Sunday, November 26, 2017

Kinh Ngày và Đêm - Tăng Chi Bộ - Chương 6 VIII. - TT Giác Đẳng

Tăng Chi Bộ - Chương 6
VIII. Phẩm A-La-Hán
(X) (84) Ngày và Ðêm

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 21-8-2017

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài kinh này là bài kinh cuối cùng của phẩm Alahán. Alahán là bậc vô sanh, là  Ứng Cúng, là bậc hoàn toàn giải thoát. Trong phẩm này Đức Phật đề cập đến nhiều pháp và những pháp đó cho chúng ta thấy sự tương phản giữa đời sống của bậc giải thoát và đời sống của một phàm phu, đời sống của một người hướng cầu giải thoát và đời sống của một người đang thối đoạ đang đi xuống. Sự tương phản đó cho chúng ta nhiều bài học rất quan trọng về cuộc sống. 

Trong bài học hôm nay, một lần nữa Đức Phật đưa ra 2 hình ảnh tương phản: một là đời sống được thăng tiến trong thiện pháp, hai là đời sống thối đọa trong thiện pháp. Tức là đời sống đi lên và đời sống đi xuống, đời sống có tiến bộ và đời sống bị tổn giảm.

Tựa đề bài kinh là Kinh Ngày và Đêm (Rattidivasa Sutta). Ngày và Đêm là một cách nói như ngày hôm nay chúng ta nói trong 24 giờ trọn cuộc sống của chúng ta bao gồm bất cứ khi nào bất cứ lúc nào các hành hoạt của chúng ta đi đứng nằm ngồi, ăn uống ngủ nghỉ sinh hoạt. Với 6 pháp chúng ta có thể thấy mình đang bị thối đọa và với 6 pháp mình đang được thăng tiến.

Ba pháp đầu tiên, pháp thứ nhất ở trong đó gồm 3 pháp nhỏ, nhưng 3 pháp nhỏ này được xem như là 3 góc của một phiến đá và 3 pháp này đi chung nhau, 

1. Pháp thứ nhất, Gồm nhiều ham muốn, hay phiền lụy và không tri túc. 

Nhiều ham muốn là mình luôn luôn muốn cái gì tốt nhất, cái gì nhiều nhất, và cái gì hài lòng nhất, cái đó gọi là nhiều ham muốn.

 Ví dụ như đời sống của một người cư sĩ bình thường đi làm việc có tiền mua xe thì mua xe tốt nhất, ở nhà thì nhà tốt nhất, mặc bộ đồ cũng tốt nhất. Cái tốt nhất của mình là mình đạt đến cái gì mình nghĩ rằng có thể hãnh diện nó là đặc biệt là tốt, nhưng đó là đời sống của một người không tu tập một người cư sĩ tại gia một người cư sĩ đi làm.

Một vị xuất gia những cái gì mình xử dụng trong đời sống là của đàn tín cúng dường. Thí dụ họ cúng cho mình một đôi dép thì cũng không thể người xuất gia đòi hỏi một đôi dép phải là tốt nhất, hoặc cúng dường bộ y cũng không thể đòi hỏi bộ y tốt nhất, và nếu cái gì mình cũng mong cầu là được tốt nhất thì ở đây Đức Phật dạy đó là mahaicchā tức là đòi hỏi quá đáng, đòi hỏi nhiều. Đòi hỏi quá đáng, ở đây dịch là nhiều ham muốn 

Maha nghĩa là lớn
 Icchā nghĩa là đòi hỏi. 

Người ham muốn cái gì cũng nhất, cũng đặc biệt, cái gì cũng là thiệt là tốt thì người đó thường bị bực bội, bị bất mãn (vighàta) tại vì mình muốn nhiều quá mà không được đâm ra bực bội. Có những người phiền hà cả ngày, tâm  không vui vì muốn được cái này cái kia mà không được nên khó chịu. Ví dụ một vị tỳ kheo được vị cư sĩ mang thức ăn đến cúng dường mà nếu thức ăn  không vừa lòng thì nhăn nhó giống như người ta đụng chạm gì đến mình nhưng thực ra chỉ vì món ăn không vừa ý mình làm mình bực bội. Hay là người ta cúng dường bộ y không như mình mong mỏi nó tốt mà nó không tốt mình đâm bực bội, hoặc giả có trăm thứ bực bội thì cái phiền hà phiền lụy  bực bội đó là vighàta.
Và một góc khác của một vấn đề là không có tri túc (asantuṭṭhi) là mình không thoả mãn không hài lòng mình không dễ dàng chấp nhận một cách thoải mái những gì mình có trong tứ vật dụng như y phục, chỗ ở, thuốc men. 

Nhìn lại 3 pháp này, ham muốn nhiều quá thường dẫn chúng ta đến bực bội khi mà cái gì muốn có mà mình không được, sự bực bội đó sự ham muốn đó nó có góc cạnh khác cho chúng ta thấy rằng chúng ta không có tri túc, một người tri túc là người bằng lòng với cái gì phát sanh đến cho mình, lấy ví dụ như đến giờ ăn cơm ngày hôm đó là một ngày vị thí chủ tương đối nghèo, họ mang thức ăn đạm bạc đến thì mình vẫn ăn và ăn một cách rất ngon lành chứ không chê là tại vì nghĩ rằng người ta có lòng mang đến cho mình và sự cúng dường của họ là sự phát tâm, mình có ăn là hoan hỉ rồi đó là sự tri túc. Hay hoặc giả đời sống mình cái gì mình có mình nên vui với nó. Có những người trong đời sống họ không bao giờ vui với cái gì mà mình có, lúc nào cũng nghĩ cái tốt hơn và đem cái tốt hơn để so sánh và do vậy không vui với cái hiện tại, nhưng đời sống của một vị tu tập nên tập tri túc. Như y áo để mặc, thực phẩm để ăn có ở mức độ nào đó không đói không lạnh như vậy mình cũng hoan hỉ rồi, thì đó là sự tri túc.

Do vậy pháp đầu tiên cho chúng ta thấy có 3 góc cạnh tạo thành hình tam giác, nó giống như 3 góc của một phiến đá là ham muốn quá độ, hay phiền hà bực bội và không tri túc. 

Người không tri túc thì luôn luôn muốn thêm không bao giờ thấy đủ và người không tri túc luôn luôn bực bội những gì mình đã có và 3 pháp này chúng là 3 góc của một phiến đá nó liên kết nhau. 

Đức Phật dạy chúng ta sống một trong những yếu tố của một vị tu tập là dễ nuôi, dễ nuôi là đừng làm khó người khác về cái ăn cái mặc cái ở của mình, có nhiều ăn nhiều, có ít ăn ít, có ngon ăn ngon, có dở thì ăn dở. Đôi khi chúng ta hay chú trọng đến những gì mình ăn, nhưng thật sự cách mình ăn rất quan trọng, mình ăn như thế nào mà mình không làm phiền hà người khác, không gây khó khăn người khác, ăn thế nào mà nó không phải là chuyện tạo nên vấn đề lớn khiến cho người khác phải nhọc sức về mình. Thật tình mà nói thì thí dụ như chúng tôi xuất gia qúi Phật tử đến chùa qúi Phật tử rất là lo lắng qúi vị tìm cái gì đó thích hợp với Chư Tăng đó là tấm lòng của qúi Phật tử nhưng riêng với đời sống của Chư Tăng thì đúng nghĩa đời sống samôn là một vị khất sĩ không phải là một người lựa chọn, một vị khất sĩ là người sống dễ dãi.

 Đức Phật khi là một vị hoàng tử Ngài rời thành Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ) vào ngày trăng tròn thángVesak. Ngày hôm sau Ngài từ giả Channa (Xa Nặc) người hầu của mình,  Xa Nặc đã lên ngựa Kiền Trắc trở về thành Ca Tỳ La Vệ mang những vật trang sức áo mão thì lúc bấy giờ Đức Bổn Sư của chúng ta ngay trong ngày đầu tiên Ngài với chiếc bình bát trên tay đi khất thực trong làng, người ta đặt vào đó những thực phẩm mặn có, ngọt có, ngon có, dở có, sạch có, dơ có, Ngài trở về dưới gốc cây, ở trong đời Ngài từ nhỏ cho tới lớn 29 năm trong khuôn vàng điện ngọc chưa bao giờ Ngài thọ thực những thức ăn gọi là hỗn tạp nhiều thứ nhiều mùi vị khó ăn như vậy và trong kinh diễn tả lúc đó cảm giác lợm giọng muốn mửa, có lẽ Ngài cảm thấy muốn lợm giọng nhưng mà rồi Ngài bằng tất cả nghị lực của Ngài quán tưởng và Ngài tự nhủ với chính Ngài đây là thực phẩm mà Ngài sẽ ăn từ đây cho đến trọn đời. Sự tự nhủ rất đẹp và Ngài đã ăn hết thực phẩm đó. Buổi tối hôm đó Ngài đã ngủ dưới một gốc cây không có người hầu, không có người canh gác, Ngài ngủ như một vị tu sĩ lang thang ở giữa núi rừng không có chỗ nào để trú. Và chúng ta hãy nghĩ Ngài là một ông hoàng chưa bao giờ gót chân son của Ngài đi chân trần bây giờ Ngài đi bằng chân không và Ngài đã sống như vậy cho đến khi Ngài viên tịch, hình ảnh đó nhắc nhở chúng ta một cái gì rất cao cả ở trong một nếp sống mà một khi mình tu tập đó cuộc sống tất nhiên. Ngày hôm nay đôi khi chúng ta đòi hỏi hơi nhiều khi mình vào trong một tu viện, một ngôi chùa hay một thiền viện thì chỗ ăn như thế này, chỗ ở như thế kia. Khi mà sự kỳ vọng nó làm cho chúng ta không dễ nuôi, đời sống đi tu là người ta sống được thì mình phải sống được, người ta sống thế nào thì mình sống thế đó trừ khi trong người có bịnh thì Đức Phật cho phép nên lựa cái gì thích hợp, nên yêu cầu gì thích hợp, nếu chúng ta bình thường thì yếu tố dễ nuôi là một yếu tính quan trọng của đời sống tu tập. 

Và chúng ta nhớ một điều rằng nếu mình không tri túc thì hai pháp khác cũng đi kèm đó là nhiều ham muốn và nhiều bất mãn, mình không hài lòng cái mình có thì lại muốn những thứ khác và muốn không được thì đâm ra bất mãn. Thật ra nó là 3 góc của một phiến đá và 3 pháp đó luôn luôn đi chung với nhau.

2. Pháp thứ hai: có niềm tin. 

Niềm tin tạo cho chúng ta một sự nhắc nhở, mỗi chúng ta đều là phàm phu, mỗi chúng ta đều có những giây phút sống giải đãi, mỗi chúng ta đều có những giây phút bị phiền não chi phối nhưng chính niềm tin đưa chúng ta trở về với những giá trị cao cả. Chúng ta đi vào các ngôi chùa thường đến lạy Phật bằng niềm tin, chúng ta đi vào những nơi tôn nghiêm với sự cung kính bằng niềm tin. Thí dụ, một vị tu sĩ xuất gia hay một vị cư sĩ khi lên chánh điện đó không phải là chỗ mình ngồi nói chuyện phiếm, cũng không phải là nơi mình bàn những chuyện không đâu ra đâu, khi mình lên chánh điện phải biết đó là nơi thờ Phật giữ tâm rất cung kính. Một điều chắc chắn như vầy là nếu chúng ta vào trong chánh điện chúng ta nói những chuyện không đâu ra đâu nhất là gây gỗ trong chánh điện thì lát nữa tại chỗ đó mình qùy lạy Phật tâm mình không thành kính, nhưng nếu chúng ta bước vào trong chánh điện mình nghĩ rằng đây là nơi thờ phượng Đức Phật bằng tất cả sự tôn kính, nói nhỏ lại vừa đủ nghe nếu cần, và ngồi một cách trang nghiêm thì chỗ trang nghiêm đó sẽ làm tâm của chúng ta được trang nghiêm và chúng ta tụng kinh tốt hơn, chúng ta sẽ ngồi thiền tốt hơn tại vì ở đó có niềm tin thể hiện trong đời sống chúng ta là chúng ta có làm phước. Niềm tin ở đây là niềm tin ở tam bảo, niềm tin ở nghiệp báo, niềm tin ở Chư Thiên. 

Ngày hôm nay có nhiều người niềm tin của họ là chuyện gì cũng tin vào phong thủy, không tin vào Tam Bảo, cái gì cũng tin vào thầy bói. Ngay cả chúng tôi sống ở chùa có những người Phật tử vào chùa nhiều khi họ không quan tâm đến cầu nguyện nhiều mà cứ nghĩ đến chuyện làm phong thủy. Nó khổ là niềm tin đó ảnh hưởng chúng ta. Chúng ta phải có chánh tín, chúng ta phải có niềm tin mạnh mẽ ở Tam Bảo, tin ở phước báu, tin ở Chư Thiên và niềm tin đó là một sự nhắc nhở sẽ làm cho chúng ta trở lại với cái giá trị tốt đẹp sau những giây phút giải đãi trong cuộc sống của mình.

Ngài Ajahn Chah và rất nhiều vị Thiền Sư thường nhắc nhở rất kỹ là khi mình lên pháp xá trước khi ngồi thì lạy Phật 3 lạy, và buổi tối chánh điện ở hướng nào thì quay về hướng đó lạy Phật 3 lạy rồi đi ngủ, ở trong phòng tuy chỉ có một mình nhưng sự lạy Đức Phật đảnh lễ Đức Phật thường xuyên làm chúng ta tăng trưởng niềm tôn kính, và điều đó củng cố đức tin của mình. Hoặc giả khi chúng ta trong cuộc sống gặp những khó khăn thay vì mình sợ hãi, khi gặp khó khăn thì mình bực bội bất mãn, hay khi mình gặp khó khăn mình gọi điện thoại mình nói chuyện tâm sự người này người kia, thì chuyện gặp khó khăn với một người có niềm tin việc đầu tiên mình nghĩ đến Tam Bảo.

