Tuesday, April 17, 2018

Như lai nói : Y chỉ vào Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận - TT Tuệ Siêu

Thảo luận: Như lai nói : Y chỉ vào Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận ( jhānaṃ nissāya āsavānaṃ khayaṃ vadāmi) mang ý nghĩa thế nào? 

Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 14-3-2018 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu: Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật Ngài dạy: Natthi jhānaṁ apaññassa, paññā natthi ajhāyato

Natthi jhānaṁ apaññassa - Người không có tuệ thì không có thiền
paññā natthi ajhāyato - Người không tu thiền thì không có tri tuệ
- Natthi jhānaṁ apaññassa, paññā natthi ajhāyato
 - người không tuệ thì không có thiền, người không tu thiền thì không có tuệ

Chỉ có trường hợp: 

yamhi jhānañ-ca paññā ca sa ve Nibbānasantike. - người có thiền và có trí tuệ nhất định nhập Niết-bàn

Tức là chứng Niết-bàn - Nibbānasantike

Thì ở đây, rõ ràng trong câu kinh Pháp cú này cũng như trong bài kinh Tăng Chi Bộ (V) (36) Thiền, Đức Phật Ngài  khẳng định Y chỉ vào Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận. Chúng ta phải hiểu ý nghĩa như thế nào khi nói đến y chỉ vào thiền có tuệ quán đoạn trừ lậu hoặc.

Trong bộ Visuddhimagga - Thanh Tịnh Đạo đề cập đến 3 phần là:

- Giới hay  Tăng Thượng Giới - Adhisīla, 
- Định - Samadhi - hay là Tăng thượng tâm - Adhicitta
- Tuệ hay là Tăng Thượng Tuệ paññā hay Adhipaññā

Như vậy, trong bộ chú giải Thanh Tịnh Đạo đặc biệt nhắc đến Giới là nền tảng sanh định, định làm nền tảng sanh tuệ .

Định làm nền tảng sanh tuệ là nói theo Tam Học gồm có 3 chi phần:

Trong Bát Chánh Đạo thì Chánh tinh tấn (Sammāvāyāmo), Chánh niệm (Sammāsati), Chánh định (Sammāsamādhi) thuộc về Tăng Thượng Tâm hay là định học.

Khi nói đến  Chánh ngữ (Sammāvācā), Chánh nghiệp (Sammākammanto), Chánh mạng (Sammā-ājīvo) thuộc về Tăng Thượng Giới.

Và Chánh kiến (Sammādiṭṭhi), Chánh tư duy (Sammāsaṅkappo) thì thuộc về tuệ. 

Chúng ta phải hiểu như vậy. 

Cho nên khi chúng ta nói thiền ở đây bao gồm cả sự nhiệt tâm (ātappa) sato hay là sati tức là niệm vững chắc, niệm bén nhạy và thứ ba nữa là Samadhi, hay samadho là sự an trú hay sự an định

 Như vậy rõ ràng nếu tâm chúng ta bị phóng dật biếng nhác thì tuệ không thể  phát triển mạnh mẽ được. Cho nên chính vì thiền định sẽ thay đổi cuộc sống của vị hành giả, vị hành giả mà có thiền định là vị hành giả có sự nhiệt tâm mà có sự nhiệt tâm thì tuệ sẽ phát sanh.

Rồi lại nữa, vị hành giả có được thiền định thì có chánh niệm bén nhạy. Một người không tu thiền đừng nghĩ rằng sẽ có chánh niệm, mà thường hay quên trước quên sau bởi vì tâm phóng dật tâm thất niệm. Còn đối với người có tu tập thiền thì người đó chánh niệm bén nhạy. Chúng tôi nói có tu tập thiền ở đây là tu thiền thật sự chứ không phải tu thiền theo phong trào gọi là tu thiền nhưng ngồi lim dim ngủ gật, đó không phải là loại thiền để tạo sự tinh tấn và có chánh niệm.

3. - Thứ ba là, hễ tu tập thiền thì tâm định rất mạnh mẽ, gọi là Tăng Thượng Tâm, tâm định mạnh mẽ an trú vững vàng trên đề mục, khi cần quán xét sắc thọ tưởng hình thức là vô thường, khổ và vô ngã thì trí tuệ phải dựa trên nền tảng của định mới soi thấu được,

 Giống như khi người ta muốn khoan một lỗ ở trên miếng gỗ hay trên tường mà cầm cây khoan không vững nó cứ chạy qua bên đây chạy qua bên kia, nhít qua nhít lại một hồi là lỗ tầy quầy hoặc không đưa được mũi khoan vào điểm mình muốn khoan, nhất là trên tường có gắng gạch men. Thì lúc bấy giờ người ta phải dùng cái đinh nhỏ hoặc một cái mũi nhọn bằng thép  khẻ lên trên miếng gạch men dán trên tường để cho nó có một dấu bể nhỏ (nếu đóng mạnh thì bể luôn miếng gạch men) người ta đóng làm cái dấu xong rồi tựa mũi khoan vào cái dấu đó thì mũi khoan không chạy đâu hết, khi mũi khoan không chạy đâu thì tức khắc nó sẽ xuyên thủng bức tường. 

Tương tự như vậy, chúng ta phải hiểu như thế nào là tuệ, nhất là tuệ quán vô thường, khổ, vô ngã để diệt trừ các lậu hoặc phiền não thì tuệ đó phải dựa trên định tâm, tâm định thì tuệ mới có sự quán chiếu ngũ uẩn một cách tường tận rõ ràng được, cho nên chính vì vậy một người tu tập thiền nếu cần thì họ chuyển qua tuệ quán họ đắc đạo quả nhanh. 

Cũng có trường hợp một số vị hành giả vì không có duyên đối với Thiền Hiệp Thế, vị đó do đời quá khứ làm phước tu tập thiền quán, làm phước mà có tuệ quán liên quan đến pháp quán. Đức Phật  Ngài  nói làm phước liên quan đến pháp quán tức là khi làm phước gì, bố thí hay trì giới gì cũng quán vô thường khổ, vô ngã quen đi cho nên bây giờ chỉ cần nghe Đức Phật thuyết pháp là đắc đạo quả Alahán. Trong trường hợp này chúng ta phải nói rằng là đối với vị đó thì không cần định ở trong pháp thiền, không y chỉ vào thiền vị đó cũng vẫn chứng đạt được, nhưng cũng chỉ là số ít thôi. Hồi thời Đức Phật số vị hành giả không y chỉ thiền mà đoạn tận các lậu hoặc thì chỉ số ít thôi còn đa phần các vị hành giả khác thì phải dựa trên phương diện thiền.

Nhưng, thiền ở đây chúng ta cần phải hiểu khi một người hành thiền  sẽ dẫn đến 3 loại định,

1. Sát na định (Khaṇikasamādhi). Vị hành giả tu tập thiền khi có Sát na định (Khaṇikasamādhi) vị đó tương đối vững mặc dầu chỉ chớp nhoáng đủ để cho tuệ quán phát sanh để phá trừ phiền não, nhưng cao cấp hơn chút xiú nữa thì thiền dẫn đến trạng thái thứ hai là:

2. Trạng thái cận định (upacārasamādhi) thì kiên cố hơn, thí dụ một người hành thiền có ấn chứng hỉ lạc phát sanh, dựa theo đó mặc dầu chưa đắc thiền  nhưng đã có ấn chứng có hỉ lạc rồi thì vị đó chuyển sang tuệ quán cũng được.

3. Trạng thái thứ 3 là An chỉ định  (Appanāsamādhi).Khi thiền đến nơi đến chốn thì đạt đến kiên cố định hay an chỉ định  (Appanāsamādhi), định này thuộc về thiền sắc giới vô sắc giới rồi, là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. 

Ở đây không nhất thiết, chúng tôi dùng chữ "không nhất thiết" mặc dầu Đức Phật Ngài dạy là y cứ vào sơ thiền nhị thiền mà các lậu hoặc được đoạn trừ đoạn tận là đức Phật Ngài muốn nói đến một trạng thái hoàn chỉnh của một vị tu tập đạt đến giải thoát. 

Cũng có trường hợp ngoại lệ nhưng trường hợp ngoại lệ đó không đi thứ lớp thì cũng không sao. Thí dụ như bây giờ trên thế giới mặc dầu trong ngành giáo dục người ta đưa ra thứ tự cho các em nhỏ  6, 7 tuổi cho vô học mẫu giáo, rồi lên lớp một, rồi lên lớp hai, lớp ba, lớp bốn, lớp năm, hết tiểu học rồi lên trung học, hết trung học lên đại học, hết đại học rồi chuyển qua làm nghiên cứu sinh và khi tốt nghiệp cử nhân hay là nghiên cứu sinh để làm luận án thạc sĩ hay tiến sĩ  theo thứ lớp tuần tự như vậy, nhưng cũng có những em bé thông minh học giỏi nhất là ở các nước phương tây họ chuộng trí tuệ cho nên họ cho những đứa bé vượt lớp không cần theo trình tự vẫn đạt được bằng cấp miễn làm sao vượt trội mấy môn. Thì trong trường hợp này chúng ta miễn, trường hợp ngoại lệ đó không thể đưa vào nguyên tắc được.

 Còn trường hợp này Đức Phật Ngài nói đưa vào thiền để các lậu hoặc đoạn tận là đưa vào nguyên tắc tu tập. 

Đó là câu trả lời tóm tắt của chúng tôi ./.

Thursday, March 22, 2018

Các Lậu Hoặc - TT Giác Đẳng

Chương 6 - VI. Ðại Phẩm - (IX) (63)Kinh Phương Cách Thâm Nhập Chư Pháp - 

Đoạn 6: Các Lậu Hoặc

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 31-7-2017

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Chúng ta tiếp tục bài về Sự thâm nhập chư pháp và bài học với bố cục chúng ta nhìn thấy Đức Phật giảng 6 đoạn Ngài nói về dục, thọ, tưởng.

