Friday, June 14, 2019

Quá trình tu tập nằm trong tám công đoạn - TT Giác Đẳng

 Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya
Chương 8 - IX. Phẩm Niệm 


Quá trình tu tập nằm trong tám công đoạn 


Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 29 tháng 1, năm 2018

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Trước nhất chúng ta định nghĩa chữ Sati: Dịch theo danh từ Hán Việt là Niệm. Niệm là hướng sự chú ý ghi nhận những gì đang xảy ra và đặc biệt đang xảy ra ở thân và tâm của chính mình, hay ít nhất liên hệ đến thân tâm của mình.

[1] Không có chánh niệm thời chánh niệm tỉnh giác bị hỏng.

Nói một cách khác, chúng ta đang làm một công việc gì, vừa làm vừa nghĩ chuyện này chuyện kia  là mình thất niệm, khi mình vừa ăn cơm vừa coi TV. Hoặc giả chúng tôi vừa ngồi làm việc trong rơom paltalk vừa nghĩ tưởng đến chuyện đi Tích Lan xa xôi và không có để ý đến trước máy như vậy là không tập trung vào công việc, đó gọi là thất niệm. Chúng ta không đem sự chú ý vào ở đây và bây giờ.  

Khi chúng ta nói ở đây và bây giờ là chúng ta nói đến cái gì đang xảy ra hay vừa xảy ra. Chúng ta hiểu trạng thái của thất niệm là tâm chúng ta hay mơ màng nghĩ tưởng đến điều gì đó và nó kéo rời xa thực tại của mình.

Có hai bước rất quan trọng: Một là niệm, hai là chánh niệm tỉnh giác.

1. Niệm

Ví dụ, mình nhìn hơi thở ra vào, mình ghi nhận được những cảm thọ đau nhức hay dễ chịu ở trên thân của mình. Niệm ở đây có nghĩa là khả năng để  theo dõi và ghi nhận những gì đang xảy ra trong tâm thức của mình.

 Trong sự theo dõi ban đầu nếu chúng ta không quen mình cảm thấy rất gượng gạo tại vì đó không phải thói quen của chúng ta. Có thể biết được thế nào là một người có niệm hay không có niệm. Một người có chánh niệm họ thoải mái với hiện tại và họ để tâm vào hiện tại, cái gì họ làm thì làm với trọn vẹn tâm tư của họ. Một người thất niệm là người không huấn luyện mình giữ sự chú ý lấy mình, có nhiều khi đang nói chuyện này mình nghĩ sang chuyện kia, nói trước quên sau, làm chuyện này quên chuyện nọ, khi mình nói chuyện mình cũng nói lạc đề, khi qúi vị thấy người nào đang nói chuyện này sàng qua chuyện khác, hoặc giả trong đời sống chúng ta không đem được sự chú ý vào trong thân tâm của chúng ta ở đây và bây giờ là chúng ta không có niệm, từ sự thiếu niệm đó dẫn chúng ta đến một tình trạng không có chánh niệm tỉnh giác.

2. Chánh niệm và tỉnh giác

Chánh niệm và tỉnh giác là  SatiSampajañña, là một thành quả, đúng ra là một thứ trí tuệ, nó là một thành quả đầu tiên của chánh niệm.

Một người  thường tu tập niệm, như niệm hơi thở, hay niệm oai nghi, hay niệm cảm thọ lâu ngày người đó có một khả năng đặc biệt là biết cái gì mình đang làm, biết cái gì đang nói, biết cái gì mình đang trải qua. 

Ngài Ajahn Chaa có một ví dụ về người có chánh niệm mà lại không có chánh niệm tỉnh giác. (Quí vị nên nhớ hai chữ này dùng hai cách khác nhau). Ví dụ, một vị Tỳ Kheo đi khất thực để ý bước chân, chân mặt bước, chân trái bước, nhưng khi để ý như vậy đi khỏi con đường cần quẹo phải người này không quẹo phải mà cứ đi luôn, cứ lo đến bước chân không để ý chỗ cần quẹo thì đó là có niệm nhưng thiếu chánh niệm tỉnh giác, thiếu SatiSampajañña. 

