Monday, February 26, 2018

Kinh Hữu Học (I) (31) - Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya - TT Giác Đẳng

Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya
Chương 6
IV. Phẩm Chư Thiên

(I) (31) Hữu Học 

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 26-6-2017

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài học hôm nay có những chi pháp tương đối dễ hiểu trên phương diện suy luận nhưng không đơn giản trên phương diện thực hành.

Trước hết:

Chữ Sekha có nghĩa là bậc Thánh đang trên đường tu tập.

Chữ Asekha là bậc Thánh đã hoàn tất việc tu tập đạt đến quả vị tột bực, là bậc đạt đến từ sơ quả, nhị đạo nhị quả, tam đạo tam quả, tứ đạo tứ quả, hay bậc A-la-hán quả. Trong danh từ chuyên môn chữ Hán gọi là bậc Thánh Hữu Học. Phải nói đây là một trong những danh từ chữ Hán đôi khi sài chúng tôi rất miễn cưỡng là bởi vì dịch như vậy chúng ta thường hay có sự hiểu lầm hữu học là người có học và Asekha dịch là bậc vô học, ở đây người Việt Nam chúng ta cho là bậc không có học gì hết. Chữ hữu học và vô học không có nghĩa như vậy.

 Ở đây chữ Sekha có nghĩa là bậc Thánh đang tu tập và Asekha là bậc Thánh đã hoàn tất hành trình tu tập, sanh đã tận phạm hạnh đã thành những gì nên làm đã làm.

 Đối với tất cả chúng ta những người chưa chứng Thánh quả, chúng ta là Puthujjana là phàm phu. 
Nhưng phàm phu có hai hạng:  

1 - Một là vô văn phàm phu (assutavā puthujjano) không thấy các bậc Thánh, không thông hiểu pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh. 

2 - Một hạng phàm phu khác có học pháp các bậc Thánh đang trên đường từ sơ đạo cho đến tứ đạo, những vị chắc chắn sẽ hoàn tất cuộc hành trình, các Ngài mẫu mực là những hình ảnh tiêu biểu cho giáo pháp của Đức Phật, trên phương diện nào đó các Ngài thuộc về sàvakasangha là những vị tượng trưng cho tăng chúng đã được nghe đã được hấp thụ tức là đã bước vào giòng Thánh vức, đã trưởng thành trong ngôi nhà giáo pháp và các vị hợp lại thành cộng đồng Tăng chúng gồm bốn đôi tám vị, những bậc này là những bậc Thiện Hạnh, Trực Hạnh, Như Hạnh, Chánh Hạnh xứng đáng được quí trọng, được nghinh đón, được chắp tay cúng dường, là phước điền vô thượng ở đời. 

Với 6 pháp trong bài học hôm nay nói lên khuynh hướng cố hữu của những vị  tu tập đang trên đường đạt đến viên mãn giải thoát. Sáu pháp này lại là 6 nguyên tắc được áp dụng triệt để tại các tu viện và tạo nên truyền thống rất quan trọng ở Thái Lan gọi là truyền thống Lâm Tăng, Chư Tăng sống trong rừng. Tại Trung Hoa và Việt Nam chùa ở những nơi rừng núi đồi thường gọi là Sơn Môn là những tu viện ở trên núi nhưng chữ Sơn Môn tại Huế thì người ta đề cập đến pháp phái nhiều hơn thí dụ như tu theo tổ Liễu Quán chẳng hạn. Những ngôi chùa những ngôi tổ đình đại tự chia theo dòng tu từ Thầy rồi truyền xuống trò thành bao nhiêu nhánh phân chia họ gọi là Sơn Môn là một pháp phái. Và chữ Sơn Môn đúng nghĩa là Forest monastery tức là những tu viện đúng nghĩa tu viện. Ở tại Thái Lan có hai truyền thống khác biệt rõ rệt một là thôn Tăng là Chư Tăng ở làng tức là mỗi một làng hay một thành phố có một ngôi chùa để phục vụ cho một số Phật tử, thông thường chùa làng giới hạn là mỗi làng một ngôi chùa nhưng nếu  là chùa rừng hay Wat Pah thì ở đâu cũng có thể cất được. Và đời sống của Chư Tăng ở tại các tu viện này áp dụng 6 nguyên tắc này như là 6 thanh quy chính yếu để huấn luyện để tu tập.

Chúng ta thấy ở đây Đức Phật Ngài đề cập đến 6 pháp dẫn đến sự thối đọa và 6 pháp dẫn đến sự tinh tiến.

- Sáu pháp dẫn đến thối đọa là: ưa công việc,  ưa nói chuyện, ưa ngủ nghỉ, các căn không phòng hộ. 

- Và 6 pháp tu tập tinh tiến là: không ưa công việc, không ưa nói chuyện, không ưa ngủ nghỉ, không ưa hội chúng, các căn có phòng hộ và ăn uống có tiết độ.

1- Công việc

Chúng ta nói một cách cụ thể về công việc. Dĩ nhiên tại một ngôi chùa nào cũng có một số việc nhất định cần làm đôi khi làm rất vất vả, nội việc quét dọn trong ngoài, việc tiếp xúc với Phật tử, việc hoằng pháp thì cũng rất bận rộn. Tại Thái Lan hay Miến Điện các vị Sư Cả tức là những vị Trụ Trì các ngôi chùa thường phải ngồi rất nhiều, buổi sáng lên trên giảng đường ngồi để tiếp xúc với những vị thí chủ họ đến cúng dường phải nói đạo cho họ nghe, và buổi trưa cũng phải tiếp xúc với những vị thí chủ những Phật tử khi họ đến chùa, có vài nơi công việc đó giao cho vị tri khách đa phần người ta đến xin gặp Sư Cả. Công việc của vị Sư Cả trong chùa không phải là công việc quanh năm suốt tháng như chúng ta ở đây đa phần các quốc gia Phật Giáo giai đoạn nào xây cất thì xây cất nhưng giai đoạn xây cất xong thì Chư Tăng trở về với đời sống tịnh tu, đó là chuyện lý tưởng.

Khi Chúng tôi ở chùa Ngài Ajahn Chah thi tại đây chùa quy định 2 chương trình chấp tác trong một ngày: 3 giờ thức, 3:30 lên ngồi thiền, 4:30 xả thiền tụng kinh đến 5 giờ, sau đó có 30 phút chấp tác. 30 phút chấp tác là Chư Tăng từ Sư Cả xuống đến tất cả mọi người phân chia thành từng nhóm một lo quét sân, quét giảng đường, dọn dẹp nhà vệ sinh, dọn dẹp chánh điện trong nửa giờ đó phải xong việc dọn dẹp đó là chấp tác buổi sáng sau đó Chư Tăng mới đi khất thực. Điều này có nghĩa là khi đi khất thực trở về bước vào trong chùa thì chùa sạch sẽ từ trước ra sau, và các vị thí chủ đến từ xa từ thủ đô Bangkok hay là từ phố vào chùa thấy lúc nào cũng sạch sẽ đẹp đẽ, đó là chấp tác buổi sáng. Sau đó Chư Tăng đi khất thực về rồi chuẩn bị độ cơm, độ cơm xong khoảng 12 giờ cho đến 3 giờ trưa có 3 tiếng đồng hồ là giờ Chư Tăng chấp tác như múc nước giếng đổ vào các lu cho đầy, quét dọn những con đường trong chùa kể cả quét dọn giảng đường một lần nữa không phải chờ dơ mới quét vì chánh điện phải được quét sạch, rồi phải đi tìm củi khô trong những khu rừng chặt ra để đó để nhuộm y để giặt y. Sau 3 giờ chấp tác các vị đi rửa tay rồi lên cốc của Ngài Cả để uống nước những thứ nước được cho phép uống buổi chiều rồi đi về cốc để chuẩn bị tu tập nghỉ ngơi, 6 giờ chiều tụng kinh, tụng kinh xong nếu bữa đó không phải là ngày tụng giới thì mọi người về am thất của mình để tu tập.

Như vậy, về công việc một ngày có 2 giờ chấp tác: buổi sáng 30 phút, buổi chiều kéo dài 3 tiếng. Những công việc chấp tác này không phải là công việc tùy thích mà là công việc luân lưu, trọng yếu của các truyền thống tu tập ở các chùa đó là không có cố định một vị chuyên làm một việc mà công việc thay đổi liên tục để không bị dính mắc, thí dụ như bữa nay dọn dẹp chánh điện ngày mai gánh nước ngày mốt kiếm củi có nghĩa là giống như những người lính được phân công, hễ phân chia việc nào thì làm việc đó đơn giản là như vậy. 

2 - Thứ hai là không ưa nói chuyện.

Ở trong chùa Chư Tăng mà tụ họp để tán ngẫu sẽ bị đuổi ra khỏi chùa, đó là một qui tắc và ở trong chùa khi tất cả mọi người chấp tác xong tụ tập tại cốc của Ngài Cả, tầng trên có phòng nhỏ Ngài Cả ở tầng dưới rất rộng tất cả Chư Tăng, sadi, tu nữ, cư sĩ ở chùa tập trung tại đây uống nước thì lúc đó có thể trình bạch hay hỏi đạo, Ngài Cả sẽ chỉ dẫn trả lời, còn bình thường Chư Tăng tụ họp sẽ bị cảnh cáo nếu tái diễn lần thứ hai sẽ bị đuổi ra khỏi chùa. Phải nói rằng khi mới đến chúng tôi chỉ có một cách để nói chuyện  với Chư Tăng đó là thời gian đi khất thực, tại vì từ trong chùa đi vào trong làng đi về khoảng 6, 7 cây số và khi vào trong làng khất thực khoảng chừng 20 phút là đầy bình bát trên đường trở về băng ngang qua cánh đồng ruộng đa phần mình có thể tận dụng thời gian đó để trao đổi một vài việc, nhưng nói chuyện trên đường thì chỉ là nói chuyện chứ không phải là chuyện có thể ngồi tán ngẫu trên đường được, chuyện cần thì nói, đó cũng là cách hạn chế tật ưa nói chuyện, ai có bịnh hay nói vào trong các tu viện dễ dàng trị bịnh.

3. Ưa ngủ nghỉ 

Tại các tu viện chỉ được ngủ từ 10 giờ tối đến 3 giờ sáng có 5 tiếng đó là thời gian trung bình không quá dư không quá thiếu cho các thiền sinh. Thông thường khi mình đến chùa làm việc từ sáng cho đến chiều tối 10 giờ là ngủ không cần thuốc ngủ vì mệt quá và vì thiếu ngủ, ngủ như vậy thành thói quen đến 3 giờ sáng thì kiểng đánh thức dậy và 3:30 thì vân tập lên chánh điện để tụng kinh sáng và ngồi thiền. Tâm của mình, nếu thiếu ngủ tâm khó tập trung nhưng ngủ nhiều quá thì tâm lại muội lược không bén nhạy. Chúng ta để ý ít có vị nào đầu óc tinh tế mà ngủ nhiều, người mình  ngủ nhiều đâm ra lười biếng, khi chúng tôi còn nhỏ ở nhà với ông ngoại và bà thân không hiểu sao ở nhà thường dùng chữ nhớt thây tức là ngủ nhiều quá không biết có nhớt thây không nhưng tâm mình bị muội lược. Một việc trong trường thiền thấy rõ là ngủ nhiều quá thì tâm mình dật dừ chứ không phải ngủ nhiều là hạnh phúc, đừng nghĩ ngủ nhiều là mình khỏe. Quí vị để ý khi mình có thì giờ ngủ nhiều một chút khi thức dậy dật dừ, đó là kinh nghiệm cuộc sống thiếu ngủ thì khó tập trung mà ngủ nhiều thì tâm trở nên muội lược không còn bén nhạy nữa, mà ngủ vừa phải, và thông thường ở các tu viện họ cho ngủ 5 tiếng là không dư và không thiếu.

