ đi chùa không có mặc cảm?  

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 7-2-2014, Minh Hạnh chuyển biên)

TTGiác Đẳng:  Phải nói rằng, hơn bao giờ hết tất cả chúng ta sống trong một thời đại ảnh hưởng của đồng tiền và ảnh hưởng của những người giàu có, và các ngôi chùa được xây dựng rất nhiều. Và có lẽ chúng ta phải thường xuyên nhắc đi nhắc lại là chúng ta dễ dàng có khuynh hướng bị ảnh hưởng điều đó, lâu lâu chúng ta ngồi trước một bàn ăn dọn ra rất thịnh soạn và thỉnh thoảng chúng ta ngồi trước một bàn ăn do những người Phật tử rất nghèo cúng dường thì chúng ta sẽ thấy hai cảm giác rất khác biệt. 

Ở đây, chúng tôi muốn nói lại cách sống truyền thống thời xưa Đức Phật Ngài truyền dạy là đi khất thực. 

Phải nhìn nhận rằng thức ăn được nấu mang đến chùa hay trong buổi lễ trai Tăng thì thông thường chỉ có những người Phật tử khá giả hay có điều kiện tương đối mới làm được. Bây giờ, nhiều khi có những câu chuyện chúng tôi nghe rất là buồn, ví dụ như người ta có thói quen làm trai Tăng thì phải cúng tiền, có nhiều Phật tử mang thức ăn đến Chư Tăng thì được nhưng cúng tiền thì hơi nặng đối với họ, đôi khi họ không có khả năng họ không dám cúng. 

Chúng ta phải cố gắng để nhìn lại ngày xưa Đức Thế Tôn Ngài dạy cho đời sống một vị tu sĩ khất thực tức là đi vào trong làng với chiếc bình bát trên tay và những người trong làng cúng dường vào trong đó có những vật rất là ngon có những thứ rất là dở có những thứ rất là tốt đẹp có những thứ rất là bình thường. 

Nhưng mà rồi, chúng ta hiểu được Đức Phật Ngài dạy tất cả những thực phẩm phát sanh do đức tin đều đáng được qúi. 

Như vậy, giữa sinh hoạt khất thực và sinh hoạt của thực phẩm trong tu viện chúng ta cũng phải cẩn thận. Dù sao đi nữa thì đời sống khất thực khiến cho các vị tu sĩ không xa rời quần chúng, khiến cho những vị tu sĩ chấp nhận cúng dường với tâm tư không đòi hỏi không kỳ vọng, và chính như vậy là Phật Giáo không rời bỏ thế gian. Nhiều khi chúng ta hay cổ võ Phật Giáo nhập thế, Phật Giáo đi vào cuộc đời nhưng trên thực tế thì sinh hoạt của chùa chiền càng lúc càng xa quần chúng Phật tử. 

Câu hỏi chúng ta lập đi lập lại là làm sao ở trong sinh hoạt chùa chiền những người Phật tử nghèo những người Phật tử ít tiền họ đi chùa không mặc cảm.

Có một vài lần chúng tôi nghe ở trong chùa những người Phật tử đi chùa hay thường rủ nhau để có sinh hoạt một nhóm trai tăng, làm phước ví dụ như ngày sinh nhật của HT thì nhiều người tổ chức khi tổ chức mỗi người hùn một phần, thí dụ bữa đó chuẩn bị thức ăn rồi tịnh tài cúng dường. Thì cũng có những người Phật tử khác đi chùa nhưng thật sự họ không có tiền để họ góp phần vào những buổi lễ họ cảm thấy rằng họ là người đứng ngoài lề và lâu ngày họ buồn họ không đi chùa nữa. Điều này chúng ta đi chùa phải rất cẩn thận, làm thế nào đó một ngôi chùa chẳng những dành cho những người có tiền và cho những người nghèo không có tiền cũng có thể đi chùa được. 