 Chúng tôi ở với Ngài Hộ Giác thỉnh thoảng nhiều khi gặp những chuyện khó khăn trong đời sống, nhất là làm việc giáo hội, chúng tôi phải nói là làm việc trầy da tróc vẩy chứ không thường và khi làm việc khó khăn như vậy chúng tôi lên chánh điện tụng kinh, và sau khi tụng kinh chúng tôi chia phước đến Chư Thiên, đó là thái độ của niềm tin, chúng ta sống mà không có niềm tin mạnh mẽ thì mình dễ trôi dạt, niềm tin là định hướng cho mình sống, mình tin vào Tam Bảo.

 Ngài Ajahn Sumedho là một tăng sĩ người Mỹ, một điều chúng tôi rất kính Ngài là khi chúng tôi gặp Ngài ở Bangkok Thái Lan, chúng tôi nói chuyện với Ngài là đời sống của chúng tôi có nhiều khó khăn, lúc đó Ngài khuyên Ngài nói khi Ngài qua Thái Lan thời gian đầu Ngài gặp nhiều chuyện đôi khi Ngài không biết làm gì nữa nhưng Ngài cứ niệm câu tam quy:

Buddham saranam gacchami,
Dhammam saranam gacchami,
Sangham saranam gacchami

là 
con về nương tựa với Phật,
con xin nương tựa với Pháp,
con xin nương tựa với Tăng.

Khi gặp khó khăn mình tự nhắc lấy mình là:

 con xin nương tựa Phật
 con xin nương tựa Pháp
 con xin nương tựa Tăng. 

Sự nhắc nhở đó lợi cho mình cảm thấy vững lòng, và khi mình có được niềm tin mạnh mẽ thì đó là năng lực vô hình. Người  biết Phật Pháp, có quy y Tam Bảo mà không xem Phật Pháp Tăng là nơi nương tựa thì thật sự rất đáng tiếc tại vì mình mất đi chỗ tựa rất lớn. Một đứa con còn nhỏ khi gặp chuyện gì nguy hiểm cũng kêu mẹ cha tức là nghĩ tới chỗ nương tựa có cha có mẹ thì bình an cảm thấy ấm áp. Đời sống tu tập cũng vậy, khi gặp khó khăn hãy niệm Tam Bảo.

 Buddham saranam gacchami, 
Dhammam saranam gacchami,
Sangham saranam gacchami

con về nương tựa với Phật,
con xin nương tựa với Pháp,
con xin nương tựa với Tăng.

Trong kinh dạy rằng: con người thường đi đến các cội cây các miếu đền để nương tựa, nhưng những ai nương tựa Phật nương tựa Pháp nương tựa Tăng tìm thấy sự nương tựa cao qúi. Mình tu tập thì phải có đức tin, đức tin rất quan trọng.

3. Pháp thứ ba, có giới hạnh

Đời sống của chúng ta phải có nguyên tắc cái gì mình làm được, cái gì mình không làm được. Những nguyên tắc này dựa trên giới bổn Đức Phật Ngài dạy cho chúng ta. Cuộc sống không có nguyên tắc thì mình sẽ đi quá lằn ranh, tốt hơn hết là mình sống ở trong một khuôn khổ khả dĩ làm cho mình cảm thấy yên tâm là mình sống như vậy là được. Thí dụ, một người phát nguyện giữ Thập Thiện hay giữ Bát Quan Trai Giới, hay giữ Ngũ Giới chỉ đơn giản một điều mình giữ làm sao khẩu nghiệp của mình không nói dối, không nói đâm thọc, không nói độc ác, không nói nhảm nhí vô ích và nguyện giữ những điều đó  mình cảm thấy lợi ích, đó là nguyên tắc sống đó đời sống giới hạnh mà Đức Phật Ngài dạy rất đẹp. 

Ngài Narada trong quyển Đức Phật và Phật Pháp Ngài chia chữ giới ra 3 cấp độ:

- Cấp độ đầu tiên ở trong 10 pháp balamật, Ngài viết là những nguyên tắc sống như trong kinh Thi Ca La Việt, thí dụ cha mẹ đối với con cái, con cái đối với cha mẹ, vợ đối với chồng, chồng đối với vợ, bạn bè đối với nhau, thầy trò đối với nhau, chủ tớ đối với nhau, tăng tục đối với nhau. Những nguyên tắc đó là những nguyên tắc sống và nếu những người sống với những nguyên tắc đó thì cũng là một thứ giới hạnh.

- Cấp độ thứ hai có tánh cách liên hệ đến 3 nghiệp của chúng ta là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp tức là mình tránh xa thập ác. 

Thập ác là:
 Thân thì có 3 không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh
Khẩu không nói dối, không nói đâm thọc, không nói lời độc ác, không nói nhảm nhí vô ích.
Ý không tham ác, sân ác, tà kiến ác.

- Cấp độ thứ ba là giới mình thọ trì như thọ Bát Quan Trai hay thọ Ngũ Giới, Tỳ Kheo Giới v.v... cấp độ thứ ba.

Thì dù ở cấp độ nào đi nữa đời sống mình có một số nguyên tắc mình phải tuân giữ. Chúng tôi nói cách giữ giới rất là đẹp đó là mình chỉ lập tâm không bao giờ nói xấu sau lưng người khác, bực bội thì yên lặng vậy thôi nói ra nói vô thì cũng vậy, không nói xấu, đó cũng là cách để mình tránh nói lời chia rẽ, tránh được nói lời độc ác nói lời nhảm nhí vô ích. Hay là mình nguyện không nói lời độc ác, không nói lời đay nghiến, không nói lời làm cho người khác buồn phiền, mình nên nói lời nói với tâm từ. 

Nói chung, Đức Phật Ngài không có đòi hỏi, Ngài không có điều răn, nhưng Ngài có cho chúng ta biết có nhiều giới hạnh và những thứ giới hạnh đó nếu chúng ta phát tâm thọ trì thì đời sống chúng ta đẹp, nhất là ở trong các thiền viện có thanh qui và thanh qui này các vị thiền sư dạy một người vào trong thiền viện thọ trì những thanh qui này và chấp nhận một cách hoan hỉ thì điều đó là có lòng tự tin.

4 - Pháp thứ tư, có sự tinh cần, có sự cố gắng.

Sự cố gắng ở đây là một nỗ lực không ngừng nghỉ, nỗ lực đi xa hơn, nỗ lực muốn làm tốt hơn. Thái độ biếng nhác lười biếng trong đời sống là sống cho qua ngày, sống xem như mình có quá dư thời gian không biết làm gì cứ lo ăn lo ngủ rồi thời gian đi qua không làm được chuyện gì tốt để cống hiến thì đời sống biếng nhác nó không đơn thuần là chúng ta không tiến bộ mà bắt chúng ta trả giá rất đắc là những thiện pháp sẽ tổn giảm và những ác pháp sẽ tăng trưởng. 

Về điều này chúng tôi thường nghe một số bậc thầy đưa ra thí dụ một mảnh đất trống nếu siêng năng trồng trọt thì phải dọn đất cho sạch nhưng nếu để miếng đất trống như vậy không có nghĩa là miếng đất trống sẽ nằm yên như vậy, cỏ dại và những cây hoa những dây leo sẽ mọc lên và khi nó mọc lên chúng ta sẽ thấy càng ngày nó càng tệ hại thêm. Ở bên Mỹ về điều này chúng tôi thấy đôi khi một căn nhà bỏ trống bị mục mau hư, thậm chí một cây săng có người buôn bán tự nhiên trông nó bình thường, mình đi ngang qua quanh năm suốt tháng thấy nó bình thường, nhưng nếu cây săng đó bỏ hoang một vài tháng cỏ mọc từ trong những khe hở ximăng, ở trên chỗ có đất, thì chẳng những vậy những bông cỏ theo gió bay lên trên nóc của những cây săng bỏ hoang và mọc cỏ trên đó, còn bình thường nếu cây săng có sinh hoạt cỏ không mọc tại vì có người săn sóc cỏ ở dưới không mọc thì không có bông cỏ bay lên nóc để mọc cỏ ở trên nóc, thường một nơi 5, 7 tháng không được xử dụng tới cảnh rất tiêu sơ hoang tàn tại vì bỏ trống không người coi sóc. 

Đức Phật Ngài dạy trong kinh Pháp Cú  "Kinh không tụng làm nhớp kinh" tức là quyển kinh không tụng thì bụi đóng. Sự biếng nhác bắt chúng ta phải trả giá rất lớn. Ở trong đời sống không ai thiếu tinh cần, không ai trong đời sống biếng nhác mà không bị ác pháp chi phối. Đời sống là một đời sống có nỗ lực, có cống hiến, có cố gắng. Một khi đời sống không có cống hiến, không có cố gắng thì giống như miếng đất mình không xử dụng tới để trống dây leo sẽ mọc, cỏ hoang sẽ mọc, cây dại sẽ mọc, điều đó là điều chắc chắn, không tránh khỏi. 

Riêng trong kinh Pháp Cú, Đức Phật Ngài nói rất nhiều về điều này. Ví dụ Ngài đưa ra hình ảnh "Bậc trí luôn luôn nỗ lực bỏ lại sau lưng con ngựa hèn", con ngựa hèn thì không thể nào tiến tới được tại vì nó không có nghị lực. Hay hoặc giả Ngài dạy những người sống buông thả lười biếng sống như chết rồi tại vì vô vị, họ không trân trọng thời gian, không trân trọng những giây phút mình đã có. Một người tinh tấn thì họ thấy thời giờ mình có, sức khỏe mình có, điều kiện mình có nó luôn là vốn liếng rất qúi để tạo ra những gì tốt đẹp. Còn một người làm biếng thì thân họ dù khỏe thì giờ họ dù có, thậm chí tiền bạc phương tiện họ có nhưng họ lười biếng thì họ thấy những thứ đó là những thứ nặng nề không sài được. Đức Phật Ngài dạy người lười biếng giống như chết rồi, Ngài nói người tinh cần thì họ được bất tử và buông thả thì giống như chết rồi.

5 - Pháp thứ 5, ở đây là pháp có chánh niệm. 

Chánh niệm tức là khả năng thường hướng sự chú ý vào thân tâm mình, biết mình làm gì nói gì và thường sống không có sự quên lãng, một người sống hướng ngoại nhiều quá, một người ít khi nhìn lại thân tâm của mình, ít khi nhìn lại quán chiếu thân tâm của mình, ít có để ý đến cái gì mình đang làm thì thường mình sống trong sự quên lãng. Đức Phật Ngài dùng ở tại đây  muṭṭhassati là sống trong sự thất niệm, sống quên lãng.

 HT Nhất Hạnh có một câu kinh "Nguyện muôn loài chúng sanh, bỏ cõi lãng quên, quay về tâm tỉnh thức" 

Cõi lãng quên là sống quên trước quên sau và quên chính mình là ai. Thường hay có ví dụ là con chó săn mồi, nó chỉ biết chạy để săn mồi, bất chấp nguy hiểm để chạy theo con mồi, nó không biết bản thân của nó là ai.  Ngài Ajahn Chah  có ví dụ về con gà người ta nuôi cho nó lớn, nó cố tình ăn cho lớn rồi người ta làm thịt, nó không biết thân phận nó là ai, nó thích ăn để mập để người ta làm thịt. Đời sống của chúng ta sống trong sự lãng quên, sự lãng quên khác biệt với chữ Buddha hay Phật Đà là bậc tỉnh thức sống là biết mình.

 Ví dụ như mình không tri nhân, tri quả, tri bỉ, tri kỷ, tri thời, tri hội, và tri độ, mình không biết mình là ai và không biết người khác là ai, mình không biết nguyên nhân nào tạo ra quả này và không biết việc làm này tạo ra quả nào, mình cũng không biết thời gian nào thích hợp, mình cũng không biết thời lượng nào thích hợp, mình không biết đám đông nào thích hợp, và mình cũng không biết mình là ai, đó là sống trong sự quên lãng. Người sống biết mình là biết nói vừa chừng, biết nói thích hợp, biết nói những điều thích hợp, biết hành động thích hợp ít khi lỡ lời, ít khi có những việc làm sau này phải ân hận. 

 Khả năng một người có thể sống thường ghi nhớ chính mình đó là phát huy chánh niệm. Thỉnh thoảng ngồi xuống nhắm mắt lại để xem mình đang thở vô hay đang thở ra, thỉnh thoảng ngồi xuống để cảm nhận mình đang vui, đang buồn, đang thoải mái hay không thoải mái hay đang thản nhiên điều này rất hay là khi nào mình có phiền não đang sân hận đang ganh tỵ hay giận dữ thì thay vì chạy theo sự giận dữ đó mình ngồi xuống nhìn vào cảm giác giận dữ đó để mình cảm nhận trọn vẹn là mình đang giận dữ, khi đang bực bội mình ngồi xuống ở một chỗ nào đó yên lặng tập nhìn vào sự bực bội của chính mình coi trạng thái như thế nào điều đó có lợi cho mình hơn là ngồi đó giận ai nhai tới nhai lui mình tìm cách trả đũa hay thù hận họ, mình nhìn lại tâm của mình lúc đó để thấy trạng thái tâm của mình.