4. Ưa hội chúng 

Tức là thích đám đông thí dụ như là thích tiệc tùng, thích hội họp với thích có một số người nào đó để la cà những việc không cần thiết, tại các tu viện mình sống chung với Chư Tăng, buổi sáng tụng kinh cùng nhau, buổi tối tụng kinh cùng nhau, buổi sáng dùng cơm giống nhau, những ngày bố tát thì tụng bố tát nhưng không sống theo nhóm không sống theo một đám đông mà thường xuyên để dành nhiều thì giờ sống độc cư. 

5. Các căn phòng hộ. 

Các căn ở đây chỉ cho mắt tai mũi lưỡi thân ý, chúng ta thích nhìn cái đẹp và thấy đẹp lại ưa nhìn, tai thích nghe tiếng hay. Chưa có thời đại nào có được nhiều phương tiện để thấy để ngắm thậm chí còn ngửi còn nếm còn xúc chạm như là thời đại này, đây là thời đại có rất nhiều dục lạc.

Có nhiều điểm liên quan đến giới luật  nếu một vị biết ứng xử sẽ tránh được, tránh thôi chứ không phải là hoàn toàn, ví dụ như đi vào trong xóm con mắt không nhìn láo liên, nhìn trước mặt mình, nhìn bước đi, và thậm chí trong luật có đưa ra mình đi vào trong làng tầm mắt nhìn bao xa để gọi là tiết chế, và ngay cả khi có thí chủ đến cúng dường mình cũng không nhìn mặt họ. Bây giờ điều đó hơi khó khăn. Trong văn hóa của Á Châu đặc biệt văn hóa ở các quốc gia Phật Giáo rất thích hợp để Chư Tăng thu thúc phòng hộ các căn nhưng tại Mỹ hay tại Âu Châu chẳng hạn mình nói chuyện với người khác mình không nhìn mặt người khác thì bị xem là không có lịch sự  không đàng hoàng. Nhưng thật sự là ngày xưa Chư Tăng cũng có nhiều vị do nhìn vào các vị thí chủ mà sanh ra phiền não. Thật ra đời sống con người ở trong thời gian tu tập sự lôi cuốn giữa nam và nữ là một khía cạnh rất tế nhị, một vài cái nhìn mà không cẩn thận nó có thể làm cho tâm mình thối chuyển. 

Nói chung, đời sống trong tu viện sắc đẹp tiếng hay mùi thơm vị ngon xúc lạc đều phải hạn chế như hạn chế đối với mắt, hạn chế đối với tai, hạn chế đối với mũi, hạn chế đối với lưỡi. Lưỡi tương đối rất khó, ở trong chùa mình không được yêu cầu ăn những thực phẩm mình muốn trừ khi bị bịnh và nguyên tắc là người ta cho gì ăn cái đó.

 Ở trong cách tu của Phật Giáo Bắc Truyền thì tương đối, trong tu viện sắp xếp là phải ăn thức ăn thích hợp do đó khi mình yêu cầu Phật tử nấu cái này cái kia cho mình ăn thì được.

Nhưng thật sự trong nguyên tắc của chư Tăng Phật Giáo Nguyên Thủy người ta cho gì ăn cái đó, khi đi khất thực mình không có lựa chọn và khi mình trở về cũng không có lựa chọn. Và nếu các vị sống nghiêm trì thì cũng không được nghĩ đến ngày mai mình ăn cái gì mà căn bản là người ta cúng gì mình ăn đó không có suy tính trước. Và đồng thời trong ngày giờ ăn chỉ buổi sáng còn buổi chiều chỉ được uống nước đó cũng là cách để thu thúc thiệt căn. 

Nhưng phải nói việc thu thúc các căn là một điểm rất tế nhị, thí dụ chúng ta sống ở những xứ lạnh ngủ trên nệm trên gối để thân thể được giữ ấm thì đó là một chuyện nhưng tại các quốc gia nhiệt đới mình ngủ ở trên sàn gỗ và thường chỉ trải chiếc chiếu thậm chí gối cũng bằng gỗ, ở trong chùa không có gối bằng bông giống như chúng ta sài vì gối bằng bông dễ bị dơ và không có vị nào phụ trách về gối do đó khi cần gối mình lên chánh điện có những cái gối bằng gỗ xếp làm đôi, mở gối gỗ ra kê đầu chúng ta trong đó. Khi chúng tôi mới qua buổi tối lấy khăn tắm xếp lại để lên gối gỗ cho đỡ cứng . Nhưng đại khái là sự xúc chạm của thân không êm ái không thoải mái,

 Nói tóm lại, phòng hộ đối với mắt đối với tai mũi lưỡi thân và các phòng hộ về ý cũng phải thường xuyên coi chừng và 3 vọng niệm lớn là tham sân si. 

Vọng niệm về tham là suy nghĩ ham muốn cái này muốn cái kia, vọng niệm về sân là suy nghĩ bực mình khó chịu tìm lỗi người này người khác và hận tư duy là suy nghĩ về oán thù mình bực bội mình oan trái với người này người kia đó là những vọng niệm thường có trong mình. Canh chừng 6 căn là một nghệ thuật.

 Ăn uống có tiết độ là mình sống một cách tất nhiên với những gì các thí chủ cho mình, và đồng thời ăn uống trong mức độ vừa phải. Nhưng phải nói rằng ngày hôm nay chúng ta bị một căn bịnh của thời đại mà ngày xưa cũng có nhưng ìt đó là bịnh tiểu đường. Bịnh tiểu đường bắt buộc chúng ta ở trong thời gian vài ba tiếng phải ăn không ăn thì bủn rủn tay chân nhưng ngược lại nếu mình biết tu tập thì bịnh tiểu đường cũng là một phương pháp tiết độ ẩm thực tại vì chúng ta sẽ cử bớt những món ăn mình thích, ăn món ăn nhạt nhẽo hơn, ăn món ăn tại vì nhu cầu hơn là vì thoả mãn khẩu vị.

Ở đây, khi nói đến 6 pháp này chúng ta nên nhớ một căn bản tu tập trong Phật giáo là mình tu là do tinh thần tự giác của bản thân chứ không phải mình tu là mình được huấn luyện giống như ở trong quân trường, ở trong quân trường thì có những huấn luyện viên có những sĩ quan theo dõi mình đa phần là sự tu do sự kiểm soát người khác mang tánh cách đại khái.  Ví dụ như mình tụm 5 tụm 3 để nói chuyện ngẫu nếu cẩn thận thì khó ai bắt được nhưng chúng tôi thưa như vầy khi mình vào tu tập mình không tuân thủ theo những điều này thì mình phá hỏng việc tu của mình và phí thì giờ của các vị Thiền Sư. Các vị Thiền Sư thường nhắc nhở những nguyên tắc này nếu chúng ta không tuân giữ thì làm cho sự tu tập của chúng ta không tiến bộ hoặc giả là lui sụp, mình đến sống trong chỗ tu tập mà không có tiến bộ chỉ để ở cho có ở thôi thì thật sự rất uổng phí thời gian, không ở thì tốt hơn, đơn giản như vậy. 

Vì vậy ở đây đòi hỏi sự tự giác rất cao rộng như trường hợp mình tiết độ các căn là chuyện của mình chứ không ai có thể làm cho mình, không ai nhắc sao sư không phòng hộ mắt sao sư không phòng hộ tai, lâu lâu các vị thầy nhắc còn bình thường không ai nhắc chúng ta đó là ở mỗi chúng ta tự giác. Những điều này là bí quyết để tu tập.

 Hàng ngày mình sống an lạc, mình sống mà tăng trưởng thiện pháp, mình sống để đi tới thì điều đó phải đến từ sự quyết tâm của mỗi cá nhân và Đức Phật Ngài dậy công thức là như vậy và chuyện làm như thế nào là do ở chúng ta làm chứ không ai cầm roi hay cầm gậy thúc sau lưng biểu chúng ta làm. Và những điều này không mang tính luân lý đạo đức như ngoài đời người ta nói, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nội tâm tu tập của chúng ta thí dụ như ăn ngon mình cũng có thể ăn ngon nó không có tội gì với ai hết nhưng nếu các căn mình buông thả thì mặt khác của thiện pháp sẽ bị tổn giảm và cái đó tự chúng ta biết. Tương tự như chúng tôi bị tiểu đường mà lại thích ăn ngọt và cứ ăn một cách bừa bãi thì hệ quả tiểu đường là chúng tôi chịu thôi nó không phải là vấn đề đạo đức, đơn giản là như vậy nếu như mình bị tiểu đường, điều đặc biệt của Phật Pháp là mình phải tìm cách để hiểu và để đương đầu với phiền não nội tại của mình nếu mình sống mình không có cách đương đầu với phiền não thì phiền não có trăm muôn ngàn cách để sanh khởi và ngự trị trong lòng mình.

 Trọng yếu của đạo Phật là sống sao cho bớt phiền não, bởi vì nó phiền mà nó não nữa thành ra những phiền não chỉ làm cho tâm bị dơ bợn, phiền não chỉ làm cuộc sống không được an lạc, phiền não chỉ tổn hại đến việc làm thiện pháp của mình, cách sinh hoạt như thế nào đó ở trong đời sống mà khả dĩ cho chúng ta tăng tiến, để chúng ta có thể vươn lên có những tiếng bộ trong cuộc sống. Cái khéo cái nỗ lực cái tiến bộ đó là do ý thức hoàn toàn ở chúng ta. Đôi khi nhiều người không hiểu người ta tưởng sự tu tập có nghĩa là phải có người khác cầm cây roi để răn dạy mình. Thật sự là mình đi vào trong chùa mà gặp vị thiền sư hay gặp một vị thầy chỉ cho mình tu cái đó chỉ là những bước rất sơ bộ những bước rất ban đầu, càng đi đường dài nó đòi hỏi chính chúng ta phải tự làm và mình làm thì mình biết không ai có thể làm việc đó giùm chúng ta hết, cha mẹ và bà con và tất cả những người thân của mình cho dù thương mình cách mấy đi nữa cũng không ai làm cho mình tiến bộ được trừ khi mình tiến bộ, đời sống chúng ta hàng ngày, sự học tập của mình cái vui cái buồn của mình phần lớn là do tự ý thức của mình.

Những pháp này sở dĩ gọi là pháp của bậc hữu học là bởi vì một khi các vị đã chứng đắc được Niết-bàn thì các vị thấy rõ đó là điểm phải đi tới chớ không còn miên mang chưa biết mình đi đâu về đâu. Một người đi mà biết rõ điểm tới biết rõ mục đích của hành trình thì người đó không vì vui mà bỏ cuộc hành trình, không vì giận mà bỏ cuộc hành trình, không vì khó khăn mà bỏ cuộc hành trình cứ tiếp tục đi tới, thì đó là hình ảnh của một vị Thánh hữu học, vị đã thấy Niết-bàn và đã có định hướng rõ ràng trong cuộc sống thì các vị sống thể hiện 6 pháp này đó là:

 - không ưa công việc, 
-  không ưa nói chuyện, 
-  không ưa ngủ nghỉ,
-  không ưa hội chúng, 
-  các căn có phòng hộ
 - và ăn uống có tiết độ.

Chúng ta đừng nhìn những điểm này như lời răn có tánh cách tôn giáo hay tánh cách của đạo đức, nó đơn giản là tại vì những pháp này nó liên hệ trực tiếp đến đời sống nội tâm của chúng ta và đôi khi mình chiêm nghiệm những điều này mình mới hiểu tại sao tâm mình phiền não nhiều hay là phiền não ít ./.