Chánh niệm tỉnh giác - SatiSampajañña  là mình biết rõ và biết trọn vẹn cái gì mình đang làm. 

Một người có thể dùng chánh niệm theo dõi từng bước chân nhưng khi tới lúc cần quẹo không quẹo họ cứ để ý đến bước chân thì gọi là họ thiếu chánh niệm tỉnh giác. 
Một người ở trong cuộc sống này làm việc gì, làm ở đâu và tâm để đó thì có sự hoàn tất tốt. Chúng tôi thường lấy thí dụ, một người lái xe để ý ở chung quanh họ có những nguy hiểm, biết để ý trên con đường đó vận tốc phải chạy bao nhiêu, để ý trên con đường đó có những chiếc xe đang chạy sát bên hay là họ chạy không quá gần những xe khác tạo nên khoản cách an toàn  khi họ đạp chân thắng, đó mình gọi là SatiSampajañña - chánh niệm tỉnh giác. 

Có nhiều vị tách chữ Sati riêng và chữ Sampajañña riêng. 

Trong thiền ngữ chữ Sati đặc biệt chỉ cho sự tu tập chánh niệm theo dõi hơi thở, theo dõi oai nghi. 

Nhưng khi đạt đến Satisampajañña là sự ghi nhớ biết mình tỉnh táo thì đó là kết quả của niệm. 

Có thể nói thời gian ban đầu khi tu tập chánh niệm chúng ta lúng túng, sống một mình cảm thấy không thoải mái, mình cứ muốn gặp người này người kia, mong muốn được nói, mong được làm cái gì đó. Đặc biệt là bây giờ trong thời gian gần đây có rất nhiều người lên tiếng về trường hợp chúng ta sống trong thời đại bị nghiện internet, nghiện điện thoại cầm tay, đi đâu thay vì mình có thể ngồi xuống nói chuyện tiếp xúc và có thể cảm nhận những gì đang xảy ra chung quanh thì mình cứ vừa ngồi vừa bấm điện thoại hay vô internet mình sống trong thế giới cyber, thế giới ảo. Tương tự như vậy, trong tâm thức chúng ta hàng ngày là làm sao để kéo sự chú ý về với hiện tại, cái gì mình đang làm và cái đó rất quan trọng. 

Ở trong các trường thiền, các vị Thiền Sư thường dạy chúng ta giảm bớt những chi phối khiến tâm chúng ta mơ màng, thí dụ như bớt đọc sách, bớt nói chuyện phiếm, bớt liên lạc đầu này đầu kia, làm sao sống trong một căn phòng giản dị, trong một sinh hoạt cố định hàng ngày để mình phát triển khả năng của niệm vào trong cái gì đang xảy ra với thân tâm của mình. Lúc nào đó mình làm việc cảm thấy chán là mình thiếu chánh niệm. 

HT Nhất Hạnh kể một ví dụ là hồi xưa khi HT chưa niệm về chánh niệm thì HT rất ghét rửa chén, sau này khi có tu tập chánh niệm rồi HT thấy  ngay cả việc rửa chén nó chỉ là rửa chén thôi, nó cũng như bao việc khác, mình không làm việc này thì làm việc kia, đó là một thí dụ rất qúi báu. Khi chúng ta có được chánh niệm chúng ta có sự giữ ý thì công việc ta đang làm chỉ là kéo sự chú ý của chúng ta về cái gì mình đang làm mà mình không có đặt vấn đề làm chừng nào xong, đi khi nào tới, và mình làm việc này nghĩ đến việc kia, tâm mình suy nghĩ lung tung. 

Ngài  Ajahn Sumedho Ngài ví dụ là bây giờ mình leo lên xe lửa mình cầm vali lên thì nó cũng vậy mà nó nặng, đặt vali xuống thì cái vali cũng theo mình đến trạm nhưng mình không phải cầm nó, thì Ngài Ajahn Sumedho Ngài có dùng một thí dụ ở trong đời sống, thí dụ như chúng tôi bay trên một chuyến bay từ Bangkor về Mỹ, chuyến bay dài, còn 3 tiếng nữa chuyến bay mới tới chúng tôi mong cho nó mau tới, nhưng mình quên một điều rằng mình trông cũng vậy, không trông cũng vậy, và chẳng những không trông cũng vậy mà chúng ta còn làm cho mình bị căng thẳng thêm, sự căng thẳng đó do vì chúng ta không thoải mái với cái gì mình đang làm, ở nơi đang làm với trạng thái nào đó, mình mong nó phải như thế này và mong nó được như thế kia.