Hôm nay chúng ta nói về các Lậu Hoặc. Ngài Bodhi trong một bài viết liên quan đến bài kinh này, Ngài nói bài kinh này cho nội dung của 3 lãnh vực quan trọng đó là: Nhân sinh quan của Đạo Phật, con đường tu chính của Phật Pháp và sự chuyển hóa nội tâm. Cho dù chúng ta hiểu bằng cách nào đi nữa thì mỗi một phần của đề tài ngày hôm nay đều đặc biệt quan trọng, một phần bài kinh này dù nói về dục, dù đó là thọ, dù đó là tưởng, dù đó là lậu hoặc, hay là nghiệp, hoặc là khổ, trong mỗi phần như vậy Đức Phật đã trình bày nhiều phương diện khác nhau.

Trước nhất chúng ta phải: 

1. Nhận diện lậu hoặc là gì?
2. Thế nào là duyên khởi của lậu hoặc.
3. Thế nào là hệ quả của lậu hoặc.
4. Thế nào là sự đoạn diệt của lậu hoặc.
5. Và thế nào là con đường dẫn đến sự đoạn diệt các lậu hoặc. 

Khi nhìn một pháp với nhiều phương diện khác nhau hầu như chúng ta thấy rõ ràng được một điểm Đức Phật Ngài khuyên chúng ta nên biết được sự việc một cách tận tường một cách đa diện hơn là một chiều hay một mấu chốt nào đó.

Bài học ngày hôm nay là một thí dụ khi chúng ta đề cập đến chữ lậu hoặc, thông thường những người Phật tử những người học Phật Pháp thường nghĩ đến phiền não nhưng kỳ thực chữ lậu hoặc này là phiền não nhưng  phiền não ở trong một vai trò khác hơn chúng ta thường quan niệm.

1. Nhận diện lậu hoặc là gì?

Trong tiếng Anh dịch là stain tức là vết nhơ, ô nhiễm, vết bẩn.

Tiếng Việt Nam đôi khi dịch chữ lậu hoặc rất khó dịch. Chữ Asrava Ngài An Thế Cao dịch là lậu hoặc và về sau này Ngài Huyền Trang cũng dùng chữ lậu hoặc. 

Chữ lậu có nghĩa là thấm, là lan. Như mình nhỏ một giọt mực lên tờ giấy chậm nó lan ra, như chúng ta thấy trường hợp vết dầu thấm sâu vào trong giấy trong vải.

Chữ hoặc được hiểu như là cái gì mơ hồ, cái gì chúng ta khó nhận ra, một thứ tác động không có lộ diện. Đây là một điểm rất khó để chúng ta hiểu thuật ngữ Phật học. 

Ví dụ như một người đi chùa làm phước với tâm trong sạch dâng cúng Đức Phật một bình hoa đẹp, chúng ta nhìn bằng tâm trong sạch kính Đức Phật thờ Đức Phật, nhưng ở tận cùng phía sau còn nhen nhúm những động lực thầm kín. Chúng ta dâng hoa, thay vì dâng những thứ khác bởi vì chúng ta thích hoa đẹp, hay chúng ta muốn đời sau được đẹp được sáng được tươi thì chúng ta dâng hoa lên Đức Phật. Một hành động có thể rất thiện một tâm rất thiện nhưng ẩn một động lực thầm kín ở phía sau. 

Chẳng hạn, đối với người đời cái gì thô tháo cái gì dễ thấy ở bên ngoài thì chúng ta rất dễ thấy đây là thiện đây là bất thiện, nhưng đối với lậu hoặc  hầu như tất cả những hành vi của chúng ta dù là thiện hay bất thiện đều có tác động thầm kín tác động mơ hồ mình không thấy được, cái tác động không lộ diện ra ngoài và cái tác động đó là nguyên nhân dẫn đến sanh tử, nó bao trùm và ghê gớm hơn những gì chúng ta nhìn thấy.

Chúng ta lấy ví dụ như có những người rất kiêu mạn nói chuyện rất cao ngạo chúng ta dễ nhận biết người đó là người cao mạn, nhưng có những người họ thỏa mãn được tự ngã của họ bằng một cách nào đó chúng ta thấy họ rất khiêm tốn rất nhẹ nhàng nhưng đằng sau đó nó cũng liên hệ đến thị dục huyễn ngã, liên hệ ngã chấp mà chúng ta không nói được.

 Đối với một người Phật tử: vô minh và ái là hai động lực nằm ở phía sau, đôi khi chúng ta thấy được ái, thí dụ mình thấy cái áo thích quá, một món ăn ngon mình thích quá, thấy một người đẹp mình thích quá, những cái đó nhìn thấy rất dễ nhưng ái đó còn ăn sâu dấu kín tiềm ẩn ở trong nhiều trạng thái đôi khi chúng ta rất khó biết, có khi chúng ta cả cuộc đời sống một kiếp nhưng vẫn không nhận ra mặt mũi của ái ra sao. Vô minh cũng vậy rất là khó.

Thì chữ lậu hoặc ở đây chúng ta nên hiểu đó là những tác động những động lực những ảnh hưởng dấu mặt tiềm ẩn nhưng lại bao trùm tất cả sở hành của chúng ta trong đời này và là nhân dẫn đến luân hồi sanh tử. Đối với các lậu hoặc chúng ta không dễ dàng để nhận diện cái này là tốt cái kia là xấu, có những thứ rất là thiện ví dụ như chúng ta đi bố thí ở đâu chúng ta mong rằng đời sau được giàu có, chúng ta mong đời sau được đầy đủ, đời sau mình được sung túc không đói kém thì thật ra mong rằng đời sau mình là ai mình sẽ như thế nào thì ở trong đó nó đã có lậu hoặc rồi. Dĩ nhiên nói như vậy chúng ta sẽ nói rằng "như vậy không ai dám làm chuyện gì, mình làm chuyện gì cũng có lậu hoặc trong đó".

Do vậy Đức Phật Ngài dạy chúng ta nên biết sự sai biệt của các lậu hoặc. 
Ở đây có 3 thứ lậu hoặc: 

1. Dục lậu - Kāmāsava
2. Hữu lậu - Bhavāsava
3. Vô minh lậu - Avijjāsava

1. Dục lậu là ái, là ý muốn  (Kāmāsava).

Ý muốn thể hiện rất thô, như chúng ta quá thích cái gì đó, muốn danh, muốn lợi, muốn ăn ngon, muốn mặc đẹp. Nhưng đằng sau cái muốn đó còn có một thứ rất dễ sợ đó là ý muốn, vì thấy đời sống vô vị chúng ta phải luôn luôn tìm xem một cái gì đó để thoả mãn, tìm một cái gì đó để hưởng thụ. Cái ái này mình mới nhìn thì nó rất vô tội nhưng kỳ thực ái này là một thứ khao khát, ví dụ như bình thường mình ăn mặn nên khát nước, cái khao khát đó khiến cho chúng ta luôn luôn dõi mắt về phương trời xa xăm, luôn luôn truy cầu và luôn luôn cảm thấy mình không bằng lòng với hiện tại, mình không thể ngồi xuống thanh thản nhìn vào hơi thở, mình phải đi tìm cái gì đó, chúng ta gọi là dục hay là ái. 

Khi nói đến ý muốn nó là một lực đẩy tâm mình, chúng ta luôn luôn đi tìm luôn luôn truy cầu.

2. Lậu hoặc thứ 2 là Hữu Lậu. (Bhavāsava),

Hửu - Bhavāsavaa là mình muốn trở thành một ai đó, tôi sẽ là một người tốt, tôi sẽ là một người nổi tiếng, tôi sẽ là một người được trọng vọng v.v.... Cái hữu lậu này nói lên một thứ mà ở trong ngôn ngữ thường thức gọi là thị dục huyễn ngã "tôi là ai", "tôi muốn tôi như thế nào", "tôi phải như thế này" và "tôi phải như thế kia".

 Thì thị dục huyễn ngã này được xem như là một cách dự phỏng. Cũng như, chúng ta viễn tưởng về bản thân của mình khi còn nhỏ mình muốn được thương yêu, lớn lên mình muốn là người thành công, lớn lên một chút nữa mình muốn được trọng vọng, lớn hơn một chút mình muốn khi chết đi người ta sẽ nhớ tới mình. Huyễn ngã này là một cái gì đó rất khó để chúng ta có thể hiểu hết về nó, nó là cái gì đó rất thầm kín về bản thân của mình, nhưng thật ra nó là một sự dự phỏng rất nghèo nàn.

Chúng ta cứ tưởng tượng mình cầm một cây viết vẽ về chính mình, hay  mình chọn trong số vô số hình ảnh mình nói "tôi là như vầy", mình muốn mình như thế này mình như thế kia, mình là như thế nào đi nữa thì nó cũng nghèo nàn. Giống như khi còn nhỏ chúng ta mơ ướt lớn lên sẽ làm thế này sẽ làm thế kia, nhưng có đi có sống thì tất cả những mơ đó chỉ là ước mơ thơ dại của ngày nào đó. Chúng ta không hiểu cuộc sống, khi chúng ta ra đời cái cao điểm của nó chúng ta cũng không thấy, mà cái tận cùng của đáy vực  chúng ta chưa bao giờ nghĩ ra và chúng ta là ai giữa thế giới này chúng ta cũng không biết được hết nhưng chúng ta khao khát. Chúng ta khao khát trong cuộc đời này là chúng ta có một định nghĩa "tôi là như vậy tôi là thế này, tôi là thế kia ,tôi phải là thế này ,tôi phải là thế kia".  Điều đó chúng ta gọi là hữu lậu. 

Chữ Hữu là sự có mặt, sự trở thành (to be comming), sẽ trở thành ai đó, là cái gì đó, trở thành thế này hoặc thế kia. Nhưng dù vậy, hữu lậu còn khó hiểu hơn vô minh lậu. 

3. Vô minh lậu là gì? (Avijjāsava)

Vô minh là vốn không biết đâu là đường đi, đâu là lối về, đâu là là giá trị chân thật, và do cái không biết đó chúng ta ngược xuôi bơi lội trong cuộc đời này và chúng ta luôn luôn nghĩ rằng mình biết nhưng thật sự mình không biết gì. Bây giờ, nhìn lại thời gian vừa qua mình thử hỏi tại sao lúc đó đã không chọn lựa thế này, biết thế mình không làm thế kia. 

Thật ra tất cả mình đều không biết, nếu biết thì chuyện nó khác rồi. giả xử chúng ta biết thế nào là Niết-bàn thì đã không có vật vã với sanh tử, nếu chúng ta biết cái gì thật sự tốt cho mình thì đã không lặn hụp phí thì giờ trong cuộc sống này và nếu chúng ta biết được thật sự đó thì vòng sinh tử chấm dứt, phiền não đã đoạn, nhưng mà không.