Nếu qúi vị chưa quen thì làm thử rất là lợi lạc cho đời sống nó là một trong những yếu tố mà chúng ta gọi là Sati - Chánh Niệm, không phải là mình ráng cố gắng suy nghĩ giải quyết việc ở bên ngoài mà mình nhìn lại trong tâm của mình xem thử coi lúc đó mình đang sống với trạng thái tâm như thế nào, còn nếu bình thường không có chuyện gì thì thỉnh thoảng ngồi xuống coi mình đang thở vô hay mình đang thở ra, điều đó có lợi cho mình, khi nào mình làm biếng hay hào hứng về chuyện gì đó thì mình cũng ngồi xuống lẳng lặng nhìn vào trạng thái đó, cái khả năng nhìn đó nhìn vào hiện tại đó nó khiến cho mình tỉnh táo hơn, mình nhớ nhiều hơn là mình sống trong sự quên lãng, tâm hướng ngoại nhiều quá thì mình quên lãng, sống bận rộn nhiều quá thì mình quên lãng, sống mà ít có phản tỉnh thì mình hay sống trong quên lãng "từ bỏ cõi lãng quên quay về tỉnh thức", đó là sự màu nhiệm của đời sống.

6 - Điều thứ sáu, là trí tuệ

Điều sau cùng Đức Phật dạy là sống với trí tuệ thì thiện pháp tăng trưởng, sống không có trí tuệ thì thiện pháp tổn giảm. Trí tuệ cho chúng ta nhận định đúng phán xét nhân quả. Mình để ý lúc nào tâm của mình có thù hận, có tham lam si mê mà vắng mặt trí tuệ thường cái nhìn của mình phiến diện cái nhìn của mình một chiều mình không thấy được vấn đề.  Con người mà trí tuệ được thắp sáng là khi nào mình bình tâm lại nhìn vấn đề có nhân quả. 

Trong Phật Pháp thì trí tuệ diệu dụng ở điểm yoniso-manasikāra là khéo suy nghĩ hay khéo tác ý gọi là dấu hiệu của trí tuệ. 

Ngài Hộ Giác nói rằng "khi mất cái gì đó mình không tự trách mình không khéo giữ mà tại vì người ta khéo lấy, và khi mình còn cái gì đó mình đừng nghĩ là mình quá giỏi mà là tại vì người khác chưa muốn lấy thôi".

Đời sống mình cũng vậy, cuộc sống gặp những chuyện buồn phiền thay vì  bực tức thì mình suy nghĩ rằng cuộc sống phải có vui có buồn như trời có mưa có nắng đó là vô thường. Hay hoặc giả như Ngài Puna, Ngài cũng dùng trí tuệ để nhìn thấy yoniso-manasikāra khi Đức Phật hỏi Ngài Puna 

- "Nếu những người xứ đó chửi con thì con nghĩ sao" 

Ngài nói rằng: "Họ còn rất tốt tại vì họ mới chửi thôi chứ họ chưa đánh con".

Trong đời sống ai mà không chào chúng ta chút xíu thì chúng ta bực bộ, họ  làm lơ đi mình giận cũng được nhưng mình nghĩ như vậy là mình không có yoniso-manasikāra, mình nên nghĩ là người ta giận mình thay vì người ta chửi mình mà họ gặp mình họ yên lặng là họ tử tế lắm rồi, và khi họ chửi mình thì mình nghĩ như Ngài Punna rằng cũng may là họ chỉ chửi mình chứ họ có thể đánh mình hoặc nghĩ rằng họ có thể mướn xã hội đen đến giết mình được nhưng họ đã không giết mình, họ không đánh mới chửi mình thì mình nên cám ơn họ. Nói như vậy có vẻ  là quá nhưng thật ra thì nhiều khi chúng ta không ghi nhận thiện chí của chung quanh đối với mình, chung quanh người ta không nói đến mình họ cũng là tốt lắm rồi do vậy cái gọi là khéo suy nghĩ nó là dấu hiệu của trí tuệ là ít nhất là mình nhận ra được khía cạnh tích cực của nó để cho đời sống của chúng ta ít có phiền não, có trí tuệ thì đời sống của chúng ta ít phiền não.

Sáu pháp này Đức Phật Ngài dạy là sáu pháp làm cho thiện pháp tổn giảm hay thiện pháp tăng trường.

 Sáu pháp làm cho thiện pháp tổn giảm là: đối với những nhu cầu chúng ta muốn quá nhiều, bực bội quá nhiều, thiếu tri túc, và trong đời sống hàng ngày thiếu lòng tin, thiếu giới hạnh, biếng nhác, thất niệm và không có trí tuệ, 

Sáu pháp làm cho chúng ta tăng trưởng trong thiện pháp là thiểu dục, ít có phiền lụy, ít có phiền hà, có tri túc, có niềm tin, có giới hạnh, có tinh cần, có chánh niệm và có trí tuệ. 

Đức Phật Ngài dạy những điều này không phải là những điều răn mà là những chìa khóa cho cuộc sống tu tập nếu chúng ta chiêm niệm cho kỹ thì chúng ta thấy rằng những điều này là trực tiếp rất thiết thực liên hệ đến đời sống tu tập hàng ngày của mình. Mong rằng tất cả chúng ta có một cái nhìn làm sao để cho thiện pháp tăng trưởng không bị thiện pháp tổn giảm ./.

Tuesday, October 24, 2017

Tăng Chi Bộ - Phẩm Bà la môn (VII) (197) Mưa - TT Giác Đẳng

Tăng Chi Bộ - Phẩm Bà la môn
(VII) (197) Mưa

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 25-4-2017.

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Một điều rất tự nhiên, những hiện tượng thiên nhiên như mưa gió bão tố v.v... thường có một uy thế tương đối được nhiều tín đồ các tôn giáo quan tâm bởi vì liên quan đến cuộc sống. Chúng ta thường nghe những câu chuyện ngày xưa các vị vua chúa làm lễ cầu đạo hay lễ cầu mưa cho mưa thuận gió hoà. 

Và đặc biệt vùng Nam Á và Đông Nam Á bị ảnh hưởng bởi một hệ thống thời tiết không giống như bất cứ một nơi nào khác ở trên trái đất này đó là hiện tượng monsoon, là một hiện tượng được nhận biết qua thời tiết ở miền nam Việt Nam những cơn mưa hạ vào mùa hè, trời mưa mùa hè đã tạo nên một nền nông nghiệp lâu đời. Tháng Tư bắt đầu trời mưa xuống họ bắt đầu cầy bừa và năm nào mưa thuận gió hoà năm đó người ta được mùa canh tác được tốt.

 Bài học hôm nay Đức Phật nói về 5 nguyên nhân làm cho mưa không thuận gió không hoà, ở trong đó có đề cập đến các hàng phi nhân, đến chư thiên, đến Ràhu Atula vương, đến hiện tượng phẫn nộ của hoả giới mà theo như kỹ thuật ngày nay người ta gọi là sự đột biến của nhiệt độ, một hiện tượng khác là sự phẫn nộ của phong đại là gió mà thật ra là sự đột biến của áp xuất. 

Trong hiện tượng thời tiết từ ngàn xưa Đức Phật đã nói đến 2 thứ là nhiệt độ và áp xuất và ngày nay người ta cũng thấy 2 điều đó là 2 yếu tố quyết định rất quan trọng, tuy nhiên, những yếu tố còn lại sẽ làm cho chúng ta nhiều ngạc nhiên.

Theo cái nhìn thường thức đa phần mọi sự vật xảy ra do một nguyên nhân và một khi biết được nguyên nhân đó chúng ta qui hết tất cả đều do nguyên nhân đó. Nhưng đọc trong kinh sự hiện hữu và biến dịch của thế gian này xoay vần chung quanh 5 định luật. 

1) Định luật đầu tiên là, định luật về thời tiết (Utuniyāma). Định luật thời tiết là, bởi vì sự tồn tại của các tinh cầu phải đi theo đường quỹ đạo và vì đi theo đường qũy đạo do đó có 4 mùa, vì trái đất đi chung quanh qũy đạo trong một năm 365 ngày thì tự nhiên khoảng cách về hướng mặt trời khiến cho chúng ta có ngày ngắn đêm dài, ngày dài đêm ngắn, có xuân hạ thu đông, và bởi vì sự vận hành chung quanh qũy đạo nó khiến cho trái đất phải chịu ảnh hưởng thời tiết như vậy, đó là một điều tự nhiên. Chúng ta lấy thí dụ như mình ở gần bắc bán cầu những quốc gia như nơi chúng tôi đang có mặt ở tại đây là Washington, D.C có 4 mùa rõ rệt xuân hạ thu đông, thì chuyện xuân hạ thu đông và 4 mùa chúng ta không thể thay đổi được và rất khó để có thể làm gì khác hơn. Dĩ nhiên đôi khi có một vài sự việc nhưng  điều đó là do sự chi phối tự nhiên của thời tiết.

2) Định luật thứ hai là, định luật về chủng tử (Bīyaniyāma). Chủng tử tức là gieo hạt cam thì ra cây cam, gieo hạt đậu thì ra cây đậu, gieo hạt ớt thì ra cây ớt đó lả lẽ tất nhiên đó là sự tự nhiên của chủng tử, do có chủng tử nên chúng ta nói về hiện tượng di truyền, hiện tượng DNA, và do có chủng tử nên sự tồn tại của các vật thể nó có tánh cách giống nhau trong sự thừa tiếp ở thế hệ này sang thế hệ khác 
3) Định luật thứ ba là, định luật về tâm thức (Cittaniyāma), tâm biết cảnh, tâm  có sanh có diệt, những định luật đó chúng ta học qua A Tỳ Đàm, đó là một điểm tự nhiên của các pháp.

4) Định luật thứ tư là, định luật của nghiệp (Kammaniyāma) là  nghiệp lực hành vi tạo tác của chúng sanh có thiện có ác chi phối bản thân con người chi phối chung quanh, nhưng Đức Phật cũng dạy rằng chính nghiệp lực cũng chi phối thời tiết. Ngày hôm nay các nhà khoa học cố gắng nghiên cứu về sự tiêu thụ của con người và trong đó những thán khí thải ra những ô nhiễm đối với môi trường và ảnh hưởng như thế nào đối với thời tiết, nhưng không ai có đủ thẩm quyền và có cơ sở để nghiên cứu nghiệp lực ảnh hưởng như thế nào đối với thời tiết .

5) Định luật thứ năm là, định luật về pháp (Dhammaniyāma) gọi là pháp cú nhiên. Pháp cú nhiên ở đây là những sự vận hành của các pháp do nhân do duyên. Thí dụ có sanh, có diệt, có năng duyên, sở duyên, thì những định luật đó nó theo một trình tự cũng như sự tương tác tự nhiên của nó, chúng ta không can thiệp được, nó không phải là như vậy, nó là cố nhiên về pháp gọi là Dhammaniyāma.

Bài học hôm nay nói về một hiện tượng rất quen thuộc với chúng ta đó là hiện tượng mưa. 

Chúng ta đặt câu hỏi tại đây là tại sao chúng ta lại nói về mưa? 

Mưa ở tại đây, trước khi đi vào ý nghĩa của bài kinh hôm nay cũng nên nhắc mưa vốn có một ảnh hưởng lớn ở trong lịch sử và văn hóa của đạo Phật. Ví dụ như Chư Tăng có nhập hạ hàng năm, Chư Tăng Nam Tông thì nhập hạ từ rằm tháng 6 cho đến rằm tháng 9 vào đúng mùa mưa gọi là mùa monsoon. Ở các vùng Nam Á và Đông Nam Á mưa rất nhiều, Việt Nam mùa mưa thường vào mùa hè, khi mùa hè đến thì mưa nhiều do những đám mây từ Ấn Độ Dương và một phần của Thái Bình Dương tạo thành một chu kỳ đem gió nam còn gọi là gió nồm tới. 

Hiện tượng monsoon tạo ra một hệ thống về thời tiết, một nguồn máy khí hậu và ảnh hưởng đến toàn bộ nông nghiệp của vùng Nam Á. Các quốc gia thời xưa như Ấn Độ, miền nam Trung Hoa, Việt Nam, các quốc gia Đông Nam Á Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện v.v... người ta canh tác theo thời tiết, tức là ngày xưa không có hệ thống trị thủy, không có hệ thống dẫn thủy nhập điền tốt như bây giờ, không có máy bơm nước, nhà nông cày cấy canh tác đều lệ thuộc vào mưa do vậy khi mùa mưa đến vạn vật hồi sinh, rất khác với vùng đất chúng tôi đang có mặt Washington DC bây giờ là mùa xuân ra đường thấy cây xanh đâm chồi nảy lộc rất là đẹp. Nếu qúi vị nào ở miền nam nước Việt thì mùa xuân không phải là mùa hồi sinh là vì mùa xuân vẫn còn nằm trong mùa khô, chúng ta chịu đựng như vậy cho đến tháng 6 âm lịch mới bắt đầu mưa xuống, và khi mưa xuống thì cây cỏ xanh tốt như câu kinh trong Ratana sutta  "Như cơn mưa đầu hạ, khiến ngàn cây đâm chồi, khi mùa hạ đến, mưa những trận đầu mùa, cây mới bắt đầu đâm chồi nảy lộc". Và trong mùa mưa người ta trồng lúa v.v... 

Chư Tăng có một số giới luật được Đức Phật ban hành liên quan đến mùa mưa. Thí dụ như lễ Tăng Y Kathina. Cũng là do Chư Tăng đi vào mùa mưa,  sau mùa mưa nhưng vẫn còn bị ướt do đó Đức Phật Ngài đặt ra luật phải mang theo y Tăng Già Lê. Nói chung có rất nhiều giới luật do Đức Phật ban hành liên quan đến mùa mưa. Và mùa mưa đã trở thành một phần ở trong nền văn hóa của Phật Giáo.
 Trong bài kinh ngày hôm nay có một vài đoạn kinh do lời kinh cổ của ngày xưa và để cho phù hợp với văn phong ngày hôm nay chúng ta phải điều chỉnh đôi chút về ngôn từ. 