Chánh niệm thật sự không dễ để diễn tả, công việc của chánh niệm là đối với người có chánh niệm là không phải đi tìm cái gì mình thích, tìm cái gì mình thoải mái, tìm cái gì mình hoan hỉ, cái gì mình chú ý, chánh niệm không phải như vậy, mà chánh niệm là công việc thế nào thì mình biết như thế đó. Không có đặt nặng vấn đề là nó phải thế này hay nó phải thế kia.

 Chánh niệm khó diễn tả trong đời sống của chúng ta, ví dụ, một hành giả buổi sáng sớm thức dậy nghe trong người uể oải, với một người không có kinh nghiệm tu tập chánh niệm tự nhiên họ nghĩ mệt quá mình không nên ngồi thiền, nhưng với một người có kinh nghiệm về chánh niệm thì dùng sự lười biếng sự uể oải đó làm đối tượng để theo dõi trạng thái thân và tâm, ở trong lúc đó tâm mình đang lui sụt, thân mình đang mệt mỏi dã dượi và mình cứ lẳng lặng nhìn vào đó chứ không có phải thế này phải thế khác.

 Sự đối lập của chánh niệm không phải là đòi hỏi, mà sự đối lập là ngược lại với sự đòi hỏi, ngược lại với sự truy cầu. Sự truy cầu là con người thích nghĩ, thích làm, thích đi tìm cái gì đó mà mình thật sự rất thích, thích đọc quyển sách hay, thích ăn một món ngon, thích làm cái gì đó mình ưng ý. Nhưng với người chánh niệm thì dầu cái gì mình thích hay không thích, như hồi nãy chúng tôi ví dụ với một người tu tập chánh niệm thì công việc rửa chén chỉ là công việc như bao nhiêu công việc khác, mình đứng dậy mình mang chén vào chậu, bỏ xà bông xuống và rửa, và sau khi mình rửa mình làm những gì cần thiết phải làm và trong lúc mình làm bực bội là tại sao mình phải làm cái này, hoặc mình làm sao cho nhanh hay là mình ghét mình không làm nữa. Thì một người khi tu tập chánh niệm rồi họ sẽ không có vấn đề đối với am thất, họ không có vấn đề đối với vị Thầy, họ không có vấn đề đối với những người bạn tu, không có vấn đề đối với thực phẩm khất thực. Điều này rất quan trọng.

Thông thường một hành giả vào tu tập trong trường thiền trong một giai đoạn đầu hành giả thường có tâm đòi hỏi.

Những kỳ vọng, dầu những kỳ vọng rất thầm kín trong lòng, am thất mình tu cảnh chung quanh phải như vậy, thực phẩm mình có được phải như vậy, ông thầy phải như vậy. Nhưng một khi tu tập một lúc tất cả đều là đối tượng của chánh niệm, cái mình thích hay không thích, cái mình thoải mái hay không thoải mái, tất cả đều là đối tượng để mình quan sát chứ không phải là đối tượng để mình phê phán, để mình vật lộn, không phải là đối tượng để tạo ra sự căng thẳng, và cũng không phải là đối tượng để mình làm khổ lấy chính mình.

Chúng ta tập chánh niệm đem chủ ý vào trong đời sống hiện tại, vui cũng được, buồn cũng được, hăng hái cũng được, thụ động cũng được, tất cả là đối tượng của chánh niệm, tất cả đều được chánh niệm ghi nhận. Khi chúng ta tập một thời gian quen như vậy chúng ta không tự mình làm khó mình, tự mình ra điều kiện cho chính minh. Tưởng tượng như vầy, mình đang trên giường bệnh bao nhiêu là ống người ta gắn vào trong người, ống dưỡng khi người ta để vào trong miệng mình rất khó chịu, rồi mình đặt vấn đề là tôi phải thỏai mái để tôi theo dõi chánh niệm, để tôi phát triển chánh niệm thì thật sự là mình đang đặt điều kiện cho chính mình.