 Cách đây hai ba hôm có một bản tin nói ông Bezos người sáng lập ra công ty thương mại điện tử Amazon, trong một ngày do cổ phiếu của Amazon tăng vọt ông đã trở thành một người giàu nhất trên thế giới, ngày nay  thì cổ phiếu này xuống một chút nhưng lúc đó tạm thời trong một ngày ông đã qua mặt ông Bill Gate người có trên 89  ngàn tỉ dollars tài sản thì lúc đó ông Bezos có hơn 90 ngàn tỉ. Năm 2010 tài sản ông Bezos chỉ có 12 triệu thôi nhưng suốt thời gian mấy năm qua đã tăng vọt, nếu lúc đó ai biết mà mua cổ phiếu Amazon thì giàu. nếu mọi người đã biết cổ phiếu Amazon tăng vọt như vậy đầu tư vào đó họ giàu, chuyện đó là đúng, nhưng khi mọi người đã biết rồi nó sẽ không tăng vọt được nữa. Giá trị của cổ phiếu là những bất ngờ, giá trị của thị trường chứng khoán là cái không biết lúc nào cũng có người mua và lúc nào cũng có người bán, lúc nào cũng có người tin đây là lúc tốt nhất để bán và lúc nào cũng có người nghĩ đây là lúc tốt nhất để mua. Đó là luật chơi, đó là tự nhiên của cuộc sống, chúng ta đánh cuộc với thời gian, đó là một canh bạc.

Đời sống của chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta thật sự biết rõ đây là sanh, đây là diệt, đây là hạnh phúc, đây là đau khổ, đây là luân hồi sanh tử, đây là Niết-bàn thì chúng ta đã không hiện diện trong cuộc đời này. 

Vô minh là không biết, thật ra chữ Buddha chúng ta thường dùng để gọi Đức Phật, chữ Phật là chữ đối lập với vô minh. 

Ở trong đời sống của chúng ta từ phản ứng, từ thái độ vui buồn, từ cách hành xử hoặc thô hoặc tế đều dựa trên một lực rất lớn gọi là vô minh. Sự thiếu hiểu biết khiến chúng ta trở nên khôi hài, khiến chúng ta trở nên nông cạn, khiến chúng ta trở nên buồi cười vì nó là vô minh. Nếu chúng ta thật sự biết như Đức Phật đã biết, như những vị Thánh Đệ Tử những vị đã hoàn toàn giải thoát đã biết thì chúng ta đã không hiện diện tại đây. 

Nhiều khi đọc một số những bài viết tranh luận người này chửi người kia, người kia chửi người nọ, và ai cũng muốn tỏ rằng mình thật sự biết, nhưng kỳ thật chúng ta đều không biết, nếu chúng ta thật sự biết thì chúng ta yên lặng, nếu chúng ta thật sự biết thì chúng ta không phiền não, nếu chúng ta thật sự biết chúng ta sẽ dùng thì giờ của mình cho cái gì tốt hơn là ngồi đó tranh luận hơn thua, nhưng điều này rất khó, tuyệt đối là khó. Vô minh là cái gì khó hiểu nhất, mình nghĩ ở trong giờ phút đó mình đã làm việc đó bởi vì mình có suy nghĩ  nó là điều tốt nhất mà mình biết bằng tất cả sự sáng suốt của mình, nhưng năm dài tháng rộng trôi qua nhìn lại hỏi tại sao lúc đó mình làm như vậy, tại vì vô minh lúc đó mình làm vì không biết. 

Nếu giờ này chúng ta biết có một kho tàng có giá trị thật sự, nếu giờ này chúng ta biết một thứ hạnh phúc mà thứ hạnh phúc đó vượt khỏi tất cả những phiền não, nếu giờ này chúng ta biết được những giá trị cao cả nhất thì chúng ta không lẩn quẩn với cái tầm thường, chúng ta sẽ không có lặn hụp ở trong sông mê bể khổ, và chúng ta đã không cảm thấy chơi vơi giữa sa mạc cuộc đời. Nhưng quả thật, ở trong lúc này chúng ta không biết, cái không biết đó giống như một người đi trong đêm tối không đuốt không đèn không hải đăng ở giữa biển và không có ánh sáng nào để định hướng không có sao bắc đẩu ở trên trời tối đen như mực mà đi và tiếp tục đi, chúng ta đi và tiếp tục đi như vậy. 

Tại sao chúng ta đi? Tại vì chúng ta không can tâm đứng lại. Tại sao chúng ta đi? Tại vì có cái gì thôi thúc chúng ta phải đi, nhưng chúng ta đi bằng sự không biết.

Vô minh cũng tương tự như vậy, chúng ta đi trong bóng đêm, chúng ta đi ngược xuôi giữa cuộc đời tại vì chúng ta không biết.

Chúng tôi đọc câu chuyện của người Nhật: 

Một người ra đường thấy một anh đeo balô ngồi ở bên đường mới hỏi:

-  Anh bạn từ đâu tới và đi về đâu

 Người này trả lời:

- Tôi là một người lang thang, chưa biết đi đâu về đâu. 

Thì người kia nói: 

- Bạn thật là hạnh phúc, tại vì bạn sống tự do, còn tôi có vợ có mái nhà có con cái, thành ra ngoài sở làm là phải về nhà và đi đâu cũng phải có lời giải thích hợp lý cho người bạn đời.

Thì anh kia mới nói:

- Thật ra không biết tôi hạnh phúc hay anh hạnh phúc. Tôi đi từ nơi này đến nơi khác bởi vì không có một chỗ để trở về không có một mái ấm. Còn anh thì đi từ nơi này sang nơi khác vì anh có một chỗ để trở về, nhưng cũng là cái cột để cột chân anh.

Lời tâm sự của 2 người đó giống như chúng ta sống trong cuộc đời này, chúng ta sanh ra và khẳng định rằng mình có được sự hiểu biết, mình trưởng thành rồi, mình thành niên rồi, mình hiểu biết cuộc sống có đủ trí khôn đủ bản lãnh, và chúng ta quyết định làm điều này, quyết định theo đuổi lý tưởng kia, binh vực chánh kiến nọ. Mình nghĩ rằng tất cả những điều đó mình đã biết, nhưng ở một tuổi nào đó hay ở trong trường hợp đặc biệt nào đó chúng ta có dịp để bình tâm nghĩ lại 5 năm 10 năm trước mình đã quyết định như vậy, đã làm như vậy phải chăng là mình làm với tất cả sự hiểu biết? Nếu chúng ta xét cho kỹ thì chúng ta đã quyết định, đã lựa chọn, và đã hành động vì sự không hiểu biết hơn là sự hiểu biết. Điều đó chúng ta gọi là vô mình lậu.

 Thì 3 cái lậu hoặc ở trong cuộc đời mình, Đức Phật dạy là:

- Dục lậu tức là tác động thầm kín của ý muốn. 
- Hữu lậu là tác động thầm kín của thị dục huyễn ngã.
- Vô minh lậu là tác động thầm kín của sự nông cạn thiếu hiểu biết.

Ba thứ đó bao trùm tất cả sở hành của chúng sanh trong đời này, Đức Phật gọi là lậu hoặc. 

2. Thế nào là duyên khởi của lậu hoặc?

Và Ngài dạy thế nào là duyên khởi của lậu hoặc. Một lần nữa duyên khởi của lậu hoặc lại một điều trớ trêu là chính từ sự vô minh mà ra. Từ sự không biết chúng ta đã để cho bản thân của mình chịu sự tác động đó, chịu sự ảnh hưởng đó.

 Ví dụ như người Việt chúng ta xuất thân từ một quốc gia có nhiều chiến tranh nên cảm xúc của chúng ta rất nồng nàn, nhưng chúng ta dễ nghi kị, chúng ta dễ dàng để nguyền rủa nhau, dễ dàng chửi bới nhau, dễ dàng đoạn tình cảm nhau vì chúng ta là nạn nhân của một cuộc chiến đã kéo dài bao nhiêu thập niên trên quê hương của mình. Chúng ta là một nạn nhân, chúng ta là cục bột cuộc đời đã nặn vuông nặn tròn mà không bao giờ nhận ra điều đó, mình nghĩ rằng mình rất giỏi, mình rất hay, và mình có đủ bản lãnh để tạo điều này tạo điều kia, nhưng kỳ thật chúng ta không biết.

Hoặc, hãy nhìn một đứa nhỏ chơi một cách nguy hiểm, lăn lộn một cách thiếu thận trọng và nó làm đủ mọi cách vì nó không hề biết sự nguy hiểm nếu không có sự bảo vệ của người lớn, thật ra đièu đó chúng ta thấy là nó làm tất cả vì nó không biết. Người Mỹ rất cẩn trọng trong đồ dùng đồ chơi của con nít như cái nôi thì họ cũng có kinh nghiệm là có những đứa nhỏ đã thò đầu ra khỏi song nôi và bị kẹt, hoặc đứa nhỏ nằm sấp đôi khi bị ngộp, những vật như bao nylon hay hộp giấy không khéo để gần nó sẽ đưa vào miệng nuốt, chúng ta sống ở Mỹ thấy rằng có rất nhiều thứ người ta cảnh báo coi chừng nằm trong tầm tay của những đứa nhỏ, những lọ thuốc làm sao để khó mở, những vật dụng làm sao để đứa nhỏ không đưa vào miệng được, tại vì đã có quá nhiều trường hợp những đứa nhỏ bị thương tổn bị chết bởi vì bỏ những thứ vào trong miệng. 

Ở miền quê Việt Nam, ngày xưa người ta sanh con nhiều, như ông Ngoại chúng tôi có mười mấy người con mà rốt cuộc chỉ còn Thân Mẫu chúng tôi và Sư Trưởng thôi, chỉ còn 2 người con thôi. Và rất nhiều thành viên trong gia đình có những đứa nhỏ đã chết vì bệnh mà chết nhiều nhất là vì nó chơi ở ngoài sân rồi lọt xuống mương, sau nhà có cái mương không làm rào cản, con nít đâu biết nó bò ra tới mương rồi rớt xuống tới khi biết thì nó chết rồi. Thì những đứa nhỏ bò ra chỗ nguy hiểm nhét những thứ vào trong miệng một cách nguy hiểm, những hình ảnh thơ dại, hình ảnh thiếu hiểu biết một cách nguy hiểm đó là hình ảnh của tất cả chúng ta trong đời này, chúng ta thương, chúng ta giận, chúng ta chiến đấu, chúng ta hận thù, tất cả những điều đó là bởi vì chúng ta không biết, bởi vì chúng ta vô minh.

