Thursday, May 31, 2018

Phân biệt danh sắc có tác dụng gì với hành giả tu Tứ Niệm Xứ?

Thảo luận. Phân biệt danh sắc (như ý định hành động và hành động) có tác dụng gì với hành giả tu Tứ Niệm Xứ? 

Thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 29-3-2018, Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu: Đối với một người không tu tập thì họ chấp thể xác và linh hồn (tâm) là một, hoặc  thể xác là khác  và linh hồn là khác. Và hễ họ chấp là một hay là khác thì  cũng rơi vào tình trạng thường kiến hay đoạn kiến, hoặc họ chấp ngã sở, ngã đắc, ngã chấp thủ, ngũ uẩn là ta, ta là ngũ uẩn, ngũ uẩn có ta, trong ta có ngũ uẩn, sắc thọ tưởng hành thức. 

Đối với một người tu tập Tứ Niệm Xứ,  vị này có chánh niệm tỉnh giác sanh diệt sẽ hiện khởi và sự diệt mất của danh và sắc, vị này sẽ đạt được trí tuệ Nāmarūpapariccheda ñāṇa tức là tuệ phân biệt danh sắc.

Thất giác chi có tác dụng gì?  

Ở đây, khi chánh niệm nhận thức được rõ ràng, ghi nhận rõ ràng sự sanh diệt của danh sắc thì tác dụng thứ nhất là thấy  danh sắc có sanh có diệt nó vô thường, và cái gì vô thường sanh diệt không theo ý muốn thì  là vô ngã, vị đó  nhận thức được. 

Rồi lại ghi nhận cái này là danh cái này là sắc. Chẳng hạn như ghi nhận hơi thở ra hơi thở vào. Vị hành giả chánh niệm nhận biết hơi thở đó là sắc pháp, thuộc về sắc nó  sanh khởi ở rún và nó diệt ở chóp mũi được gọi là hơi thở ra sanh và diệt. Hơi thở vào thì hơi thở được ghi nhận sanh ở mũi và diệt ở rún. Bởi vì hơi thở vào trước hết là mình cảm nhận được từ ở chóp mũi và vô cho đến khi không còn thở vô nữa để mà thở ra thì nó dừng lại ở rún. Ghi nhận như vậy  hơi thở vị đó thấy sự sanh diệt rõ ràng.

Hơi thở đó là sắc tâm cittasamuṭṭhānarūpaṃ và hơi thở này  thuộc một trong bảy sắc hành động do tâm điều khiển do tâm sanh khởi, do tâm khiến cho sanh lên thì  tâm là  ý muốn thuộc về danh pháp. Thì hễ hơi thở có sanh có diệt, thì tâm khởi lên nhanh hơn gấp 17 lần sanh diệt của sắc pháp. Cứ ghi nhận như thế  vị hành giả sẽ thấy rõ ở đây danh sanh diệt sắc sanh diệt cái đó là vô thường. Mặc dù danh và sắc có sự liên đới với nhau nhưng  danh  sanh diệt nhanh hơn sắc pháp cứ như thế hành giả chánh niệm cho đến khi vị hành giả nhận thức rõ danh sắc này vốn  tương quan nhưng nó độc lập.

 Rồi lại danh sắc này vì có sanh có diệt cho nên  có đặc tính là vô thường, không có gì là trường tồn, không có gì là vĩnh hằng bất hoại. Và rồi vì sanh diệt một cách tự nhiên theo định lý sanh rồi diệt, diệt rồi sanh cho nên vị hành giả nhận thức được không theo ý muốn thế là các pháp danh sắc là vô ngã. Mà trọng tâm của vị tu tập quán Tứ Niệm Xứ là để nhận thức được danh sắc là vô thường, khổ đau và vô ngã, cái tiêu chí của vị đó, cái đặc điểm mục đích của  vị hành giả tu tập Tứ Niệm Xứ là để nhận thức được sanh diệt để nhận thức được nó vô thường, khổ đau, vô ngã và khi đã nhận thức được 3 ấn tướng của pháp hữu vi thì lúc bấy giờ tuệ đạo tuệ quả sẽ sanh khởi.

Cho nên ở đây  nhận thức và  phân biệt được danh sắc quan trọng lắm, người mà có tuệ quán phân biệt được danh sắc là bắt đầu tuệ quán thấy được pháp chân đế của danh sắc. Còn như hàng ngày đối với chúng ta thì chúng ta  quen chấp nơi tục đế, chúng ta cũng biết đây người nam, đây là người nữ, đây là đẹp, đây là xấu, chúng ta nhận thức theo khái niệm giả lập, khái niệm qui ước cho nên lúc bấy giờ làm cơ sở cho phiền não, ngã chấp cứ như thế mình chấp do vọng tưởng, mà cứ như thế đó thì bắt đầu phiền não dựa vào đó sanh khởi, chúng ta không nhận ra được. 

Cũng giống như khi một bức tường bị đóng rong nhìn thấy nó bị ố người ta sơn hay quét vôi đè  lên, người ta tưởng làm như vậy cho nó đẹp nhưng thật sự bên trong bị ẩm ướt người ta không nhận thức được, người ta không khắc phục được từ chỗ bức tường loan lỗ do rong rêu đóng, lẽ ra người ta phải cạo bỏ lớp rong đó hoặc chỗ nào hư mục  phải lóc chỗ đó ra xong rồi mới trám vữa hồ làm cho bằng phẳng rồi để khô  mới sơn lên thì nó mới đẹp bền.

 Cũng như phàm phu chúng ta hễ gặp phiền não chúng ta cứ cố gắng suy nghĩ để khỏa lấp sự phiền muộn đó, nhưng mà cố gắng làm cho khoả lấp bằng quan niệm chấp thường, chấp lạc, chấp ngã, chấp tịnh thì là môi trường để cho phiền não sanh lên. Muốn giải quyết vấn đề này thì phải làm sao nhận thức được danh sắc (ý muốn hành động và hành động) rõ ràng thì lúc đó phiền não mới dừng lại. Đây là vấn đề mà chúng tôi xin được chia sẻ qua câu thảo luận vừa nêu ./.

Monday, May 7, 2018

Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. - Kinh Bàhhiya - TT Giác Đẳng

Kinh Bàhiya Sutta

Trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy

Bài kinh TT Giác Đẳng giảng trong lớp Phật Pháp Buđdadhamma 27-3-2018

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: kinh Bàhiya Sutta là một bài kinh quen thuộc trong Phật Pháp chúng ta rất cần đọc kỹ. Ở trong bài kinh này kể câu chuyện một vị thương buôn đi biển, thương thuyền bị chìm và ông trôi dạt vào một nơi xa làng, lúc bơi thì y phục không còn khi đến bờ trong tình trạng loả thể, vị này lấy vỏ cây quấn tạm quanh người. Những người dân làng đi đốn củi gặp vị này mặc vỏ cây họ nghĩ vị này là một đạo sĩ mặc vỏ cây họ sùng bái, cũng giống trường hợp bên Việt Nam thấy người nào ăn ớt nhiều hay ăn dừa nhiều ăn chuối nhiều thì họ gọi là đạo ớt, đạo dừa, đạo chuối vì thấy đặc biệt.

Ban đầu ông nhân sự tùng sự, tức là ông lấy vỏ cây che thân tạm thời khi gặp người dân trong làng nhưng khi ông thấy dân làng trọng vọng không cãi chính mà lại chấp nhận sự cúng dường của những người đó, thì từ sự chấp nhận đó sanh cho ông ảo giác ông nghĩ có lẽ trong những vị Thánh  Alahán ở đời thì mình là một ở trong những vị Alahán đó. Cái ảo giác này tương tự như ban đầu mình gạt người khác sau này mình tin điều đó luôn. Khi ông đến mức độ nghĩ mình là Alahán, ông lại có một phước duyên là một vị Chư Thiên bà con kiếp trước của ông mách với ông rằng thật ra ông không phải là vị Alahán và ở tại thành Xá Vệ Xa (Sàvatthi), ở hướng bắc có đấng Thế Tôn Ngài là vị Alahán giảng pháp đưa người ta trên con đường dẫn đến đạo quả Thánh nhân.

Bàhiya mặc dầu đã có ảo giác mình là Alahán nhưng được cảnh tỉnh như vậy ông tỉnh ngộ và không còn tiếp tục sống đời sống như vậy, ông làm một cuộc hành trình từ Suppàraka nơi ông ở đi về hướng Bắc tới thành Xá Vệ (Sàvatthi). Khi ông đến chùa, Chư Tỳ Kheo nói Đức Thế Tôn đang đi khất thực, trong đầu ông có sự chiêu cảm là mạng sống của ông sắp hết nên ông nôn nóng rất muốn gặp Đức Phật và ông đi ra ngoài hỏi thăm  người ta chỉ ông đến gặp Đức Phật, đúng lúc Đức Thế Tôn đang đi khất thực, ông qùi xuống xin Đức Phật dạy đạo cho ông.