Tuesday, January 23, 2018

Thế nào gọi là chánh tín, thế nào gọi là tịnh giới, thế nào là thiện thí, thế nào trí tuệ trong Phật Pháp?

Thảo luận. Thế nào gọi là chánh tín, thế nào gọi là tịnh giới, thế nào là thiện thí, thế nào trí tuệ trong Phật Pháp? 

Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 5 tháng 1 năm 2018 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu giảng: 

 - Niềm tin, đối với người thường không hiểu biết Phật Pháp niềm tin của họ cũng có chứ không phải là không nhưng niềm tin đó không phải là chánh tín.

- Việc giữ giới, người không học hiểu Phật Pháp họ chấp trì những giới như giới cấm thủ chẳng hạn, điều đó không những không đem lợi ích trong tương lai mà còn đưa đến thối đọa bởi vì nó rơi vào tà kiến.

- Bố thí, một người bố thí, không hiểu bố thí như thế nào có quả báo lớn có lợi ích lớn thì người đó làm cũng như không có làm.

- Trí tuệ, nói đến trí tuệ không phải một người thông minh có kiến thức uyên bác mà gọi là trí tuệ lợi ích trong tương lai.

Ở đây chúng tôi nhân câu hỏi này cũng chia xẻ với quí Phật tử. 

Vấn đề niềm tin. 

Chúng ta có 4 niềm tin thuộc về chánh tín:
1. Một là chúng ta tin về nhân.
2. Hai là chúng ta tin về quả  của nhân
3. Ba là chúng ta tin mỗi chúng sanh có biệt nghiệp.
4. Bốn là tin vào sự giác ngộ của Đức Phật để chúng ta sẵn sàng tin giáo pháp và Tăng chúng.

1 Tin về Nhân

Tin nhân tức là khi có sự việc gì xảy ra người đó tin chắc rằng vụ việc này ắt phải có nguyên nhân và cố tìm ra nguyên nhân mà xảy ra sự việc đó chớ không có mỗi mỗi một chút lại đổ thừa do trời thưởng trời phạt. 

2. Tin vào quả

Tin vào quả là những khi mình hành động thiện hoặc ác, hành động thiện tin rằng hành động này sẽ đưa đến quả an vui còn hành động ác sẽ đưa đến quả khổ, chúng ta tin vào quả như thế. Hoặc chúng ta tin vào hậu quả của hành động, khi  mình làm việc gì đó bị phóng dật suy nghĩ đến chuyện khác không tập trung thì chúng ta biết hậu quả của việc đó sẽ đưa đến sự thất bại. Chúng ta đi trên đường trơn trợt tâm cứ suy nghĩ đến chuyện đâu đâu không chú ý từng bước chân, không đi chậm trên con đường trơn trợt đó thì như vậy hậu quả sẽ trợt té. Tức là phải biết hành động này sẽ đưa đến quả nào, mình phải biết như thế. 

Người tin quả làm việc rất cẩn thận. Ví dụ, một người hút thuốc xong họ không ném tàn thuốc còn đang cháy vào một xó vách hay đi ngang qua một khu vườn khu rừng họ không ném tàn thuốc còn đang cháy đó xuống dưới đất vì nghĩ rằng chính do nhân này có thể đưa đến hậu quả gây hỏa hoạn v.v...  

3. Tin mỗi chúng sanh có biệt nghiệp

Tin mỗi chúng sanh có nghiệp riêng là chúng ta tin ở đời này chúng sanh vui hay khổ mỗi chúng sanh phải lãnh chịu quả nghiệp người đó tự tạo trong đời quá khứ, bởi vì:

"Kammassakā māṇava, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammappaṭisaraṇā.
Chúng sanh là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng là quyến thuộc, nghiệp là chỗ y cứ.

Chúng ta tin tưởng điều đó, niềm tin đó là niềm tin chân chánh, chúng ta tin vào sự giác ngộ của Đức Phật, tin vào diệu năng của giáo pháp, tin vào sự thanh tịnh của tăng chúng.

4. Niềm tin Đức Phật, Tăng Chúng, giáo pháp. 

Cũng vậy, ở đây, có những người tự nhận mình theo đạo Phật, nhưng trên thực tế họ không hiểu Đức Phật là ai, họ chỉ biết đi đến chùa thắp hương qùy lạy Phật rồi cầu nguyện, họ không hiểu được Đức Phật Ngài là ai Ngài giác ngộ những gì và Ngài đã dạy điều nào, họ không biết. Tin Phật như vậy không hiệu quả, không phải là người Phật tử chân chính 

Tin giáo pháp là chúng ta tin vào những lời dạy của Đức Phật là "thiết thực hiện tại có hiệu năng hướng thượng" đi vào giáo pháp chỉ nương tựa vào giáo pháp như chúng ta nương tựa lời chỉ dẫn của một vị trưởng đoàn còn bước đi là phải do chính mình. Đức Phật Ngài tuyên bố:

"Như Lai là vị chỉ đường sự nỗ lực phải do chính các ngươi -  "Akkhaataaro tathaagataa Tumhehi kicca.m aatappa.m"

Chúng ta phải tin giáo pháp tin như vậy chứ không phải là đến chùa tìm hiểu  bài kinh nào bài chú nào đọc cho linh hiển cho ứng hiệu để ngăn ngừa tai ương v.v... chúng ta không tin giáo pháp theo kiểu đó được.

Chúng ta phải tin hiệu năng hướng thượng. Giống như khi bị bịnh chúng ta đến gặp bác sĩ cho chúng ta thuốc uống chúng ta phải tin vào công hiệu của thuốc làm theo lời căn dặn của bác sĩ thì mới hết bịnh chứ chúng ta không thể nào đi đến nhờ ông bác sĩ làm cho mình hết bịnh nói suông như vậy là chúng ta sẽ không bao giờ hết bịnh, chúng ta phải uống thuốc biết kiêng cử những gì bác sĩ dặn cũng như chúng ta tin vào giáo pháp để thực hành chứ không phải tin vào giáo pháp là tin vào những bài kinh tụng có uy lực.

Tin vào Tăng chúng.  Chư tăng không phải là những vị giáo sĩ trung gian để đem lời cầu nguyện của mình đến Đức Phật được, Chư Tăng không phải là những vị làm công việc đó. 

Những vị sống đời sống xuất gia đã đạt đến quả vị giải thoát là bản thân của vị đó do sự thực hành theo giáo pháp Đức Phật. Những vị sợ hãi sự sanh tử luân hồi xuất gia sống theo giáo pháp của Đức Phật học pháp và hành pháp, đi hoằng pháp thay mặt Đức Thế Tôn để truyền dạy giáo pháp gìn giữ giáo pháp tồn tại. 

Chúng ta không nên đi đến gặp các vị Tỳ Kheo nhờ các vị Tỳ Kheo vì nghĩ rằng Tăng có oai lực cho nên Tăng tụng kinh cầu an hay cầu siêu thì sẽ ứng nghiệm. Nếu có niềm tin như vậy thật sự không phải là niềm tin nơi Tăng chúng. 

Cho nên chúng ta tin Tam Bảo, chúng ta phải có niềm tin chân chính là:

Chúng ta tin Đức Phật là tin sự giác ngộ của Đức Phật.
Tin giáo pháp là tin vào hiệu năng của chánh pháp. 
Tin Tăng chúng là sự thanh tịnh của Tăng chúng.

Để từ đó chúng ta mới làm phước bố thí cúng dường, chúng ta có nhiều phước báu.

Sự trì giới 

Đức Phật Ngài dạy có người giữ giới giống như kẻ ngoại đạo, có người giữ giới như kẻ chăn bò và có người giữ giới như bậc Thánh.

Giữ giới như kẻ chăn bò là thọ trì 5 giới 8 giới rồi giữ làm sao trong ngày và đêm đó hay trong thời gian đó không phạm vào 5 giới 8 giới đó nhưng họ không biết rõ lợi ích của giới và không biết rõ cái gì làm nền tảng cho giới.

Thí dụ, như tu tâm từ bi hay sống chánh mạng hoặc sống tri túc thiểu dục hoặc chúng ta thích thú pháp chân thật này chúng ta trao dồi trí tuệ. Những điều đó cần thiết cho giới được thanh tịnh, nhưng người này không hiểu, họ chỉ giữ giới cho đừng phạm năm điều đó thôi còn những phiền não tham sân si mạn nghi tà kiến họ không tu tập. 

Cho nên những người ở ngoài miệng thì nói giữ giới nhưng trong tâm họ sân nhiều, họ có thể nổi sân lên đánh đập mắng chửi người khác, hỏi tại sao tu giữ giới mà lại sân như vậy thì họ nói rằng đánh đập không phải là sát sanh, họ mắng chửi không phải là nói dối. Những người như vậy gọi là giữ giới như người chăn bò đếm đủ 8 con hay 5 con dẫn đi ăn chỗ này chỗ kia, sáng đem đi chiều đem về đếm đủ trả cho chủ bò để lãnh tiền. 

Giữ giới như kẻ ngoại đạo, là giữ giới còn theo tà kiến chấp sai hiểu lầm giáo pháp của Đức Phật. Đa phần người Phật tử giữ giới bị rơi vào tà kiến, thí dụ  đơn giản một điều thôi, mặc dầu chúng ta giữ giới nhưng thay vì chúng ta  nghĩ mình không sát sanh thì quả phúc này mình sẽ được sự may mắn an vui không bị tai hại không bị rủi ro, nhưng đàng này người Phật tử đôi khi miệng thì giữ giới nhưng khi  họ muốn xuất hành họ muốn đi chỗ này chỗ kia họ cũng coi ngày giờ tốt xấu, thành thử như vậy chúng ta không có giữ giới 

Người Phật tử chúng ta giữ giới như thế này:

- Chúng ta suy nghĩ  vị A La Hán trọn đời không hành động sát sanh luôn sống với tâm từ bi, ta sẽ noi gương vị Alahán ta sẽ không sát sanh có tâm từ bi với chúng sanh loài hữu tình.

- Vị Alahán trọn đời không hành trộm cắp Ngài sống chánh mạng ai cho cái chi thì dùng cái nấy không có lấy của không cho v.v... thì như vậy ta sẽ theo gương của vị Alahán để giữ giới tránh xa trộm cắp.

Thì khi chúng ta thấy và biết được điều lợi ích của sự giữ giới các bậc Thánh đã thanh tịnh hành động đó thì chúng ta sẽ noi gương theo đó để giữ giới làm cho mình cũng được thanh tịnh. Chúng ta giữ giới và có tác ý như vậy gọi là giữ giới thanh tịnh.

Về bố thí 

Có người bố thí vì:

1 - thương mà bố thí, 
2 - vì ghét mà bố thí, 
3 - vì si mê mà bố thí, 
4 - vì sợ hãi mà bố thí,
5 -  vì để mong cầu có quả báo sanh thiên mà bố thí, 
6 - vì họ bố thí để giữ truyền thống gia đình, 
7 - bố thí vì nghĩ rằng khi bố thí tâm ta sẽ được an vui rồi họ cho,
8 -  có người bố thí vì họ nghĩ chúng sanh tâm bị cấu uế do bỏn xẻn keo kiết cho nên vị đó bố thí xả tài với tác ý suy nghĩ là sẽ làm tư cụ cho tâm, làm trang điểm cho tâm để cho tâm được trong sạch yên vui thì người đó bố thí.

 Trong 8 sự bố thí chỉ có hai sự bố thí thứ 7 và thứ 8 là bố thí làm cho tâm an vui, bố thí để làm tư cụ cho tâm thì hai cách bố thí này là chân chính, còn những bố thí kia không phải là thiện thí.