Đức Phật Ngài nói chính vô minh là một nền tảng, là một cơ sở, một động lực tiềm ẩn. 

Chúng ta muốn biết được lực của vô minh như thế nào thì chúng ta thử sống và cảm nhận của một ngày trời mưa bão điện cúp trong một căn nhà tối đen không có điện và lúc đó chúng ta để ý phản ứng của mình như thế nào, cũng may là mình ở trong căn nhà. Có một vài lần chúng tôi sang Ấn Độ là một xứ  điện thường bị cúp nhất là những vùng có Thánh Tích người ta sài thì nhiều nhưng sự cung cấp điện thế yếu do vậy hay bị cúp điện, những lần ngồi trong phòng khách của khách sạn điện bị cúp hoàn toàn lúc đó trời tối đen như mực những nhân viên kêu nhau ơi ới lấy đèn pin thắp đèn cầy, năm ba phút sống trong bóng đen bao trùm ở một đại sảnh hoàn toàn xa lạ thì chúng tôi cảm nhận một điều rằng cũng may là mình đã trải qua nhiều lần nếu không thì mình cũng lăng xăng trong bóng đêm bao phủ dầy đặc mình, muốn mình phải làm cái gì đó, đi tới đi lui, mặc dầu mình không biết đi đâu về đâu, không biết làm gì khi ở trong bóng tối. Đó gọi là nền tảng vô minh, cái bóng tối dễ sợ bóng tối bao trùm là một cái gì lớn hơn chúng ta nghĩ nhiều. 

Chúng tôi đọc một bài báo nói về đại dương mênh mông thì ánh sáng chỉ xuyên thấu xuống 175 thước và ở dưới mức độ đó lòng đại dương tối đen như mực, cũng như nói về phi thuyền đi ra ngoài thái không, đi ra khỏi vùng ánh sáng mặt trời chiếu tới thì nó cũng tối đen như mực, ở  những nơi ánh sáng không xuyên tới được cả một bóng tối trùm lên thì thật là khó tưởng tượng được chúng ta phản ứng ra sao. 

Nhưng nếu chúng ta hình dung vào vô minh thì chúng ta cũng thấy như vậy. Một ngày nào đó chúng ta tu tập để cảm nhận được lời dạy của Đức Phật, để hiểu rằng tất cả chúng ta sống trong đời này đều bị chi phối bởi một mãnh lực của một bóng tối phủ trùm lên cuộc sống từ lúc cất lên tiếng khóc chào đời cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, từ lúc chúng ta bắt đầu biết thương yêu, biết lo sợ, biết hận thù, từ lúc chúng ta bắt đầu muốn tìm giải thoát này, hướng qua đường hướng kia tất cả điều đó đều nằm trong bóng tối mà chúng ta không biết, bóng tối đó không phải của cuộc đời mà bóng tối đó tại vì sự có mặt của tuệ giác ở trong lòng chúng ta và đây là một điểm rất là khó hiểu. 

3. Thế nào là hệ quả của lậu hoặc

Đức Phật Ngài đề cập đến duyên khởi của các lậu hoặc là vô minh, Ngài đề cập đến hệ quả của các lậu hoặc. Thường vô minh khi cái gì sanh khởi thì sự sanh khởi đó liên hệ đến bản ngã và từ đó dẫn đến phúc hành và phi phúc hành, dẫn đến bản ngã. Vì vô minh chúng ta lại có một cái nhìn đặc biệt về  ngã "tôi sẽ là thế này tôi sẽ là thế kia". 

Vì liên hệ đến ngã dẫn chúng ta đến hai thứ hành động: 

- Một là hành động mang lại phúc đức, mang lại quả vui như là bố thí trì giới để sanh thiên để sanh làm người để hưởng quả phúc của luân hồi.

- Hai là do từ đó chúng ta làm các ác nghiệp bị sanh vào cõi khổ Atula ngã quỉ v.v... 

Đây là một trong các điểm Phật Pháp khác với các tôn giáo khác, các tôn giáo khác chỉ nói đến hai thứ; một là tin Thượng Đế hai là không tin Thượng Đế, một là làm việc lành hai là làm việc dữ. Nhưng thật sự trong Phật Pháp có đề cập đến là ngay cả những việc làm phúc hành tức là những hành động có quả thiện và những hành động phi phúc hành tức là những hành động có quả khổ nó đều nằm trong sự chi phối của vô minh .Điều này trong Phật Pháp không phải dễ hiểu. 

Ngày xưa Consumer Reports làm một cuộc nghiên cứu xem tôn giáo nào là tôn giáo dễ hiểu ở trên thế giới này thì trong đó Đạo Phật là tôn giáo khó hiểu nhất. Phần đông các tôn giáo khác chỉ có bên tốt bên xấu, bên thiện bên ác nhưng Đạo Phật đôi khi dạy ở trong cõi trầm luân sinh tử này "dù ai ngược gió ai xuôi gió, nhìn lại cùng trong bể khổ thôi", dù là thiện hay bất thiện thì đều do vô minh chi phối, dù trắng hay đen cũng là sự đối đãi và điều đó không phải dễ tiêu hóa, điều đó không phải dễ nuốt. 

Phật Pháp cho chúng ta biết rằng chính lậu hoặc, lậu hoặc ở đây là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu nó chi phối toàn bộ sở hành của chúng sanh, dù đó là thiện hay bất thiện thì đó là hệ quả của lậu hoặc.

4. Thế nào là sự đoạn diệt lậu hoặc?

Sự đoạn diệt lậu hoặc, dĩ nhiên duyên khởi của lậu hoặc là vô minh thì đoạn diệt lậu hoặc là diệt tận vô minh hay nói một cách khác là thắp sáng tuệ giác. 

Thắp sáng tuệ giác được đề cập đến trong nhiều trường hợp, một lúc nào đó chúng ta có thể nhìn sự vật như thế nào thì nhìn như vậy không qua con mắt của định kiến, không qua sự chi phối của phiền não, cũng giống như chúng ta có thể nhìn sự vật vượt ngoài vui buồn, vượt ngoài quan niệm của văn hóa, quan niệm của ghét thương, và sự vật như thế nào mình nhìn nó là vậy, hơi thở ra hơi thở vào, cái này sanh cái kia diệt, cái này đang có mặt cái này đã biết mất, cái này trong tương lai không thể sanh khởi nữa thì nhìn cái tướng cái tánh của sự vật một cách rất vô tư một cách rất đơn thuần không bị chi phối bởi định kiến và thành kiến lâu ngày tạo thành một cái xúc tác tuệ giác và khi tuệ giác sanh khởi sẽ xoá đi sự vô minh.

5. Và thế nào là con đường dẫn đến sự đoạn diệt các lậu hoặc ?

Đức Phật dạy vô minh diệt nó làm sự đoạn diệt của các lậu hoặc và để đạt đến điều đó trong toàn bộ bài kinh này một lần nữa Đức Phật Ngài nói lên con đường dẫn đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc cũng vẫn là Bát Chánh Đạo.

 Bát Chánh Đạo là con đường Trung Đạo, Bát Chánh Đạo là một con đường chuyển hóa con người không đơn thuần một khía cạnh một phương diện mà từ nhiều phương diện: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, cho đến Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng rồi Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.

 Chánh Kiến, Chánh Tư Duy được xem như là cái nhìn minh sát, sự suy tư không bị chi phối bởi các phiền não.

 Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng được xem như là một đời sống tách rời khỏi các hệ lụy của bất thiện nghiệp.

 Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định  là một sự huân tập những nội lực những bản lĩnh nội tại, đó là nghị lực, đó là khả năng tập trung, đó là sự tỉnh giác. 

Thì con đường Bát Chánh hay là con đường 8 chi phần những chi phần này được xem là Trung Đạo, con đường này là con đường nối gọn ở trong ba giai đoạn Giới, Định, Tuệ . 

Con đường Bát Chánh Đạo là một câu trả lời của Đức Phật cho chúng sanh giải thoát khỏi sự đau khổ, chúng ta cần giải quyết vấn đề của kiếp nhân sinh bằng sự thay đổi bản thân mình. Sự thay đổi bản thân mình bắt đầu từ tu tập huân tu chứ không đơn thuần là mình chọn cái này chọn cái kia rồi nó yên chuyện, mà nó đòi hỏi công phu nhiều hơn nữa.

Đức Phật có dùng chữ "cần" 

Đoạn 6 của bài  (IX) (63)Kinh Phương Cách Thâm Nhập Chư Pháp

"Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các lậu hoặc, cần phải biết duyên khởi của các lậu hoặc , cần phải biết sự sai biệt của các lậu hoặc , cần phải biết các hệ quả của các lậu hoặc , cần phải biết sự đoạn diệt của các lậu hoặc , cần phải biết con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc . Chính do duyên nào đã được nói như vậy? Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu".

Tại sao chúng ta "cần", vì rõ ràng lậu hoặc là một tác động tuy thầm kín tuy  khó nhìn nhưng bao phủ lấy đời sống và khi nào chúng ta còn nằm trong vòng cương tỏa của lậu hoặc thì chúng ta không thể đạt được hạnh phúc thật sự, chúng ta không thể tránh được con đường đi vào hỏa ngục, chúng ta không thể nào thắp sáng trí giác của mình và do vậy Đức Phật Ngài dùng chữ "cần phải biết". 

Ít nhất, do cái biết đó nhân sinh quan của chúng ta tương đối chính xác hơn, nó sẽ giúp chúng ta ở một lúc nào đó do vậy dù trên phương diện pháp học hay trên phương diện pháp hành chúng ta đều cần phải biết sáu pháp. Sáu pháp đó là nói về dục, nói về thọ, nói về tưởng, nói về lậu hoặc, nói về nghiệp, nói về khổ. 