 Đức Phật Ngài dạy rằng: 

- Đây không phải là thời để thuyết pháp tại vì Như Lai đang đi khất thực. 

Và do ông biết nghiệp ông không sống lâu do đó ông khẩn thiết năn nỉ Đức Phật thuyết pháp: 

- Bạch Đức Thế Tôn, nó có thể là chướng ngại mạng sống của Đức Thế Tôn, nó có thể là chướng ngại mạng sống của con, xin Đức Thế Tôn thuyết pháp cho con. 

Chưa có người nào khẩn thiết như vậy, Đức Phật ngay khi đó dạy Bàhiya một câu mà câu này chúng ta rất cần học và suy ngẫm cho kỹ.

- Vậy này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri ". Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.

"Do vậy ông không là chỗ ấy" tức là chuyện nào ra chuyện đó, sắc thọ tưởng hành thức chỉ là sắc thọ tưởng hình thức thôi, thinh khí vị xúc pháp chỉ là thinh khí vị xúc pháp thôi, ông không phải là chỗ ấy, tức là đó không phải là ta, không phải là của ta, không phải tự ngã của ta "Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau."

Nếu chúng ta có tu Tứ Niệm Xứ rất thấm thía câu này, một lời dạy rất đẹp, đoạn kinh này quí Phật tử liên tưởng đến đề tài bằng cách nào Tứ Niệm Xứ giúp cho chúng ta đối diện với 5 trần cảnh mà không bị dục chi phối, 5 dục đó không còn là dục trưởng dưỡng nữa mà cảnh chỉ là cảnh thôi.

 Câu đó là trong cái thấy chỉ là cái thấy, trong cái nghe chi là nghe, trong cái thọ tưởng chỉ là thọ tưởng, trong cái thức tri chỉ là thức tri.

 Trong kinh Vô Ngã Tướng, Đức Phật Ngài dạy một vị khi được nghe được thấy là sắc thọ tưởng hình thức không phải của ta, sắc thọ tưởng hành thức là vô thường vị đó sanh tâm nhàm chán đối với tất cả sắc thọ tưởng hành thức nào dù trong quá khứ hiện tại vị lai, bên trong bên ngoài thô thiển vi tế hạ liệt thù thắng, các sắc ấy chỉ là sắc thôi, thọ ấy chỉ là thọ thôi, tưởng ấy chỉ là tưởng thôi, thức ấy chỉ là thức thôi, tức là thấy nó như vậy thì biết nó như vậy đừng vẽ rắn thêm chân, đừng tô hồng chuốt lục. Cái vẽ rắn thêm chân là cái gì xảy ra mình nói đây là ta, đây là tự ngã của ta, đây là ta,

 Ngài Xá Lợi Phất Ngài dạy chúng ta về pháp nhẫn nại, khi nào người ta chửi mình thì mình nhớ lời chửi đó là âm thanh và tai mình nghe là nhĩ thức, đừng giải thích xa hơn là người đó ác với tôi, người đó hại tôi, người đó thế này thế kia. Sự giải thích của mình làm tình trạng tệ hại thêm và đa phần sự giải thích của chúng ta về trần cảnh là lợi bất cập hại. 

Nên ở trong cách tu Tứ Niệm Xứ thấy biết là thấy, nghe biết là nghe. Ví Dụ như đang ngồi thiền với mọi người có người ngồi kế bên mình trong lúc thiền họ ngủ quên mà lại ngáy lớn, thì khi họ ngáy lớn mình bực mình nói rằng "sao người này vô duyên đi tu thiền ngồi với người ta mà lại ngủ mà còn ngáy lớn làm chi phối người khác không tu được nếu như vậy thì ở nhà đi". Chúng ta càng giải thích thì chúng ta càng bực, càng giải thích thì càng khó chịu. Nhân gian có câu: "nhà cháy mình tức người hút gió",  tâm của mình cái cảnh của mình không đến nỗi nhưng cách chúng ta giải thích cảnh nó có vấn đề, 

Ngài Ajahn Chan có một người đệ tử, vị này trên đường đi có tá túc ở một ngôi chùa một đêm, vị đó về nói với Ngài Ajahn Chan: 

- "Con rất bực chùa chiền gì mà từ sáng cho đến chiều mở băng pháp âm các bài pháp rất ồn con không ngồi thiền được, chùa thì phải yên lặng." 

 Ngài trả lời:

"Người ta mở bài pháp cho Phật tử nghe chứ không phải mở bài pháp để cho mình bực"

Tức là mình ở tá túc chùa người ta vốn là sinh hoạt như vậy mình vào mình ở mình cảm thấy ồn ào mình bực bội thì cái bực bội với âm thanh đó là do mình giải thích. 

Bài học này quan trọng lắm

- Vậy này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri ". Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. 

Người Mỹ có câu rất hay "Do not take it personal" nghĩa là nghe chỉ là nghe thấy chỉ là thấy thì không có vấn đề gì nhưng mình cho cái tôi cái ta liên hệ vào thì có vấn đề, chuyện này không phải là dễ.

Bài kinh này rất là ý nghĩa, Đức Phật khi Ngài nói xong câu đó do duyên lành từ kiếp trước Ngài Bàhiya trở thành vị Alahán ngay lập tức, và vị này khi chứng quả Alahán không thể sống đời sống nên xin xuất gia rồi đi nhặt vải rách cũ người ta bỏ về làm y. Nhưng có vấn đề do nghiệp quá khứ Bafhiya bị một con bò húc chết, khi Đức Phật đi khất thực về Ngài nhìn xác chết của Bàhiya Ngài gọi các vị Tỳ kheo mang một cái cán đến chở xác của Bàhiya về hỏa táng, "đó là một vị đồng phạm hạnh với các con". Chỉ nghe Đức Phật thuyết pháp một lúc mà Đức Phật gọi là vị đồng phạm hạnh với các con có nghĩa là Ngài xác chứng vị đó là vị Alahán.

 Bài kinh đó rất đẹp, nhất là lời dạy của Đức Phật, lời dạy đó có ba phần:

1) Phần đầu tiên là thái độ của chúng ta khi đối với các trần cảnh. khi thấy biết là thấy. khi nghe biết là nghe. khi thọ tưởng biết là thọ tưởng. Thọ tưởng là cảm giác vui buồn khổ lạc bi hỉ xả thay vì làm lớn chuyện thì mình thấy đây là khổ, đây là lạc, đây là ưu, đây là hỉ, đây là xả, thấy như vậy gọi là thọ tưởng. Ví dụ, mình đang ngồi thiền ai đó mở nhạc mình nhủ rằng ai đó mở nhạc thì cảm giác thích hay không thích đó là thọ, nhưng biết đây là nhạc Trịnh Công Sơn, nhạc bolero hay là nhạc gì đó cái đó thuộc về thọ tưởng 

2) Khi thọ tưởng khởi lên là trạng thứ hai, các cảnh đến mình thấy mình nghe, trạng thứ hai là thọ tưởng. Nhưng khi thọ tưởng mình vẫn còn có thì giờ để tu tập tức là biết nhìn thọ tưởng, thọ tưởng là thọ tưởng thôi, và trong thức chỉ là thức tri là cái biết của các giác quan như là thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác, cái biết của giác quan v.v.... và trạng thứ hai của người hành giả là "do vậy này Bàhiya ông không là chỗ ấy" .

3) "không là chỗ ấy" - Ở đây có ba phương diện là ngã, ngã sở và mạn tùy miên. Ngã ở đây tức là đây là ta, ngã sở đây là của ta, mạn tùy miên đây là tự ngã của ta. 

Vấn đề mình thấy ngã, ngã sở là ta, là của ta là tự ngã của ta chuyện đó là  manh mối của nhiều vấn đề. Ví như là mình là người Việt Nam mà ai chê người Việt Nam mình nổi giận hay là ai đó họ khen họ chê mình cái mà mình nổi giận, cái mà mình bực bội, cái mà mình hận thù, thật sự nó đều xuất phát từ ba ý nghĩ đây là ta, đây là của ta, đây là tự ngã của ta.

- Đây là ta họ nói như vậy là đụng chạm đến mình.

-  Đây là của ta họ đang đá động đến cha mình, mẹ mình, vợ mình, chồng mình.

- Đây là tự ngã của ta họ nói như vậy họ coi thường mình tức là họ hạ giá mình là họ biếm nhẽ mình. 
Thì ba ý tưởng đây là ta, của ta, tự ngã của ta nó nối theo cái đó nó làm cho mình phiền não, từ chỗ này mình thấy mấu chốt của tại sao chánh niệm cẩn trọng.