 Bố thí tại vì thương ai đó mình đem cho chứ không phải là tâm muốn dứt sự bỏn xẻn. Không phải là thiện thí

Buổi sáng ra gặp người ăn xin đứng ngay cửa giận quá bây giờ đuổi thì họ không đi họ ngồi lì đó thì thôi cho đại cái gì đó để họ đi cho rồi chứ ngồi án trước cửa không buôn bán được. Đó là vì giận mà bố thí. Không phải là thiện thí

Thì như vậy trong cách bố thí chúng ta cũng phải suy xét, bố thí làm sao cho lợi ích.

Còn nhiều cách bố thí tốt đẹp Đức Phật Ngài dạy chẳng hạn như:

- Chúng ta bố thí bằng lòng tin, 
- chúng ta bố thí bằng sự trân trọng người thọ thí,
- Chúng ta bố thí vì hợp thời,
- Chúng ta bố thí những vật qúi trọng không phải là vật quăng bỏ.
- Chúng ta bố thí chúng ta nhìn về tương lai đó là những pháp bố thí của bậc chân nhân mà chúng ta cần phải thực hành theo đó là thiện thí.

Về đến trí tuệ .

Người Phật tử hiểu về trí tuệ ở đây là sự hiểu biết thuộc về chánh kiến, không phải là người khôn ngoan đối đáp hay có đầy đủ mưu mẹo sách lượt để thắng hoá người khác, mà là chúng ta hiểu biết trí tuệ đem đến lợi ích tương lai phải là trí tuệ của chánh tri kiến. 

Trí tuệ của chánh tri kiến thì chúng ta nên xem lại bài kinh Trung Bộ Kinh Majjhima Nikaya. 9. Kinh Chánh tri kiến (Sammàditthi sutta) do Tôn Giả Sariputta (Xá-lợi-phất)  giảng cho các vị Tỳ Kheo nghe. Một người hiểu biết pháp thiện và hiểu biết được căn thiện gọi là chánh kiến, hiểu biết pháp bất thiện là thế nào, hiểu biết căn bất thiện là thế nào gọi là chánh kiến. 

Một người hiểu biết được những pháp chẳng hạn như chúng sanh duy tồn nhờ vật thực, cái gì là vật thực, cái gì là tập khởi của thức ăn, cái gì là sự đoạn diệt của thức ăn, cái gì là con người đưa đến sự đoạn diệt của thức ăn.

Hay là chúng ta hiểu biết về Tứ Đế đây là khổ, đây là Nhân Sanh khổ, đây là Sự Diệt Khổ và đây là Con Đường Đưa Đến Sự Diệt Khổ, có trí tuệ biết rõ như vậy có lợi ích đưa đến kết quả trong tương lai nếu chúng ta chưa đắc đạo quả thì nên tu tập như vậy. 

Cho nên ở đây dầu chúng ta là người giàu hay người nghèo, là người trí thức hay người bình dân, người học nhiều hay người học ít, điều đó không cần thiết không phải là trí tuệ quan trọng. Mà cái trí tuệ của chánh tri kiến là hiểu được những pháp để thực hành đưa đến sự tốt đẹp an vui đó mới là trí tuệ cần, là trí tuệ quan trọng.

Ở đây chúng tôi cũng chỉ xin chia sẻ với qúi vị một cách tóm tắt để chúng ta có thể theo đó thực hành cho tốt ./.

Friday, December 29, 2017

Kinh Mát Lạnh (I) (85) - Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya - TT Giác Đẳng

 Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya

Kinh Mát Lạnh (I) (85) -

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 22-8-2017

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài học hôm nay dịch rất hay nhưng dể hiểu lầm về chữ thanh lương. 

Chữ thanh lương ở trong chữ Hán có hai nghĩa: 

1) Nghĩa là tốt như lương hảo hay lương gia 
2) Chữ lương cũng là một âm khác nghĩa là mát, thí dụ như lương thủy hay lương phong.

 Ở đây, chữ lương không nghĩa là thanh lương, không nghĩa là tốt. Mà chữ lương nghĩa là mát dịu và sự mát dịu ở đây chỉ cho Niết-bàn, như chúng ta nói "vô thượng thanh lương" chỉ cho sự dập tắt hoàn toàn phiền não. Đối ngược với phiền não là thanh lương là sự mát dịu an tịnh. 

Do vậy chúng ta nên chú ý chữ lương ở đây là một trạng thái, một từ khác chỉ cho Niết-bàn, chỉ cho sự giải thoát, chỉ cho sự lắng đọng phiền não có nghĩa là trạng thái mát mẻ tịch tịnh. 

Bên cạnh đó là một pháp điều tâm. Nói đến trạng thái điều tâm, điều tâm tức là một vị hành giả làm thế nào sống với cuộc sống nội tại của mình qua 6 phương cách được ví dụ như một người đánh xe. Người đánh xe lúc nào nên đánh vào con ngựa, lúc nào nên điều khiển con ngựa, lúc nào nên để con ngựa tự chạy, mình nhìn nó một cách thản nhiên. Đây là những trạng thái đặc biệt chúng ta đã gặp trong Thanh Tịnh Đạo nói về phương pháp tu tập 

Trong cái nhìn thông thường để nói về điều đáng qúi đáng trọng người ta thường hay đề cập đến thứ bậc như học vị hay địa vị, danh vị, một người nói đến tiến sĩ cử nhân, một người nói đến chủ tịch hay tổng thư ký, một người nói đến quyền này quyền kia, đó là cái nhìn của bình thường. Khi chúng ta đi vào trong thế giới của sự tu tập điểm đầu tiên chúng ta biết là nói về trạng thái của tâm hay khả năng dụng tâm, nó có sự khác biệt rất lớn của một người  khi đối diện với nghịch cảnh đâm ra phiền não bực bội và cũng có người đối diện với phiền não đối diện với việc trái ý nghịch lòng thì tâm họ tương đối hòa ái mát mẻ không có nung nấu bởi phiền não không có phản ứng với sự phẫn nộ. 

Đó là điều chúng ta nói trong cuộc sống hàng ngày nhưng khi đi vào trong thế giới của sự sâu lắng, thế giới riêng biệt, thì lúc bấy giờ đặc biệt là người ta nói đến tâm thái tức là trạng thái của nội tâm. Chúng tôi nhớ hồi còn nhỏ có lúc rất mê đọc chuyện chưởng kiếm hiệp của Kim Dung, và trong những tác phẩm lớn của Kim Dung có tác phẩm Tiếu Ngạo Giang Hồ, trong đó có một ý niệm tác giả Kim Dung đã đưa vào trong quyển tiểu thuyết này liên quan đến võ học và liên quan đến kiếm thuật khác đó là kiếm tông và ý tông. Kiếm tông thì đặc biệt nói về những đường kiếm nhanh như thế nào chậm như thế nào, khi mà đạt đến ý tông tức là cũng múa kiếm nhưng  không phải theo những cái thế, mà đặc biệt là đạt đến chỗ ảo diệu của dụng tâm. 

Về điểm này, thì đó là một giai đoạn tương đối tế nhị cũng giống như trong binh pháp người ta nói có hai khả năng cầm quân của một vị tướng. Có những vị tướng khi ra trận thì tính toán bằng những con số, địa hình là như vậy, binh lính là như vậy, vũ khí là như vậy, chiến thuật là như vậy. Nhưng có  vị tướng đạt đến mức ảo diệu hơn nhìn thấy thế trận là có thể cảm nhận trận này đánh thua hay thắng, trong Anh ngữ gọi là instinct chúng ta gọi là bản năng, nhưng có chữ khác là intuition là trực giác, do trực giác chúng ta biết trận này mình đánh thắng hay thua, thì do trực giác ít qua sự toan tính cân đo đong đếm mà trực giác là sự nhận thức của một người lão luyện, khi chúng ta đi vào trạng thái này thì thật sự không dễ dàng để chúng ta hiểu trừ khi giữa người này và người kia cùng trình độ khả năng tâm ý tương thông. 

Cũng thời đọc một quyển sách cũng thời có khả năng ngôn ngữ một người lão luyện quen thuộc với sách vở với đề tài mình đọc thì người này đọc với tâm điềm tỉnh trầm lắng nhưng có người đọc một cách sôi nổi hào hứng và hai trạng thái đó không biết ai hơn ai. Đi hành hương cũng vậy, đi làm phước cũng vậy, có những người đi làm phước bằng tâm háo hức nô nức, cũng có người đi làm phước bằng tâm tương đối điềm đạm thành thạo vì quá quen thuộc và làm. Thì ở đây có một sự đôi co chúng ta nên dụng tâm như thế nào ở trong đời sống tu tập và đây là một bí quyết. Có những người quan niệm mình đi vào thế giới của sự tu tập là mình phải đi vào thế giới đó bằng sự nhiệt thành cũng có người quan niệm mình phải đi vào thế giới đó bằng sự thanh thản vì chỉ đến với Phật Pháp thanh thản thì dễ điềm đạm lắng đọng tâm hồn, nhưng cũng có người nói sự thanh thản đó thiếu chất của nó.

Bài kinh này trả lời rất quan trọng. Trong  Visuddhimagga-Thanh Tịnh Đạo từ đoạn 136 tới 147  Ngài Buddhaghosa đặc biệt dạy về điều này, có 6 công đoạn mà một hành giả phải biết và trong 6 công đoạn này chúng ta có một cách ứng xử khác nhau đối với nội tâm của chính mình:

- Có những lúc tâm cần phải chế ngự tức là phải áp đảo tâm.
- Có những lúc tâm cần được khích lệ.
- Có những lúc tâm cần được thăng hoa.
- Có những lúc tâm cần được bình thản.
- Có những lúc tâm cần ở trong trạng thái hướng thượng.
- Và có những lúc tâm cần hướng vào không tánh. 

Sáu pháp này nếu một người tinh luyện có khả năng xuất nhập tự tại sẽ an trú vào trạng thái nào mà mình muốn.

1 - Áp Đảo và khích lệ

Áp đảo và khích lệ là hai trạng thái đối ngược nhau nhưng đều cần cho tâm. Ở trong pháp trị nước người ta có khoan và nghiêm. Khoan tức là sự bao dung, nghiêm tức là chính sách nghiêm khắc. Trong kinh có câu chuyện, có một vị Chuyển Luân Vương vị vua mới lên ngôi, khi người ta dẫn đến một người ăn trộm nhà vua hỏi:

- Tại sao ngươi đi ăn trộm làm chuyện phi pháp?

Người đó trả lời:

- Tại vì con nghèo nên phải đi ăn trộm.

Nhà vua nghe như vậy sai đem ra một ít tiền:

- "Ngươi hãy cầm số tiền này về làm vốn sinh kế lương thiện đừng đi ăn trộm nữa" 

Nhà vua nghĩ mình đã giải quyết một sự việc giúp cho một người hoàn lương, đã làm một việc rất nên làm, nhưng từ câu chuyện đó được lan truyền đi về sau này có nhiều người ăn trộm tại vì nghĩ ăn trộm sẽ bị vua bắt mà lính của nhà vua bắt vô gặp nhà vua sẽ được tiền để về làm ăn thì như vậy cách tốt nhất nhanh nhất để có vốn làm ăn là đi ăn trộm để được lính bắt. Và khi có nhiều người ăn trộm như vậy nhà vua nghĩ rằng mình cho tiền ăn trộm thì ăn trộm tăng nhiều hơn do vậy mình phải có một biện pháp nghiêm. Khi người ta dẫn đến nhà vua một người ăn trộm nhà vua ra lệnh đem đi chém đầu ở ngã ba đường để làm gương răn đe thiên hạ. Khi nhà vua quyết định không cho tiền những người ăn trộm để họ về làm vốn sanh nhai mà đem chém đầu thì nhà vua nghĩ rằng biện pháp mạnh như vậy sẽ làm cho người dân sợ không đi ăn trộm nữa. Ở trong kinh nói lúc đó khi bắt đầu có sự trừng phạt nghiêm khắc chẳng những người ta không bớt đi ăn trộm mà họ vẫn đi ăn trộm và mang theo vũ khí để đề phòng khi lính bắt họ sẽ tự vệ chống trả được, khi có nhiều đao trượng binh khí thì sanh ra sát sanh tại vì họ mang theo binh khí khi họ ăn trộm họ đánh đập giết người chủ nhà, và khi sát sanh nhiều thì bao nhiêu tệ nạn xảy ra. 