Ví dụ, ở câu đầu: "có 5 chướng ngại cho mưa, các người đoán tướng không biết được". Người đoán tướng ở tại đây không phải là thầy xem tướng mà là những nhà khí tượng học (meteorology) những nhà tiên đoán về khí tượng. Ngày hôm nay có rất nhiều người học ngành meteorology và tiên đoán về thời tiết, thường chúng ta thấy trên báo hay trên internet đặc biệt ở trên radio, TV. Những người này ghi nhận hiện tượng gió hiện tượng mưa và có thể tiên đoán trong 5 ngày nữa hoặc 10 ngày nữa khí hậu ra sao. Chúng ta gọi là những người tiên đoán về khí tượng chứ không phải là người thầy bói xem tướng. Ở Việt Nam có môn học về thủy văn, danh từ này lấy từ Hán văn. Thường những người đi biển họ học về thủy văn hoặc  ngành khí tượng học cũng là đề quan sát thời tiết và cho người đi biển hoặc sinh hoạt hàng ngày có thể biết dự báo về thời tiết như thế nào. 

Đức Phật Ngài dạy có 5 điều tương đối bất thường và do 5 điều bất thường đó khiến cho những người dự báo thời tiết không tiên đoán chính xác được. Từ thời xa xưa thời Đức Thế Tôn xuất hiện cách đây 25 thế kỷ có nhiều vùng đất trên thế giới còn thiếu văn minh vẫn còn bán khai đời sống rất sơ khai nhưng tại vùng châu thổ sông Hằng thời bấy giờ lại có cuộc sống tương đối rất cao và họ đã có những người chuyên môn dự báo về thời tiết. 

Chúng tôi đã có dịp nói chuyện với vài người đi biển mặc dầu họ không giỏi về khoa học nhưng với kinh nghiệm này họ nhìn đường chân trời họ nhìn mây, ví dụ hồi chúng tôi còn nhỏ ông bà có dạy một số điều như nhìn mặt trăng thấy vầng sáng ở chung quanh thì biết những ngày sắp tới trời sẽ rất nắng rất nóng, hay là hoặc giả ngày nào buổi sáng có sương mù dầy đặc thì bữa đó trời không mưa. Nhưng những người đi biển họ nhìn vào sóng vào gió vào nước họ có một số tiên đoán. Ngay cả chúng ta tìm thấy ở trong Tam Quốc Chí khi đánh trận thì Gia Cát Lượng chẳng hạn cũng có những tiên đoán về thời tiết để bày binh bố trận. Do vậy từ rất xa xưa con người đã học được những kinh nghiệm về khí tượng về thủy văn để họ có thể đưa ra những lời dự báo về thời tiết.

Ở đây Đức Phật Ngài dạy có 5 nguyên nhân những người dự báo về thời tiết họ khó tiên đoán được về mưa và 5 điều này có những điểm rất thích thú.

1. Nguyên nhân thứ nhất là. Trong kinh văn dùng  lời văn cổ nói "hoả giới phẫn nộ", hoả giới được hiểu là lửa, mà lửa phẫn nộ thì kỳ thật ở đây chúng ta nói về nhiệt độ, nhiệt độ làm cho hệ thống thời tiết bị xáo trộn và rất khó tiên đoán. Ngày hôm nay chúng ta nói về nhiệt độ  đó là một hiện tượng lớn chứ không phải là chuyện đơn giản như chúng ta thấy lửa cháy bùng bùng gọi là hoả giới phẫn nộ. 

Các nhà khoa học ngày hôm nay bối rối với 2 điều độ nóng của bầu khí quyển chúng ta gọi là greenhouse effect hay hiệu ứng của lồng kính. Trái đất của chúng ta được bảo vệ bởi bầu khí quyển, không có bầu khí quyển khi trái đất xoay có lẽ mặt đất của chúng ta sẽ tạo thành những cơn bão với những tốc độ kinh hoàng là bởi vì không có bầu khí quyển bảo vệ và nhờ có bầu khí quyển bảo vệ mặc dầu trái đất xoay nhưng chúng ta cảm thấy bầu trời gần như đứng yên một chỗ. Chúng ta cứ mườn tượng là bầu khí quyển giống như một nhà kiếng và khí quyển nằm trong đó và con người do chúng ta tiêu thụ quá nhiều, ví dụ như hàng ngày chúng ta có bao nhiều ngàn chuyến bay và thải ra những chất thán khí. Nói chung, sự tiêu thụ của con người làm ô nhiễm bầu trời và tạo ra một hiện tượng làm lủng lớp màn bao bọc ozone. Các vệ tinh đã quan sát bầu trời bắc cực và nam cực thì màn ozone bị lủng như vậy và tạo ra địa cầu nóng hơn, và chúng ta được ghi nhận nhiệt độ của bầu khí quyển càng ngày càng nóng và nhiệt độ bầu khí quyển càng ngày càng nóng thì càng khó để cho chúng ta tiên liệu chính xác về diễn tiến hợp lý hợp tình của thời tiết.

 Ngày nay khoa học cũng nói đến một bí ẩn mà loài người cũng chưa có thật sự hiểu hết đó là hiện tượng gia tăng của các biển của đại dương những hiện tượng như biến đổi khí hậu (climate change) những hiện tượng này là hiện tượng tăng nhiệt độ của những vùng biển, chính là sự mời mọc rất dễ thấy để tạo nên những cơn bão khủng khiếp những cơn bão mà chúng ta gọi là typhoon hay hurricane. Thì tất cả những hiện tượng đó hurricane đi qua vùng biển nó được tăng mạnh lên bởi hiện tượng nóng của biển cả, biển càng nóng thì bão càng mạnh. Thường thường chúng ta thấy như vậy. Nhưng nói chung, nhiệt độ ở trên trái đất này dù là bầu khí quyển hay đại dương đi nữa mà có sự tăng vọt có sự tăng trưởng một cách bất thường ngoài sự dự báo của chúng ta thì điều này đã làm nên hiện tượng xáo trộn về thời tiết, và ở trong đó mưa là một hiện tượng xáo trộn đầu tiên chúng ta được biết.

2. Nguyên nhân thứ hai, một nguyên nhân Đức Phật dạy ở đây khiến cho thời tiết rất khó dự báo đó là hiện tượng "phong giới phẫn nộ". Phong tức là gió phẫn nộ chúng ta mường tượng như cuồng phong. Nhưng kỳ thực phong giới ở đây chỉ cho áp suất, cái áp suất thông thường là một sự chuyển động ở trong không khí do nhiệt độ tạo ra tức là bên nóng bên lạnh. Ở  Hoa Kỳ có hiện tượng cuồng phong, cơn lốc xoáy, tornado là do áp suất cái nóng cái lạnh gặp nhau và tạo nên những hiện tượng vòng xoáy và nó tạo lên những twisters hay những tornado rất khủng khiếp. Thì áp suất luôn luôn là những yếu tính quyết định, áp suất luôn luôn là yếu tố chi phối hiện tượng thời tiết hiện tượng mưa. Điều này rất dễ hiểu, mây thì đi theo những luồng gió, không phải luồng gió như quạt máy vào người chúng ta mà những luồng gió cực lớn những luồng gió đó có thể tạo lên những luồng mây kéo dài cả ngàn cây số ở trên bầu trời, như chúng ta thường theo dõi những bản đồ thời tiết thì mây luôn luôn bị chi phối bởi gió và áp suất trở lên khó tiên đoán thì mưa cũng trở nên khó tiên đoán, và áp suất thì thật ra nó đến từ những nguyên nhân rất bí mật. Có nhiều khi chúng ta không thật sự hiểu tại sao cũng ngày đó tháng đó mà năm trước khác năm nay lại khác. Tại sao đôi khi chúng ta thấy áp suất như vậy nhưng nó có nhiều hiện tượng đột biến. Và do vậy khi nói về phong đại nói về áp suất ở đây chúng tôi không nói đơn giản về gió mà chúng tôi nói về áp suất . Chúng ta được biết những cơn bão hurricane, có nơi gọi cyclone. Như ở Bắc Mỹ gọi là hurricane, ở phía đông Thái Bình Dương người Anh gọi là typhoon, họ nói theo người Tàu gọi là đại phong, và cyclone nói theo tiếng Ấn Độ. Thì tất cả những nơi đó bão tố đều xảy ra do sự đột biến của áp suất và tại sao sự đột biến của áp suất xảy ra ở vùng đó mà không ở vùng khác thì chúng ta không biết.

3. Nguyên nhân thứ ba. Nguyên nhân thứ ba Đức Phật Ngài đề cập đến Rahù Atula Ma Vương. Atula là loài qủi dữ, một loại chúng sanh sanh ra do tâm sân nặng. Trong loài Atula thì có những loại có phước ít, có những loại có phước nhiều, có những loài vô phước, và loại có phước nhiều là Atula Vương nhiều quyền lực. Chúng ta lấy một ví dụ, ở trong cuộc sống bình thường thì có những nhà lãnh đạo như tổng thống, thủ tướng v.v... nhưng nó có một tầng lớp chúng ta gọi là xã hội đen thì ở trong xã hội đen cũng có một trật tự  rất là mất trật tự của họ, thí dụ như có những thủ lãnh, có những đầu não, có những đầu đảng v.v... thì Atula Vương cũng là một chúng sanh mặc dầu sống trong cảnh khổ nhưng chúng sanh đó vẫn có quyền lực có quyền phép như chúng ta nói đến anh chị xã hội đen, thì những chúng sanh này cũng có thể làm đảo lộn. Ở trong bản dịch ghi "những loài Atula dùng tay thâu lấy nước rồi đổ xuống biển lớn". Hiện tượng này chúng ta thường tìm thấy là từ nước của biển cả có hiện tượng bốc hơi cực nhanh và khi bốc hơi lên thì tạo thành những đám mây và đôi khi nhiều nó trở thành những đám mây dầy đặc và nó tuông xuống thành nên mưa. 

Cách đây 2 hôm một Phật tử đưa chúng tôi đến thăm thác nước Great Falls của giòng sông Potomac ở Virginia rất đẹp, và nơi đến là một công viên quốc gia nằm bên sườn đồi nơi ngày xưa vị Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ là George Washington từng lập nghiệp, nơi này ông đã thành lập một công ty để đào một con kinh đào và dùng thuyền vận chuyển hàng hoá đi từ Bắc xuống Nam và từ Nam ra Bắc. Ở tại thác nước này người ta đóng những cột trụ trên đó có ghi dấu mực nước những vụ lũ lụt trong quá khứ ở nhiều thời kỳ, chúng tôi đọc trên đó có 8 lần người ta ghi lại, lần xưa nhất là từ năm 1907 năm 1936 v.v... Thì có những mực nước lên rất cao tới ngọn cây nhưng nơi những cây cột cắm chúng tôi đến quan sát nằm trên một triền đồi, sau đó chúng tôi vào trong Visitor Center để xem lại những hình ảnh đó thì bình thường chúng ta thấy đó là một tháp nước của giòng sông Potomac nhưng khi lụt thì nó giống như một biển nước mênh mông như mùa nước nổi ở miền Tây Việt Nam vậy. 

Thật ra khó để chúng ta có thể tưởng tượng một thành phố như thành phố Houston ở tiểu bang Texas hay thành phố Memphis ở tiểu bang Tennessee thường thì mình có thể đem cả bao nhiêu nước đổ tạt ra ngoài dù một xe nước lớn đi nữa thì nước nhanh chóng ngầm vào lòng đất tan biến đi, nhưng có những trận mưa lớn ở Mỹ khi mưa xuống nước dâng lên không phải ngập đến nền nhà mà ngập đến nóc nhà, thì chúng ta tưởng tượng là bao nhiêu nước trên bầu trời tuông xuống làm cả thành phố mênh mông như vậy bị nước dâng ngập lên tới mái nhà. Ví dụ như lũ lụt ở miền Trung chẳng hạn là nước ở trên núi do phá rừng nước tràn về thì mình không nói, nhưng ở đây những bình nguyên mênh mông như Memphis ở tiểu bang Tennessee  hay ở vùng bắc của Texas bình nguyên mênh mông vậy mà nước tự nhiên dâng lên cao tới nóc nhà thì cơn mưa có chừng bao nhiêu nước mà nó khiến cho một bình nguyên bị nước dâng ngập như vậy. Thì ở trong kinh nói hiện tượng có những loại Atula Vương thâu nước từ mặt biển, chúng ta nói là tạo một hiện tượng bốc hơi rất lớn và hiện tượng bốc hơi đó đã biến thành đám mây khổng lồ và với lượng nước khổng lồ tuông xuống và tạo nên tình trạng lũ lụt.

4. Nguyên nhân thứ tư. Trong kinh có đề cập đến những Chư Thiên có tránh nhiệm vận hành các hệ thống thời tiết,  chúng ta gọi là thần mưa chẳng hạn. Ngày hôm nay trong hệ thống thời tiết thì chúng ta thấy ở trên trái đất này có những nơi mưa nhiều và có những nơi không có mưa, có những nơi hoàn toàn không có mưa hoặc mưa rất ít như sa mạc Sahara chẳng hạn. 