Một người có kinh nghiệm tu tập chánh niệm thì trong những giờ phút đó xảy ra như thế nào thì mình biết như vậy, cái cảm giác đó không có thoải mái,  tâm của mình đang bực bội, tâm của mình trong trạng thái căng thẳng, sự bực bội, sự căng thẳng, sự không thoải mái, tất cả đều là đối tượng của chánh niệm ghi rõ. Đây là một trạng thái không dễ để chúng ta theo dõi, bởi vì khi tu tập chánh niệm mình hiểu được một điều rằng chúng ta ít khi lẳng lặng nhìn một sự việc gì chỉ đơn thuần là ghi nhận mà chúng ta thường hay xen vào, hay phê phán, hay muốn nó phải như thế này và đừng như thế kia. Cái tâm muốn nó như thế này và đừng như thế kia thường làm cho chánh niệm của chúng ta không được huân tập. Cái hay nhất chúng ta tập đó là tập lẳng lặng nhìn, trời nắng trời mưa đang xảy ra ở ngoài cửa số mỗi ngày chúng ta lẳng lặng nhìn, không phải nhìn để vui, không phải nhìn để buồn mà nhìn để ghi nhận, đừng chạy theo nó quá nhiều, biết nó xảy ra như vậy.

 Phải mất một thời gian dài để chúng ta có được sự thay đổi về thói quen của mình, cái thói quen đó trong quá khứ nhiều đời nhiều kiếp đó là phê phán đó là can thiệp, muốn như thế này và muốn đừng như thế kia, mà thay vào đó là khả năng lẳng lặng ghi nhận, lẳng lặng theo dõi những gì đang xảy ra đối với thân với tâm ở đây và bây giờ, cái đó chúng ta gọi là chánh niệm. 

Ban đầu khi tu tập chánh niệm mình cảm thấy đó là một thế giới không quen thuộc, một thế giới hầu như thay đổi mọi thói quen của chúng ta. Chánh niệm giúp chúng ta thay đổi thói quen, khi thay đổi thói quen nó khó chịu nhưng một khi chánh niệm tốt rồi sẽ dẫn chúng ta đến một trạng thái SatiSampajañña gọi là ghi nhớ biết mình tỉnh táo.

 Khi mình nói chuyện với một đám đông mình biết cái gì nói và nói một cách vừa phải gọi là chúng ta nói với sự tỉnh táo. Khi nào bất chợt một cái gì thấy phiền lòng đáng lẽ chúng ta phừng phừng nổi giận, phẫn nộ, bực bội chúng ta có thể nhìn được, lẳng lặng có thể nhìn được sự bực bội chính mình thì cái đó chúng ta gọi là chánh niệm tỉnh giác. 

Khi nào chúng ta có thể đi một hành trình dài, mình đã lên xe rồi mọi người đến thì mình cũng đến, và mình không cảm thấy bực bội khi thấy lâu quá, thấy bị kẹt xe nhiều quá, mình cứ ghi nhận gì đang xảy ra thì lúc đó chúng ta tương đối có được SatiSampajañña.

Điều này không phải dễ dàng, một người nói chuyện trước công chúng mà biết rõ người nghe là ai, biết rõ đề tài của mình và nói không lạc đề và mình nói không có đi vào những gì trái ngược lại với quần chúng, cái đó cũng là một sự tỉnh táo.

Chúng ta dùng cái đó để thí dụ trong đời sống hàng ngày của mình có trăm muôn ngàn thứ xảy ra, nhưng từ cái niệm tỉnh giác nó giúp cho chúng ta có được một sự tỉnh táo và sự tỉnh táo trọn vẹn như là mình lái xe mà mình không bị chi phối bởi rượu, không bị chi phối bởi điện thoại, không bị chi phối bởi sự đau nhức trong người, mình lái xe hoàn toàn được sự tỉnh táo.

 [2]Không có chánh niệm tỉnh giác, tàm quý bị hỏng.