Ở trong lịch sử Trung Hoa có hai nhân vật chủ trương pháp trị giống như ngày nay bên Hoa Kỳ họ theo chánh sách Law and Order - Luật Pháp và Trật Tự đó là Vệ Ưỡng và Vương An Thạch. Đời chiến quốc thì Vệ Ưỡng là một pháp gia chủ trương là dùng luật lệ rất hà khắc và về sau này An Thạch  cũng vậy nhưng cả hai nền pháp trị đó đều thất bại. Do vậy để tạo ra sự quân bình lúc nào cần khoan thì khoan lúc nào cần nghiêm thì nghiêm. 

Nó là một nghệ thuật, như dạy con nếu nghiêm khắc quá con không nhận được tình thương của cha mẹ nhưng nếu thương con quá thì con cũng hư. Do vậy Đức Phật dạy đối với tâm của chúng ta, lúc nào cần áp đảo thì áp đảo lúc nào cần khuyến khích thì nên khuyến khích. 

Hai cặp đầu tiên này sự quân bình rất khó, cần phải cẩn thận tại vì bản thân của hành giả ít có đối xử với tâm của mình phải chăng, chúng ta thường rơi vào cực đoan là hễ mình chế ngự tâm mình thì lúc nào cũng đàn áp mà mình khích lệ tâm mình thì lúc nào cũng nuông chìu nó. 

Thì ở đây Đức Phật nói biết lúc được khích lệ và biết lúc nên áp đảo. Giả xử như trong trường hợp tâm mình giải đãi nhiều quá hoặc giả tâm của chúng ta mông lung thì đó là lúc chúng ta cần áp đảo, nhưng khi tâm chúng ta suy sụp tâm chúng ta bị buồn nản thì đó không là lúc nên áp đảo mà lúc đó chúng ta nên khích lệ tâm của mình.

2. - Hân Hoan và Trú Xả

Hai pháp tiếp theo có những lúc trong sự tu tập chúng ta cần hân hoan nhưng  có những lúc trong sự tu tập chúng ta cần bình thản, trong bài kinh này gọi là trú xả là bình thản. Trong Thanh Tịnh Đạo đề cập đến hình ảnh của một người đánh xe khi lấy trớn khởi hành thì cần hô cần hét cần làm sao cho con ngựa phấn chấn đi tới, nhưng một khi đạt được vận tốc bình quân vận tốc mình cảm thấy được rồi thì nên giữ yên như vậy và đừng can dự nhiều.

 Thí dụ mình thành lập một tổ chức sinh hoạt ở trong chùa hay trong giai đoạn nào đó thì mình phấn khởi nhưng không phải phấn khởi hoài đến một giai đoạn bảo hoà giai đoạn cần làm mọi việc bằng cái nhìn tương đối nhẹ nhàng nhất trú xả nhất không có huyên náo. Chúng tôi nhớ hồi mới  thành lập chùa có Ngài HT về chùa Phật tử cứ lui tới hoài mà lui tới thời gian chúng tôi không làm được gì hết cứ vài ba giờ đồng hồ có người lui tới phải ngồi nói chuyện mất nhiều thì giờ, thì đến giai đoạn nào đó mình phải bảo hoà, bảo hoà ở đây là trạng thái trú xả tức là nếu chuyện đó đã chạy rồi, nếu chuyện đó nó đã tự nó tiếp tục được rồi, nếu chuyện đó đã bắt chớn được rồi thì mình nên giữ tâm tương đối, tương đối là nhẹ nhàng để mắt nhìn không có buông lơi nhưng không có hào hứng quá. Thành ra giữ sự hân hoan và tâm bình thản là hai trạng thái đều cần, không phải lúc nào mình cũng nồng nàn không phải lúc nào cũng nhiệt tình mà có đôi lúc chúng ta cũng cần có trạng thái bảo hòa, trạng thái thanh thản.

3. Trạng thái hướng thượng và trạng thái hướng về Niết-bàn

Cặp thứ ba cũng là hai trạng thái đối lập, một trạng thái là hướng thượng gọi là tầm cầu cái cao qúi và một trạng thái khác gọi là hướng về Niết-bàn tránh thân kiến. 

Ở đây chúng ta lấy ví dụ, là một thời gian nào đó đi học thì người ta nên tha thiết sẽ học ra trường để làm ông này bà kia được làm chức này chức khác, nhưng nếu một người sau khi thành tài đỗ đạt rồi mà lúc nào cũng nghĩ đến địa vị, lúc nào cũng nghĩ đến mình là ai thì chúng ta sẽ gặp rắc rối là tại vì quá nặng về danh quá nặng về địa vị thì chúng ta sẽ khổ. Hành giả có những giai đoạn nên nghĩ đến cái gì đẹp cái gì cao cả cái gì tốt, và khi chúng ta có cái đẹp có cái cao cả chúng ta cần rất cẩn trọng tại vì nếu không chúng ta sẽ rơi vào thân kiến, nếu không thì chúng ta sẽ rơi vào chuyện là muốn đánh bóng bản ngã của mình, ưa chuộng tự ngã của mình và cái ngã tính trở thành một chướng ngại. 

Đây cũng là điểm tế nhị khác, rất là khó tại vì làm thế nào mà con người có thể hướng thượng, hướng thượng là gì? Là mong cho mình được tốt hơn được đẹp hơn nhưng trong cái mong cho mình được tốt mong cho mình được đẹp hơn thì cũng phải né tránh một điều là làm sao không rơi vào  ngã chấp không rơi vào chấp thủ "đây là tôi, đây là tự ngã của tôi" chuyện vừa làm cho mình được tốt làm cho mình được đẹp làm cho mình được an trú vào thiện pháp, đồng thời làm sao để tâm của mình không ngã chấp không nghĩ rằng "đây là ta, đây là của ta, đây là tự ngã của ta" thì đó cũng là vấn đề. 

Bài kinh ngày hôm nay Đức Phật đặc biệt Ngài dùng từ "sītibhāva" 

sīti là mát lạnh
 bhāva là trạng thái
 sītibhāva là một trạng thái thanh lương

Trong bài kinh này dùng chữ "vô thượng thanh lương", từ vựng này là từ vựng khó hiểu đối với người bình thường. Như trong tiếng Anh có chữ cool  người Mỹ hay nói "you cool" để chỉ cho một người có một sắc thái độc đáo một người chúng ta tạm gọi trong cụm từ "hư trần bất nhiễm trần" tức là mình sống trong thế giới đó nhưng mình không bị ảnh hưởng với thế giới đó mình giữ được bản sắc của mình. Và chữ vô thượng thanh lương ở đây chỉ cho một trạng thái mát mẻ không bị nhiệt não về phía bên này nhiệt não phiá bên kia.

Chúng ta thấy khi đi sâu vào thế giới của nội tại, đi sâu vào thế giới của tu tập, ngay cả cái tốt nhất của mình thì mình vẫn có thể bị rơi vào cạm bẫy, ngay cả nỗ lực của mình cũng có thể rơi vào cạm bẫy, để có thể lèo lách có thể đi băng ngang qua một nơi có nhiều tảng đá ngầm thì đó là cái khéo. 

Ngày xưa có câu chuyện, có những người thông thạo địa hình cất nhà trên một hòn đảo chung quanh có rất nhiều tảng đá ngầm, chỉ có họ mới có thể chèo thuyền đi vào bên trong đảo, người không biết thì đến đó dễ va vào đá ngầm và rất là khó vào đó được vì nước ở trên nhìn thấy bằng phẳng nhưng những đá ngầm ở dưới  không thể thấy được. Ngay cả hải quân Hoa Kỳ thỉnh thoảng bị tai nạn xảy ra ở gần bãi biển Nhật Bản vì bị mắc cạn, một chiếc tàu chiến khu trục hạm có bao nhiêu là máy móc mà bị mắc cạn là chuyện khó nghĩ nhưng chuyện đó cũng có thể xảy ra được trong thời đại này. Thì đối với tất cả chúng ta để tránh cảm bẫy rất là khó ở trong đời sống tu tập. 

Ở đây, Đức Phật đề cập đến 6 pháp này Ngài cho chúng ta biết mỗi một pháp đều có cái lợi và hại đòi hỏi cái khéo của chúng ta.

 Cặp đầu tiên Đức Phật dạy phải biết áp đảo áp chế tâm mình nhưng cũng phải biết lúc nào nên khích lệ tâm mình, mình nuông chìu quá nó cũng hư mà mình đàn áp nhiều quá nó cũng hư. Chẳng hạn, có những vị cha mẹ con làm gì sai thì đánh, đánh riết đứa nhỏ khờ, và có nhiều bậc cha mẹ chìu con quá, thật ra các bậc cha mẹ  dạy con nên có khoan có nghiêm, ngày xưa người ta có lý tưởng là cha mẹ là đấng nghiêm từ, mẹ thì rất thương yêu con là từ mẫu và cha thì rất nghiêm khắc gọi là nghiêm phụ, chữ nghiêm từ chỉ cho hai trạng thái vừa thương vừa cưng con nhưng vừa nghiêm nhưng không có khắc nghiệt, làm thế nào có cả hai vừa từ và vừa nghiêm thì con mới lớn lên một cách lành mạnh được. 

Tâm của chúng ta cũng vậy, ở đây Đức Phật dạy biết lúc nào nên áp đảo và biết lúc nào nên làm tâm phấn chấn, khích lệ tâm của mình, đó là sự tế nhị.  Biết lúc nào nên hân hoan và biết lúc nào nên hành xả. Hân hoan nghĩa là làm cho tâm phấn chấn, nhưng trú xả tức là nếu chuyện đó nó đã phất rồi thì mình đừng can thiệp vào nữa nên để tuần tự cho nó đi tới từ từ, tại vì một khi nó bộc phát rồi mình còn làm thêm nữa thì nó lại dư thừa cái dư thừa đó nó lại khiến cho đời sống của mình xáo trộn thêm. Thí dụ, ngày xưa một máy xe vận hành thổi càng nhiều xăng vào trong máy  thì máy mạnh nhưng thổi nhiều xăng nó dư không cần thiết và tạo ra ô nhiễm vì khói xăng và tốn kém xăng. Ngày nay người ta tạo ra hệ thống tự động để điều chỉnh lúc nào máy đã có trớn rồi không cần thiết phun thêm xăng vào, máy chạy ít xăng hơn và không gây ra ô nhiễm vì khói xăng. 

Đối với chúng ta có những lúc nên để tâm mình phấn chấn, mình làm việc đó mình nên hân hoan, làm việc đó mình nên có sự hào hứng, nhưng có những lúc nên để cho tâm của chúng ta thanh thản, nên để tâm chúng ta lắng đọng. Một người ngồi thiền mà hăng hái quá, lúc nào cũng mê ngồi thiền thích ngồi thiền quá, ngồi thiền giống như ghiền thì thật sự không có ngồi thiền được, ngồi thiền là phải trầm lặng phải thanh thản. Thành ra biết được lúc phải thanh thản, biết lúc hân hoan đó là một nghệ thuật. 