Tuy nhiên những nơi mưa nhiều và mưa thuận gió hoà đặc biệt là hệ thống monsoon của vùng Nam Á, nếu qúi vị nào nghiên cứu về monsoon thì qúi vị hỏi rằng tại sao cái hệ thống khí hậu đó chỉ có ở vùng Nam Á và Đông Nam Á mà nó không có ở những nơi khác thì thật sự chúng ta hoàn toàn không có câu trả lời là tại sao hiện tượng monsoon không xảy ra ở vùng Nam Mỹ hay Nam Phi, Phi Châu mà nó xảy ra ở vùng Nam Á và Đông Nam Á thì nó vẫn còn là một bí ẩn, nhưng theo trong kinh và những gì chúng ta được biết là có một số các vị Chư Thiên được ủy thác làm công việc vận hành hiện tượng thời tiết đó và những vị này có sự biếng nhác trễ nãi trong vai trò của mình do đó khiến cho thời tiết khó dự báo.

5. Nguyên nhân thứ năm. Điều sau cùng Đức Phật Ngài dạy ở tại đây là  nghiệp lực của chúng sanh. Nghiệp lực ở trong đời rất khó để tiên đoán. Có những thời kỳ chúng sanh rất hiền lương, chúng sanh đặt nặng về đời sống nội tâm đặt nặng về đạo đức. Nhưng có những thời kỳ chúng sanh rất là ác, cái ác đó tạo thành một hiện tượng. Chúng tôi ví dụ như thời xưa chuyện con cái chửi cha mắng mẹ là chuyện chúng ta ít nghe nhưng thời bây giờ chuyện con cái không những chửi cha mắng mẹ mà còn giết cha giết mẹ với những lý do rất tầm thường rất bịnh hoạn, chuyện đó xảy ra rất là nhiều. Hay có thời nào đó ăn những gì cần thiết để mà sống thôi nhưng thời bây giờ cách ăn rất là ác, họ ăn làm sao cho tươi cho sống, cái ăn đó rất là ác. Cái ác tâm cái nghiệp của chúng sanh khó lường. Và nghiệp lực chi phối thế giới này, và nó tạo nên những hiện tượng về thời khí về khí hậu bất hoà, và nó chiêu cảm nghiệp lực của chúng sanh trong cuộc đời này. 

Về điểm đó tương tự như từ rất lâu có nhiều người không tin rằng chúng ta có thể làm ô nhiễm bầu trời, bầu trời có cái gì và ai có thể làm ô nhiễm, không ai có thể nghĩ rằng chúng ta có thể làm ô nhiễm đại dương biển cả, biển lớn mênh mông người ta thảy xuống đó bao nhiêu rác bao nhiêu chất thải cũng không làm dơ được biển, cá ở trong biển rất nhiều ai có thể đánh cho hết cá được, thậm chí ngày xưa có một câu nói "Đố ai quét sạch lá rừng để ta khuyên gió gió đừng rung cây" lá rừng mình nghĩ không bao giờ có thể quét sạch hết nhưng ngày nay với tốc độ tàn phá rừng thì không chỉ lá rừng mà cây rừng tất cả đều bị tàn phá thì sự tàn phá của con người đối với thiên nhiên đối với cuộc sống và ngay cả sự an bình của xã hội ngay cả những giá trị về tinh thần cũng bị lung lay tận gốc như vậy. Chúng ta sống trong thời đại mà sự làm giàu trở thành một tiêu trí tối thượng của con người. Chúng ta đang sống trong thời đại mà sự tiêu thụ càng nhiều càng tốt, trong xã hội loài người đã phá tan tất cả những bức tường bảo vệ môi sinh, bảo vệ những giá trị. Chúng ta đang sống trong thời đại mà những gì loài người tạo thành cái nghiệp lực. Và Đức Phật Ngài đề cập đến mưa là bởi vì nghiệp lực của chúng sanh trong đời.

Rất là khó để chúng ta có thể mường tượng chúng ta có thể ảnh hưởng đến thời tiết ảnh hưởng đến cái chung như vậy, nhưng kỳ thực thì giống như chúng ta nói như vầy; Thí dụ như nước Pháp đang có cuộc bầu cử và cuộc bầu cử nước Pháp là một cuộc đối đầu giữa hai phe cực hữu và cực tả, hai phe này một bên là chủ nghĩa quốc gia làm sao đóng cửa biên giới nước Pháp lại để đưa nước Pháp trở về một quốc gia nằm trong vòng biên giới để bảo vệ biên giới của mình, một phe khác của phe trung hòa mà bên phe tả thì người ta muốn nước Pháp là thành viên của khối Liên Âu và cùng với nước Đức dẫn đầu khối Liên Âu. Cuộc bầu cử của Pháp sẽ ảnh hưởng đến Liên Âu và nước Pháp nếu bầu cho bà Le Pen thì nó sẽ dẫn đến sự sụp đổ của Liên Âu và nó sẽ làm một sự xáo trộn toàn cầu, cái dư trấn nó không phải chỉ ở tại Âu Châu mà lan sang Hoa Kỳ và chỉ riêng về những thăm dò sơ bộ của bầu cử Pháp nó đã ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán tại Tokyo, Thượng Hải, Hồng Kông cũng như ở Hoa Kỳ, Anh Quốc. Thì chúng ta thấy rằng đôi khi một số người nghĩ rằng cuộc bầu cử ở nước Pháp là chuyện của nước Pháp nhưng cái ảnh hưởng giây truyền thì ảnh hưởng rất nhiều nơi. 

Tương tự như vậy, chúng ta thấy chúng sanh ở trong đời này thí dụ như ở  thời nào đó cha mẹ không còn dạy được con cái, con cái lớn lên trở thành những người hung ác thiếu đạo đức thiếu căn bản của niềm tin, và do sự hung ác của con cái lớn lên nó làm cho cả thế hệ kế tiếp là thế hệ thiếu đạo đức thiếu giá trị về tinh thần, và nó tạo lên một trào lưu xã hội những con người chỉ biết sống theo máy móc sống theo đồng tiền và ác nghiệp sẽ tạo nhiều hơn. Do ác nghiệp tạo càng ngày càng nhiều hơn thì chất thiện càng sụt giảm và điều đó ảnh hưởng đến tất cả mọi người . Vì vậy nghiệp lực cũng ảnh hưởng rất lớn đối với sự tồn tại đối với thế giới dù là thế giới của đại tự nhiên hay là thế giới nội tại của chúng ta. 

Khi nói đến thế giới đại tự nhiên thì ở đây Đức Phật Ngài chỉ đơn cử một hiện tượng đó là mưa và chỉ riêng mưa thôi thì nó ảnh hưởng cả cuộc sống kinh tế của những vùng mưa, khi mưa không thuận gió không hòa kinh tế có vấn đề , nó ảnh hưởng toàn bộ đến cuộc sống. Do vậy ở đây chúng ta có thể nói rằng trong sự tương tác giữa yếu tố này và yếu tố kia của xã hội thì nghiệp lực là một ở trong những mấu chốt quan trọng.

Trong bài học hôm nay Đức Thế Tôn Ngài dạy có 5 nguyên nhân khiến cho những người dự báo thời tiết không tiên đoán chính xác về mưa: đó là sự đột biến của nhiệt độ, sự đột biến của áp suất, sự xáo trộn do Atula Vương Rahu tạo ra, sự xáo trộn do các vị Chư Thiên có trách nhiệm lười biếng hoặc không làm đúng bổn phận của mình, và sau cùng là do trào lưu trong nghiệp lực của chúng sanh tạo nghiệp ác nhiều hơn nghiệp thiện.

Năm nguyên nhân khiến cho những người dự báo thời tiết không chính xác đã trình bày rồi, bây giờ chúng tôi nói đến một số điều được ghi nhận trong kinh điển cũng như trong lịch sử văn hóa của đạo Phật liên quan đến mưa.

Trước nhất, qúi vị nào thường đi chùa và thỉnh thoảng quan sát những pho tượng Phật qúi vị có thể đã bắt gặp một hình ảnh Đức Phật ngồi và một con rồng 9 đầu che chung quanh Đức Phật, đó là một tác phẩm nghệ thuật minh họa ghi nhận sau khi Đức Thế Tôn thành đạo qua 7 tuần lễ ở chung quanh cội Bồ Đề và trong tuần lễ thứ 6 Đức Thế Tôn Ngài đến hồ Mucalinda ở tại đấy Đức Thế Tôn Ngài đã ngồi bên bờ hồ và nhập thiền trong 7 ngày lúc bấy giờ có một con mãng xà vương là một loại rắn rất lớn đến quấn chung quanh thân Đức Thế Tôn và dùng cái đầu che phía trên để mưa không làm ướt Ngài.

 Các nghệ nhân tạc mãng xà Mucalinda có 9 đầu là theo thần thoại của Ấn Độ, chúng tôi đọc ở trong kinh thì không có đoạn nào ghi con mãng xà Mucalinda có 9 đầu, nhưng chúng ta biết được có vài loại rắn hổ mang hay cạp nông nó có thể khi xèo cái bàn nạo lớn ra thì có thể che được, chúng ta tạm nghĩ như vậy, còn con rắn 9 đầu chúng tôi nghĩ chỉ có trong thần thoại hơn là thực tế. Đó là câu chuyện đầu tiên chúng tôi nhắc đến Đức Phật trong một lần trời mưa ở bên bờ hồ Muchanlida thành một đề tài cho nhiều tác phẩm điêu khắc nghệ thuật họa trong giòng lịch sử của đạo Phật.

Chúng ta kể đến 4 điểm khác liên quan đến mưa, ở trong đó có câu chuyện được ghi trong Tương Ưng Bộ Kinh. Một lần Đức Thế Tôn Ngài đi gần bờ sông Hằng thì có một vị Balamon  tương đối có tiền xây xong một ngôi nhà kiên cố chắc chắn, và vị này khi xây xong ông rất thích thú đi chung quanh nhà nhìn thấy trời âm u vị này có cảm hứng nói rằng 

- "Nhà lớn đã xây xong, kèo cột đều vững chắc, mái ngói khéo lợp, thần mưa, mưa đi mưa đi",  

Vị Balamon này cảm thấy thích thú với công trình của mình và cảm thấy mỗi thứ đều chắc chắn nên nói một câu như tự hào về ngôi nhà của mình

-  "Thần mưa, hãy mưa đi mưa đi". 

Đức Phật đi ngang qua nhìn thấy cảnh tượng đó và Ngài biết tâm trạng của vị Balamon Ngài nói với Tôn Giả Ananda rằng vị Balamon đó rất là vui rất là tự hào rất hãnh diện với ngôi nhà kiên cố của mình nhưng vị đó không biết được rằng vị đó sẽ chết trong vòng 7 ngày và khi cái chết đến thì cái nhà xây dựng vững chắc cũng vô nghĩa. Do đó Đức Phật Ngài dạy một câu kệ Pháp Cú là  người mà không có trí thì ngồi đó để mơ màng là mùa mưa này mình sống ở đây, mùa mưa tới mình làm gì làm gì, mình nghĩ  tương lai nhưng  mình không thấy được cái chết nó sẽ có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nó đang chờ đợi mình, mình ỷ lại và mình làm một chương trình dài cho mai hậu vì mình không thấy cái chết.

Thi sĩ Tâm Cao đã thi hoá câu Pháp Cú đó là: 

"Một mùa thu này ta ở đây.
Rồi sang đông chí đến ngày hè sang
Người ngu cứ thế mơ màng,
Không hay nguy hiểm mãi đang đợi chờ."

Những mùa mưa luôn là những cái cách để ghi nhận một năm qua năm đến người Việt Nam của chúng ta thì có đôi khi đếm sự đi qua bằng những mùa thu, những mùa thu tới, một mùa thu là chỉ cho một năm đã qua, có người tính vào mùa xuân, có người tính vào mùa hè, nhưng mùa mưa trở thành một cái mốc thời gian hàng năm đối với nhiều người Ấn Độ, do đó :"Mùa thu này ta ở đây, rồi sang đông chí đến ngày hè sang, người ngu cứ thế mơ màng, không hay nguy hiểm mãi đang đợi chờ.

Có những câu chuyện khác nói về mưa, hình ảnh về mưa Đức Thế Tôn đã dạy trong một ý nghĩa hoàn toàn khác, đó là dùng hình ảnh của mái nhà, Ngài dạy rằng; bản thân của chúng ta được sống an lạc tốt lành là nhờ có sự che chắn, sự che chắn đó chịu sự chi phối của ngoại giới, nếu chúng ta khéo sống thì chúng ta khéo làm được một mái nhà mà mái nhà đó chúng ta có thể an ổn, nhưng nếu chúng ta không khéo thì mái nhà đó có thể bị mưa thấm dột và khi mưa thấm dột rồi thì dần dà nó bị hư. Ở tại Mỹ người ta có nói về hiện tượng nhà rất là tốt nhưng khi mái nhà bị dột tức là trời mưa xuống bị dột mình phải chữa liền nếu lâu ngày không chữa thì chính chỗ dột đó sẽ tàn phá mái nhà và chúng ta phải trả tiền rất đắc để sửa chữa căn nhà. Thì Đức Phật Ngài dùng 2 hình ảnh một mái nhà khéo lợp và một mái nhà vụng lợp, như mái nhà vụng lợp thì nước thấm vào, cũng vậy, tâm không tu thì bị tham ái chiếm ngữ, như mái nhà khéo lợp mưa không thể thấm vào, cũng vậy tâm khéo tu tham ái không chi phối.

Ngài Ajhan Cha Ngài viết trong một bài pháp tựa đề là "Ngôi nhà của chúng ta". Ngôi nhà của chúng ta tức là một tổ ấm một nơi an bình ở tại đó chúng ta sống được ổn định vững vàng. Ngài dạy một người tu tập là biết phòng hộ và biết rào chắn bởi thiện pháp làm thế nào mình không bị chi phối bởi ngoại cảnh ở bên ngoài. Chúng ta rất dễ bị chi phối thí dụ như người ta ra đường mặc áo không kín đáo thì có thể bị mưa bị gió làm cho bị cảm mạo, trời nắng trời mưa không che dù thì chúng ta bị cảm mưa cảm nắng, ở trong một ngôi nhà mái che không được kín thì chúng ta dễ bị chi phối. 