 Trong kinh Vô Ngã Tướng: Do vậy này các Tỳ Kheo, sắc thọ tưởng hình thức nào dù thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, thù thắng, gần hoặc xa, sắc ấy các sắc chỉ là sắc uẩn thôi, các thọ chỉ là thọ thôi, các tưởng chỉ là tưởng thôi, các hành chỉ là hành thôi, thức chỉ là thức thôi.

Chúng tôi nhớ hồi ở với Ngài HT Hộ Giác, trong chùa Chư Tăng có làm chuyện gì phiền lên nói với Ngài, thật sự chúng tôi rất biết ơn Ngài là khi bực mình thưa với Ngài thì thay vì Ngài nói vô Ngài nói ra Ngài bào chữa thì Ngài không nói gì chỉ ngồi lắng nghe và lẳng lặng pha trà, sau khi Ngài lắng nghe Ngài nói một câu "Thấy vậy chứ không đến nỗi vậy đâu Giác Đẳng" câu đó là một phép màu rất tuyệt. Tại vì mình có bịnh thổi phống suy diễn phóng đại, có chuyện gì đó mình suy diễn thổi phồng lên nhưng khi gặp vị thiện trí nhắc nhở cho mình thấy chuyện đó để yên không thổi phồng lên thì nó không đến nỗi nào nghiêm trọng. Thì thật ra đa phần chúng ta là nạn nhân của sự mình suy diễn, có những người bị bịnh là chuyện bé xé to chuyện nhỏ hóa lớn cái gì mình cũng xé to ra, thật ra cái đó tại sự suy diễn của mình thôi, nếu mình không suy diễn chuyện đâu để nằm yên đó nó như vậy mình ghi nhận nó như vậy, ghi nhận xong để đó, mình suy diễn để làm gì, mình suy diễn chỉ làm mình khổ thôi, tại sao mình suy diễn mình khổ là tại thói quen tại tật của mình.

 Một trong những bí quyết sống Đức Phật dạy đó là chánh niệm là khả năng ghi nhận. Ghi nhận ở đây đồng nghĩa với không có vẽ rắn thêm chân, không phóng đại, không tô hồng chuốc lục. Cái biết không phóng đại là khó, cái biết của tất cả chúng ta thường là cái biết làm hại cho mình là mình nghĩ mình biết, mình nghĩ mình giỏi nhưng đa phần sự suy luận đó làm khổ mình, nhưng mình lại không thấy khổ.

Trong Kinh Tứ Niệm Xứ nói không phải mình làm khổ mình mười mà mình làm khổ mình gấp trăm lần. Đôi khi  chúng tôi nghe một ai đó nhắc lại câu chuyện xảy ra cách đây năm ba năm với sự căm thù tức tối, sự căm thù tức tối đó chỉ một lời nói nhưng lời nói đó đến giờ này vẫn còn hặm hực. 

Trong Cổ Học Tinh Hoa có một câu chuyện rất thú vị. Một người ngủ chiêm bao thấy có người đẩy cửa đi vào nhà mình rồi nhổ nước bọt vào mặt mình và nói lời phỉ nhổ rồi đi ra, người này thức dậy ấm ức giận mấy ngày trời, không biết mình như vậy mà ai lại sỉ nhục mình. Giận một người trong chiêm bao giống như kiểu giết người trong mộng nhưng còn có một người nào để nghĩ để muốn giết trong mộng, đằng này người đó hoàn toàn không biết ai vậy mà giận mấy ngày trời và giận ghê gớm không biết ở trong chiêm bao ai đó lại nhổ nước bọt vào mặt mình và nói lời phỉ nhổ mình. 

Thật ra quá khứ giống như chiêm bao dầu nó có thật nhưng bây giờ người đó không còn nữa sự việc đã đi qua rồi giờ mình đem chuyện đó mình nhào mình nhai lại thì tự mình làm khổ mình thôi, đôi khi mình làm khổ mình mà mình không biết mình không hay. Mình đi đến chân trời góc biển, sống chỗ này chỗ kia bây giờ ngồi nhớ lại chuyện thời còn đi học bạn bè có người tốt kẻ xấu đánh nhau gây gỗ bây giờ ngồi nhớ lại chuyện thời đi học như vậy thì thấy chuyện đó vô duyên lắm, nhưng không phải chỉ thời đó chúng ta vô duyên mà bây giờ chúng ta vẫn còn vô duyên, chuyện không đáng mà mình cứ giận hoài.

Chúng ta nên đọc và thuộc lòng những lời kinh ngắn sẽ thấy thấm thía:

- Này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri ". Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. 

Câu này giải thích rõ hơn là những chuyện đó không phải là ta không phải của ta không phải tự ngã của ta.

 - Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.

Tại sao chúng ta thấy quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, thù thắng không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngã của ta mà đoạn tận khổ đau? 

Thì Đức Phật Ngài giải thích thêm rằng bậc Thinh Văn được nghe và thấy như thế rồi liền sanh tâm nhàm chán đối với pháp, do nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham tâm được giải thoát.

 Đức Phật Ngài không dạy sự giải thoát một cách mơ hồ, và sự tu tập Tứ Niệm Xứ không phải là một điều mơ hồ, nhưng ở đó có một cái lợi lạc rất lớn cho chúng ta, 

Bài kinh Đức Phật dạy cho Ngài Bàhiya rất ngắn chúng ta  nên đọc và nhớ kỹ bài kinh đó rất lợi lạc, đọc kỹ bài sẽ thấy bài này giải thích cho chúng ta biết tại sao có một liên hệ giữa Tứ Niệm Xứ và sự từ bỏ các dục. Các dục không dễ từ bỏ, mình sống trong cảnh trần không dễ từ bỏ, mình phải có phương pháp và lời dạy của Đức Phật cho chúng ta phương pháp.

 Đối với chúng ta, cho dù có tu thiền hay không tu thiền, có tu Tứ Niệm Xứ hay không thì chúng ta nên biết cái biết của chánh niệm rất có lợi lạc cho đời sống của mình. 

Và chánh niệm là một cái biết chỉ là biết không phóng đại, không khuấy tán, không vẽ vời thêm. Nếu trong đời này có ai nói mình nhìn sự việc một cách trung thực thì cái trung thực nhất là chánh niệm và chánh niệm là sự trung thực nhất. 

Chánh niệm là nhận diện, và mấu chốt của chánh niệm là sanh và diệt. Lấy ví dụ như người nào đó chê mình một câu và khi họ chê làm cho mình buồn thì thay vì mình giải thích, thay vì mình nói, thay vì mình bàn non tán rộng ra, thì mình biết mình đã nghe, và ghi nhận cảm giác buồn, ghi nhận cảm giác bực tức, và chỉ ghi nhận có mặt của sự bực tức, cái đầu mối mình cần phải ghi nhận đó là sanh và diệt, cái sanh và diệt lợi lắm.

Kinh Pháp Cú có câu:

Người sống đến trăm năm,
Không thấy pháp sanh diệt,
Chẳng bằng sống một ngày,
Thấy được pháp sanh diệt

 1. Chúng ta thử tập thay vì mình chạy theo cảm giác, thay vì mình phóng đại cảm giác, mình đơn thuần chỉ lẳng lặng ghi nhận cảm giác trong lòng mình sự bực bội sự khó chịu sự hân hoan đó lúc nào sanh lúc nào diệt, hai mấu chốt sanh và diệt.

2. Chúng ta biết được danh và sắc, Ngài Xá Lợi Phất dạy người ta chửi mình âm thanh đó là thuộc về vật chất trong kinh Phật gọi là sắc - rupa. Rupa cảnh của mắt là sắc mà còn có nghĩa là vật chất và tâm giận là danh. Và danh và sắc không nhất thiết tương đồng nhau tại vì cũng âm thanh đó có khi mình nghe bình thường có khi âm thanh đó mình nghe mình bực bội, lấy một ví dụ là mình thấy một đứa nhỏ bày bừa thì con nít thường bày bừa mình không giận  nó là con của mình muốn xả rác bao nhiêu cũng được, nhưng nếu có một đứa nhỏ nào ở đâu đến hay là một ai đó bày bừa thì mình bực tại vì mình lý sự người đó đáng lẽ phải giữ sạch sẽ.

Cái nhận diện của danh và sắc hay nhận diện của sanh và diệt là cái nhận diện đơn thuần của Tứ Niệm Xứ và nó giúp chúng ta đối phó với 5 cảnh trần. Và làm sao chúng ta từ bỏ 5 cảnh dục thì chúng ta cần tu Tứ Niệm Xứ. 

Bài kinh Bàhiya tuy rất ngắn rất cô đọng nhưng lại là chìa khóa rất quan trọng về sự tu tập mong rằng chúng ta cảm nhận cái tinh túy đó và nó là một phần gia tài Đức Phật để lại cho chúng ta./.