Từ sự tỉnh táo đó mình bén nhạy với cái gì nên tránh, trong kinh Phật gọi là  tàm (hiri), quí (ottappam). Một người không có chánh niệm tỉnh giác nói theo danh từ thế gian "điếc không sợ súng", người có chánh niệm tỉnh giác biết cẩn trọng với điều đáng cẩn trọng. 

Chúng tôi nhớ hồi còn ở VN sau năm 1975 chúng tôi đi từ Chùa Thiền Quang, ở thành phố Long Thành về Sàigòn, thường thường lúc đó mua xăng rất khó, người ta bán xăng lậu trong các dãy nhà ở, đôi khi chúng tôi ngồi ở ngoài xe nhìn vô thấy người ta đổ xăng vào trong những trai nhỏ hay bình nhỏ để bán, khu nhà đó là khu gia cư có nhiều người ở tại đó, và người VN hút thuốc nhiều, họ hút thuốc xa khoảng 5, 10 mét. Nhưng thật sự khi chúng tôi qua Mỹ rồi nhớ lại thấy điều đó thấy rất nguy hiểm, xăng để ở trong nhà lỡ nó phát cháy thì nhiều người chết, và xăng xử lý không đúng nhất là có những người hút thuốc ở gần dễ bị bén, thật ra có xăng là mừng rồi mình không cảm thấy sợ việc đó. Chuyện đó chúng ta gọi là "điếc không sợ súng".

 Một khi mình có được sự tỉnh táo biết rõ sự nguy hiểm rồi thì mình phải rất cẩn trọng, sự cẩn trọng đó gọi là sự cẩn trọng do tàm và qúi, tàm và qúi ở đây là khả năng bén nhạy đối với những nguy hiểm, nhiều người không thấy được cái tai hại của sự nguy hiểm đó. 

Ngày xưa thỉnh thoảng chúng tôi đi thăm ruộng với ông ngoại, ông ngoại nói  làm ruộng cần giữ nước, do đó họ đắp bờ đê, nhưng có những con cua hay con chuột làm hang tạo thành lỗ mội, mình phải đi thăm coi chừng, nhiều khi lỗ mội đó rất nhỏ nếu mình không để ý nó làm cạn nước, như vậy mình phải khổ công bơm nước vào trong ruộng. Với tuổi trẻ còn thơ dại chúng tôi xem thường việc đó, có xá gì một cái hang cua hang chuột, nhưng quả thật là ở miền quê thì chính những hang cua hang chuột đó làm vỡ bờ đê và làm mất nước trong ruộng. Một người có kinh nghiệm làm ruộng lâu năm đi thăm ruộng họ biết sợ những hang cua đó, họ phải kịp thời ngăn chặn như thế nào thì tương tự như một người có chánh niệm ý thức được hiểm họa họ chặn lại. 

Có một lần chúng tôi chứng kiến cảnh vị Thiền Sư kêu bốn thiền sinh lên và hỏi "có phải hồi trưa này các vị tụ tập nói chuyện phiếm phải không?" thì những vị đó xin xám hối là có, thì Ngài đuổi ra khỏi thiền viện. Là một vị Sư ở bên Mỹ mới qua chúng tôi nghĩ người ta đi chùa vào trong trường thiền tu  mình mừng lắm rồi, lỗi nhỏ không có chuyện gì đáng, nhưng ở trong lâu ngày chúng tôi thấy trong những đạo tràng, trong những nơi tu tập mà cho phép những lỗ mội đó xảy ra thì nó làm hỏng nhiều thứ. Lấy ví dụ, mình có cố gắng ngồi thiền một giờ, hai giờ, một ngày, hai ngày, rồi có một lúc mình ngồi nói chuyện phiếm luận hay mình làm những chuyện vô ích thì chánh niệm của chúng ta hỏng. Người có tàm qúi là người bén nhạy đối với những nguy hiểm như vậy. 

- Tàm là hổ thẹn,
 - Qúi là ghê sợ

Hổ thẹn và ghê sợ ở đây chỉ cho khả năng bén nhạy đối với những gì nguy hiểm.

 Chữ tàm được ví dụ như người mình dính chút phân mùi hôi mình khó chịu mình tìm cách để rửa cho nhanh. 

Và qúi là thấy lửa mình biết nếu đưa tay vào thì nóng thành ra mình không đưa tay vào. 