Thậm chí đôi khi Đức Phật Ngài dùng hình ảnh của một vết thương không khéo băng bó thì bụi bặm dễ bám vào và dễ sinh nhiễm trùng làm mủ và nó sẽ làm chúng ta đau đớn. Thì tương tự như vậy, cuộc sống chúng ta là một nội tâm nếu chúng ta không khéo phòng hộ thì dễ bị chi phối và khi bị chi phối thì sanh ra xáo trộn điên đảo, điên đảo vì tham, điển đảo vì sân, thành ra Đức Phật Ngài đưa ra hai mái nhà khéo lợp và mái nhà vụng lợp. Dĩ nhiên khi nói mái nhà khéo lợp mái nhà vụng lợp thì nói về mưa tốt hơn nói về nắng, trời nắng chúng ta khó biết mái nhà vụng lợp hay khéo lợp nhưng khi trời mưa xuống nước chảy vào những nơi có thể chảy được và nếu mái nhà khéo lợp thì nước không chảy vào trong nhà chúng ta được, nếu vụng lợp thì mưa có thể thấm vào và do vậy Đức Phật Ngài dùng hình ảnh mái nhà vụng lợp và mái nhà khéo lợp để chỉ cho một người vụng tu hay khéo tu và người đó có khả năng để chận ngay sự chi phối từ bên ngoài hay không bị chi phối từ bên ngoài.

Nói về mưa, ở trong kinh cũng có đề cập đến một hình ảnh khác về pháp và  dùng chữ "Pháp vũ" nghĩa là một "cơn mưa của pháp". Và hình ảnh của pháp vũ hay là cơn mưa pháp được tìm thấy trong kinh Ratana Sutta - kinh Châu Báu, trong lúc đất đai khô cằn cây cỏ héo mòn, chờ nước một cơn mưa xuống, cơn mưa đó làm cho ngàn cây đâm chồi, vạn vật hồi sinh cây cỏ tươi tốt, thì pháp của Phật  được mang tải vào trong đời đôi khi được ví dụ như cơn mưa đầu hạ và đám mưa đó không phân biệt là chỗ này chỗ kia, chỗ cao chỗ thấp, chỗ đẹp chỗ xấu, mưa gội nhuần tất cả và pháp vũ là hình ảnh của chánh pháp được tuyên lưu giữa cuộc đời này và hình ảnh của những cơn mưa pháp như câu chuyện Càn thát Bà Pancasikha đã từng nói tình yêu của một cô tiên nữ đối với Càn Thát Bà Pancasikha như thức ăn đối với kẻ đói, như cơn mưa rào đối với một nơi đang chịu nắng hạn, và như chánh pháp đối với những chúng sanh hữu duyên. 

Thì ở đây, như người khát được uống nước, như trong cơn nóng có những cơn mưa quả thật là một hình ảnh của cái gì biết thời, một sự đáp ứng, một cái gì khiến cho người ta cảm thấy hạnh phúc sung sướng. Chúng tôi có những năm sống ở miền nam California đó là một nơi tương đối khô và năm 2016 là đánh dấu lần đầu tiên California trong 8 năm dài có những cơn mưa lớn chấm dứt một cuộc hạn hán lớn. Miền nam California vào mùa hè chúng ta thấy rằng những đồi cỏ vàng vì không đủ nước và đa số núi non ở miền nam California là núi trọc tại vì không có nước để cây cỏ lớn lên. Nhưng một hình ảnh rất dễ sợ là khi trời mùa hè nắng làm cỏ khô dể cháy và lửa đi rất nhanh, lửa tạo ra gió và càng có nhiều lửa thì nhiều gió mà nhiều gió thì nhiều lửa và thỉnh thoảng có những trường hợp những cơn hỏa hoạn lan nhanh và gặp trời mưa bất thình lình xuống thì chúng ta cảm tưởng như đó là một sự cứu nguy ai cũng mừng khi mưa tuông xuống dập lửa cháy.

Trong tâm tư của chúng ta cũng vậy Đức Phật Ngài dùng chữ Kilesa chỉ tâm của chúng ta bị tham sân si  ở trong đó có hàm chứa sự nung nấu nhiệt não, nhiệt não cái gì nung nấu đốt cháy chúng ta, con người mà quá ham muốn cái gì, con người mà quá bực bội chuyện gì, hay là con người quá giao động si mê thì giống như trong tâm bị lửa đốt cháy. Lửa đốt cháy như vậy một cơn mưa xuống và đặc biệt là cơn mưa pháp làm cho tâm của chúng ta được an lành. Điều đó cũng được nói lên rất nhiều lần qua những đoạn kinh ví dụ như Kisagotami đang buồn khổ đang bị nhiệt não bởi vì đứa con duy nhất bị chết khi hiểu được pháp của Phật thì tự nhiên nhiệt não tan biến đi giống như một cơn mưa xuống.

 Và không phải một lần mà rất nhiều lần pháp thoại của Đức Thế Tôn đã là những cơn mưa rào đó là những cơn pháp vũ và cơn mưa pháp đó đã gội nhuần cho nhiều tâm hồn và đã khiến cho những con người hưởng được cái mát mẻ của chánh pháp. 

Thật ra về một phương diện nào đó thì đạo Phật dạy chúng ta lên lưu ý những giá trị của chánh pháp như trong Vi Diệu Pháp có đề cập đến thuộc tánh tịnh hảo là "tịnh khinh nhu thích thuần chánh" những trạng thái nhẹ nhàng thích nghi luân lưu luôn luôn tốt cho tâm những trạng thái nóng bức nhiệt não, những trạng thái khiến cho chúng ta sôi sục thì không lợi gì cho cuộc sống và khi chúng ta nói đến cái gì mát mẻ cái gì bình lặng cái gì thanh tịnh thì đó là mưa.

 Tại Thái Lan có một phong tục mà đối với chúng ta thì không đẹp lắm nhưng kể ra cũng vui đó là vào mùa tết của họ gọi là Songkran là ngày đầu năm của họ có tục lệ tạt nước vào nhau. Như qúi vị ở Bắc Mỹ mình đang đi mà người ta tạt nước vào mình thì khó chịu nhưng chúng ta cũng biết là mùa tết Thái Lan vào tháng Tư thì mùa nóng bắt đầu và cái oi bức nóng của mùa nóng thì nếu có ai tạt nước sạch thì cũng làm cho chúng ta mát mẻ thì điều đó cũng vui, nó phát xuất từ một thời kỳ trường hợp nào đó người ta cảm thấy dùng nước sạch tạt vào nhau giữa trời nóng làm cho con người thoải mái và nó tạo ra không khí vui tươi thì thật sự nó cũng là điều thú vị. Nhưng ở đây chúng ta nói đến cái mát của nước, cái mát của mưa và còn nhiều giai thoại nhiều câu chuyện liên quan đến mùa mưa, thí dụ trong luật tạng Đức Phật Ngài ban hành giới luật cho chư tăng có rất nhiều giới luận liên hệ đến mùa mưa và Đức Thế Tôn những nơi Ngài an cư thường Ngài đã sống trong những mùa mưa, chúng ta nói đến chùa Trúc Lâm, chùa Kỳ Viên chúng ta nói đến nhiều địa danh khác Đức Thế Tôn và Chư Tăng đã an cư qua mùa mưa. 

Mưa là đề tài lớn và đó là những điều chúng ta nói đến trong bài học hôm nay./.

Thursday, September 14, 2017

Người sống để mà ăn - TT Giác Đẳng

Chương Năm Pháp
(XIV. Phẩm Vua

(139) Người sống để mà ăn

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 14-3-2017, Minh Hạnh chuyển biên


TT Giác Đẳng: Hôm nay chúng ta học 2 bài kinh 138 và 139, tất cả những ý nghĩa của bài kinh 139 đã bao gồm luôn ý nghĩa của bài kinh 138.

Ý nghĩa ở tại đây, giống như con voi của vua nhưng thiếu đặc tính được huấn luyện đầy đủ và nó chỉ mang tiếng hữu danh vô thực. Tức là voi của vua nhưng chỉ biết ăn và đại tiện chứ thực ra nó không xứng đáng. Giống như một vị Tỳ Kheo nếu trong đời sống tu tập có chiếc y, có danh xưng Tỳ Kheo nhưng không có kham nhẫn, thì đối với một vị Tỳ Kheo như vậy dù không phải là tội lớn để phải bị trục xuất nhưng căn bản mà nói thì vị đó chỉ được danh gọi là Tỳ Kheo hữu danh vô thực chứ không có ý nghĩa lợi lạc gì. 

Điều Đức Phật muốn nói ở tại đây; một người tu tập thật sự phải thấy sự kham nhẫn quan trọng trong đời sống tu tập của chúng ta. 

Sự kham nhẫn đó được hiểu thế nào? 

Trong một cách nói nào đó của kinh điển, đặc biệt A-Tỳ-Đàm và Thiền Quán thì A-Tỳ-Đàm và Thiền Quán gặp nhau ở điểm là đôi khi không cần phải nói về văn học, về lịch sử, về triết lý xa vời mà nói ở đây là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đây là sắc, thinh, khí, vị, xúc, pháp. Tức là 6 giác quan của chúng ta. Đặc biệt đối với ngoại cảnh thì có 5 giác quan là thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và 5 cảnh cái gì mình thấy, cái gì nghe, cái gì mình ngửi, cái gì mình nếm, cái gì mình xúc chạm. Khi nói bố thí A-Tỳ-Đàm nói bố thí sắc, thinh, khí, vị, xúc. 

Khi nói về cuộc sống sự hoạt dụng của các giác quan và ở đây nói sự kham nhẫn thì đặc biệt cũng nói về sự kham nhẫn đối với 5 cảnh ở bên ngoài. Điều thú vị ở tại đây thường mình nói kham nhẫn chỉ nói đến nghịch cảnh tức là cái gì trái ý nghịch lòng, nhưng ở đây, Đức Phật Ngài dùng chữ kham nhẫn là đối với những điều gì lôi cuốn, những gì quyến rủ, cái gì hấp dẫn mà mình giữ vững lòng không bị lôi cuốn thì như vậy gọi là có sự kham nhẫn. Và chúng ta sẽ thấy đôi khi đối với sự khổ mình dễ chịu đựng hơn là cái gì hấp dẫn lôi cuốn mình, về điểm đó đòi hỏi hành giả phải có sự kiên tâm chịu đựng.

Ý nghĩa tổng quát con voi của nhà vua phải là con voi được tinh luyện thuần hóa và phải được huấn luyện để có khả năng thích nghi khả năng chịu đựng. Nếu con voi không có khả năng thích nghi khả năng chịu đựng thì khó có thể ra trận được và nó khó có thể đáp ứng được sự kỳ vọng của nhà vua ,nó không xứng đáng là con voi của nhà vua mặc dầu có thể ban đầu thấy dáng nó đẹp thấy dáng nó khỏe người ta đem về nhưng vì sự huấn luyện không thành công thế nào đó thì con voi đó chỉ còn có cái tên là voi của nhà vua đó gọi là hữu danh vô thực. Để thực sự con voi tinh luyện thì nó phải có khả năng kham nhẫn. 

Trong cuộc sống của người tu tập có thể là một người tu tập mặc chiếc y, có thể là một người tu tập có danh xưng Hoà Thượng, Thượng Toạ, vị Pháp Sư, vị Trụ Trì có danh nghĩa này có danh nghĩa khác nhưng điểm chính của một người tu tập không phải là những danh nghĩa hay hình thức đó, người ta nói "chiếc áo không làm nên thầy tu", nhưng ở đây điều quan trọng đó là sự kham nhẫn. Chúng ta nói một cách chừng mực ngay trong đời sống hiện tại của chúng ta đó là sự chịu đựng sự kham nhẫn. 

Kham nhẫn là gì? 

Trường hợp thứ nhất, Sắc

Một hình ảnh rất rõ ràng; một con voi của nhà vua gọi là một chiến tượng là con voi có khả năng để xông trận và khi con voi xông trận có nhiều thứ nó phải đối diện. Lấy ví dụ như khi ra trận nó thấy ở bên kia dàn binh mã hùng hậu, cờ xí rợp trời ,thấy bên kia la hét nó chỉ mới thấy mà đã bủn rủn thì thật sự nó chưa phải là một con voi được huấn luyện đầy đủ. Một con voi được huấn luyện đầy đủ phải là con voi đối diện những sự áp đảo những gì thấy  nó vẫn tỉnh táo đó là điều quan trọng. Con người chúng ta thường hay bị hù dọa bởi ngoại cảnh ở bên ngoài, sự hù dọa ở đây đặc biệt khi nói về một con voi ra trận thì quả thật rất là nguy hiểm, ngày hôm nay chúng ta thường dùng chiến xa những xe bọc thép để đưa quân đội đi và người tài xế chỉ lái xe bọc thép nhưng ngày xưa  khi binh sĩ ra trận thì những kị binh trông cậy vào tượng binh mã tức là ngựa và voi. Theo những nhà quân sự thời xưa thì con ngựa dễ điều khiển hơn con voi, con voi rất mạnh, con voi cho vị tướng ở vị thế rất cao và chúng ta thấy trong lịch sử hình ảnh bà Trưng bà Triệu cưỡi voi hay Phạm Ngũ Lão cưỡi voi qua đánh nước Lào chẳng hạn, nhưng đại khái con voi nếu không khéo huấn luyện khi ra trận thấy bên địch dàn cờ xí la hét đánh trống đánh chiên mà nó bủn rủn không chịu đi tới thì thật sự trở ngại cho đoàn quân, những con voi như vậy không thể là một chiến tượng. Nói một cách khác, không thể để cái gì mình thấy mà khiến cho mình bủn rủn tay chân mất đi nhuệ khí mà phải có đủ sự lì lợm và đặc tánh lì lợm là đủ sự can đảm đủ khả năng bất chấp trước những đe dọa trước những sự áp đảo ít nhất về phương diện kỹ thuật ở bên ngoài gọi là chiến tranh tâm lý, có nhiều người đụng tới chuyện là bắt đầu bủn rủn tay chân rồi thì thật ra những người đó chưa có khả năng như con voi trận.