Tuesday, April 17, 2018

Như lai nói : Y chỉ vào Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận - TT Tuệ Siêu

Thảo luận: Như lai nói : Y chỉ vào Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận ( jhānaṃ nissāya āsavānaṃ khayaṃ vadāmi) mang ý nghĩa thế nào? 

Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 14-3-2018 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu: Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật Ngài dạy: Natthi jhānaṁ apaññassa, paññā natthi ajhāyato

Natthi jhānaṁ apaññassa - Người không có tuệ thì không có thiền
paññā natthi ajhāyato - Người không tu thiền thì không có tri tuệ
- Natthi jhānaṁ apaññassa, paññā natthi ajhāyato
 - người không tuệ thì không có thiền, người không tu thiền thì không có tuệ

Chỉ có trường hợp: 

yamhi jhānañ-ca paññā ca sa ve Nibbānasantike. - người có thiền và có trí tuệ nhất định nhập Niết-bàn

Tức là chứng Niết-bàn - Nibbānasantike

Thì ở đây, rõ ràng trong câu kinh Pháp cú này cũng như trong bài kinh Tăng Chi Bộ (V) (36) Thiền, Đức Phật Ngài  khẳng định Y chỉ vào Thiền, các lậu hoặc được đoạn tận. Chúng ta phải hiểu ý nghĩa như thế nào khi nói đến y chỉ vào thiền có tuệ quán đoạn trừ lậu hoặc.

Trong bộ Visuddhimagga - Thanh Tịnh Đạo đề cập đến 3 phần là:

- Giới hay  Tăng Thượng Giới - Adhisīla, 
- Định - Samadhi - hay là Tăng thượng tâm - Adhicitta
- Tuệ hay là Tăng Thượng Tuệ paññā hay Adhipaññā

Như vậy, trong bộ chú giải Thanh Tịnh Đạo đặc biệt nhắc đến Giới là nền tảng sanh định, định làm nền tảng sanh tuệ .

Định làm nền tảng sanh tuệ là nói theo Tam Học gồm có 3 chi phần:

Trong Bát Chánh Đạo thì Chánh tinh tấn (Sammāvāyāmo), Chánh niệm (Sammāsati), Chánh định (Sammāsamādhi) thuộc về Tăng Thượng Tâm hay là định học.

Khi nói đến  Chánh ngữ (Sammāvācā), Chánh nghiệp (Sammākammanto), Chánh mạng (Sammā-ājīvo) thuộc về Tăng Thượng Giới.

Và Chánh kiến (Sammādiṭṭhi), Chánh tư duy (Sammāsaṅkappo) thì thuộc về tuệ. 

Chúng ta phải hiểu như vậy. 

Cho nên khi chúng ta nói thiền ở đây bao gồm cả sự nhiệt tâm (ātappa) sato hay là sati tức là niệm vững chắc, niệm bén nhạy và thứ ba nữa là Samadhi, hay samadho là sự an trú hay sự an định

 Như vậy rõ ràng nếu tâm chúng ta bị phóng dật biếng nhác thì tuệ không thể  phát triển mạnh mẽ được. Cho nên chính vì thiền định sẽ thay đổi cuộc sống của vị hành giả, vị hành giả mà có thiền định là vị hành giả có sự nhiệt tâm mà có sự nhiệt tâm thì tuệ sẽ phát sanh.

Rồi lại nữa, vị hành giả có được thiền định thì có chánh niệm bén nhạy. Một người không tu thiền đừng nghĩ rằng sẽ có chánh niệm, mà thường hay quên trước quên sau bởi vì tâm phóng dật tâm thất niệm. Còn đối với người có tu tập thiền thì người đó chánh niệm bén nhạy. Chúng tôi nói có tu tập thiền ở đây là tu thiền thật sự chứ không phải tu thiền theo phong trào gọi là tu thiền nhưng ngồi lim dim ngủ gật, đó không phải là loại thiền để tạo sự tinh tấn và có chánh niệm.

3. - Thứ ba là, hễ tu tập thiền thì tâm định rất mạnh mẽ, gọi là Tăng Thượng Tâm, tâm định mạnh mẽ an trú vững vàng trên đề mục, khi cần quán xét sắc thọ tưởng hình thức là vô thường, khổ và vô ngã thì trí tuệ phải dựa trên nền tảng của định mới soi thấu được,

 Giống như khi người ta muốn khoan một lỗ ở trên miếng gỗ hay trên tường mà cầm cây khoan không vững nó cứ chạy qua bên đây chạy qua bên kia, nhít qua nhít lại một hồi là lỗ tầy quầy hoặc không đưa được mũi khoan vào điểm mình muốn khoan, nhất là trên tường có gắng gạch men. Thì lúc bấy giờ người ta phải dùng cái đinh nhỏ hoặc một cái mũi nhọn bằng thép  khẻ lên trên miếng gạch men dán trên tường để cho nó có một dấu bể nhỏ (nếu đóng mạnh thì bể luôn miếng gạch men) người ta đóng làm cái dấu xong rồi tựa mũi khoan vào cái dấu đó thì mũi khoan không chạy đâu hết, khi mũi khoan không chạy đâu thì tức khắc nó sẽ xuyên thủng bức tường. 

Tương tự như vậy, chúng ta phải hiểu như thế nào là tuệ, nhất là tuệ quán vô thường, khổ, vô ngã để diệt trừ các lậu hoặc phiền não thì tuệ đó phải dựa trên định tâm, tâm định thì tuệ mới có sự quán chiếu ngũ uẩn một cách tường tận rõ ràng được, cho nên chính vì vậy một người tu tập thiền nếu cần thì họ chuyển qua tuệ quán họ đắc đạo quả nhanh. 

Cũng có trường hợp một số vị hành giả vì không có duyên đối với Thiền Hiệp Thế, vị đó do đời quá khứ làm phước tu tập thiền quán, làm phước mà có tuệ quán liên quan đến pháp quán. Đức Phật  Ngài  nói làm phước liên quan đến pháp quán tức là khi làm phước gì, bố thí hay trì giới gì cũng quán vô thường khổ, vô ngã quen đi cho nên bây giờ chỉ cần nghe Đức Phật thuyết pháp là đắc đạo quả Alahán. Trong trường hợp này chúng ta phải nói rằng là đối với vị đó thì không cần định ở trong pháp thiền, không y chỉ vào thiền vị đó cũng vẫn chứng đạt được, nhưng cũng chỉ là số ít thôi. Hồi thời Đức Phật số vị hành giả không y chỉ thiền mà đoạn tận các lậu hoặc thì chỉ số ít thôi còn đa phần các vị hành giả khác thì phải dựa trên phương diện thiền.

Nhưng, thiền ở đây chúng ta cần phải hiểu khi một người hành thiền  sẽ dẫn đến 3 loại định,

1. Sát na định (Khaṇikasamādhi). Vị hành giả tu tập thiền khi có Sát na định (Khaṇikasamādhi) vị đó tương đối vững mặc dầu chỉ chớp nhoáng đủ để cho tuệ quán phát sanh để phá trừ phiền não, nhưng cao cấp hơn chút xiú nữa thì thiền dẫn đến trạng thái thứ hai là:

2. Trạng thái cận định (upacārasamādhi) thì kiên cố hơn, thí dụ một người hành thiền có ấn chứng hỉ lạc phát sanh, dựa theo đó mặc dầu chưa đắc thiền  nhưng đã có ấn chứng có hỉ lạc rồi thì vị đó chuyển sang tuệ quán cũng được.

3. Trạng thái thứ 3 là An chỉ định  (Appanāsamādhi).Khi thiền đến nơi đến chốn thì đạt đến kiên cố định hay an chỉ định  (Appanāsamādhi), định này thuộc về thiền sắc giới vô sắc giới rồi, là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. 

Ở đây không nhất thiết, chúng tôi dùng chữ "không nhất thiết" mặc dầu Đức Phật Ngài dạy là y cứ vào sơ thiền nhị thiền mà các lậu hoặc được đoạn trừ đoạn tận là đức Phật Ngài muốn nói đến một trạng thái hoàn chỉnh của một vị tu tập đạt đến giải thoát. 

Cũng có trường hợp ngoại lệ nhưng trường hợp ngoại lệ đó không đi thứ lớp thì cũng không sao. Thí dụ như bây giờ trên thế giới mặc dầu trong ngành giáo dục người ta đưa ra thứ tự cho các em nhỏ  6, 7 tuổi cho vô học mẫu giáo, rồi lên lớp một, rồi lên lớp hai, lớp ba, lớp bốn, lớp năm, hết tiểu học rồi lên trung học, hết trung học lên đại học, hết đại học rồi chuyển qua làm nghiên cứu sinh và khi tốt nghiệp cử nhân hay là nghiên cứu sinh để làm luận án thạc sĩ hay tiến sĩ  theo thứ lớp tuần tự như vậy, nhưng cũng có những em bé thông minh học giỏi nhất là ở các nước phương tây họ chuộng trí tuệ cho nên họ cho những đứa bé vượt lớp không cần theo trình tự vẫn đạt được bằng cấp miễn làm sao vượt trội mấy môn. Thì trong trường hợp này chúng ta miễn, trường hợp ngoại lệ đó không thể đưa vào nguyên tắc được.