Mỗi phần như vậy chúng ta phải biết đầy đủ các phương diện:

- Chúng ta phải nhận diện như thế nào là lậu hoặc, 

- Chúng ta phải biết duyên khởi của lậu hoặc, 

- Chúng ta phải biết hệ quả của lậu hoặc,

 - Chúng ta phải biết sự sai biệt của lậu hoặc,

 - Chúng ta phải biết sự đoạn diệt của lậu hoặc, 

- Cà con đường dẫn đến sự đoạn diệt sự lậu hoặc. 

Biết như vậy mới thật sự là biết còn cái biết của chúng ta thật sự là cái biết rất mơ hồ 

Ví dụ mình nói "tôi biết ông A", cái  biết ông A là biết tên của ông A thôi như vậy không phải là biết, mình phải biết thật sự ông A không phải chỉ trên danh tính mà còn phải biết xuất thân, biết gia cảnh, biết nghề nghiệp, biết những người bạn thân, biết khuynh hướng cố hữu của người đó. Thì biết nhiều phương diện như vậy mới thật sự là biết và Đức Phật Ngài dùng chữ "Cần Biết".

Hôm nay chúng ta nói về lậu hoặc, Đức Phật Ngài khuyên chúng ta phải quan niệm mình "cần phải biết" và không những cần biết một thứ mà phải biết nhiều phương tiện, biết như vậy chúng ta mới thật sự là thâm nhập, mới thật sự thẩm thấu,  mới thật sự quán triệt. Còn nếu chúng ta biết hời hợt ở bên ngoài thì biết đó chỉ là cho có biết mà thôi.

 Khi chúng tôi còn nhỏ Sư Trưởng thường hay nói: 

ở trong đời có ba cái dốt:

- Một người biết cái không đáng biết là một sự dốt

- Không biết cái đáng biết cũng là một sự dốt

- và biết cái gì mà biết không rành cũng là sự dốt

  Nếu chúng ta nói về cảm thọ, nói về dục, nói về lậu hoặc, nói về nghiệp, nói về khổ  chúng ta chỉ định nghĩa về văn tự thôi thì thật sự cái biết đó chúng ta biết cũng chưa rành. Và tại sao Đức Phật dạy chúng ta cần phải thâu nhập tức là biết sự việc với nhiều phương diện. Mong rằng tất cả chúng ta sẽ học bài học bằng cả sự nghiêm túc, bằng tất cả thái độ chân thành, bởi vì Đức Phật Ngài đã dạy một cách rất chi tiết và Ngài đã phân tích một cách rất tế nhị để chúng ta làm sao có thể hiểu được sự việc trong mức độ tương đối  rộng lớn, đa diện đầy đủ hơn là chỉ nhìn một chiều phiến diện ./.

Monday, February 26, 2018

Kinh Hữu Học (I) (31) - Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya - TT Giác Đẳng

Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya
Chương 6
IV. Phẩm Chư Thiên

(I) (31) Hữu Học 

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 26-6-2017

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài học hôm nay có những chi pháp tương đối dễ hiểu trên phương diện suy luận nhưng không đơn giản trên phương diện thực hành.

Trước hết:

Chữ Sekha có nghĩa là bậc Thánh đang trên đường tu tập.

Chữ Asekha là bậc Thánh đã hoàn tất việc tu tập đạt đến quả vị tột bực, là bậc đạt đến từ sơ quả, nhị đạo nhị quả, tam đạo tam quả, tứ đạo tứ quả, hay bậc A-la-hán quả. Trong danh từ chuyên môn chữ Hán gọi là bậc Thánh Hữu Học. Phải nói đây là một trong những danh từ chữ Hán đôi khi sài chúng tôi rất miễn cưỡng là bởi vì dịch như vậy chúng ta thường hay có sự hiểu lầm hữu học là người có học và Asekha dịch là bậc vô học, ở đây người Việt Nam chúng ta cho là bậc không có học gì hết. Chữ hữu học và vô học không có nghĩa như vậy.

 Ở đây chữ Sekha có nghĩa là bậc Thánh đang tu tập và Asekha là bậc Thánh đã hoàn tất hành trình tu tập, sanh đã tận phạm hạnh đã thành những gì nên làm đã làm.

 Đối với tất cả chúng ta những người chưa chứng Thánh quả, chúng ta là Puthujjana là phàm phu. 
Nhưng phàm phu có hai hạng:  

1 - Một là vô văn phàm phu (assutavā puthujjano) không thấy các bậc Thánh, không thông hiểu pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh. 

2 - Một hạng phàm phu khác có học pháp các bậc Thánh đang trên đường từ sơ đạo cho đến tứ đạo, những vị chắc chắn sẽ hoàn tất cuộc hành trình, các Ngài mẫu mực là những hình ảnh tiêu biểu cho giáo pháp của Đức Phật, trên phương diện nào đó các Ngài thuộc về sàvakasangha là những vị tượng trưng cho tăng chúng đã được nghe đã được hấp thụ tức là đã bước vào giòng Thánh vức, đã trưởng thành trong ngôi nhà giáo pháp và các vị hợp lại thành cộng đồng Tăng chúng gồm bốn đôi tám vị, những bậc này là những bậc Thiện Hạnh, Trực Hạnh, Như Hạnh, Chánh Hạnh xứng đáng được quí trọng, được nghinh đón, được chắp tay cúng dường, là phước điền vô thượng ở đời. 

Với 6 pháp trong bài học hôm nay nói lên khuynh hướng cố hữu của những vị  tu tập đang trên đường đạt đến viên mãn giải thoát. Sáu pháp này lại là 6 nguyên tắc được áp dụng triệt để tại các tu viện và tạo nên truyền thống rất quan trọng ở Thái Lan gọi là truyền thống Lâm Tăng, Chư Tăng sống trong rừng. Tại Trung Hoa và Việt Nam chùa ở những nơi rừng núi đồi thường gọi là Sơn Môn là những tu viện ở trên núi nhưng chữ Sơn Môn tại Huế thì người ta đề cập đến pháp phái nhiều hơn thí dụ như tu theo tổ Liễu Quán chẳng hạn. Những ngôi chùa những ngôi tổ đình đại tự chia theo dòng tu từ Thầy rồi truyền xuống trò thành bao nhiêu nhánh phân chia họ gọi là Sơn Môn là một pháp phái. Và chữ Sơn Môn đúng nghĩa là Forest monastery tức là những tu viện đúng nghĩa tu viện. Ở tại Thái Lan có hai truyền thống khác biệt rõ rệt một là thôn Tăng là Chư Tăng ở làng tức là mỗi một làng hay một thành phố có một ngôi chùa để phục vụ cho một số Phật tử, thông thường chùa làng giới hạn là mỗi làng một ngôi chùa nhưng nếu  là chùa rừng hay Wat Pah thì ở đâu cũng có thể cất được. Và đời sống của Chư Tăng ở tại các tu viện này áp dụng 6 nguyên tắc này như là 6 thanh quy chính yếu để huấn luyện để tu tập.

Chúng ta thấy ở đây Đức Phật Ngài đề cập đến 6 pháp dẫn đến sự thối đọa và 6 pháp dẫn đến sự tinh tiến.

- Sáu pháp dẫn đến thối đọa là: ưa công việc,  ưa nói chuyện, ưa ngủ nghỉ, các căn không phòng hộ. 

- Và 6 pháp tu tập tinh tiến là: không ưa công việc, không ưa nói chuyện, không ưa ngủ nghỉ, không ưa hội chúng, các căn có phòng hộ và ăn uống có tiết độ.

1- Công việc

Chúng ta nói một cách cụ thể về công việc. Dĩ nhiên tại một ngôi chùa nào cũng có một số việc nhất định cần làm đôi khi làm rất vất vả, nội việc quét dọn trong ngoài, việc tiếp xúc với Phật tử, việc hoằng pháp thì cũng rất bận rộn. Tại Thái Lan hay Miến Điện các vị Sư Cả tức là những vị Trụ Trì các ngôi chùa thường phải ngồi rất nhiều, buổi sáng lên trên giảng đường ngồi để tiếp xúc với những vị thí chủ họ đến cúng dường phải nói đạo cho họ nghe, và buổi trưa cũng phải tiếp xúc với những vị thí chủ những Phật tử khi họ đến chùa, có vài nơi công việc đó giao cho vị tri khách đa phần người ta đến xin gặp Sư Cả. Công việc của vị Sư Cả trong chùa không phải là công việc quanh năm suốt tháng như chúng ta ở đây đa phần các quốc gia Phật Giáo giai đoạn nào xây cất thì xây cất nhưng giai đoạn xây cất xong thì Chư Tăng trở về với đời sống tịnh tu, đó là chuyện lý tưởng.

Khi Chúng tôi ở chùa Ngài Ajahn Chah thi tại đây chùa quy định 2 chương trình chấp tác trong một ngày: 3 giờ thức, 3:30 lên ngồi thiền, 4:30 xả thiền tụng kinh đến 5 giờ, sau đó có 30 phút chấp tác. 30 phút chấp tác là Chư Tăng từ Sư Cả xuống đến tất cả mọi người phân chia thành từng nhóm một lo quét sân, quét giảng đường, dọn dẹp nhà vệ sinh, dọn dẹp chánh điện trong nửa giờ đó phải xong việc dọn dẹp đó là chấp tác buổi sáng sau đó Chư Tăng mới đi khất thực. Điều này có nghĩa là khi đi khất thực trở về bước vào trong chùa thì chùa sạch sẽ từ trước ra sau, và các vị thí chủ đến từ xa từ thủ đô Bangkok hay là từ phố vào chùa thấy lúc nào cũng sạch sẽ đẹp đẽ, đó là chấp tác buổi sáng. Sau đó Chư Tăng đi khất thực về rồi chuẩn bị độ cơm, độ cơm xong khoảng 12 giờ cho đến 3 giờ trưa có 3 tiếng đồng hồ là giờ Chư Tăng chấp tác như múc nước giếng đổ vào các lu cho đầy, quét dọn những con đường trong chùa kể cả quét dọn giảng đường một lần nữa không phải chờ dơ mới quét vì chánh điện phải được quét sạch, rồi phải đi tìm củi khô trong những khu rừng chặt ra để đó để nhuộm y để giặt y. Sau 3 giờ chấp tác các vị đi rửa tay rồi lên cốc của Ngài Cả để uống nước những thứ nước được cho phép uống buổi chiều rồi đi về cốc để chuẩn bị tu tập nghỉ ngơi, 6 giờ chiều tụng kinh, tụng kinh xong nếu bữa đó không phải là ngày tụng giới thì mọi người về am thất của mình để tu tập.