Đôi khi, ở trong những tôn giáo khác họ hay rủ rê hay mời, một người sắp chết họ cũng ráng đến để rửa tội hay là một người già sống trong một căn hộ (apartment) nào đó họ cũng đến để tìm cách truyền đạo. Còn Phật Giáo của chúng ta thì ngay cả người Phật tử phát tâm đi chùa nhưng họ nghèo nhiều lúc họ cũng bị gạt ra ngoài lề. Đó là điều đáng buồn, cái đáng buồn của chúng ta ở chỗ là chúng ta không thấy sự quan trọng ở trong một mái chùa hay trong một đạo tràng hay trong một nơi sinh hoạt mà khả dĩ có thể mở rộng ra cho mọi người, mang Phật Pháp đến tất cả mọi người. Nếu thời Đức Phật còn tại thế Đức Phật Ngài chỉ đem Phật Pháp đến cho những người có tiềm lực giàu có về tiền bạc hay có thế lực mà bỏ rơi quần chúng những quần chúng nghèo khổ thì Đạo Phật đã không có đến ngày nay. 

Cái khổ của chúng ta bây giờ là phải nhận rằng chúng ta muốn phát triển và do sự phát triển đó thì chúng ta phải nghĩ đến làm sao dành thì giờ nhiều để thuyết phục những người có tiền những người có thứ này có thứ kia. Nhưng chuyện đó lâu ngày thì chúng ta rơi vào tình trạng là trọng giàu khinh nghèo và chùa chiền không còn là một nơi của tất cả đại chúng Phật tử. 

Do vậy, chúng ta nói chung là, đời sống ngày xưa Đức Phật dạy một vị tu sĩ đi khất thực vẫn là một đời sống tốt đẹp nhất để tạo nên một điều mà chúng ta gọi là đạo Phật đi vào cuộc đời. Đó là ý kiến của chúng tôi, chúng tôi nghĩ như vậy.

Và bây giờ chúng ta còn có một vài kiểu sống rất trưởng giả tức là mình phải có một cách dưỡng sinh thế này dưỡng sinh thế kia. Chúng tôi đồng ý là chuyện ăn uống giữ cho sức khỏe thì cũng tốt nhưng nó ở chừng mực nào đó thôi. Chúng tôi phải thú thật với qúi Phật tử là khi chúng tôi sống trong một hội chúng Chư Tăng ni mà lúc nào ăn uống cũng kén chọn cũng khó khăn cho những người Phật tử cúng dường khó khăn cho những người Phật tử mang đến thì thật sự là rất  buồn, tại vì với tinh thần của người con Phật  Đức Phật Ngài đã dạy cuộc sống của người xuất gia không nên là gánh nặng của người cư sĩ và tuyệt đối cũng không nên làm tổn thương cho những người cư sĩ. Do vậy ở mức độ tương đối nào đó nên hoan hỉ. 

Ở tại các quốc gia Phật Giáo nhiều khi nó có một vài thứ người Phật tử Việt Nam chúng ta không để ý, khi đi đến thì chê nhưng mình không học được của người ta. 

Ví dụ như có một lần chúng tôi đưa qúi Phật tử đến thăm một ngôi chùa Miên ở thành phố San Diego California, khi về thì những người Phật tử nói rằng người Miên không biết cách tổ chức. Tại vì sao như vậy? là vì họ mang thực phẩm đựng trong những cái cà mên rồi khi Chư Tăng ngồi thì họ mang những cái cà mên đựng thực phẩm đặt ở phía trước cúng dường, rồi Chư Tăng gắp mỗi thứ một chút. 

Thì Phật tử Việt Nam thấy điều đó thứ nhất là thức ăn nguội và thứ hai để có vẻ ngổn ngang để trước mặt Chư Tăng, các vị nói rằng bên mình người Việt Nam mình thì làm đẹp hơn sạch hơn, mình nấu một bữa ăn đàng hoàng bày lên bàn sạch sẽ lịch sự thỉnh Chư Tăng vào trai tăng chứ không giống như người Miên.