 Còn trường hợp này Đức Phật Ngài nói đưa vào thiền để các lậu hoặc đoạn tận là đưa vào nguyên tắc tu tập. 

Đó là câu trả lời tóm tắt của chúng tôi ./.

Thursday, March 22, 2018

Các Lậu Hoặc - TT Giác Đẳng

Chương 6 - VI. Ðại Phẩm - (IX) (63)Kinh Phương Cách Thâm Nhập Chư Pháp - 

Đoạn 6: Các Lậu Hoặc

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 31-7-2017

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Chúng ta tiếp tục bài về Sự thâm nhập chư pháp và bài học với bố cục chúng ta nhìn thấy Đức Phật giảng 6 đoạn Ngài nói về dục, thọ, tưởng.

Hôm nay chúng ta nói về các Lậu Hoặc. Ngài Bodhi trong một bài viết liên quan đến bài kinh này, Ngài nói bài kinh này cho nội dung của 3 lãnh vực quan trọng đó là: Nhân sinh quan của Đạo Phật, con đường tu chính của Phật Pháp và sự chuyển hóa nội tâm. Cho dù chúng ta hiểu bằng cách nào đi nữa thì mỗi một phần của đề tài ngày hôm nay đều đặc biệt quan trọng, một phần bài kinh này dù nói về dục, dù đó là thọ, dù đó là tưởng, dù đó là lậu hoặc, hay là nghiệp, hoặc là khổ, trong mỗi phần như vậy Đức Phật đã trình bày nhiều phương diện khác nhau.

Trước nhất chúng ta phải: 

1. Nhận diện lậu hoặc là gì?
2. Thế nào là duyên khởi của lậu hoặc.
3. Thế nào là hệ quả của lậu hoặc.
4. Thế nào là sự đoạn diệt của lậu hoặc.
5. Và thế nào là con đường dẫn đến sự đoạn diệt các lậu hoặc. 

Khi nhìn một pháp với nhiều phương diện khác nhau hầu như chúng ta thấy rõ ràng được một điểm Đức Phật Ngài khuyên chúng ta nên biết được sự việc một cách tận tường một cách đa diện hơn là một chiều hay một mấu chốt nào đó.

Bài học ngày hôm nay là một thí dụ khi chúng ta đề cập đến chữ lậu hoặc, thông thường những người Phật tử những người học Phật Pháp thường nghĩ đến phiền não nhưng kỳ thực chữ lậu hoặc này là phiền não nhưng  phiền não ở trong một vai trò khác hơn chúng ta thường quan niệm.

1. Nhận diện lậu hoặc là gì?

Trong tiếng Anh dịch là stain tức là vết nhơ, ô nhiễm, vết bẩn.

Tiếng Việt Nam đôi khi dịch chữ lậu hoặc rất khó dịch. Chữ Asrava Ngài An Thế Cao dịch là lậu hoặc và về sau này Ngài Huyền Trang cũng dùng chữ lậu hoặc. 

Chữ lậu có nghĩa là thấm, là lan. Như mình nhỏ một giọt mực lên tờ giấy chậm nó lan ra, như chúng ta thấy trường hợp vết dầu thấm sâu vào trong giấy trong vải.

Chữ hoặc được hiểu như là cái gì mơ hồ, cái gì chúng ta khó nhận ra, một thứ tác động không có lộ diện. Đây là một điểm rất khó để chúng ta hiểu thuật ngữ Phật học. 

Ví dụ như một người đi chùa làm phước với tâm trong sạch dâng cúng Đức Phật một bình hoa đẹp, chúng ta nhìn bằng tâm trong sạch kính Đức Phật thờ Đức Phật, nhưng ở tận cùng phía sau còn nhen nhúm những động lực thầm kín. Chúng ta dâng hoa, thay vì dâng những thứ khác bởi vì chúng ta thích hoa đẹp, hay chúng ta muốn đời sau được đẹp được sáng được tươi thì chúng ta dâng hoa lên Đức Phật. Một hành động có thể rất thiện một tâm rất thiện nhưng ẩn một động lực thầm kín ở phía sau. 

Chẳng hạn, đối với người đời cái gì thô tháo cái gì dễ thấy ở bên ngoài thì chúng ta rất dễ thấy đây là thiện đây là bất thiện, nhưng đối với lậu hoặc  hầu như tất cả những hành vi của chúng ta dù là thiện hay bất thiện đều có tác động thầm kín tác động mơ hồ mình không thấy được, cái tác động không lộ diện ra ngoài và cái tác động đó là nguyên nhân dẫn đến sanh tử, nó bao trùm và ghê gớm hơn những gì chúng ta nhìn thấy.

Chúng ta lấy ví dụ như có những người rất kiêu mạn nói chuyện rất cao ngạo chúng ta dễ nhận biết người đó là người cao mạn, nhưng có những người họ thỏa mãn được tự ngã của họ bằng một cách nào đó chúng ta thấy họ rất khiêm tốn rất nhẹ nhàng nhưng đằng sau đó nó cũng liên hệ đến thị dục huyễn ngã, liên hệ ngã chấp mà chúng ta không nói được.

 Đối với một người Phật tử: vô minh và ái là hai động lực nằm ở phía sau, đôi khi chúng ta thấy được ái, thí dụ mình thấy cái áo thích quá, một món ăn ngon mình thích quá, thấy một người đẹp mình thích quá, những cái đó nhìn thấy rất dễ nhưng ái đó còn ăn sâu dấu kín tiềm ẩn ở trong nhiều trạng thái đôi khi chúng ta rất khó biết, có khi chúng ta cả cuộc đời sống một kiếp nhưng vẫn không nhận ra mặt mũi của ái ra sao. Vô minh cũng vậy rất là khó.

Thì chữ lậu hoặc ở đây chúng ta nên hiểu đó là những tác động những động lực những ảnh hưởng dấu mặt tiềm ẩn nhưng lại bao trùm tất cả sở hành của chúng ta trong đời này và là nhân dẫn đến luân hồi sanh tử. Đối với các lậu hoặc chúng ta không dễ dàng để nhận diện cái này là tốt cái kia là xấu, có những thứ rất là thiện ví dụ như chúng ta đi bố thí ở đâu chúng ta mong rằng đời sau được giàu có, chúng ta mong đời sau được đầy đủ, đời sau mình được sung túc không đói kém thì thật ra mong rằng đời sau mình là ai mình sẽ như thế nào thì ở trong đó nó đã có lậu hoặc rồi. Dĩ nhiên nói như vậy chúng ta sẽ nói rằng "như vậy không ai dám làm chuyện gì, mình làm chuyện gì cũng có lậu hoặc trong đó".

Do vậy Đức Phật Ngài dạy chúng ta nên biết sự sai biệt của các lậu hoặc. 
Ở đây có 3 thứ lậu hoặc: 

1. Dục lậu - Kāmāsava
2. Hữu lậu - Bhavāsava
3. Vô minh lậu - Avijjāsava

1. Dục lậu là ái, là ý muốn  (Kāmāsava).

Ý muốn thể hiện rất thô, như chúng ta quá thích cái gì đó, muốn danh, muốn lợi, muốn ăn ngon, muốn mặc đẹp. Nhưng đằng sau cái muốn đó còn có một thứ rất dễ sợ đó là ý muốn, vì thấy đời sống vô vị chúng ta phải luôn luôn tìm xem một cái gì đó để thoả mãn, tìm một cái gì đó để hưởng thụ. Cái ái này mình mới nhìn thì nó rất vô tội nhưng kỳ thực ái này là một thứ khao khát, ví dụ như bình thường mình ăn mặn nên khát nước, cái khao khát đó khiến cho chúng ta luôn luôn dõi mắt về phương trời xa xăm, luôn luôn truy cầu và luôn luôn cảm thấy mình không bằng lòng với hiện tại, mình không thể ngồi xuống thanh thản nhìn vào hơi thở, mình phải đi tìm cái gì đó, chúng ta gọi là dục hay là ái. 

Khi nói đến ý muốn nó là một lực đẩy tâm mình, chúng ta luôn luôn đi tìm luôn luôn truy cầu.