Như vậy, về công việc một ngày có 2 giờ chấp tác: buổi sáng 30 phút, buổi chiều kéo dài 3 tiếng. Những công việc chấp tác này không phải là công việc tùy thích mà là công việc luân lưu, trọng yếu của các truyền thống tu tập ở các chùa đó là không có cố định một vị chuyên làm một việc mà công việc thay đổi liên tục để không bị dính mắc, thí dụ như bữa nay dọn dẹp chánh điện ngày mai gánh nước ngày mốt kiếm củi có nghĩa là giống như những người lính được phân công, hễ phân chia việc nào thì làm việc đó đơn giản là như vậy. 

2 - Thứ hai là không ưa nói chuyện.

Ở trong chùa Chư Tăng mà tụ họp để tán ngẫu sẽ bị đuổi ra khỏi chùa, đó là một qui tắc và ở trong chùa khi tất cả mọi người chấp tác xong tụ tập tại cốc của Ngài Cả, tầng trên có phòng nhỏ Ngài Cả ở tầng dưới rất rộng tất cả Chư Tăng, sadi, tu nữ, cư sĩ ở chùa tập trung tại đây uống nước thì lúc đó có thể trình bạch hay hỏi đạo, Ngài Cả sẽ chỉ dẫn trả lời, còn bình thường Chư Tăng tụ họp sẽ bị cảnh cáo nếu tái diễn lần thứ hai sẽ bị đuổi ra khỏi chùa. Phải nói rằng khi mới đến chúng tôi chỉ có một cách để nói chuyện  với Chư Tăng đó là thời gian đi khất thực, tại vì từ trong chùa đi vào trong làng đi về khoảng 6, 7 cây số và khi vào trong làng khất thực khoảng chừng 20 phút là đầy bình bát trên đường trở về băng ngang qua cánh đồng ruộng đa phần mình có thể tận dụng thời gian đó để trao đổi một vài việc, nhưng nói chuyện trên đường thì chỉ là nói chuyện chứ không phải là chuyện có thể ngồi tán ngẫu trên đường được, chuyện cần thì nói, đó cũng là cách hạn chế tật ưa nói chuyện, ai có bịnh hay nói vào trong các tu viện dễ dàng trị bịnh.

3. Ưa ngủ nghỉ 

Tại các tu viện chỉ được ngủ từ 10 giờ tối đến 3 giờ sáng có 5 tiếng đó là thời gian trung bình không quá dư không quá thiếu cho các thiền sinh. Thông thường khi mình đến chùa làm việc từ sáng cho đến chiều tối 10 giờ là ngủ không cần thuốc ngủ vì mệt quá và vì thiếu ngủ, ngủ như vậy thành thói quen đến 3 giờ sáng thì kiểng đánh thức dậy và 3:30 thì vân tập lên chánh điện để tụng kinh sáng và ngồi thiền. Tâm của mình, nếu thiếu ngủ tâm khó tập trung nhưng ngủ nhiều quá thì tâm lại muội lược không bén nhạy. Chúng ta để ý ít có vị nào đầu óc tinh tế mà ngủ nhiều, người mình  ngủ nhiều đâm ra lười biếng, khi chúng tôi còn nhỏ ở nhà với ông ngoại và bà thân không hiểu sao ở nhà thường dùng chữ nhớt thây tức là ngủ nhiều quá không biết có nhớt thây không nhưng tâm mình bị muội lược. Một việc trong trường thiền thấy rõ là ngủ nhiều quá thì tâm mình dật dừ chứ không phải ngủ nhiều là hạnh phúc, đừng nghĩ ngủ nhiều là mình khỏe. Quí vị để ý khi mình có thì giờ ngủ nhiều một chút khi thức dậy dật dừ, đó là kinh nghiệm cuộc sống thiếu ngủ thì khó tập trung mà ngủ nhiều thì tâm trở nên muội lược không còn bén nhạy nữa, mà ngủ vừa phải, và thông thường ở các tu viện họ cho ngủ 5 tiếng là không dư và không thiếu.

4. Ưa hội chúng 

Tức là thích đám đông thí dụ như là thích tiệc tùng, thích hội họp với thích có một số người nào đó để la cà những việc không cần thiết, tại các tu viện mình sống chung với Chư Tăng, buổi sáng tụng kinh cùng nhau, buổi tối tụng kinh cùng nhau, buổi sáng dùng cơm giống nhau, những ngày bố tát thì tụng bố tát nhưng không sống theo nhóm không sống theo một đám đông mà thường xuyên để dành nhiều thì giờ sống độc cư. 

5. Các căn phòng hộ. 

Các căn ở đây chỉ cho mắt tai mũi lưỡi thân ý, chúng ta thích nhìn cái đẹp và thấy đẹp lại ưa nhìn, tai thích nghe tiếng hay. Chưa có thời đại nào có được nhiều phương tiện để thấy để ngắm thậm chí còn ngửi còn nếm còn xúc chạm như là thời đại này, đây là thời đại có rất nhiều dục lạc.

Có nhiều điểm liên quan đến giới luật  nếu một vị biết ứng xử sẽ tránh được, tránh thôi chứ không phải là hoàn toàn, ví dụ như đi vào trong xóm con mắt không nhìn láo liên, nhìn trước mặt mình, nhìn bước đi, và thậm chí trong luật có đưa ra mình đi vào trong làng tầm mắt nhìn bao xa để gọi là tiết chế, và ngay cả khi có thí chủ đến cúng dường mình cũng không nhìn mặt họ. Bây giờ điều đó hơi khó khăn. Trong văn hóa của Á Châu đặc biệt văn hóa ở các quốc gia Phật Giáo rất thích hợp để Chư Tăng thu thúc phòng hộ các căn nhưng tại Mỹ hay tại Âu Châu chẳng hạn mình nói chuyện với người khác mình không nhìn mặt người khác thì bị xem là không có lịch sự  không đàng hoàng. Nhưng thật sự là ngày xưa Chư Tăng cũng có nhiều vị do nhìn vào các vị thí chủ mà sanh ra phiền não. Thật ra đời sống con người ở trong thời gian tu tập sự lôi cuốn giữa nam và nữ là một khía cạnh rất tế nhị, một vài cái nhìn mà không cẩn thận nó có thể làm cho tâm mình thối chuyển. 

Nói chung, đời sống trong tu viện sắc đẹp tiếng hay mùi thơm vị ngon xúc lạc đều phải hạn chế như hạn chế đối với mắt, hạn chế đối với tai, hạn chế đối với mũi, hạn chế đối với lưỡi. Lưỡi tương đối rất khó, ở trong chùa mình không được yêu cầu ăn những thực phẩm mình muốn trừ khi bị bịnh và nguyên tắc là người ta cho gì ăn cái đó.

 Ở trong cách tu của Phật Giáo Bắc Truyền thì tương đối, trong tu viện sắp xếp là phải ăn thức ăn thích hợp do đó khi mình yêu cầu Phật tử nấu cái này cái kia cho mình ăn thì được.

Nhưng thật sự trong nguyên tắc của chư Tăng Phật Giáo Nguyên Thủy người ta cho gì ăn cái đó, khi đi khất thực mình không có lựa chọn và khi mình trở về cũng không có lựa chọn. Và nếu các vị sống nghiêm trì thì cũng không được nghĩ đến ngày mai mình ăn cái gì mà căn bản là người ta cúng gì mình ăn đó không có suy tính trước. Và đồng thời trong ngày giờ ăn chỉ buổi sáng còn buổi chiều chỉ được uống nước đó cũng là cách để thu thúc thiệt căn. 

Nhưng phải nói việc thu thúc các căn là một điểm rất tế nhị, thí dụ chúng ta sống ở những xứ lạnh ngủ trên nệm trên gối để thân thể được giữ ấm thì đó là một chuyện nhưng tại các quốc gia nhiệt đới mình ngủ ở trên sàn gỗ và thường chỉ trải chiếc chiếu thậm chí gối cũng bằng gỗ, ở trong chùa không có gối bằng bông giống như chúng ta sài vì gối bằng bông dễ bị dơ và không có vị nào phụ trách về gối do đó khi cần gối mình lên chánh điện có những cái gối bằng gỗ xếp làm đôi, mở gối gỗ ra kê đầu chúng ta trong đó. Khi chúng tôi mới qua buổi tối lấy khăn tắm xếp lại để lên gối gỗ cho đỡ cứng . Nhưng đại khái là sự xúc chạm của thân không êm ái không thoải mái,

 Nói tóm lại, phòng hộ đối với mắt đối với tai mũi lưỡi thân và các phòng hộ về ý cũng phải thường xuyên coi chừng và 3 vọng niệm lớn là tham sân si. 

Vọng niệm về tham là suy nghĩ ham muốn cái này muốn cái kia, vọng niệm về sân là suy nghĩ bực mình khó chịu tìm lỗi người này người khác và hận tư duy là suy nghĩ về oán thù mình bực bội mình oan trái với người này người kia đó là những vọng niệm thường có trong mình. Canh chừng 6 căn là một nghệ thuật.

 Ăn uống có tiết độ là mình sống một cách tất nhiên với những gì các thí chủ cho mình, và đồng thời ăn uống trong mức độ vừa phải. Nhưng phải nói rằng ngày hôm nay chúng ta bị một căn bịnh của thời đại mà ngày xưa cũng có nhưng ìt đó là bịnh tiểu đường. Bịnh tiểu đường bắt buộc chúng ta ở trong thời gian vài ba tiếng phải ăn không ăn thì bủn rủn tay chân nhưng ngược lại nếu mình biết tu tập thì bịnh tiểu đường cũng là một phương pháp tiết độ ẩm thực tại vì chúng ta sẽ cử bớt những món ăn mình thích, ăn món ăn nhạt nhẽo hơn, ăn món ăn tại vì nhu cầu hơn là vì thoả mãn khẩu vị.