Trường hợp thứ hai, Thinh

Trường hợp thứ hai, con voi còn bị áp đảo bởi âm thanh. Ngày xưa khi 2 bên đánh sáp trận ngày đó không dùng súng đạn mà dùng gươm giáo và khi tiến lên đánh sáp trận thì những con voi con ngựa rất là quan trọng và những người tướng hay những người chỉ huy hoặc giả một số kỵ binh ngồi trên voi trên ngựa được lợi thế. Người ta dùng cách để áp đảo là dùng những âm thanh như tù và trống chiên làm ồn để áp đảo tinh thần. Cờ phướn hay binh sĩ đông đảo có thể làm cho con voi sợ nhưng âm thanh cũng làm sự áp đảo và sự áp đảo đó có thể làm cho nhục chí mất đi nhuệ khí. Và âm thanh  đó  tác động rất ghê gớm bởi vì thông thường trong đời có nhiều khi mình gặp những người ăn to nói lớn dao to búa lớn để áp đảo gìống như nạt nộ để áp đảo, nếu mình thiếu kinh nghiệm hay non tay thì sự áp đảo làm cho mình sợ, mới thấy họ áp đảo là thấy run sợ rồi thì cái đó là một cái dở là con voi không có khả năng kham nhẫn đối với âm thanh. Kham nhẫn ở đây chỉ cho khả năng vừa có sự chịu đựng được, vừa có khả năng bất chấp, vừa có khả năng không để cho những thứ đó làm cho mình giao động, làm cho mình bị chi phối, làm cho mình bị bào cùn đối với con voi trận. 

Trường hợp thứ ba, Khí.

Con voi gọi là chiến tượng đặc biệt voi của nhà vua thì ở  những nơi tương đối được chăm sóc sạch sẽ nhưng khi nó ở sạch sẽ quá ra trận người ta dùng những mùi xú uế đôi khi có những mùi làm nó chịu không nổi nó bỏ đi. Trong một số câu chuyện kể về  một số những chiến trận ngày xưa người ta đánh nhau đặc biệt khi đánh bằng tượng binh, bên Ấn Độ người ta xử dụng một số những mùi hôi như nước đái qủi (dung dịch amoniacque) hay một số những mùi hôi con voi không chịu nổi khi ngửi thấy mùi đó nó bỏ chạy. Ngay cả trong thế giới loài vật thì có nhiều mùi lại kị với một số con vật nào đó, thì một con voi trận thật sự đúng nghĩa một con chiến tượng con voi trận phải có khả năng kham nhẫn trước những mùi khó ngửi khó .

Trường hợp thứ tư, Vị

 Người ta có thể bỏ độc vào trong cỏ và đem cỏ đó để ở ngoài chiến trận, con chiến tượng khi ra trận đói thấy cỏ nó ăn và như vậy sẽ bị ngộ độc. Những cỏ được bày ra ở ngoài trận chiến không nên là điều thu hút, một con voi trận giỏi sẽ làm ngơ mấy bó cỏ đó nó không màng đến dù đang đói nó phải ra trận phải có kỷ luật và chỉ ăn khi trở về hậu cứ an toàn và người nài cho ăn, nó không vì đói trong khi ra trận mà ăn bừa bãi những cỏ nước để ở mặt trận vì điều đó là chuyện rất nguy hiểm nếu người ta bỏ độc vào voi ăn vào thì chết, thành ra con voi phải biết làm ngơ những thứ đó. 

Trường hợp thứ năm,  xúc 

 Một chuyện rất quan trọng khi chúng ta nói đến xúc chạm, ở đây chúng ta nói đến xúc giác. Một câu kệ trong kinh Pháp Cú: 

Như voi chiến lâm trận
Hứng chịu bao lằn tên
Ta gánh chịu phỉ báng
Giữa đời lắm đảo điên

Voi thuần, đưa dự hội
Ngựa thuần, được vua cưỡi
Bậc tự hoá, tối thượng
Trước phỉ báng, nhẫn nại

 Như con voi chiến ở ngoài mặt trận phải hứng chịu lằn tên mũi đạn, người tu phải có những sự kham nhẫn trước những đòn thù trước sự tấn công của người khác. Ở đây khả năng chịu đựng tương tựa như con voi trận, không phải vì người ta lấy gươm lấy giáo đâm vào chân, đâm vào nách của nó, đâm vào trong vòi của nó mà nó bỏ chạy, nếu bị người ta lấy gươm lấy giáo đâm mà bỏ chạy thì không còn là con voi trận nữa, một con voi trận là phải chấp nhận, một con voi trận mà được huấn luyện đầy đủ cho dù bị đâm đi nữa  vẫn bước tới vẫn hùng dũng đi tới thì gọi là con voi có kham nhẫn.

Nếu con voi không kham nhẫn được những thứ đó thì con voi không xứng đáng được là con voi của vua, con voi xứng đáng của vua là con voi có kham nhẫn được với những gì nó thấy, những gì nó nghe, những gì nó ngửi, những gì liên quan đến nếm hay ăn uống, những gì xúc chạm nó phải có khả năng kham nhẫn. 

Đời sống tu tập của vị Tỳ Kheo, đúng nghĩa vị Tỳ Kheo là phải làm một chiến sĩ ra trận một chiến sĩ được trang bị đầy đủ cụ túc giới, một chiến sĩ  phải chấp nhận để vượt qua những thử thách để làm cái gì cần phải làm mà không để những cái này cái khác chi phối nửa chừng. 

Ở đây bài học này rất lợi lạc cho chúng ta một điều rằng Đức Phật Ngài không nêu lên những cái gì mình thấy, cái gì mình nghe, cái gì mình cái gì mình nếm, cái gì mình xúc chạm mà nó làm trái ý nghịch lòng. Thật ra đau khổ ít có làm cho chúng ta bị lạc lòng bị lạc hướng bị phân tâm như những gì cám dỗ những gì quyến rũ, nhất là cuộc sống ngày hôm nay thì Đức Phật Ngài đặc biệt Ngài dùng chữ kham nhẫn, chúng ta nhớ như vầy là đừng bao giờ nghĩ rằng chữ kham nhẫn nó chỉ đối với những điều khó chịu trái ý nghịch lòng mà kham nhẫn ở đây kể cả những gì khả ái khả ý khả lạc cái gì mà mình cảm thấy bị lôi cuốn vào cuộc bị cuốn hút. 

Kham Nhẫn Đối Với Sắc

Thì ở đây Đức Phật Ngài dạy mình có thể nhìn thấy cảnh sắc tự nhiên, sắc ở đây là sắc khả ái làm tâm mình không định tỉnh được tâm mình bị tán loạn và không kham nhẫn được với sắc. Phải nhìn nhận  ở trong cuộc đời sắc làm cho con người đôi khi dễ đánh đổ những cái giá trị mà mình đang theo đuổi chỉ đơn thuần là mình không có kham nhẫn với nó được.  "Vũ vô kiềm toả năng lưu khách, sắc bất ba đào dị nịch nhân" con người chúng ta có thể là một người rất thành công, con người chúng ta làm rất nhiều việc nhưng trong lúc nhất thời bị chi phối bởi sắc có thể mình không giữ được tâm mình, có thể làm mình chìm đắm.

Và điều đó Đức Phật Ngài dạy ngay trong phần đầu của bài kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật Ngài dạy:
 "không có sắc nào có sức thu hút đối với người nam hơn là sắc của người nữ, không có sắc nào đối với người nữ thu hút hơn là sắc của người nam" . 

Chúng ta cũng phải nói ngoài cái sắc đối với sự thu hút người khác phái hay đối với tình cảm nam nữ nó còn những thứ mà trong đời sống nó làm cho mình cảm thấy chịu không nổi. Ví dụ như ngày hôm nay có những  bộ quần áo quá đẹp, hay một nơi nào đó quá đẹp, hoặc giả ví dụ như có những người họ thích bỏ tiền ra mua chiếc xe tại vì chiếc xe quá đẹp, có thể nói chúng ta sống trong thế giới các công ty các nhà sản xuất những mặt hàng tiêu thụ họ xử dụng đủ thứ kỷ sảo đánh vào tâm lý chúng ta.

Chúng tôi đọc một bài báo nói về những công ty mở những shopping mail nghiêng cứu như thế nào đó bắt mắt khiến cho những người đi trong mail cảm thấy muốn đi hoài không chán, ngày xưa shopping mail chỉ bày hàng ra bán thôi nhưng bây giờ họ có kỹ thuật khiến người mua bị cuốn hút cứ đi hoài không muốn đi ra thì đó cũng là một trong những đặc biệt. Nhưng phải nói con mắt của chúng ta dẫn chúng ta tới rất nhiều cảnh giới khác nhau trong cuộc đời này, qua đôi mắt chúng ta đón nhận rất nhiều thứ từ thế giới bên ngoài, âm thanh cũng vậy nhưng không bằng mắt, các mùi thơm cũng vậy nhưng mà không bằng mắt, vị cũng không bằng mắt, mắt cho chúng ta một thế giới mênh mông rộng lớn muôn màu muôn sắc từ thô cho đến tế từ cách này hay cách khác, 

Thật ra Đức Phật Ngài dạy người tu tập là phải kham nhẫn với sắc. Ngài Ajahn Jayasaro trong quyển sách có một đoạn nói về Ngài Ajahn Cha khi  còn trẻ Ngài biết trong tâm của Ngài dễ bị ái nhiễm bởi người nữ, có một lần Ngài phát nguyện trong 3 tháng nhập hạ không nhìn người nữ, ánh mắt Ngài luôn luôn nhìn xuống, đi khất thực Ngài nhìn xuống và ai cúng dường gì Ngài chỉ giở bát thôi chứ không để ý người đó là nam hay là nữ, đẹp hay xấu, sau 3 tháng an cư Ngài thấy đã ổn định tâm, Ngài ngẩn đầu lên Ngài nhìn vị thí chủ đến cúng, không may ngày hôm đó vị thí chủ là người phụ nữ rất đẹp thì vừa mở mắt ra nhìn thấy giống như bị điện giựt, và lúc đó Ngài mới nhận ra một điều rằng những phiền não như vậy nó chi phối rất nhiều ở trong tâm tư và cuộc sống của mình. 

Cho nên Đức Phật đặc biệt Ngài dạy mình nên kham nhẫn. Kham nhẫn ở đây một lần nữa không phải là với cái gì mình cảm thấy khó chịu với cái gì cuốn hút đôi khi vì một thói quen nào đó trong cuộc đời trước hay vì một lý do gì đó mình gặp một người có khuôn mặt, có mái tóc, có nét mặt mà họ hoàn toàn có đủ sự chinh phục và làm cho tâm hồn của mình tê tái, Đức Phật dạy mình phải vận dụng rất nhiều kham nhẫn đối với việc đó.

Kham Nhẫn Đối với Thinh

Đối với âm thanh cũng vậy, âm thanh có những thứ làm chết người. Ngày hôm nay chúng ta có một nền âm nhạc chưa bao giờ loài người lại có một nền âm nhạc hấp dẫn quyến rủ như thời bây giờ. Không phải từ giọng hát của những ca sĩ rất tài năng mà còn về kỹ thuật thu âm, hòa âm,  ngày xưa người ta chỉ hát tiếng hát thôi còn bây giờ ở trong một tiếng hát được hòa âm phối khí kết hợp làm một bản nhạc mê hồn người. 

Trong kinh điển ghi rất nhiều trường hợp có những vị tu sĩ ở trong rừng, thì thật sự tu trong rừng là một sự kềm chế đôi khi là sự phấn đấu ở sự phấn đấu đó có những giai đoạn gian nan và khô khan, tự nhiên đang tu tập như vậy nghe một cô sơn nữ đi hái hoa hay đi nhặt củi trong rừng ca một điệu hát làm cho vị tỳ kheo đó không chịu nổi và phải hoàn tục. Thì trường hợp như vậy xảy ra không ít trong kinh có ghi lại như trường hợp cháu của Ngài Cakkhupàla chẳng hạn và nhiều trường hợp khác. Nhưng phải nhận rằng sống trong thời đại ngày hôm nay thế giới của âm nhạc, thế giới của âm thanh không phải chỉ màu sắc không mà âm thanh cũng rất dễ sợ. 