(3] Khi tàm quý không có, chế ngự các căn đi đến hủy diệt.

Một người không có sự tàm qúi, do không có sự bén nhạy đó thì họ thiếu khả năng phòng hộ các căn. Phòng hộ các căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nói cách khác là thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng. Cái thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng, đối với người tu tập đó là những cửa thành hoặc những cửa trong nhà. Chúng tôi ở chùa, trên chánh điện có cửa, tăng xá có cửa, hội trường có cửa nếu cửa nẻo đêm hôm không khóa kỹ có thể người lạ vô có thể xảy ra chuyện này chuyện kia. Hoặc ở trong nhà qúi vị có đồ qúi hay vì an ninh mình phải biết giữ các cửa. Đối với đời sống bình thường chúng ta không thấy nhưng với một vị tu thiền thì những gì mình thấy, mình nghe, mình ngửi,  mình nếm, mình đụng, mình suy nghĩ nó rất dễ dàng tạo nên những chi phối, tạo nên những độ chấn động và những chi phối này làm xáo trộn công việc chúng ta hàng ngày. 

Ngài Ajahn có giảng trong một bài pháp là, có thời gian tu thiền Ngài đã phát nguyện trong ba tháng không nhìn những người phụ nữ, sau khi ra hạ bỗng nhiên Ngài cảm thấy mình đã tích cực trong ba tháng, Ngài trở nên thấy bình thường, và có một người đến cúng dường và đó là một nữ thí chủ, Ngài cũng không nói người đó như thế nào đẹp hay xấu hay thế nào nhưng Ngài nói sau mấy tháng Ngài không nhìn cho tới khi Ngài mở mắt ra nhìn người nữ đó Ngài thấy trong tâm có sự chấn động, sự chi phối rất chấn động. 

Thì ở tại đây, chúng ta hiểu một người muốn định tâm, một người muốn tịnh tâm  luôn hiểu sắc, thinh, khí, vị, xúc là bụi trần, đó là trần cảnh. Chữ "trần" nghĩa là bụi là cái gì làm cho dơ, nếu mình không che đậy kỹ sẽ giống như mình đi đường bụi bám vào mình làm dơ. Chúng tôi sang bên Ấn Độ, xe bus ở Ấn Độ các hành lý vali để phía sau, xe đi một đoạn đường về là hứng đầy bụi, sau này có kinh nghiệm mỗi lần hành lý vali lên xe chúng tôi lấy bao rác bọc lại khi xuống thì tháo bao rác bỏ đi nếu không mình mang nguyên cả vali bụi vào trong phòng làm dơ phòng.

 [4]Khi chế ngự các căn không có, giới đi đến hủy diệt.

Mình tu tập thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, suy nghĩ, mình hiểu  nó đến rồi nó đi như mây bay gió thổi để lại bụi trần, để lại sự ô nhiễm, để lại những thứ chi phối tâm tư của mình. Do vậy, khi một người có đầy đủ tàm qúi người đó có được một thứ là phòng hộ các căn. Người không có tàm qúi thì không phòng hộ các căn. Sự phòng hộ các căn  là một nền tảng cơ sở, trong kinh gọi là giới, giới ở đây là nguyên tắc là cái gì mình làm và cái gì mình không làm, do có nguyên tắc mình có đủ lòng tự tin. Ngày hôm nay chúng ta sống trong một xã hội đôi khi người ta không đặt những nguyên tắc nhưng ngày xưa, ví dụ như trong xã hội Ấn Độ hay xã hội của các quốc gia Phật Giáo có nhiều người giữ 5 giới hay 8 giới hay sadi giới, ty kheo ni giới là nguyên tắc sống họ tuân giữ, ở tại những nơi khác ngày xưa ông bà có những nguyên tắc trong đời sống không thể bước qua khỏi làn ranh đó được.

(5] Khi giới không có, với người thiếu giới, chánh định đi đến hủy diệt.