Ở đây, khi nói đến 6 pháp này chúng ta nên nhớ một căn bản tu tập trong Phật giáo là mình tu là do tinh thần tự giác của bản thân chứ không phải mình tu là mình được huấn luyện giống như ở trong quân trường, ở trong quân trường thì có những huấn luyện viên có những sĩ quan theo dõi mình đa phần là sự tu do sự kiểm soát người khác mang tánh cách đại khái.  Ví dụ như mình tụm 5 tụm 3 để nói chuyện ngẫu nếu cẩn thận thì khó ai bắt được nhưng chúng tôi thưa như vầy khi mình vào tu tập mình không tuân thủ theo những điều này thì mình phá hỏng việc tu của mình và phí thì giờ của các vị Thiền Sư. Các vị Thiền Sư thường nhắc nhở những nguyên tắc này nếu chúng ta không tuân giữ thì làm cho sự tu tập của chúng ta không tiến bộ hoặc giả là lui sụp, mình đến sống trong chỗ tu tập mà không có tiến bộ chỉ để ở cho có ở thôi thì thật sự rất uổng phí thời gian, không ở thì tốt hơn, đơn giản như vậy. 

Vì vậy ở đây đòi hỏi sự tự giác rất cao rộng như trường hợp mình tiết độ các căn là chuyện của mình chứ không ai có thể làm cho mình, không ai nhắc sao sư không phòng hộ mắt sao sư không phòng hộ tai, lâu lâu các vị thầy nhắc còn bình thường không ai nhắc chúng ta đó là ở mỗi chúng ta tự giác. Những điều này là bí quyết để tu tập.

 Hàng ngày mình sống an lạc, mình sống mà tăng trưởng thiện pháp, mình sống để đi tới thì điều đó phải đến từ sự quyết tâm của mỗi cá nhân và Đức Phật Ngài dậy công thức là như vậy và chuyện làm như thế nào là do ở chúng ta làm chứ không ai cầm roi hay cầm gậy thúc sau lưng biểu chúng ta làm. Và những điều này không mang tính luân lý đạo đức như ngoài đời người ta nói, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nội tâm tu tập của chúng ta thí dụ như ăn ngon mình cũng có thể ăn ngon nó không có tội gì với ai hết nhưng nếu các căn mình buông thả thì mặt khác của thiện pháp sẽ bị tổn giảm và cái đó tự chúng ta biết. Tương tự như chúng tôi bị tiểu đường mà lại thích ăn ngọt và cứ ăn một cách bừa bãi thì hệ quả tiểu đường là chúng tôi chịu thôi nó không phải là vấn đề đạo đức, đơn giản là như vậy nếu như mình bị tiểu đường, điều đặc biệt của Phật Pháp là mình phải tìm cách để hiểu và để đương đầu với phiền não nội tại của mình nếu mình sống mình không có cách đương đầu với phiền não thì phiền não có trăm muôn ngàn cách để sanh khởi và ngự trị trong lòng mình.

 Trọng yếu của đạo Phật là sống sao cho bớt phiền não, bởi vì nó phiền mà nó não nữa thành ra những phiền não chỉ làm cho tâm bị dơ bợn, phiền não chỉ làm cuộc sống không được an lạc, phiền não chỉ tổn hại đến việc làm thiện pháp của mình, cách sinh hoạt như thế nào đó ở trong đời sống mà khả dĩ cho chúng ta tăng tiến, để chúng ta có thể vươn lên có những tiếng bộ trong cuộc sống. Cái khéo cái nỗ lực cái tiến bộ đó là do ý thức hoàn toàn ở chúng ta. Đôi khi nhiều người không hiểu người ta tưởng sự tu tập có nghĩa là phải có người khác cầm cây roi để răn dạy mình. Thật sự là mình đi vào trong chùa mà gặp vị thiền sư hay gặp một vị thầy chỉ cho mình tu cái đó chỉ là những bước rất sơ bộ những bước rất ban đầu, càng đi đường dài nó đòi hỏi chính chúng ta phải tự làm và mình làm thì mình biết không ai có thể làm việc đó giùm chúng ta hết, cha mẹ và bà con và tất cả những người thân của mình cho dù thương mình cách mấy đi nữa cũng không ai làm cho mình tiến bộ được trừ khi mình tiến bộ, đời sống chúng ta hàng ngày, sự học tập của mình cái vui cái buồn của mình phần lớn là do tự ý thức của mình.

Những pháp này sở dĩ gọi là pháp của bậc hữu học là bởi vì một khi các vị đã chứng đắc được Niết-bàn thì các vị thấy rõ đó là điểm phải đi tới chớ không còn miên mang chưa biết mình đi đâu về đâu. Một người đi mà biết rõ điểm tới biết rõ mục đích của hành trình thì người đó không vì vui mà bỏ cuộc hành trình, không vì giận mà bỏ cuộc hành trình, không vì khó khăn mà bỏ cuộc hành trình cứ tiếp tục đi tới, thì đó là hình ảnh của một vị Thánh hữu học, vị đã thấy Niết-bàn và đã có định hướng rõ ràng trong cuộc sống thì các vị sống thể hiện 6 pháp này đó là:

 - không ưa công việc, 
-  không ưa nói chuyện, 
-  không ưa ngủ nghỉ,
-  không ưa hội chúng, 
-  các căn có phòng hộ
 - và ăn uống có tiết độ.

Chúng ta đừng nhìn những điểm này như lời răn có tánh cách tôn giáo hay tánh cách của đạo đức, nó đơn giản là tại vì những pháp này nó liên hệ trực tiếp đến đời sống nội tâm của chúng ta và đôi khi mình chiêm nghiệm những điều này mình mới hiểu tại sao tâm mình phiền não nhiều hay là phiền não ít ./.


Tuesday, January 23, 2018

Thế nào gọi là chánh tín, thế nào gọi là tịnh giới, thế nào là thiện thí, thế nào trí tuệ trong Phật Pháp?

Thảo luận. Thế nào gọi là chánh tín, thế nào gọi là tịnh giới, thế nào là thiện thí, thế nào trí tuệ trong Phật Pháp? 

Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 5 tháng 1 năm 2018 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu giảng: 

 - Niềm tin, đối với người thường không hiểu biết Phật Pháp niềm tin của họ cũng có chứ không phải là không nhưng niềm tin đó không phải là chánh tín.

- Việc giữ giới, người không học hiểu Phật Pháp họ chấp trì những giới như giới cấm thủ chẳng hạn, điều đó không những không đem lợi ích trong tương lai mà còn đưa đến thối đọa bởi vì nó rơi vào tà kiến.

- Bố thí, một người bố thí, không hiểu bố thí như thế nào có quả báo lớn có lợi ích lớn thì người đó làm cũng như không có làm.

- Trí tuệ, nói đến trí tuệ không phải một người thông minh có kiến thức uyên bác mà gọi là trí tuệ lợi ích trong tương lai.

Ở đây chúng tôi nhân câu hỏi này cũng chia xẻ với quí Phật tử. 

Vấn đề niềm tin. 

Chúng ta có 4 niềm tin thuộc về chánh tín:
1. Một là chúng ta tin về nhân.
2. Hai là chúng ta tin về quả  của nhân
3. Ba là chúng ta tin mỗi chúng sanh có biệt nghiệp.
4. Bốn là tin vào sự giác ngộ của Đức Phật để chúng ta sẵn sàng tin giáo pháp và Tăng chúng.

1 Tin về Nhân

Tin nhân tức là khi có sự việc gì xảy ra người đó tin chắc rằng vụ việc này ắt phải có nguyên nhân và cố tìm ra nguyên nhân mà xảy ra sự việc đó chớ không có mỗi mỗi một chút lại đổ thừa do trời thưởng trời phạt. 

2. Tin vào quả

Tin vào quả là những khi mình hành động thiện hoặc ác, hành động thiện tin rằng hành động này sẽ đưa đến quả an vui còn hành động ác sẽ đưa đến quả khổ, chúng ta tin vào quả như thế. Hoặc chúng ta tin vào hậu quả của hành động, khi  mình làm việc gì đó bị phóng dật suy nghĩ đến chuyện khác không tập trung thì chúng ta biết hậu quả của việc đó sẽ đưa đến sự thất bại. Chúng ta đi trên đường trơn trợt tâm cứ suy nghĩ đến chuyện đâu đâu không chú ý từng bước chân, không đi chậm trên con đường trơn trợt đó thì như vậy hậu quả sẽ trợt té. Tức là phải biết hành động này sẽ đưa đến quả nào, mình phải biết như thế. 

Người tin quả làm việc rất cẩn thận. Ví dụ, một người hút thuốc xong họ không ném tàn thuốc còn đang cháy vào một xó vách hay đi ngang qua một khu vườn khu rừng họ không ném tàn thuốc còn đang cháy đó xuống dưới đất vì nghĩ rằng chính do nhân này có thể đưa đến hậu quả gây hỏa hoạn v.v...  

3. Tin mỗi chúng sanh có biệt nghiệp

Tin mỗi chúng sanh có nghiệp riêng là chúng ta tin ở đời này chúng sanh vui hay khổ mỗi chúng sanh phải lãnh chịu quả nghiệp người đó tự tạo trong đời quá khứ, bởi vì:

"Kammassakā māṇava, sattā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammappaṭisaraṇā.
Chúng sanh là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng là quyến thuộc, nghiệp là chỗ y cứ.

Chúng ta tin tưởng điều đó, niềm tin đó là niềm tin chân chánh, chúng ta tin vào sự giác ngộ của Đức Phật, tin vào diệu năng của giáo pháp, tin vào sự thanh tịnh của tăng chúng.

4. Niềm tin Đức Phật, Tăng Chúng, giáo pháp. 

Cũng vậy, ở đây, có những người tự nhận mình theo đạo Phật, nhưng trên thực tế họ không hiểu Đức Phật là ai, họ chỉ biết đi đến chùa thắp hương qùy lạy Phật rồi cầu nguyện, họ không hiểu được Đức Phật Ngài là ai Ngài giác ngộ những gì và Ngài đã dạy điều nào, họ không biết. Tin Phật như vậy không hiệu quả, không phải là người Phật tử chân chính 

Tin giáo pháp là chúng ta tin vào những lời dạy của Đức Phật là "thiết thực hiện tại có hiệu năng hướng thượng" đi vào giáo pháp chỉ nương tựa vào giáo pháp như chúng ta nương tựa lời chỉ dẫn của một vị trưởng đoàn còn bước đi là phải do chính mình. Đức Phật Ngài tuyên bố:

"Như Lai là vị chỉ đường sự nỗ lực phải do chính các ngươi -  "Akkhaataaro tathaagataa Tumhehi kicca.m aatappa.m"

Chúng ta phải tin giáo pháp tin như vậy chứ không phải là đến chùa tìm hiểu  bài kinh nào bài chú nào đọc cho linh hiển cho ứng hiệu để ngăn ngừa tai ương v.v... chúng ta không tin giáo pháp theo kiểu đó được.