Ngay cả Phật Giáo Bắc Truyền trong kinh Kim Cang cũng có câu "Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai" nghĩa là lấy sắc cầu Phật lấy âm thanh cầu Phật thì là tà đạo chứ không thể thấy Như Lai được. Nhưng mà rồi ngày hôm nay phải nhìn nhận ngay cả trong thế giới tu tập thế giới chùa chiền thì kỷ sảo về thanh âm cũng đạt đến mức độ càng ngày người ta càng có nhiều thu hút đối với những cách tụng đọc. Ngày xưa Đức Phật Ngài dạy Chư Tỳ Kheo không nên tụng kinh kéo dài giọng như ca hát, nhưng bây giờ người ta có khuynh hướng ngược lại là làm sao tụng kinh cho thật hấp dẫn tụng kinh thật hay và từ cái hay đó người ta mới phổ biến trên youtube  rồi mới ra dĩa CD, đâu có ai mà phổ biến giọng tụng kinh không hay. Nhưng ở một phương diện nào đó thì nó giúp cho người ta thích đến với đạo giống như có một cô ca sĩ ở Mã Lai phổ nhạc bài Từ Bi Kinh tiếng Phạn và cô hát lên nghe rất hay nhưng có nhiều người nghe bài đó chỉ nghe âm thanh hay mà không hiểu ý nghĩa đó, điều đó là một điều đáng tiếc. Phật Giáo Nguyên Thủy dạy chúng ta là nên có chừng mực, phải coi chừng đôi lúc chúng ta thấy những âm thanh hay quá nó làm chúng ta quên đạo, hay chúng ta quá bận rộn việc trang trí làm sao có bàn Phật thật đẹp, một Phật cảnh rất tuyệt mỹ, ai cũng nghĩ đến cái đẹp của sắc tướng ở bên ngoài và họ không còn hiểu được âm thanh không biết ý nghĩa đằng sau đó.

Kỳ rồi chúng tôi sang Thái Lan rồi qua Miến Điện đi lên Kanchinambury từ bên này ngó sang bên kia có một ngôi chùa Thái, người Thái hay làm tượng Phật lớn nhưng khuôn mặt không đẹp thì có nhiều Phật tử nói với chúng tôi rằng bỏ công ra để làm tượng Phật mà tượng Phật xấu quá họ không muốn làm. Ở Thái Lan đôi khi gặp nhiều pho tượng tự nhiên chúng tôi lại có ý nghĩ ngược lại, chúng tôi nghĩ đôi lúc những tượng Phật lớn người ta làm không đẹp để nhắc cho chúng ta thấy một điều rằng chúng ta đừng quá chấp vào hình tướng ở bên ngoài, mình lạy Phật nghĩ rằng đó là tượng trưng dầu là Phật đẹp hay Phật xấu hay Phật bằng ngỗ, hay bằng ngọc, hay bằng đất, hay bằng ximăng thì chỉ là biểu tượng thôi, đừng đặt quá nặng vào việc đó, đôi khi chúng ta quá chấp vào sắc tướng âm thanh cũng là một điểm rất nguy hiểm.

 Kham nhẫn với Khí. 

Trong chuyện Kiều có câu "hương gây mùi nhớ", mùi hương cũng có những tác động rất lớn trong việc chi phối nội tâm của chúng ta. Đôi khi nó tạo ra nhiều nhục cảm như là nước hoa hay hoặc giả đôi khi nó nhẹ nhàng giống như mùi hương của trầm hay mùi hương của hoa. Một lần chúng tôi sang thăm Hawaii, những người Phật tử đưa đi thăm một vườn hoa xứ, trong đời chúng tôi chưa bao giờ thấy vườn hoa xứ rộng hơn 35 hecta trồng đủ loại hoa xứ, đi sâu vào trong rừng hoa mùi hoa nhẹ nhàng và thơm. Thì phải nhìn nhận một điều là tùy theo mỗi cá nhân có người tham đắm về sắc, có người tham đắm về âm thanh, có người tham đắm mùi hương, có người tham đắm về ăn uống về vị giác của mình, có nhiều người tham đắm về xúc chạm. Nhưng ở đây Đức Phật Ngài dạy mùi hương cũng có thể là cạm bẫy.  Người ta đã bỏ ra hàng trăm triệu hàng trăm tỷ vào kỹ nghệ nước hoa, mỗi lần chúng tôi lên máy bay thấy những xe họ bán đồ miễn thuế đẩy ngang thì phần lớn là những chai nước hoa và người mua cũng nhiều. Nó cho chúng ta thấy rằng mùi hương cũng đóng vai trò rất lớn. 
Chúng ta có âm nhạc, chúng ta có cảnh thinh, chúng ta có những màu sắc những hình thức đẹp như quần áo thời trang, và chúng ta cũng có mùi hương. 

 kham nhẫn với vị giác.

Điều thứ tư là những gì liên quan đến vị giác hay là cảnh vị. Vị giác là cái biết của lưỡi, và cảnh vị là cái gì được vị giác biết. Chuyện này chúng ta không cần nói nhiều vì thế giới ăn uống bây giờ rất tinh vi, không phải người ta ăn chỉ những thứ ăn mặn đắng chua cay là đủ mà đôi khi ăn thức ăn của Pháp, thức ăn của Tàu, thức ăn của Nhật, thức ăn Thái Lan và họ ăn đủ cách. Những thức uống như trà cafe hay rượu những thức ăn như những món ăn càng ngày càng ngon miệng càng vừa miệng càng tinh vi làm ham ăn mê ngủ, ham ăn nó trở thành một thói tật muôn thuở của loài người. 

Chúng tôi một lần đi đầu đà với một vị Sư người Hòa Lan, Sư tâm sự với chúng tôi một điểm là không biết tại sao Sư là người Hòa Lan lại thích ăn thức ăn Thái Lan, thức ăn Thái Lan dọn cái gì cũng thấy ngon kể cả sầu riêng. Vị đó nói với chúng tôi  vị đó có lời phát nguyện là nếu trong khi ăn không có chánh niệm thì vị đó sẽ tự phạt mình bằng cách là không ăn đồ ngọt, bên Thái Lan sau bữa cơm chính họ dâng thực phẩm như trái cây bánh ngọt. Thì một bữa Sư để nguyên nắp bát thức ăn ngọt người ta cúng dường  để trước mặt, ăn cơm xong vị đó ngó tôi cười và nói: "Sư Jotika bữa nay tôi phải phạt mình không được ăn đồ ngọt tại vì lúc tôi ăn món chính nó ngon quá và bị thất niệm". Nghe vậy chúng tôi rất thương hình ảnh đó là vì ở bên Thái Lan Chư Tăng ăn một ngày đúng một bữa, các chùa buổi sáng điểm tâm sớm và buổi trưa là bữa chính rồi sau bữa chính thì không ăn gì cho tới ngày hôm sau, và khi bình thường mình muốn ăn gì thì ăn thì thật sự thực phẩm đó không ảnh hưởng mình nhiều nhưng mà một ngày ăn một bữa thì chúng tôi phải nói là rất gay go. Qúi Phật tử nào mất khẩu vị tức là mất khả năng ăn thì qúi vị chỉ cần nhịn ăn thôi hay một ngày chỉ ăn một bữa thì khi ăn thấy ngon vì đang đói cơ thể mình thiếu lúc đó ăn rất ngon. Và Phật tử cúng dường thực phẩm bên Thái Lan nhiều thực phẩm ngon nên ăn vào dễ sanh phiền não tham đắm nên phải rất là kham nhẫn. 

Kham Nhẫn Đối Với Xúc

Chúng ta đừng nói chỉ có cảnh sắc hay chỉ có sắc tướng mới làm hấp dẫn, đừng nói chỉ có âm thanh hay những cảnh vị tức là cái mặn ngọt chua cay những thức ăn thức uống trong đời sống nó lôi cuốn thu hút chúng ta rất nhiều và Đức Phật Ngài cũng dạy về thân cảm xúc đôi khi nó dễ chịu nó làm cho mình dính mắc thì ở đó nó cũng làm cho mình bị lạc hướng.

Kết luận

Ở đây Đức Phật Ngài dùng hình ảnh của con voi và hình ảnh của vị Tỳ Kheo. Ngài dạy con voi kham nhẫn được gọi là con voi trận một chiến tượng khi nó ra trận nó không bị hình ảnh bên địch đông đảo cờ phướng dương cao làm cho nó bủn rủn nản chí, hay kham nhẫn với âm thanh la hét, tiếng trống trận, tiếng thổi tù và, phèn la chập chõa mà làm nó rủn chí hay  người ta dùng những mùi xú uế mà làm cho nó khó chịu nó nản chí, hay bó cỏ nước uống để cho bị mắc bẫy nó tham đắm hoặc giả gươm giáo đâm vào thân nó kham nhẫn được. Thì hình ảnh đa phần là những gì có tánh cách  đe dọa trái ý nghịch lòng nhưng riêng về vị tỳ kheo thì Đức Phật Ngài dạy  mang tánh ngược lại là kham nhẫn đối với sắc, thinh, khí, vị, xúc là sự kham nhẫn đối với những gì gọi là khả ái mắt thấy, cái gì khả ái khả ý tai nghe, cái gì khả ái khả ý mũi ngửi, khả ái khả ý của lưỡi nếm, khả ái khả ý của thân cảm xúc. 

Giá trị của đời sống tu hành, bản lãnh của đời sống tu, và thực chất của đời sống tu sĩ nằm ở sự kham nhẫn đối với sắc, thinh, khí, vị, xúc. Nếu chúng ta hiểu được chừng đó thì chúng ta hiểu được yếu lý của thiền định. Ví dụ, cả ngày nhịn không ăn tới bữa ăn mình ăn thấy ngon và cảm thấy tham đắm thì ở trong trường thiền dạy là mình nên ăn chậm lại và ăn có quán tưởng. 

Quán tưởng mình thọ thực không phải là vì đam mê, mình thọ thực không phải để vui đùa, mình thọ thực không phải để làm đẹp, không phải để tráng kiện mà thọ thực để duy trì thọ mạng, để ngăn ngừa bệnh tật, ngăn ngừa cảm thọ chưa sanh, không làm cho cảm thọ khổ chưa sanh lại phát sanh, và sống đời phạm hạnh không có lỗi lầm thì đó là pháp quán tưởng. Không phải dễ dàng phải kham nhẫn với nó. 

Chúng tôi nhắc lại về khái niệm kham nhẫn, chúng ta thường nghĩ đến cái gì nó khó chịu mình phải kham nhẫn, nhưng thật ra sự kham nhẫn ở đây chúng ta  kể cả những cái gì  quyến rủ cuốn hút mình điều đó coi vậy mà dễ sợ hơn. 

Hồi hồi nhỏ chúng tôi nghe ông ngoại kể chuyện xưa là có ông thần gió, ông thần mưa, ông thần sấm, ông thần chớp, còn gọi là lôi phong điển vũ tập hợp lại với nhau nói chuyện phiếm, mấy ông làm cuộc thách thức: Bấy giờ ở trên cây có con khỉ đang đu trên cây làm sao cho nó rớt xuống đất. Thì ông thần sấm thần chớp nói chuyện đó dễ quá, ông làm sấm sét ầm ĩ, nhưng càng sợ thì con khỉ bám càng chặt, đến ông thần gió thổi gió ào ào thì con khỉ lại bám càng chặt hơn không rớt xuống. Tới ông thần mưa là ông thần sau cùng, ông nghĩ ra một cách là với con khỉ mà mình làm tới tấp thì nó càng sợ càng bám chặt nó sẽ không rớt xuống, ông mới nghĩ tới việc làm cho mưa chầm chậm chầm chậm, con khỉ lúc bấy giờ coi thường trời mưa nhưng mưa xuống thì khí hậu lạnh làm nó co ro và ngay lúc nó co ro ông thần mưa làm cơn giông nhẹ thế là nó rớt xuống. Đối với đời sống con người đôi khi trời xập, đôi khi bão tố phong ba, đôi khi người ta làm khổ mình, người ta nghi kị, mình người ta bôi nhọ mình, những chuyện đó không đáng sợ mà cái đáng sợ là cái êm ái ru ngủ, có những cái êm ái ru ngủ rất nhẹ nhàng và mình khinh địch làm cho mình chểnh mãng làm cho mình lạc hướng và lúc đó chỉ cần thổi cái nhẹ là mình rớt xuống, thành ra mình phải rất cẩn thận về việc đó.

 Tựa đề bài kinh hôm nay "Người sống để mà ăn" nghĩa là con voi mang tiếng là con voi của vua nhưng nó chỉ biết ăn và biết đại tiện gọi là hữu danh vô thực không có đáng gì là con voi của nhà vua. Một vị tỳ kheo không có kham nhẫn với sắc, thinh, khí, vị, xúc thì vị đó chưa gọi là người có tu, người có tu là biết kham nhẫn với sắc, thinh, khí, vị, xúc. Một người không có kham nhẫn thì không xứng đáng với 5 chữ:

1. Āhuneyyo  là xứng đáng để thọ nhận tặng phẩm.
2. Pāhuneyyo là xứng đáng nhận thịnh tình hay là thương mến.
 3. Dakkhineyyo là xứng đáng để cúng dường. 
4. Añjalikaraneyyo là xứng đáng để chấp tay kính lễ.
 5. Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa là phước điền vô thượng.

Cho đến khi nào vị tỳ kheo thật sự có kham nhẫn đối với sắc, thinh, khí, vị, xúc thì vị đó gọi là có tu là vị xứng đáng 5 chữ đó.

 Bài kinh này cũng như nhiều bài kinh khác Đức Phật Ngài lưu ý chúng ta về sự tu tập qua đó Đức Phật Ngài luôn luôn nhắc chúng ta một điểm là chúng ta phải tôi luyện phải được thuần hóa do sự tôi luyện chúng ta mới có bản lãnh. Con người sanh ra đời làm chuyện gì cũng phải có bản lãnh, có khả năng, và khả năng đó không phải trên trời rớt xuống mà khả năng đó là do mình tu tập, một ở trong khả năng đó rất quan trọng cho một người tu tập đó là kham nhẫn. Và kham nhẫn ở tại đây không phải là kham nhẫn đối với nghịch cảnh mà kham nhẫn đối với điều làm cho mình trệch hướng, làm cho mình đánh mất đi mục tiêu đang theo đuổi và cái làm cho mình đánh mất mục tiêu nhiều đó là sắc, thinh, khí, vị, xúc, khả hỉ, khả ái, khả ý ./.