 Nhưng chúng tôi cũng nhắc qúi Phật tử rằng làm như vậy cũng có cái hay và cũng có cái dở. Ví dụ, thực phẩm mà nấu ăn rất là chuẩn bị tươm tất đẹp đẽ thì chỉ có ban trai soạn hay là một đại thí chủ nào đó làm, nhưng với những người Cambochia những người Miến Điện người Tích Lan họ mang thực phẩm trong những đồ đựng thực phẩm nhỏ để trước mặt Chư Tăng nhất là các vị Thiền Sư các vị trưởng lão chỉ múc một muỗm mà họ hoan hỉ, sau khi xong họ mang ra ngoài cho đại chúng cùng dùng. Thì như vậy ai cũng làm được. Có những người Tích Lan đi chùa họ mang theo một cà mên trong đó chỉ có những thực phẩm để cúng dường trai Tăng, đựng trong 5 ngăn cà mên họ đến trước mặt Chư Tăng và khi Chư Tăng ngồi nơi bàn có đĩa lớn trước mặt thì trên tay họ cầm những cái cà mên thực phẩm họ hỏi Chư Tăng là họ có thể đặt một muỗm vào bên trong đĩa của Ajahan được không, Chư Tăng gật đầu thì họ múc một muốm như vậy đặt vào trong đĩa của Chư Tăng. Thì thật ra cách ăn đó không  ngon vì nó pha lẫn nhiều thứ nhưng đó là thức ăn của niềm tin của tấm lòng của qúi Phật tử. Qúi Phật tử thử đi chùa và mang một món ăn nào đó như là mì xào rồi qúi vị múc mỗi một vị Chư Tăng cúng dường một muỗm thì thật sự qúi vị hoan hỉ. 

Thành ra, chúng ta phải có cách nào đó để xây dựng sinh hoạt của ngôi chùa, chúng tôi hiểu rằng thật ra không có dễ dàng, không có cái gì hoàn hảo hết, có những thứ nó đẹp về mặt nội dung thì kém về hình thức, có những thứ kém về hình thức nhưng đẹp về nội dung nhưng điểm chính là chúng ta phải tự nhắc đi nhắc lại rằng Phật Giáo là một tôn giáo của quần chúng của tất cả mọi tầng lớp nghèo có giàu có thượng lưu trung lưu có, có những người bần cùng cũng có. Không nên tổ chức đạo Phật như là một tôn giáo của người giàu có mà tất cả những người nghèo đi chùa đều nên có vị trí xứng đáng với lòng tin của họ ở tại chùa. 

Và chúng tôi rất là sợ rằng một ngày nào đó khi chùa chiền giàu có và các vị Tăng sĩ có điều kiện để tự lập riêng thì lúc bấy giờ chúng ta xa rời quần chúng. Hễ Phật Giáo mà xa rời quần chúng Phật Giáo sẽ mất. Sở dĩ mà ngày xưa qúi Ngài có thể đưa Phật Pháp từ thành thị đến thôn quê là tại vì mỗi buổi sáng các Ngài đi khất thực, đi khất thực cho dù người ta có thức ăn ngon hay bình thường họ có được họ đều cúng dường Chư Tăng. Ngày hôm nay vẫn còn như vậy, chúng tôi rất thích những hình ảnh những em học sinh nhỏ thay vì tiền bánh cha mẹ cho ăn trong trường ngày hôm đó thì các em mua một phần để cúng dường để bát Chư Tăng, một em nhỏ mà cũng có thể cúng dường thực phẩm vào bình bát được nó khác với chuyện mình tổ chức lễ trai tăng lớn ở chùa nhưng ai cũng làm được và do vậy về phương tiện sống của người con Phật của những người tu Phật là chúng ta nên hiểu rõ bối cảnh như thế nào. Ngay cả khi chúng ta vào trong trường thiền, ở tại các quốc gia Phật Giáo tại các trường thiền người ta không bắt mình đóng tiền cho dù có đóng tiền đi nữa thì thật sự là cũng không làm giàu làm có gì cho trường thiền mà là do niềm tin của những người đến làm công quả và khi chúng ta vào hành thiền cho dù bữa đó là bữa ngon hay dở thì chúng ta luôn thọ thực thì chúng ta cũng cầu nguyện là tất cả những phước báu tu tập được chia đến những người công quả cúng dường có thực phẩm ngày hôm nay. 