Chúng ta phải tin hiệu năng hướng thượng. Giống như khi bị bịnh chúng ta đến gặp bác sĩ cho chúng ta thuốc uống chúng ta phải tin vào công hiệu của thuốc làm theo lời căn dặn của bác sĩ thì mới hết bịnh chứ chúng ta không thể nào đi đến nhờ ông bác sĩ làm cho mình hết bịnh nói suông như vậy là chúng ta sẽ không bao giờ hết bịnh, chúng ta phải uống thuốc biết kiêng cử những gì bác sĩ dặn cũng như chúng ta tin vào giáo pháp để thực hành chứ không phải tin vào giáo pháp là tin vào những bài kinh tụng có uy lực.

Tin vào Tăng chúng.  Chư tăng không phải là những vị giáo sĩ trung gian để đem lời cầu nguyện của mình đến Đức Phật được, Chư Tăng không phải là những vị làm công việc đó. 

Những vị sống đời sống xuất gia đã đạt đến quả vị giải thoát là bản thân của vị đó do sự thực hành theo giáo pháp Đức Phật. Những vị sợ hãi sự sanh tử luân hồi xuất gia sống theo giáo pháp của Đức Phật học pháp và hành pháp, đi hoằng pháp thay mặt Đức Thế Tôn để truyền dạy giáo pháp gìn giữ giáo pháp tồn tại. 

Chúng ta không nên đi đến gặp các vị Tỳ Kheo nhờ các vị Tỳ Kheo vì nghĩ rằng Tăng có oai lực cho nên Tăng tụng kinh cầu an hay cầu siêu thì sẽ ứng nghiệm. Nếu có niềm tin như vậy thật sự không phải là niềm tin nơi Tăng chúng. 

Cho nên chúng ta tin Tam Bảo, chúng ta phải có niềm tin chân chính là:

Chúng ta tin Đức Phật là tin sự giác ngộ của Đức Phật.
Tin giáo pháp là tin vào hiệu năng của chánh pháp. 
Tin Tăng chúng là sự thanh tịnh của Tăng chúng.

Để từ đó chúng ta mới làm phước bố thí cúng dường, chúng ta có nhiều phước báu.

Sự trì giới 

Đức Phật Ngài dạy có người giữ giới giống như kẻ ngoại đạo, có người giữ giới như kẻ chăn bò và có người giữ giới như bậc Thánh.

Giữ giới như kẻ chăn bò là thọ trì 5 giới 8 giới rồi giữ làm sao trong ngày và đêm đó hay trong thời gian đó không phạm vào 5 giới 8 giới đó nhưng họ không biết rõ lợi ích của giới và không biết rõ cái gì làm nền tảng cho giới.

Thí dụ, như tu tâm từ bi hay sống chánh mạng hoặc sống tri túc thiểu dục hoặc chúng ta thích thú pháp chân thật này chúng ta trao dồi trí tuệ. Những điều đó cần thiết cho giới được thanh tịnh, nhưng người này không hiểu, họ chỉ giữ giới cho đừng phạm năm điều đó thôi còn những phiền não tham sân si mạn nghi tà kiến họ không tu tập. 

Cho nên những người ở ngoài miệng thì nói giữ giới nhưng trong tâm họ sân nhiều, họ có thể nổi sân lên đánh đập mắng chửi người khác, hỏi tại sao tu giữ giới mà lại sân như vậy thì họ nói rằng đánh đập không phải là sát sanh, họ mắng chửi không phải là nói dối. Những người như vậy gọi là giữ giới như người chăn bò đếm đủ 8 con hay 5 con dẫn đi ăn chỗ này chỗ kia, sáng đem đi chiều đem về đếm đủ trả cho chủ bò để lãnh tiền. 

Giữ giới như kẻ ngoại đạo, là giữ giới còn theo tà kiến chấp sai hiểu lầm giáo pháp của Đức Phật. Đa phần người Phật tử giữ giới bị rơi vào tà kiến, thí dụ  đơn giản một điều thôi, mặc dầu chúng ta giữ giới nhưng thay vì chúng ta  nghĩ mình không sát sanh thì quả phúc này mình sẽ được sự may mắn an vui không bị tai hại không bị rủi ro, nhưng đàng này người Phật tử đôi khi miệng thì giữ giới nhưng khi  họ muốn xuất hành họ muốn đi chỗ này chỗ kia họ cũng coi ngày giờ tốt xấu, thành thử như vậy chúng ta không có giữ giới 

Người Phật tử chúng ta giữ giới như thế này:

- Chúng ta suy nghĩ  vị A La Hán trọn đời không hành động sát sanh luôn sống với tâm từ bi, ta sẽ noi gương vị Alahán ta sẽ không sát sanh có tâm từ bi với chúng sanh loài hữu tình.

- Vị Alahán trọn đời không hành trộm cắp Ngài sống chánh mạng ai cho cái chi thì dùng cái nấy không có lấy của không cho v.v... thì như vậy ta sẽ theo gương của vị Alahán để giữ giới tránh xa trộm cắp.

Thì khi chúng ta thấy và biết được điều lợi ích của sự giữ giới các bậc Thánh đã thanh tịnh hành động đó thì chúng ta sẽ noi gương theo đó để giữ giới làm cho mình cũng được thanh tịnh. Chúng ta giữ giới và có tác ý như vậy gọi là giữ giới thanh tịnh.

Về bố thí 

Có người bố thí vì:

1 - thương mà bố thí, 
2 - vì ghét mà bố thí, 
3 - vì si mê mà bố thí, 
4 - vì sợ hãi mà bố thí,
5 -  vì để mong cầu có quả báo sanh thiên mà bố thí, 
6 - vì họ bố thí để giữ truyền thống gia đình, 
7 - bố thí vì nghĩ rằng khi bố thí tâm ta sẽ được an vui rồi họ cho,
8 -  có người bố thí vì họ nghĩ chúng sanh tâm bị cấu uế do bỏn xẻn keo kiết cho nên vị đó bố thí xả tài với tác ý suy nghĩ là sẽ làm tư cụ cho tâm, làm trang điểm cho tâm để cho tâm được trong sạch yên vui thì người đó bố thí.

 Trong 8 sự bố thí chỉ có hai sự bố thí thứ 7 và thứ 8 là bố thí làm cho tâm an vui, bố thí để làm tư cụ cho tâm thì hai cách bố thí này là chân chính, còn những bố thí kia không phải là thiện thí.

 Bố thí tại vì thương ai đó mình đem cho chứ không phải là tâm muốn dứt sự bỏn xẻn. Không phải là thiện thí

Buổi sáng ra gặp người ăn xin đứng ngay cửa giận quá bây giờ đuổi thì họ không đi họ ngồi lì đó thì thôi cho đại cái gì đó để họ đi cho rồi chứ ngồi án trước cửa không buôn bán được. Đó là vì giận mà bố thí. Không phải là thiện thí

Thì như vậy trong cách bố thí chúng ta cũng phải suy xét, bố thí làm sao cho lợi ích.

Còn nhiều cách bố thí tốt đẹp Đức Phật Ngài dạy chẳng hạn như:

- Chúng ta bố thí bằng lòng tin, 
- chúng ta bố thí bằng sự trân trọng người thọ thí,
- Chúng ta bố thí vì hợp thời,
- Chúng ta bố thí những vật qúi trọng không phải là vật quăng bỏ.
- Chúng ta bố thí chúng ta nhìn về tương lai đó là những pháp bố thí của bậc chân nhân mà chúng ta cần phải thực hành theo đó là thiện thí.

Về đến trí tuệ .

Người Phật tử hiểu về trí tuệ ở đây là sự hiểu biết thuộc về chánh kiến, không phải là người khôn ngoan đối đáp hay có đầy đủ mưu mẹo sách lượt để thắng hoá người khác, mà là chúng ta hiểu biết trí tuệ đem đến lợi ích tương lai phải là trí tuệ của chánh tri kiến. 

Trí tuệ của chánh tri kiến thì chúng ta nên xem lại bài kinh Trung Bộ Kinh Majjhima Nikaya. 9. Kinh Chánh tri kiến (Sammàditthi sutta) do Tôn Giả Sariputta (Xá-lợi-phất)  giảng cho các vị Tỳ Kheo nghe. Một người hiểu biết pháp thiện và hiểu biết được căn thiện gọi là chánh kiến, hiểu biết pháp bất thiện là thế nào, hiểu biết căn bất thiện là thế nào gọi là chánh kiến. 

Một người hiểu biết được những pháp chẳng hạn như chúng sanh duy tồn nhờ vật thực, cái gì là vật thực, cái gì là tập khởi của thức ăn, cái gì là sự đoạn diệt của thức ăn, cái gì là con người đưa đến sự đoạn diệt của thức ăn.

Hay là chúng ta hiểu biết về Tứ Đế đây là khổ, đây là Nhân Sanh khổ, đây là Sự Diệt Khổ và đây là Con Đường Đưa Đến Sự Diệt Khổ, có trí tuệ biết rõ như vậy có lợi ích đưa đến kết quả trong tương lai nếu chúng ta chưa đắc đạo quả thì nên tu tập như vậy. 

Cho nên ở đây dầu chúng ta là người giàu hay người nghèo, là người trí thức hay người bình dân, người học nhiều hay người học ít, điều đó không cần thiết không phải là trí tuệ quan trọng. Mà cái trí tuệ của chánh tri kiến là hiểu được những pháp để thực hành đưa đến sự tốt đẹp an vui đó mới là trí tuệ cần, là trí tuệ quan trọng.

Ở đây chúng tôi cũng chỉ xin chia sẻ với qúi vị một cách tóm tắt để chúng ta có thể theo đó thực hành cho tốt ./.