Nhưng chúng tôi nghĩ trạng thái sau là trạng thái khó nhất, tức là cặp sau cùng là trạng thái hướng thượng và trạng thái an trú vào không tướng tức là không có thân kiến. Hướng thượng là mình nghĩ làm sao để mình được tốt được cao qúi, nhưng khi mình được cao qúi, "ai cao qúi", "là tôi là ta" đó là vướng vào ngã chấp thì cũng sai.

 Nhưng nếu ở trong đời sống cái gì cũng nghĩ rằng cái này "không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải tự ngã của tôi, tất cả đều là không hết" thì đó cũng là vấn đề, tại vì chúng ta không có thành tựu đến đỉnh điểm của sự tu tập không thành tựu cái tốt đẹp của sự tu tập. Thì như vậy giữa sự hướng thượng giữa sự tự làm cho mình cao qúi vượt khỏi ngã chấp  lại là một sự không đơn giản, nó là một điểm tế nhị.

Bài kinh hôm nay Đức Phật đề cập chữ "sītibhāva" và ở đây chúng ta dịch là sự "thanh lương" tức là sự mát mẻ, ở đây là "tối thượng thanh lương" là đạt đến một trạng thái đôi khi trong tiếng Anh dùng chữ "cool" mình không dịch chữ "cool" được, chữ "cool" mang nặng tánh chất văn hóa xã hội vừa độc đáo vừa cá biệt vừa không bị ảnh hưởng và nó tạo cho chúng ta thấy được ở trong thế giới của cảnh giới tu tập thì ở trong cảnh giới đó đôi khi đòi hỏi chúng ta phải "cool" như vậy, tức là biết ứng xử một cách hợp tình hợp lý. 

Tính ra là 6 pháp nhưng chúng ta có 3 cặp và mỗi một cặp nó đều có một cái sự đối xứng mà chúng ta cần:

 - Biết lúc nào nên chế ngự nên áp chế tâm, biết lúc nào nên khuyến khích tâm.

- Biết lúc nào nên hân hoan, biết lúc nào nên trú xả.

- Biết lúc nào nên làm cho mình được cao qúi, và biết lúc nào nên an trú vào cảnh giới của không tướng mà không có ngã chấp.

Thì điều đó đòi hỏi sự quân bình. Quân bình là một nghệ thuật, cái gì cũng vậy, giữa cái cực đoan bên này và cái cực đoan bên kia nó chỉ là một đường tơ kẻ tóc, giữa hai cực đoan là trạng thái trung đạo điểm nằm giữa nó chỉ là đường tơ kẻ tóc nhưng ai biết được cái đường tơ kẽ tóc là người đã nắm được cái chìa khóa của sự tu tập./.

Sunday, November 26, 2017

Kinh Ngày và Đêm - Tăng Chi Bộ - Chương 6 VIII. - TT Giác Đẳng

Tăng Chi Bộ - Chương 6
VIII. Phẩm A-La-Hán
(X) (84) Ngày và Ðêm

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 21-8-2017

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài kinh này là bài kinh cuối cùng của phẩm Alahán. Alahán là bậc vô sanh, là  Ứng Cúng, là bậc hoàn toàn giải thoát. Trong phẩm này Đức Phật đề cập đến nhiều pháp và những pháp đó cho chúng ta thấy sự tương phản giữa đời sống của bậc giải thoát và đời sống của một phàm phu, đời sống của một người hướng cầu giải thoát và đời sống của một người đang thối đoạ đang đi xuống. Sự tương phản đó cho chúng ta nhiều bài học rất quan trọng về cuộc sống. 

Trong bài học hôm nay, một lần nữa Đức Phật đưa ra 2 hình ảnh tương phản: một là đời sống được thăng tiến trong thiện pháp, hai là đời sống thối đọa trong thiện pháp. Tức là đời sống đi lên và đời sống đi xuống, đời sống có tiến bộ và đời sống bị tổn giảm.

Tựa đề bài kinh là Kinh Ngày và Đêm (Rattidivasa Sutta). Ngày và Đêm là một cách nói như ngày hôm nay chúng ta nói trong 24 giờ trọn cuộc sống của chúng ta bao gồm bất cứ khi nào bất cứ lúc nào các hành hoạt của chúng ta đi đứng nằm ngồi, ăn uống ngủ nghỉ sinh hoạt. Với 6 pháp chúng ta có thể thấy mình đang bị thối đọa và với 6 pháp mình đang được thăng tiến.

Ba pháp đầu tiên, pháp thứ nhất ở trong đó gồm 3 pháp nhỏ, nhưng 3 pháp nhỏ này được xem như là 3 góc của một phiến đá và 3 pháp này đi chung nhau, 

1. Pháp thứ nhất, Gồm nhiều ham muốn, hay phiền lụy và không tri túc. 

Nhiều ham muốn là mình luôn luôn muốn cái gì tốt nhất, cái gì nhiều nhất, và cái gì hài lòng nhất, cái đó gọi là nhiều ham muốn.

 Ví dụ như đời sống của một người cư sĩ bình thường đi làm việc có tiền mua xe thì mua xe tốt nhất, ở nhà thì nhà tốt nhất, mặc bộ đồ cũng tốt nhất. Cái tốt nhất của mình là mình đạt đến cái gì mình nghĩ rằng có thể hãnh diện nó là đặc biệt là tốt, nhưng đó là đời sống của một người không tu tập một người cư sĩ tại gia một người cư sĩ đi làm.

Một vị xuất gia những cái gì mình xử dụng trong đời sống là của đàn tín cúng dường. Thí dụ họ cúng cho mình một đôi dép thì cũng không thể người xuất gia đòi hỏi một đôi dép phải là tốt nhất, hoặc cúng dường bộ y cũng không thể đòi hỏi bộ y tốt nhất, và nếu cái gì mình cũng mong cầu là được tốt nhất thì ở đây Đức Phật dạy đó là mahaicchā tức là đòi hỏi quá đáng, đòi hỏi nhiều. Đòi hỏi quá đáng, ở đây dịch là nhiều ham muốn 

Maha nghĩa là lớn
 Icchā nghĩa là đòi hỏi. 

Người ham muốn cái gì cũng nhất, cũng đặc biệt, cái gì cũng là thiệt là tốt thì người đó thường bị bực bội, bị bất mãn (vighàta) tại vì mình muốn nhiều quá mà không được đâm ra bực bội. Có những người phiền hà cả ngày, tâm  không vui vì muốn được cái này cái kia mà không được nên khó chịu. Ví dụ một vị tỳ kheo được vị cư sĩ mang thức ăn đến cúng dường mà nếu thức ăn  không vừa lòng thì nhăn nhó giống như người ta đụng chạm gì đến mình nhưng thực ra chỉ vì món ăn không vừa ý mình làm mình bực bội. Hay là người ta cúng dường bộ y không như mình mong mỏi nó tốt mà nó không tốt mình đâm bực bội, hoặc giả có trăm thứ bực bội thì cái phiền hà phiền lụy  bực bội đó là vighàta.
Và một góc khác của một vấn đề là không có tri túc (asantuṭṭhi) là mình không thoả mãn không hài lòng mình không dễ dàng chấp nhận một cách thoải mái những gì mình có trong tứ vật dụng như y phục, chỗ ở, thuốc men. 

Nhìn lại 3 pháp này, ham muốn nhiều quá thường dẫn chúng ta đến bực bội khi mà cái gì muốn có mà mình không được, sự bực bội đó sự ham muốn đó nó có góc cạnh khác cho chúng ta thấy rằng chúng ta không có tri túc, một người tri túc là người bằng lòng với cái gì phát sanh đến cho mình, lấy ví dụ như đến giờ ăn cơm ngày hôm đó là một ngày vị thí chủ tương đối nghèo, họ mang thức ăn đạm bạc đến thì mình vẫn ăn và ăn một cách rất ngon lành chứ không chê là tại vì nghĩ rằng người ta có lòng mang đến cho mình và sự cúng dường của họ là sự phát tâm, mình có ăn là hoan hỉ rồi đó là sự tri túc. Hay hoặc giả đời sống mình cái gì mình có mình nên vui với nó. Có những người trong đời sống họ không bao giờ vui với cái gì mà mình có, lúc nào cũng nghĩ cái tốt hơn và đem cái tốt hơn để so sánh và do vậy không vui với cái hiện tại, nhưng đời sống của một vị tu tập nên tập tri túc. Như y áo để mặc, thực phẩm để ăn có ở mức độ nào đó không đói không lạnh như vậy mình cũng hoan hỉ rồi, thì đó là sự tri túc.

Do vậy pháp đầu tiên cho chúng ta thấy có 3 góc cạnh tạo thành hình tam giác, nó giống như 3 góc của một phiến đá là ham muốn quá độ, hay phiền hà bực bội và không tri túc. 

Người không tri túc thì luôn luôn muốn thêm không bao giờ thấy đủ và người không tri túc luôn luôn bực bội những gì mình đã có và 3 pháp này chúng là 3 góc của một phiến đá nó liên kết nhau. 

Đức Phật dạy chúng ta sống một trong những yếu tố của một vị tu tập là dễ nuôi, dễ nuôi là đừng làm khó người khác về cái ăn cái mặc cái ở của mình, có nhiều ăn nhiều, có ít ăn ít, có ngon ăn ngon, có dở thì ăn dở. Đôi khi chúng ta hay chú trọng đến những gì mình ăn, nhưng thật sự cách mình ăn rất quan trọng, mình ăn như thế nào mà mình không làm phiền hà người khác, không gây khó khăn người khác, ăn thế nào mà nó không phải là chuyện tạo nên vấn đề lớn khiến cho người khác phải nhọc sức về mình. Thật tình mà nói thì thí dụ như chúng tôi xuất gia qúi Phật tử đến chùa qúi Phật tử rất là lo lắng qúi vị tìm cái gì đó thích hợp với Chư Tăng đó là tấm lòng của qúi Phật tử nhưng riêng với đời sống của Chư Tăng thì đúng nghĩa đời sống samôn là một vị khất sĩ không phải là một người lựa chọn, một vị khất sĩ là người sống dễ dãi.

 Đức Phật khi là một vị hoàng tử Ngài rời thành Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ) vào ngày trăng tròn thángVesak. Ngày hôm sau Ngài từ giả Channa (Xa Nặc) người hầu của mình,  Xa Nặc đã lên ngựa Kiền Trắc trở về thành Ca Tỳ La Vệ mang những vật trang sức áo mão thì lúc bấy giờ Đức Bổn Sư của chúng ta ngay trong ngày đầu tiên Ngài với chiếc bình bát trên tay đi khất thực trong làng, người ta đặt vào đó những thực phẩm mặn có, ngọt có, ngon có, dở có, sạch có, dơ có, Ngài trở về dưới gốc cây, ở trong đời Ngài từ nhỏ cho tới lớn 29 năm trong khuôn vàng điện ngọc chưa bao giờ Ngài thọ thực những thức ăn gọi là hỗn tạp nhiều thứ nhiều mùi vị khó ăn như vậy và trong kinh diễn tả lúc đó cảm giác lợm giọng muốn mửa, có lẽ Ngài cảm thấy muốn lợm giọng nhưng mà rồi Ngài bằng tất cả nghị lực của Ngài quán tưởng và Ngài tự nhủ với chính Ngài đây là thực phẩm mà Ngài sẽ ăn từ đây cho đến trọn đời. Sự tự nhủ rất đẹp và Ngài đã ăn hết thực phẩm đó. Buổi tối hôm đó Ngài đã ngủ dưới một gốc cây không có người hầu, không có người canh gác, Ngài ngủ như một vị tu sĩ lang thang ở giữa núi rừng không có chỗ nào để trú. Và chúng ta hãy nghĩ Ngài là một ông hoàng chưa bao giờ gót chân son của Ngài đi chân trần bây giờ Ngài đi bằng chân không và Ngài đã sống như vậy cho đến khi Ngài viên tịch, hình ảnh đó nhắc nhở chúng ta một cái gì rất cao cả ở trong một nếp sống mà một khi mình tu tập đó cuộc sống tất nhiên. Ngày hôm nay đôi khi chúng ta đòi hỏi hơi nhiều khi mình vào trong một tu viện, một ngôi chùa hay một thiền viện thì chỗ ăn như thế này, chỗ ở như thế kia. Khi mà sự kỳ vọng nó làm cho chúng ta không dễ nuôi, đời sống đi tu là người ta sống được thì mình phải sống được, người ta sống thế nào thì mình sống thế đó trừ khi trong người có bịnh thì Đức Phật cho phép nên lựa cái gì thích hợp, nên yêu cầu gì thích hợp, nếu chúng ta bình thường thì yếu tố dễ nuôi là một yếu tính quan trọng của đời sống tu tập. 