Thì thật ra một ít cái tác ý khởi lên trong lòng mình như vậy tác ý là mình đem mình xin được chia tất cả những phước mình tu tập đến cho những người đàn tín những người phát tâm sẽ cúng dường am thất cúng dường thực phẩm cho các vị thiền sinh thì cái tấm lòng đó cũng nói lên rằng chúng ta biết thọ thực theo lời Đức Phật dạy và biết trân trọng với những sự phát tâm của tín thí và sự trân trọng đó giúp cho chúng ta rất là nhiều ở trong đời sống tu tập./.

Wednesday, February 12, 2014

Phải chăng ai thuần thục trong pháp niệm hơi thở thì có khả năng điều phục tâm?

Hỏi: Phải chăng ai thuần thục trong pháp niệm hơi thở thì có khả năng điều phục tâm? 

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 2-9-2013, Từ Minh chuyển biên

TT Pháp Tân:Trong pháp môn tu của Đức Phật dù trên phương diện thiền chỉ hay quán, có rất nhiều đề mục điều phục tâm, bởi vì mỗi người thích hợp theo một đề mục cũng như tuỳ thuộc vào căn tánh của mỗi người. Trong chú giải, có 6 căn tánh gồm: Tánh tham, sân, si, tầm, tính, và giác. Mỗi cơ tánh thích hợp cho một số đề mục, không thể nào thích hợp toàn bộ các đề mục.

Có 40 đề mục thiền chỉ: 10 đề mục tuỳ niệm, 10 đề mục bất tịnh, 10 đề mục hoàn tịnh (attina), 4 phạm trú, 4 thiền vô sắc ảnh hưởng về thuộc tính của Niết Bàn, ... Một số người thuần thục về một số căn tánh (tâm) chỉ thích hợp với một số đề mục. Đề mục hơi thở thích hợp với nhiều căn tánh khác nhau. Như vậy, có nhiều đề mục thiền chỉ giúp nhiếp phục tâm. Để nhiếp phục tâm, ngay cơ bản, sơ cơ ban đầu, rất khó nếu không có đề mục hơi thở.

Nói đến phương diện thiền quán, có 4 phạm trù niệm: niệm thân, thọ, tâm, pháp. Có nhiều đề tài niệm thân. Quán về hơi thở là một đề tài của niệm thân. Ở một mức độ nào đó niệm pháp, niệm tâm, niệm thọ, đã tinh vi hơn so với niệm thân. Trong các hoạt động oai nghi, hơi thở lên xuống ra vào đã nói đến niệm thân. Khi thuần thục trong niệm thân, ta triển khai qua niệm thọ, hoặc niệm tâm, hay niệm pháp. Có người nói mình không thích hợp với đề mục niệm thân mà với đề mục niệm thọ hay niệm tâm, hoặc niệm pháp, tức chỉ phù hợp trong phạm trù niệm tâm, thọ hay pháp. Niệm thân là một trong những đề mục sơ khởi để điều phục tâm mình. Trong chú giải, về việc thuần thục về hơi thở, các Ngài nói rằng: Với hơi thở, cách mình đếm 1, 2, 3, 4, 5, ... chẳng hạn và đếm ngược lại theo hơi thở ra, vào như một người mục đồng (chăn trâu) ngày xưa nhưng vẫn còn lại số ít ngày nay.

Trong truyền thống Phật giáo Bắc tông, có hình thập mục ngưu đồ là bức tranh của người chăn trâu. Con trâu ban đầu đi lung tung, đầu này, đầu kia, ăn cỏ, ... vì chưa cột dây lại được. Sau đó, người mục đồng kiếm tìm con trâu, dắt về, lần lượt cột vào gốc cây. Con trâu chịu sự thuần phục bởi sợi dây. Ở đây, sợi dây là ban đầu của việc tập hơi thở theo cách niệm như người mục đồng dắt con trâu về. Niệm hơi thở đó theo 1, 2, 3, 4, ... theo cách thiền chỉ hay quán niệm về hơi thở lên xuống, ra, vào. Giữa chỉ và quán, theo các Ngài giải thích, gần gũi và hổ trợ nhau, không riêng lẻ. Khi ở buổi ban đầu, ta đếm 1, 2, 3, 4, 5, ... hoặc là ngược lại 5, 4, 3, 2, 1, ... Lần lượt, chúng ta đi đến sự thuần thục từ nội tâm của mình. Khi đó, ta chỉ biết hơi thở ra, vào, lên, xuống. Đến một lúc nào đó, giống như sự nhuần nhuyễn đó, người niệm về hơi thở giống như thổi ống sáo, bởi vì không phải vì thổi hơi mạnh “phù phù” để tiếng sáo phát ra mà làm sao nhỏ nhẹ, nhuần nhuyển hơi thở sao rót vào lỗ ống sao để phát ra âm thanh. Các Ngài ví dụ như hậu môn con vịt. Luồng hơi rót ra thế nào để tạo ra tiếng kêu. Người thuần thục về hơi thở ghi nhận từ cái thô cho đến cái tế của hơi thở. Cho đến lúc nào, nếu vẫn còn theo dõi được hơi thở tế (nho nhỏ), ta đã có một sự tiến bộ nội tâm. 