2. Lậu hoặc thứ 2 là Hữu Lậu. (Bhavāsava),

Hửu - Bhavāsavaa là mình muốn trở thành một ai đó, tôi sẽ là một người tốt, tôi sẽ là một người nổi tiếng, tôi sẽ là một người được trọng vọng v.v.... Cái hữu lậu này nói lên một thứ mà ở trong ngôn ngữ thường thức gọi là thị dục huyễn ngã "tôi là ai", "tôi muốn tôi như thế nào", "tôi phải như thế này" và "tôi phải như thế kia".

 Thì thị dục huyễn ngã này được xem như là một cách dự phỏng. Cũng như, chúng ta viễn tưởng về bản thân của mình khi còn nhỏ mình muốn được thương yêu, lớn lên mình muốn là người thành công, lớn lên một chút nữa mình muốn được trọng vọng, lớn hơn một chút mình muốn khi chết đi người ta sẽ nhớ tới mình. Huyễn ngã này là một cái gì đó rất khó để chúng ta có thể hiểu hết về nó, nó là cái gì đó rất thầm kín về bản thân của mình, nhưng thật ra nó là một sự dự phỏng rất nghèo nàn.

Chúng ta cứ tưởng tượng mình cầm một cây viết vẽ về chính mình, hay  mình chọn trong số vô số hình ảnh mình nói "tôi là như vầy", mình muốn mình như thế này mình như thế kia, mình là như thế nào đi nữa thì nó cũng nghèo nàn. Giống như khi còn nhỏ chúng ta mơ ướt lớn lên sẽ làm thế này sẽ làm thế kia, nhưng có đi có sống thì tất cả những mơ đó chỉ là ước mơ thơ dại của ngày nào đó. Chúng ta không hiểu cuộc sống, khi chúng ta ra đời cái cao điểm của nó chúng ta cũng không thấy, mà cái tận cùng của đáy vực  chúng ta chưa bao giờ nghĩ ra và chúng ta là ai giữa thế giới này chúng ta cũng không biết được hết nhưng chúng ta khao khát. Chúng ta khao khát trong cuộc đời này là chúng ta có một định nghĩa "tôi là như vậy tôi là thế này, tôi là thế kia ,tôi phải là thế này ,tôi phải là thế kia".  Điều đó chúng ta gọi là hữu lậu. 

Chữ Hữu là sự có mặt, sự trở thành (to be comming), sẽ trở thành ai đó, là cái gì đó, trở thành thế này hoặc thế kia. Nhưng dù vậy, hữu lậu còn khó hiểu hơn vô minh lậu. 

3. Vô minh lậu là gì? (Avijjāsava)

Vô minh là vốn không biết đâu là đường đi, đâu là lối về, đâu là là giá trị chân thật, và do cái không biết đó chúng ta ngược xuôi bơi lội trong cuộc đời này và chúng ta luôn luôn nghĩ rằng mình biết nhưng thật sự mình không biết gì. Bây giờ, nhìn lại thời gian vừa qua mình thử hỏi tại sao lúc đó đã không chọn lựa thế này, biết thế mình không làm thế kia. 

Thật ra tất cả mình đều không biết, nếu biết thì chuyện nó khác rồi. giả xử chúng ta biết thế nào là Niết-bàn thì đã không có vật vã với sanh tử, nếu chúng ta biết cái gì thật sự tốt cho mình thì đã không lặn hụp phí thì giờ trong cuộc sống này và nếu chúng ta biết được thật sự đó thì vòng sinh tử chấm dứt, phiền não đã đoạn, nhưng mà không.

 Cách đây hai ba hôm có một bản tin nói ông Bezos người sáng lập ra công ty thương mại điện tử Amazon, trong một ngày do cổ phiếu của Amazon tăng vọt ông đã trở thành một người giàu nhất trên thế giới, ngày nay  thì cổ phiếu này xuống một chút nhưng lúc đó tạm thời trong một ngày ông đã qua mặt ông Bill Gate người có trên 89  ngàn tỉ dollars tài sản thì lúc đó ông Bezos có hơn 90 ngàn tỉ. Năm 2010 tài sản ông Bezos chỉ có 12 triệu thôi nhưng suốt thời gian mấy năm qua đã tăng vọt, nếu lúc đó ai biết mà mua cổ phiếu Amazon thì giàu. nếu mọi người đã biết cổ phiếu Amazon tăng vọt như vậy đầu tư vào đó họ giàu, chuyện đó là đúng, nhưng khi mọi người đã biết rồi nó sẽ không tăng vọt được nữa. Giá trị của cổ phiếu là những bất ngờ, giá trị của thị trường chứng khoán là cái không biết lúc nào cũng có người mua và lúc nào cũng có người bán, lúc nào cũng có người tin đây là lúc tốt nhất để bán và lúc nào cũng có người nghĩ đây là lúc tốt nhất để mua. Đó là luật chơi, đó là tự nhiên của cuộc sống, chúng ta đánh cuộc với thời gian, đó là một canh bạc.

Đời sống của chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta thật sự biết rõ đây là sanh, đây là diệt, đây là hạnh phúc, đây là đau khổ, đây là luân hồi sanh tử, đây là Niết-bàn thì chúng ta đã không hiện diện trong cuộc đời này. 

Vô minh là không biết, thật ra chữ Buddha chúng ta thường dùng để gọi Đức Phật, chữ Phật là chữ đối lập với vô minh. 

Ở trong đời sống của chúng ta từ phản ứng, từ thái độ vui buồn, từ cách hành xử hoặc thô hoặc tế đều dựa trên một lực rất lớn gọi là vô minh. Sự thiếu hiểu biết khiến chúng ta trở nên khôi hài, khiến chúng ta trở nên nông cạn, khiến chúng ta trở nên buồi cười vì nó là vô minh. Nếu chúng ta thật sự biết như Đức Phật đã biết, như những vị Thánh Đệ Tử những vị đã hoàn toàn giải thoát đã biết thì chúng ta đã không hiện diện tại đây. 

Nhiều khi đọc một số những bài viết tranh luận người này chửi người kia, người kia chửi người nọ, và ai cũng muốn tỏ rằng mình thật sự biết, nhưng kỳ thật chúng ta đều không biết, nếu chúng ta thật sự biết thì chúng ta yên lặng, nếu chúng ta thật sự biết thì chúng ta không phiền não, nếu chúng ta thật sự biết chúng ta sẽ dùng thì giờ của mình cho cái gì tốt hơn là ngồi đó tranh luận hơn thua, nhưng điều này rất khó, tuyệt đối là khó. Vô minh là cái gì khó hiểu nhất, mình nghĩ ở trong giờ phút đó mình đã làm việc đó bởi vì mình có suy nghĩ  nó là điều tốt nhất mà mình biết bằng tất cả sự sáng suốt của mình, nhưng năm dài tháng rộng trôi qua nhìn lại hỏi tại sao lúc đó mình làm như vậy, tại vì vô minh lúc đó mình làm vì không biết. 

Nếu giờ này chúng ta biết có một kho tàng có giá trị thật sự, nếu giờ này chúng ta biết một thứ hạnh phúc mà thứ hạnh phúc đó vượt khỏi tất cả những phiền não, nếu giờ này chúng ta biết được những giá trị cao cả nhất thì chúng ta không lẩn quẩn với cái tầm thường, chúng ta sẽ không có lặn hụp ở trong sông mê bể khổ, và chúng ta đã không cảm thấy chơi vơi giữa sa mạc cuộc đời. Nhưng quả thật, ở trong lúc này chúng ta không biết, cái không biết đó giống như một người đi trong đêm tối không đuốt không đèn không hải đăng ở giữa biển và không có ánh sáng nào để định hướng không có sao bắc đẩu ở trên trời tối đen như mực mà đi và tiếp tục đi, chúng ta đi và tiếp tục đi như vậy. 

Tại sao chúng ta đi? Tại vì chúng ta không can tâm đứng lại. Tại sao chúng ta đi? Tại vì có cái gì thôi thúc chúng ta phải đi, nhưng chúng ta đi bằng sự không biết.

Vô minh cũng tương tự như vậy, chúng ta đi trong bóng đêm, chúng ta đi ngược xuôi giữa cuộc đời tại vì chúng ta không biết.

Chúng tôi đọc câu chuyện của người Nhật: 

Một người ra đường thấy một anh đeo balô ngồi ở bên đường mới hỏi:

-  Anh bạn từ đâu tới và đi về đâu

 Người này trả lời:

- Tôi là một người lang thang, chưa biết đi đâu về đâu. 

Thì người kia nói: 

- Bạn thật là hạnh phúc, tại vì bạn sống tự do, còn tôi có vợ có mái nhà có con cái, thành ra ngoài sở làm là phải về nhà và đi đâu cũng phải có lời giải thích hợp lý cho người bạn đời.

Thì anh kia mới nói:

- Thật ra không biết tôi hạnh phúc hay anh hạnh phúc. Tôi đi từ nơi này đến nơi khác bởi vì không có một chỗ để trở về không có một mái ấm. Còn anh thì đi từ nơi này sang nơi khác vì anh có một chỗ để trở về, nhưng cũng là cái cột để cột chân anh.