Và chúng ta nhớ một điều rằng nếu mình không tri túc thì hai pháp khác cũng đi kèm đó là nhiều ham muốn và nhiều bất mãn, mình không hài lòng cái mình có thì lại muốn những thứ khác và muốn không được thì đâm ra bất mãn. Thật ra nó là 3 góc của một phiến đá và 3 pháp đó luôn luôn đi chung với nhau.

2. Pháp thứ hai: có niềm tin. 

Niềm tin tạo cho chúng ta một sự nhắc nhở, mỗi chúng ta đều là phàm phu, mỗi chúng ta đều có những giây phút sống giải đãi, mỗi chúng ta đều có những giây phút bị phiền não chi phối nhưng chính niềm tin đưa chúng ta trở về với những giá trị cao cả. Chúng ta đi vào các ngôi chùa thường đến lạy Phật bằng niềm tin, chúng ta đi vào những nơi tôn nghiêm với sự cung kính bằng niềm tin. Thí dụ, một vị tu sĩ xuất gia hay một vị cư sĩ khi lên chánh điện đó không phải là chỗ mình ngồi nói chuyện phiếm, cũng không phải là nơi mình bàn những chuyện không đâu ra đâu, khi mình lên chánh điện phải biết đó là nơi thờ Phật giữ tâm rất cung kính. Một điều chắc chắn như vầy là nếu chúng ta vào trong chánh điện chúng ta nói những chuyện không đâu ra đâu nhất là gây gỗ trong chánh điện thì lát nữa tại chỗ đó mình qùy lạy Phật tâm mình không thành kính, nhưng nếu chúng ta bước vào trong chánh điện mình nghĩ rằng đây là nơi thờ phượng Đức Phật bằng tất cả sự tôn kính, nói nhỏ lại vừa đủ nghe nếu cần, và ngồi một cách trang nghiêm thì chỗ trang nghiêm đó sẽ làm tâm của chúng ta được trang nghiêm và chúng ta tụng kinh tốt hơn, chúng ta sẽ ngồi thiền tốt hơn tại vì ở đó có niềm tin thể hiện trong đời sống chúng ta là chúng ta có làm phước. Niềm tin ở đây là niềm tin ở tam bảo, niềm tin ở nghiệp báo, niềm tin ở Chư Thiên. 

Ngày hôm nay có nhiều người niềm tin của họ là chuyện gì cũng tin vào phong thủy, không tin vào Tam Bảo, cái gì cũng tin vào thầy bói. Ngay cả chúng tôi sống ở chùa có những người Phật tử vào chùa nhiều khi họ không quan tâm đến cầu nguyện nhiều mà cứ nghĩ đến chuyện làm phong thủy. Nó khổ là niềm tin đó ảnh hưởng chúng ta. Chúng ta phải có chánh tín, chúng ta phải có niềm tin mạnh mẽ ở Tam Bảo, tin ở phước báu, tin ở Chư Thiên và niềm tin đó là một sự nhắc nhở sẽ làm cho chúng ta trở lại với cái giá trị tốt đẹp sau những giây phút giải đãi trong cuộc sống của mình.

Ngài Ajahn Chah và rất nhiều vị Thiền Sư thường nhắc nhở rất kỹ là khi mình lên pháp xá trước khi ngồi thì lạy Phật 3 lạy, và buổi tối chánh điện ở hướng nào thì quay về hướng đó lạy Phật 3 lạy rồi đi ngủ, ở trong phòng tuy chỉ có một mình nhưng sự lạy Đức Phật đảnh lễ Đức Phật thường xuyên làm chúng ta tăng trưởng niềm tôn kính, và điều đó củng cố đức tin của mình. Hoặc giả khi chúng ta trong cuộc sống gặp những khó khăn thay vì mình sợ hãi, khi gặp khó khăn thì mình bực bội bất mãn, hay khi mình gặp khó khăn mình gọi điện thoại mình nói chuyện tâm sự người này người kia, thì chuyện gặp khó khăn với một người có niềm tin việc đầu tiên mình nghĩ đến Tam Bảo.

 Chúng tôi ở với Ngài Hộ Giác thỉnh thoảng nhiều khi gặp những chuyện khó khăn trong đời sống, nhất là làm việc giáo hội, chúng tôi phải nói là làm việc trầy da tróc vẩy chứ không thường và khi làm việc khó khăn như vậy chúng tôi lên chánh điện tụng kinh, và sau khi tụng kinh chúng tôi chia phước đến Chư Thiên, đó là thái độ của niềm tin, chúng ta sống mà không có niềm tin mạnh mẽ thì mình dễ trôi dạt, niềm tin là định hướng cho mình sống, mình tin vào Tam Bảo.

 Ngài Ajahn Sumedho là một tăng sĩ người Mỹ, một điều chúng tôi rất kính Ngài là khi chúng tôi gặp Ngài ở Bangkok Thái Lan, chúng tôi nói chuyện với Ngài là đời sống của chúng tôi có nhiều khó khăn, lúc đó Ngài khuyên Ngài nói khi Ngài qua Thái Lan thời gian đầu Ngài gặp nhiều chuyện đôi khi Ngài không biết làm gì nữa nhưng Ngài cứ niệm câu tam quy:

Buddham saranam gacchami,
Dhammam saranam gacchami,
Sangham saranam gacchami

là 
con về nương tựa với Phật,
con xin nương tựa với Pháp,
con xin nương tựa với Tăng.

Khi gặp khó khăn mình tự nhắc lấy mình là:

 con xin nương tựa Phật
 con xin nương tựa Pháp
 con xin nương tựa Tăng. 

Sự nhắc nhở đó lợi cho mình cảm thấy vững lòng, và khi mình có được niềm tin mạnh mẽ thì đó là năng lực vô hình. Người  biết Phật Pháp, có quy y Tam Bảo mà không xem Phật Pháp Tăng là nơi nương tựa thì thật sự rất đáng tiếc tại vì mình mất đi chỗ tựa rất lớn. Một đứa con còn nhỏ khi gặp chuyện gì nguy hiểm cũng kêu mẹ cha tức là nghĩ tới chỗ nương tựa có cha có mẹ thì bình an cảm thấy ấm áp. Đời sống tu tập cũng vậy, khi gặp khó khăn hãy niệm Tam Bảo.

 Buddham saranam gacchami, 
Dhammam saranam gacchami,
Sangham saranam gacchami

con về nương tựa với Phật,
con xin nương tựa với Pháp,
con xin nương tựa với Tăng.

Trong kinh dạy rằng: con người thường đi đến các cội cây các miếu đền để nương tựa, nhưng những ai nương tựa Phật nương tựa Pháp nương tựa Tăng tìm thấy sự nương tựa cao qúi. Mình tu tập thì phải có đức tin, đức tin rất quan trọng.

3. Pháp thứ ba, có giới hạnh

Đời sống của chúng ta phải có nguyên tắc cái gì mình làm được, cái gì mình không làm được. Những nguyên tắc này dựa trên giới bổn Đức Phật Ngài dạy cho chúng ta. Cuộc sống không có nguyên tắc thì mình sẽ đi quá lằn ranh, tốt hơn hết là mình sống ở trong một khuôn khổ khả dĩ làm cho mình cảm thấy yên tâm là mình sống như vậy là được. Thí dụ, một người phát nguyện giữ Thập Thiện hay giữ Bát Quan Trai Giới, hay giữ Ngũ Giới chỉ đơn giản một điều mình giữ làm sao khẩu nghiệp của mình không nói dối, không nói đâm thọc, không nói độc ác, không nói nhảm nhí vô ích và nguyện giữ những điều đó  mình cảm thấy lợi ích, đó là nguyên tắc sống đó đời sống giới hạnh mà Đức Phật Ngài dạy rất đẹp. 

Ngài Narada trong quyển Đức Phật và Phật Pháp Ngài chia chữ giới ra 3 cấp độ:

- Cấp độ đầu tiên ở trong 10 pháp balamật, Ngài viết là những nguyên tắc sống như trong kinh Thi Ca La Việt, thí dụ cha mẹ đối với con cái, con cái đối với cha mẹ, vợ đối với chồng, chồng đối với vợ, bạn bè đối với nhau, thầy trò đối với nhau, chủ tớ đối với nhau, tăng tục đối với nhau. Những nguyên tắc đó là những nguyên tắc sống và nếu những người sống với những nguyên tắc đó thì cũng là một thứ giới hạnh.

- Cấp độ thứ hai có tánh cách liên hệ đến 3 nghiệp của chúng ta là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp tức là mình tránh xa thập ác. 

Thập ác là:
 Thân thì có 3 không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh
Khẩu không nói dối, không nói đâm thọc, không nói lời độc ác, không nói nhảm nhí vô ích.
Ý không tham ác, sân ác, tà kiến ác.

- Cấp độ thứ ba là giới mình thọ trì như thọ Bát Quan Trai hay thọ Ngũ Giới, Tỳ Kheo Giới v.v... cấp độ thứ ba.

Thì dù ở cấp độ nào đi nữa đời sống mình có một số nguyên tắc mình phải tuân giữ. Chúng tôi nói cách giữ giới rất là đẹp đó là mình chỉ lập tâm không bao giờ nói xấu sau lưng người khác, bực bội thì yên lặng vậy thôi nói ra nói vô thì cũng vậy, không nói xấu, đó cũng là cách để mình tránh nói lời chia rẽ, tránh được nói lời độc ác nói lời nhảm nhí vô ích. Hay là mình nguyện không nói lời độc ác, không nói lời đay nghiến, không nói lời làm cho người khác buồn phiền, mình nên nói lời nói với tâm từ. 

Nói chung, Đức Phật Ngài không có đòi hỏi, Ngài không có điều răn, nhưng Ngài có cho chúng ta biết có nhiều giới hạnh và những thứ giới hạnh đó nếu chúng ta phát tâm thọ trì thì đời sống chúng ta đẹp, nhất là ở trong các thiền viện có thanh qui và thanh qui này các vị thiền sư dạy một người vào trong thiền viện thọ trì những thanh qui này và chấp nhận một cách hoan hỉ thì điều đó là có lòng tự tin.

4 - Pháp thứ tư, có sự tinh cần, có sự cố gắng.

Sự cố gắng ở đây là một nỗ lực không ngừng nghỉ, nỗ lực đi xa hơn, nỗ lực muốn làm tốt hơn. Thái độ biếng nhác lười biếng trong đời sống là sống cho qua ngày, sống xem như mình có quá dư thời gian không biết làm gì cứ lo ăn lo ngủ rồi thời gian đi qua không làm được chuyện gì tốt để cống hiến thì đời sống biếng nhác nó không đơn thuần là chúng ta không tiến bộ mà bắt chúng ta trả giá rất đắc là những thiện pháp sẽ tổn giảm và những ác pháp sẽ tăng trưởng. 