Nhiều đề mục niệm tâm để làm nhiếp phục nội tâm. Để thuần thục nội tâm, ở buổi sơ cơ ban đầu hay nền tảng, chúng ta rất cần và không thể thiếu niệm về hơi thở để giúp tâm có sự đình trú. Qua suy nghĩ và việc làm, chúng tôi nghĩ đề mục niệm hơi thở là đề mục dễ dàng để nhiếp phục tâm. Chúng tôi nhớ lời Sư Trưởng nói qua kinh nghiệm tu thiền và giảng dạy về A Tỳ Đàm bấy lâu nay: Điều phục tâm bằng hơi thở là điều quan trọng. Mặc dù, chúng ta đọc trong kinh Tứ Niệm Xứ, có nói đến niệm thân, thọ, tâm, và pháp. Quán thân, thọ, tâm, pháp, vị hạnh giả có thể điều phục tâm của mình. Cũng chính hơi thở huyền dịu vô cùng. Cũng chính hơi thở có khả năng rất lớn để chúng ta điều phục tâm. Trong tu thân, tâm, và khẩu, tu tâm là quan trọng. Điều phục tâm bắt nguồn từ việc ta nhiếp phục trong vọng đọng. Từ  đó, ta sẽ được thành tựu trên phương diện tu tập thiền của mình.

Tuesday, February 11, 2014

Xin cho một hướng dẫn cụ thể về phép niệm hơi thở.

Hỏi : Xin cho một hướng dẫn cụ thể về phép niệm hơi thở.

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 2-9-2013, Từ Minh chuyển biên)

TT Tuệ Quyền: Niệm hơi thở bằng cách đếm số 1, 2, 3, … Hít vào 1, 2, 3,… thở ra biết. Hoặc chúng ta đếm tiến hay thối. Có nhiều người hít vào đếm 1, thở ra đếm 2. Cứ thế đếm 1, 2… 1, 2… hoặc 1, 2, 3, 4, 5,… Có thể tăng thêm từng phần, từng phần. Đó là một cách.

Còn cách thứ 2, chúng ta hít vào niệm “Arahan Đức Phật trọn lành” và thở ra niệm “Arahan Đức Phật trọn lành”. Hít vào niệm “Arahan Đức Phật trọn lành”. Đó là cách niệm vừa dựa vào hơi thở vừa niệm Phật. Hoặc người ta thở ra đếm 1, hít vào đếm 2... Đó cũng là một cách. 

Nếu trên tinh thần thiền quán, hít vào, biết mình hít vào, thở ra, biết mình thở ra. Hít vào dài, biết mình hít vào dài. Thở ra dài, biết mình thở ra dài. Hít vào ngắn, biết mình hít vào ngắn. Thở ra ngắn, biết mình thở ra ngắn. Chúng ta thấy là điều cụ thể vô cùng trong bài kinh Tứ Niệm Xứ đã chỉ dạy trong tân quán đầu tiên.