Lời tâm sự của 2 người đó giống như chúng ta sống trong cuộc đời này, chúng ta sanh ra và khẳng định rằng mình có được sự hiểu biết, mình trưởng thành rồi, mình thành niên rồi, mình hiểu biết cuộc sống có đủ trí khôn đủ bản lãnh, và chúng ta quyết định làm điều này, quyết định theo đuổi lý tưởng kia, binh vực chánh kiến nọ. Mình nghĩ rằng tất cả những điều đó mình đã biết, nhưng ở một tuổi nào đó hay ở trong trường hợp đặc biệt nào đó chúng ta có dịp để bình tâm nghĩ lại 5 năm 10 năm trước mình đã quyết định như vậy, đã làm như vậy phải chăng là mình làm với tất cả sự hiểu biết? Nếu chúng ta xét cho kỹ thì chúng ta đã quyết định, đã lựa chọn, và đã hành động vì sự không hiểu biết hơn là sự hiểu biết. Điều đó chúng ta gọi là vô mình lậu.

 Thì 3 cái lậu hoặc ở trong cuộc đời mình, Đức Phật dạy là:

- Dục lậu tức là tác động thầm kín của ý muốn. 
- Hữu lậu là tác động thầm kín của thị dục huyễn ngã.
- Vô minh lậu là tác động thầm kín của sự nông cạn thiếu hiểu biết.

Ba thứ đó bao trùm tất cả sở hành của chúng sanh trong đời này, Đức Phật gọi là lậu hoặc. 

2. Thế nào là duyên khởi của lậu hoặc?

Và Ngài dạy thế nào là duyên khởi của lậu hoặc. Một lần nữa duyên khởi của lậu hoặc lại một điều trớ trêu là chính từ sự vô minh mà ra. Từ sự không biết chúng ta đã để cho bản thân của mình chịu sự tác động đó, chịu sự ảnh hưởng đó.

 Ví dụ như người Việt chúng ta xuất thân từ một quốc gia có nhiều chiến tranh nên cảm xúc của chúng ta rất nồng nàn, nhưng chúng ta dễ nghi kị, chúng ta dễ dàng để nguyền rủa nhau, dễ dàng chửi bới nhau, dễ dàng đoạn tình cảm nhau vì chúng ta là nạn nhân của một cuộc chiến đã kéo dài bao nhiêu thập niên trên quê hương của mình. Chúng ta là một nạn nhân, chúng ta là cục bột cuộc đời đã nặn vuông nặn tròn mà không bao giờ nhận ra điều đó, mình nghĩ rằng mình rất giỏi, mình rất hay, và mình có đủ bản lãnh để tạo điều này tạo điều kia, nhưng kỳ thật chúng ta không biết.

Hoặc, hãy nhìn một đứa nhỏ chơi một cách nguy hiểm, lăn lộn một cách thiếu thận trọng và nó làm đủ mọi cách vì nó không hề biết sự nguy hiểm nếu không có sự bảo vệ của người lớn, thật ra đièu đó chúng ta thấy là nó làm tất cả vì nó không biết. Người Mỹ rất cẩn trọng trong đồ dùng đồ chơi của con nít như cái nôi thì họ cũng có kinh nghiệm là có những đứa nhỏ đã thò đầu ra khỏi song nôi và bị kẹt, hoặc đứa nhỏ nằm sấp đôi khi bị ngộp, những vật như bao nylon hay hộp giấy không khéo để gần nó sẽ đưa vào miệng nuốt, chúng ta sống ở Mỹ thấy rằng có rất nhiều thứ người ta cảnh báo coi chừng nằm trong tầm tay của những đứa nhỏ, những lọ thuốc làm sao để khó mở, những vật dụng làm sao để đứa nhỏ không đưa vào miệng được, tại vì đã có quá nhiều trường hợp những đứa nhỏ bị thương tổn bị chết bởi vì bỏ những thứ vào trong miệng. 

Ở miền quê Việt Nam, ngày xưa người ta sanh con nhiều, như ông Ngoại chúng tôi có mười mấy người con mà rốt cuộc chỉ còn Thân Mẫu chúng tôi và Sư Trưởng thôi, chỉ còn 2 người con thôi. Và rất nhiều thành viên trong gia đình có những đứa nhỏ đã chết vì bệnh mà chết nhiều nhất là vì nó chơi ở ngoài sân rồi lọt xuống mương, sau nhà có cái mương không làm rào cản, con nít đâu biết nó bò ra tới mương rồi rớt xuống tới khi biết thì nó chết rồi. Thì những đứa nhỏ bò ra chỗ nguy hiểm nhét những thứ vào trong miệng một cách nguy hiểm, những hình ảnh thơ dại, hình ảnh thiếu hiểu biết một cách nguy hiểm đó là hình ảnh của tất cả chúng ta trong đời này, chúng ta thương, chúng ta giận, chúng ta chiến đấu, chúng ta hận thù, tất cả những điều đó là bởi vì chúng ta không biết, bởi vì chúng ta vô minh.

Đức Phật Ngài nói chính vô minh là một nền tảng, là một cơ sở, một động lực tiềm ẩn. 

Chúng ta muốn biết được lực của vô minh như thế nào thì chúng ta thử sống và cảm nhận của một ngày trời mưa bão điện cúp trong một căn nhà tối đen không có điện và lúc đó chúng ta để ý phản ứng của mình như thế nào, cũng may là mình ở trong căn nhà. Có một vài lần chúng tôi sang Ấn Độ là một xứ  điện thường bị cúp nhất là những vùng có Thánh Tích người ta sài thì nhiều nhưng sự cung cấp điện thế yếu do vậy hay bị cúp điện, những lần ngồi trong phòng khách của khách sạn điện bị cúp hoàn toàn lúc đó trời tối đen như mực những nhân viên kêu nhau ơi ới lấy đèn pin thắp đèn cầy, năm ba phút sống trong bóng đen bao trùm ở một đại sảnh hoàn toàn xa lạ thì chúng tôi cảm nhận một điều rằng cũng may là mình đã trải qua nhiều lần nếu không thì mình cũng lăng xăng trong bóng đêm bao phủ dầy đặc mình, muốn mình phải làm cái gì đó, đi tới đi lui, mặc dầu mình không biết đi đâu về đâu, không biết làm gì khi ở trong bóng tối. Đó gọi là nền tảng vô minh, cái bóng tối dễ sợ bóng tối bao trùm là một cái gì lớn hơn chúng ta nghĩ nhiều. 

Chúng tôi đọc một bài báo nói về đại dương mênh mông thì ánh sáng chỉ xuyên thấu xuống 175 thước và ở dưới mức độ đó lòng đại dương tối đen như mực, cũng như nói về phi thuyền đi ra ngoài thái không, đi ra khỏi vùng ánh sáng mặt trời chiếu tới thì nó cũng tối đen như mực, ở  những nơi ánh sáng không xuyên tới được cả một bóng tối trùm lên thì thật là khó tưởng tượng được chúng ta phản ứng ra sao. 

Nhưng nếu chúng ta hình dung vào vô minh thì chúng ta cũng thấy như vậy. Một ngày nào đó chúng ta tu tập để cảm nhận được lời dạy của Đức Phật, để hiểu rằng tất cả chúng ta sống trong đời này đều bị chi phối bởi một mãnh lực của một bóng tối phủ trùm lên cuộc sống từ lúc cất lên tiếng khóc chào đời cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, từ lúc chúng ta bắt đầu biết thương yêu, biết lo sợ, biết hận thù, từ lúc chúng ta bắt đầu muốn tìm giải thoát này, hướng qua đường hướng kia tất cả điều đó đều nằm trong bóng tối mà chúng ta không biết, bóng tối đó không phải của cuộc đời mà bóng tối đó tại vì sự có mặt của tuệ giác ở trong lòng chúng ta và đây là một điểm rất là khó hiểu. 

3. Thế nào là hệ quả của lậu hoặc

Đức Phật Ngài đề cập đến duyên khởi của các lậu hoặc là vô minh, Ngài đề cập đến hệ quả của các lậu hoặc. Thường vô minh khi cái gì sanh khởi thì sự sanh khởi đó liên hệ đến bản ngã và từ đó dẫn đến phúc hành và phi phúc hành, dẫn đến bản ngã. Vì vô minh chúng ta lại có một cái nhìn đặc biệt về  ngã "tôi sẽ là thế này tôi sẽ là thế kia". 

Vì liên hệ đến ngã dẫn chúng ta đến hai thứ hành động: 

- Một là hành động mang lại phúc đức, mang lại quả vui như là bố thí trì giới để sanh thiên để sanh làm người để hưởng quả phúc của luân hồi.