Về điều này chúng tôi thường nghe một số bậc thầy đưa ra thí dụ một mảnh đất trống nếu siêng năng trồng trọt thì phải dọn đất cho sạch nhưng nếu để miếng đất trống như vậy không có nghĩa là miếng đất trống sẽ nằm yên như vậy, cỏ dại và những cây hoa những dây leo sẽ mọc lên và khi nó mọc lên chúng ta sẽ thấy càng ngày nó càng tệ hại thêm. Ở bên Mỹ về điều này chúng tôi thấy đôi khi một căn nhà bỏ trống bị mục mau hư, thậm chí một cây săng có người buôn bán tự nhiên trông nó bình thường, mình đi ngang qua quanh năm suốt tháng thấy nó bình thường, nhưng nếu cây săng đó bỏ hoang một vài tháng cỏ mọc từ trong những khe hở ximăng, ở trên chỗ có đất, thì chẳng những vậy những bông cỏ theo gió bay lên trên nóc của những cây săng bỏ hoang và mọc cỏ trên đó, còn bình thường nếu cây săng có sinh hoạt cỏ không mọc tại vì có người săn sóc cỏ ở dưới không mọc thì không có bông cỏ bay lên nóc để mọc cỏ ở trên nóc, thường một nơi 5, 7 tháng không được xử dụng tới cảnh rất tiêu sơ hoang tàn tại vì bỏ trống không người coi sóc. 

Đức Phật Ngài dạy trong kinh Pháp Cú  "Kinh không tụng làm nhớp kinh" tức là quyển kinh không tụng thì bụi đóng. Sự biếng nhác bắt chúng ta phải trả giá rất lớn. Ở trong đời sống không ai thiếu tinh cần, không ai trong đời sống biếng nhác mà không bị ác pháp chi phối. Đời sống là một đời sống có nỗ lực, có cống hiến, có cố gắng. Một khi đời sống không có cống hiến, không có cố gắng thì giống như miếng đất mình không xử dụng tới để trống dây leo sẽ mọc, cỏ hoang sẽ mọc, cây dại sẽ mọc, điều đó là điều chắc chắn, không tránh khỏi. 

Riêng trong kinh Pháp Cú, Đức Phật Ngài nói rất nhiều về điều này. Ví dụ Ngài đưa ra hình ảnh "Bậc trí luôn luôn nỗ lực bỏ lại sau lưng con ngựa hèn", con ngựa hèn thì không thể nào tiến tới được tại vì nó không có nghị lực. Hay hoặc giả Ngài dạy những người sống buông thả lười biếng sống như chết rồi tại vì vô vị, họ không trân trọng thời gian, không trân trọng những giây phút mình đã có. Một người tinh tấn thì họ thấy thời giờ mình có, sức khỏe mình có, điều kiện mình có nó luôn là vốn liếng rất qúi để tạo ra những gì tốt đẹp. Còn một người làm biếng thì thân họ dù khỏe thì giờ họ dù có, thậm chí tiền bạc phương tiện họ có nhưng họ lười biếng thì họ thấy những thứ đó là những thứ nặng nề không sài được. Đức Phật Ngài dạy người lười biếng giống như chết rồi, Ngài nói người tinh cần thì họ được bất tử và buông thả thì giống như chết rồi.

5 - Pháp thứ 5, ở đây là pháp có chánh niệm. 

Chánh niệm tức là khả năng thường hướng sự chú ý vào thân tâm mình, biết mình làm gì nói gì và thường sống không có sự quên lãng, một người sống hướng ngoại nhiều quá, một người ít khi nhìn lại thân tâm của mình, ít khi nhìn lại quán chiếu thân tâm của mình, ít có để ý đến cái gì mình đang làm thì thường mình sống trong sự quên lãng. Đức Phật Ngài dùng ở tại đây  muṭṭhassati là sống trong sự thất niệm, sống quên lãng.

 HT Nhất Hạnh có một câu kinh "Nguyện muôn loài chúng sanh, bỏ cõi lãng quên, quay về tâm tỉnh thức" 

Cõi lãng quên là sống quên trước quên sau và quên chính mình là ai. Thường hay có ví dụ là con chó săn mồi, nó chỉ biết chạy để săn mồi, bất chấp nguy hiểm để chạy theo con mồi, nó không biết bản thân của nó là ai.  Ngài Ajahn Chah  có ví dụ về con gà người ta nuôi cho nó lớn, nó cố tình ăn cho lớn rồi người ta làm thịt, nó không biết thân phận nó là ai, nó thích ăn để mập để người ta làm thịt. Đời sống của chúng ta sống trong sự lãng quên, sự lãng quên khác biệt với chữ Buddha hay Phật Đà là bậc tỉnh thức sống là biết mình.

 Ví dụ như mình không tri nhân, tri quả, tri bỉ, tri kỷ, tri thời, tri hội, và tri độ, mình không biết mình là ai và không biết người khác là ai, mình không biết nguyên nhân nào tạo ra quả này và không biết việc làm này tạo ra quả nào, mình cũng không biết thời gian nào thích hợp, mình cũng không biết thời lượng nào thích hợp, mình không biết đám đông nào thích hợp, và mình cũng không biết mình là ai, đó là sống trong sự quên lãng. Người sống biết mình là biết nói vừa chừng, biết nói thích hợp, biết nói những điều thích hợp, biết hành động thích hợp ít khi lỡ lời, ít khi có những việc làm sau này phải ân hận. 

 Khả năng một người có thể sống thường ghi nhớ chính mình đó là phát huy chánh niệm. Thỉnh thoảng ngồi xuống nhắm mắt lại để xem mình đang thở vô hay đang thở ra, thỉnh thoảng ngồi xuống để cảm nhận mình đang vui, đang buồn, đang thoải mái hay không thoải mái hay đang thản nhiên điều này rất hay là khi nào mình có phiền não đang sân hận đang ganh tỵ hay giận dữ thì thay vì chạy theo sự giận dữ đó mình ngồi xuống nhìn vào cảm giác giận dữ đó để mình cảm nhận trọn vẹn là mình đang giận dữ, khi đang bực bội mình ngồi xuống ở một chỗ nào đó yên lặng tập nhìn vào sự bực bội của chính mình coi trạng thái như thế nào điều đó có lợi cho mình hơn là ngồi đó giận ai nhai tới nhai lui mình tìm cách trả đũa hay thù hận họ, mình nhìn lại tâm của mình lúc đó để thấy trạng thái tâm của mình.

Nếu qúi vị chưa quen thì làm thử rất là lợi lạc cho đời sống nó là một trong những yếu tố mà chúng ta gọi là Sati - Chánh Niệm, không phải là mình ráng cố gắng suy nghĩ giải quyết việc ở bên ngoài mà mình nhìn lại trong tâm của mình xem thử coi lúc đó mình đang sống với trạng thái tâm như thế nào, còn nếu bình thường không có chuyện gì thì thỉnh thoảng ngồi xuống coi mình đang thở vô hay mình đang thở ra, điều đó có lợi cho mình, khi nào mình làm biếng hay hào hứng về chuyện gì đó thì mình cũng ngồi xuống lẳng lặng nhìn vào trạng thái đó, cái khả năng nhìn đó nhìn vào hiện tại đó nó khiến cho mình tỉnh táo hơn, mình nhớ nhiều hơn là mình sống trong sự quên lãng, tâm hướng ngoại nhiều quá thì mình quên lãng, sống bận rộn nhiều quá thì mình quên lãng, sống mà ít có phản tỉnh thì mình hay sống trong quên lãng "từ bỏ cõi lãng quên quay về tỉnh thức", đó là sự màu nhiệm của đời sống.

6 - Điều thứ sáu, là trí tuệ

Điều sau cùng Đức Phật dạy là sống với trí tuệ thì thiện pháp tăng trưởng, sống không có trí tuệ thì thiện pháp tổn giảm. Trí tuệ cho chúng ta nhận định đúng phán xét nhân quả. Mình để ý lúc nào tâm của mình có thù hận, có tham lam si mê mà vắng mặt trí tuệ thường cái nhìn của mình phiến diện cái nhìn của mình một chiều mình không thấy được vấn đề.  Con người mà trí tuệ được thắp sáng là khi nào mình bình tâm lại nhìn vấn đề có nhân quả. 

Trong Phật Pháp thì trí tuệ diệu dụng ở điểm yoniso-manasikāra là khéo suy nghĩ hay khéo tác ý gọi là dấu hiệu của trí tuệ. 

Ngài Hộ Giác nói rằng "khi mất cái gì đó mình không tự trách mình không khéo giữ mà tại vì người ta khéo lấy, và khi mình còn cái gì đó mình đừng nghĩ là mình quá giỏi mà là tại vì người khác chưa muốn lấy thôi".

Đời sống mình cũng vậy, cuộc sống gặp những chuyện buồn phiền thay vì  bực tức thì mình suy nghĩ rằng cuộc sống phải có vui có buồn như trời có mưa có nắng đó là vô thường. Hay hoặc giả như Ngài Puna, Ngài cũng dùng trí tuệ để nhìn thấy yoniso-manasikāra khi Đức Phật hỏi Ngài Puna 

- "Nếu những người xứ đó chửi con thì con nghĩ sao" 

Ngài nói rằng: "Họ còn rất tốt tại vì họ mới chửi thôi chứ họ chưa đánh con".

Trong đời sống ai mà không chào chúng ta chút xíu thì chúng ta bực bộ, họ  làm lơ đi mình giận cũng được nhưng mình nghĩ như vậy là mình không có yoniso-manasikāra, mình nên nghĩ là người ta giận mình thay vì người ta chửi mình mà họ gặp mình họ yên lặng là họ tử tế lắm rồi, và khi họ chửi mình thì mình nghĩ như Ngài Punna rằng cũng may là họ chỉ chửi mình chứ họ có thể đánh mình hoặc nghĩ rằng họ có thể mướn xã hội đen đến giết mình được nhưng họ đã không giết mình, họ không đánh mới chửi mình thì mình nên cám ơn họ. Nói như vậy có vẻ  là quá nhưng thật ra thì nhiều khi chúng ta không ghi nhận thiện chí của chung quanh đối với mình, chung quanh người ta không nói đến mình họ cũng là tốt lắm rồi do vậy cái gọi là khéo suy nghĩ nó là dấu hiệu của trí tuệ là ít nhất là mình nhận ra được khía cạnh tích cực của nó để cho đời sống của chúng ta ít có phiền não, có trí tuệ thì đời sống của chúng ta ít phiền não.

Sáu pháp này Đức Phật Ngài dạy là sáu pháp làm cho thiện pháp tổn giảm hay thiện pháp tăng trường.

 Sáu pháp làm cho thiện pháp tổn giảm là: đối với những nhu cầu chúng ta muốn quá nhiều, bực bội quá nhiều, thiếu tri túc, và trong đời sống hàng ngày thiếu lòng tin, thiếu giới hạnh, biếng nhác, thất niệm và không có trí tuệ, 

Sáu pháp làm cho chúng ta tăng trưởng trong thiện pháp là thiểu dục, ít có phiền lụy, ít có phiền hà, có tri túc, có niềm tin, có giới hạnh, có tinh cần, có chánh niệm và có trí tuệ. 

Đức Phật Ngài dạy những điều này không phải là những điều răn mà là những chìa khóa cho cuộc sống tu tập nếu chúng ta chiêm niệm cho kỹ thì chúng ta thấy rằng những điều này là trực tiếp rất thiết thực liên hệ đến đời sống tu tập hàng ngày của mình. Mong rằng tất cả chúng ta có một cái nhìn làm sao để cho thiện pháp tăng trưởng không bị thiện pháp tổn giảm ./.