Tuỳ theo duyên, có người thích niệm Phật bằng hơi thở hay niệm xuất tức niệm, nhập xuất tức niệm hay hít vào biết mình hít vào. Thở ra biết mình thở ra, ghi nhận rõ như vậy. Thường khi ngồi niệm hơi thở, chúng tôi cũng ghi nhận như vậy: không là phồng, xệp hay là gì cả, không là thọ hành, tâm hành hay thân hành, chỉ là ghi nhận hơi thở. Hít vào ghi nhận hít vào. Thở ra ghi nhận thở ra. Dựa trên chót mũi của mình, chúng ta biết như vậy. Dĩ nhiên, khi thở một thời gian dài, chúng ta sẽ theo dõi nó, có chánh niệm rõ ràng hay có chánh định, đặt tâm nơi đó. Chúng ta sẽ lắng nghe được hơi thở nhanh, chậm, thở dài, thở ngắn, thở đều như thế nào. Đây là phương pháp hành thiền quán.

Có nhiều pháp môn của nhiều thầy, nhiều bà dạy nín thở đưa về đan điền, đẩy ra, hít vào, nén ở ngay lồng ngực, từ lồng ngực đưa xuống đan điền, từ đan điền, rút hơi thở lên, đẩy ra. Hoặc đẩy ra đếm 1, hít vào... hoặc đọc hết câu này câu kia... Chúng ta chỉ nên dựa trên tinh thần pháp Phật. Hơi thở đếm số tức là niệm sổ tức quan hay niệm hơi thở theo Tứ Niệm Xứ. Đó là hai điều quan trọng nhất để chúng ta tiến tu. Đề mục Ānāpānasati, tức Nhập Tức, Xuất Tức Niệm. Nhiều phái, pháp môn như Như Lai Thiền, Tổ Sư Thiền... nói vậy nhưng không phải vậy. Phật dạy pháp môn rõ ràng. Ai muốn theo Như Lai, Tổ Sư hay Phật tuỳ chọn. Các vị Tổ cũng nghe theo lời Phật. Vậy nghe theo lời Phật là điều tốt hơn. Chúng tôi không chê bai hơi thở của người khác. Điều đòi hỏi là hơi thở nên dựa trên tính cụ thể, rõ ràng như trong kinh điển dạy. Đức Phật cũng như các vị Thánh hiền tăng và người đời trước đã thẩm nghiệm qua, thực hiện và có kết quả tốt đẹp. Thực sự, nếu chúng ta tập trung thở một cách tốt đẹp chính là cách chúng ta giữ được thân tâm ta khoẻ mạnh. Nếu chúng ta biết cách niệm hơi thở, máu huyết, tim chúng ta sẽ đều, lưu thông nhẹ nhàng, nhất là đối với người bệnh tim. Nếu máu không bơm về kịp, tension, thở dốc, chúng ta nên lập tức có định tâm. Niệm hơi thở sẽ tránh bớt những nguy hại. Đây là công năng của thiền định. Trường hợp đôi khi nằm ngũ ta bị tê tay, tê chân, cảm thấy ê hết cả người, không cử động được, la lên người kế bên không nghe, khiều họ không biết, khi đó gọi là "Ma đè". Chúng ta nên nhớ niệm Phật sẽ hết ngay. Ở đây, có hai điều. Một là, có oai lực. Hai là, khi tim chúng ta mệt hay máu huyết không đều, tâm đang nằm mơ, sẽ định lại, hơi thở và tim chúng ta cũng sẽ nhẹ nhàng lại, không bị khó thở. Có lúc phi nhân ám hại chúng ta. Nhưng thường do chúng ta bị bệnh hay vì nằm đè bên này hay kia,... Khi có niệm về hơi thở hay thực hiện một cách cụ thể, rõ ràng về pháp môn niệm hơi thở, chúng ta sẽ ít gặp những tình huống đó hay tật bệnh. Ngược lại, chúng ta ngũ rất ngon, không bị mộng mị xấu xa, thân không bấn loạn, mệt mỏi, uất ức,...

Nhắc lại cách niệm hơi thở. Một chúng ta niệm xuất. Nhập xuất tức niệm tức là niệm hơi thở theo số đếm: thở hít vào đếm 1. Thở ra đếm 2 hoặc hít vào đếm... tiếp tục như vậy. Chúng ta tăng dần lên hoặc niệm theo hơi thở của thân quán niệm xứ.