- Hai là do từ đó chúng ta làm các ác nghiệp bị sanh vào cõi khổ Atula ngã quỉ v.v... 

Đây là một trong các điểm Phật Pháp khác với các tôn giáo khác, các tôn giáo khác chỉ nói đến hai thứ; một là tin Thượng Đế hai là không tin Thượng Đế, một là làm việc lành hai là làm việc dữ. Nhưng thật sự trong Phật Pháp có đề cập đến là ngay cả những việc làm phúc hành tức là những hành động có quả thiện và những hành động phi phúc hành tức là những hành động có quả khổ nó đều nằm trong sự chi phối của vô minh .Điều này trong Phật Pháp không phải dễ hiểu. 

Ngày xưa Consumer Reports làm một cuộc nghiên cứu xem tôn giáo nào là tôn giáo dễ hiểu ở trên thế giới này thì trong đó Đạo Phật là tôn giáo khó hiểu nhất. Phần đông các tôn giáo khác chỉ có bên tốt bên xấu, bên thiện bên ác nhưng Đạo Phật đôi khi dạy ở trong cõi trầm luân sinh tử này "dù ai ngược gió ai xuôi gió, nhìn lại cùng trong bể khổ thôi", dù là thiện hay bất thiện thì đều do vô minh chi phối, dù trắng hay đen cũng là sự đối đãi và điều đó không phải dễ tiêu hóa, điều đó không phải dễ nuốt. 

Phật Pháp cho chúng ta biết rằng chính lậu hoặc, lậu hoặc ở đây là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu nó chi phối toàn bộ sở hành của chúng sanh, dù đó là thiện hay bất thiện thì đó là hệ quả của lậu hoặc.

4. Thế nào là sự đoạn diệt lậu hoặc?

Sự đoạn diệt lậu hoặc, dĩ nhiên duyên khởi của lậu hoặc là vô minh thì đoạn diệt lậu hoặc là diệt tận vô minh hay nói một cách khác là thắp sáng tuệ giác. 

Thắp sáng tuệ giác được đề cập đến trong nhiều trường hợp, một lúc nào đó chúng ta có thể nhìn sự vật như thế nào thì nhìn như vậy không qua con mắt của định kiến, không qua sự chi phối của phiền não, cũng giống như chúng ta có thể nhìn sự vật vượt ngoài vui buồn, vượt ngoài quan niệm của văn hóa, quan niệm của ghét thương, và sự vật như thế nào mình nhìn nó là vậy, hơi thở ra hơi thở vào, cái này sanh cái kia diệt, cái này đang có mặt cái này đã biết mất, cái này trong tương lai không thể sanh khởi nữa thì nhìn cái tướng cái tánh của sự vật một cách rất vô tư một cách rất đơn thuần không bị chi phối bởi định kiến và thành kiến lâu ngày tạo thành một cái xúc tác tuệ giác và khi tuệ giác sanh khởi sẽ xoá đi sự vô minh.

5. Và thế nào là con đường dẫn đến sự đoạn diệt các lậu hoặc ?

Đức Phật dạy vô minh diệt nó làm sự đoạn diệt của các lậu hoặc và để đạt đến điều đó trong toàn bộ bài kinh này một lần nữa Đức Phật Ngài nói lên con đường dẫn đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc cũng vẫn là Bát Chánh Đạo.

 Bát Chánh Đạo là con đường Trung Đạo, Bát Chánh Đạo là một con đường chuyển hóa con người không đơn thuần một khía cạnh một phương diện mà từ nhiều phương diện: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, cho đến Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng rồi Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.

 Chánh Kiến, Chánh Tư Duy được xem như là cái nhìn minh sát, sự suy tư không bị chi phối bởi các phiền não.

 Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng được xem như là một đời sống tách rời khỏi các hệ lụy của bất thiện nghiệp.

 Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định  là một sự huân tập những nội lực những bản lĩnh nội tại, đó là nghị lực, đó là khả năng tập trung, đó là sự tỉnh giác. 

Thì con đường Bát Chánh hay là con đường 8 chi phần những chi phần này được xem là Trung Đạo, con đường này là con đường nối gọn ở trong ba giai đoạn Giới, Định, Tuệ . 

Con đường Bát Chánh Đạo là một câu trả lời của Đức Phật cho chúng sanh giải thoát khỏi sự đau khổ, chúng ta cần giải quyết vấn đề của kiếp nhân sinh bằng sự thay đổi bản thân mình. Sự thay đổi bản thân mình bắt đầu từ tu tập huân tu chứ không đơn thuần là mình chọn cái này chọn cái kia rồi nó yên chuyện, mà nó đòi hỏi công phu nhiều hơn nữa.

Đức Phật có dùng chữ "cần" 

Đoạn 6 của bài  (IX) (63)Kinh Phương Cách Thâm Nhập Chư Pháp

"Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các lậu hoặc, cần phải biết duyên khởi của các lậu hoặc , cần phải biết sự sai biệt của các lậu hoặc , cần phải biết các hệ quả của các lậu hoặc , cần phải biết sự đoạn diệt của các lậu hoặc , cần phải biết con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc . Chính do duyên nào đã được nói như vậy? Này các Tỷ-kheo, có ba lậu hoặc này: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu".

Tại sao chúng ta "cần", vì rõ ràng lậu hoặc là một tác động tuy thầm kín tuy  khó nhìn nhưng bao phủ lấy đời sống và khi nào chúng ta còn nằm trong vòng cương tỏa của lậu hoặc thì chúng ta không thể đạt được hạnh phúc thật sự, chúng ta không thể tránh được con đường đi vào hỏa ngục, chúng ta không thể nào thắp sáng trí giác của mình và do vậy Đức Phật Ngài dùng chữ "cần phải biết". 

Ít nhất, do cái biết đó nhân sinh quan của chúng ta tương đối chính xác hơn, nó sẽ giúp chúng ta ở một lúc nào đó do vậy dù trên phương diện pháp học hay trên phương diện pháp hành chúng ta đều cần phải biết sáu pháp. Sáu pháp đó là nói về dục, nói về thọ, nói về tưởng, nói về lậu hoặc, nói về nghiệp, nói về khổ. 

Mỗi phần như vậy chúng ta phải biết đầy đủ các phương diện:

- Chúng ta phải nhận diện như thế nào là lậu hoặc, 

- Chúng ta phải biết duyên khởi của lậu hoặc, 

- Chúng ta phải biết hệ quả của lậu hoặc,

 - Chúng ta phải biết sự sai biệt của lậu hoặc,

 - Chúng ta phải biết sự đoạn diệt của lậu hoặc, 

- Cà con đường dẫn đến sự đoạn diệt sự lậu hoặc. 

Biết như vậy mới thật sự là biết còn cái biết của chúng ta thật sự là cái biết rất mơ hồ 

Ví dụ mình nói "tôi biết ông A", cái  biết ông A là biết tên của ông A thôi như vậy không phải là biết, mình phải biết thật sự ông A không phải chỉ trên danh tính mà còn phải biết xuất thân, biết gia cảnh, biết nghề nghiệp, biết những người bạn thân, biết khuynh hướng cố hữu của người đó. Thì biết nhiều phương diện như vậy mới thật sự là biết và Đức Phật Ngài dùng chữ "Cần Biết".

Hôm nay chúng ta nói về lậu hoặc, Đức Phật Ngài khuyên chúng ta phải quan niệm mình "cần phải biết" và không những cần biết một thứ mà phải biết nhiều phương tiện, biết như vậy chúng ta mới thật sự là thâm nhập, mới thật sự thẩm thấu,  mới thật sự quán triệt. Còn nếu chúng ta biết hời hợt ở bên ngoài thì biết đó chỉ là cho có biết mà thôi.

 Khi chúng tôi còn nhỏ Sư Trưởng thường hay nói: 

ở trong đời có ba cái dốt:

- Một người biết cái không đáng biết là một sự dốt

- Không biết cái đáng biết cũng là một sự dốt

- và biết cái gì mà biết không rành cũng là sự dốt

  Nếu chúng ta nói về cảm thọ, nói về dục, nói về lậu hoặc, nói về nghiệp, nói về khổ  chúng ta chỉ định nghĩa về văn tự thôi thì thật sự cái biết đó chúng ta biết cũng chưa rành. Và tại sao Đức Phật dạy chúng ta cần phải thâu nhập tức là biết sự việc với nhiều phương diện. Mong rằng tất cả chúng ta sẽ học bài học bằng cả sự nghiêm túc, bằng tất cả thái độ chân thành, bởi vì Đức Phật Ngài đã dạy một cách rất chi tiết và Ngài đã phân tích một cách rất tế nhị để chúng ta làm sao có thể hiểu được sự việc trong mức độ tương đối  rộng lớn, đa diện đầy đủ hơn là chỉ nhìn một chiều phiến diện ./.