 Người có giới thanh tịnh dựa trên sự phòng hộ các căn, và do có giới thanh tịnh như vậy sự tu tập nội tại của vị đó được thiết lập chánh định samma samadhi. Chữ samma samadhi ở đây một phần có nghĩa là chánh định, một phần chúng ta hiểu đó là sự tu tập nội tại, trong tiếng Anh gọi là mental culture development. Ở đây sự tu tập nội tại cần đến cơ sở của giới, cần nội tâm của vị đó ổn định. Khi niệm không có, định không có, và tinh tấn không có, thì vị đó thiếu nội lực thiếu samadhi. Samadhi là cốt tủy căn bản của đời sống tu tập. Thường thường ông bà chúng ta có câu "tu tâm dưỡng tánh" là ăn hiền ở lành, nhưng khi nói đến samadhi trong đạo Phật là giới học, định học, tuệ học. 

(6]Khi chánh định không có, tri kiến như thật đi đến hủy diệt.

Chữ samadhi gồm 3 yếu tính: tập trung là định, sự tỉnh táo là niệm,  sự tinh tấn. Ba điều đó là định. Có định như vậy vị này thành tựu Yathābhūtaṃ ñāṇa dịch là tri kiến như thật là một thứ trí tuệ chấp nhận thực tại, nó như vậy thì chấp nhận nó như vậy.  Trong kinh nói tri kiến như thật là mình không đòi hỏi những cái vô lý trong cuộc sống. 

Một giòng sông có đẹp thật, nhưng nó không phải cái mình đòi, dĩ nhiên có những cảnh rất lãng mạn, người ta nói nhà thơ Lý Bạch đã từng yêu vầng trăng mà lao mình xuống giòng sông để chụp lấy. Hoặc giả, ở trong đời sống chúng ta mơ ước về một cái gì đó vĩnh hằng, miên viễn, vĩnh viễn của tình yêu, của sự nghiệp, của danh vọng, của tuổi trẻ v.v... Những mơ ước đó là thiếu tri kiến như thật.
Tri kiến như thật ở đây là cái gì vô thường chấp nhận nó là vô thường, cái gì bất toàn chấp nhận nó là bất toàn, cái gì vô ngã chấp nhận nó là vô ngã, cái gì bất tịnh chấp nhận nó là bất tịnh, nó như thế nào thì chấp nhận như thế đó gọi là tri kiến như thật. 

Để hiểu điều này mình có thể nói con người chúng ta sống khi có nhiều chuyện không như ý xảy ra khiến mình bực bội, hay có nhiều chuyện thay đổi mình cũng bực bội, có nhiều chuyện không theo ý muốn làm mình bực bội, sự bực bội đó là kết quả của sự đòi hỏi, sự đòi hỏi là "nó phải như thế này, nó không như thế kia" nhưng bằng sự tu tập nội tại mình hiểu sắc uẩn mình không điều khiển được nó, thọ uẩn mình không điều khiển được nó, tưởng uẩn mình không điều khiển được nó, hành uẩn mình không điều khiển được nó, thức uẩn mình không điều khiển được nó.

Đức Phật hỏi: "Này Chư Tỳ Kheo, sắc uẩn là thường hay vô thường?"

Chúng ta chuyển câu này thành một câu rất thường thức, tức là như thân của mình có giữ yên như vậy hoài không, nó có khỏe hoài không, cái thân của mình có trẻ đẹp hoài không? 

Chư Tỳ Kheo nói "Bạch Đức Thế Tôn, sắc uẩn là vô thường". 

Tức là cái trẻ đẹp không dừng lại một chỗ, cái mạnh khỏe nó không dừng lại một chỗ mà nó sẽ thay đổi đối lập lại.

Và Đức Phật dạy rằng:

- "Những gì vô thường là khổ hay vui"?"

 Nói cách khác, cái gì không đứng yên một chỗ nó có hoàn hảo không? Nó không đứng yên thì không hoàn hảo được. Cái gì trong cuộc đời này mà mỏng manh, có cái gì trong cuộc đời này mà nay đổi, mai thay, chúng ta không gọi là hoàn hảo. Ví dụ như một người bạn tốt một lúc nào đó họ không tốt với mình nữa thì có hoàn hảo không? Chiếc xe tốt chạy một lúc rồi không chạy được nữa thì nó còn tốt hay không? Thân khỏe một lúc rồi lại không khỏe nữa thì nó làm sao? Do vậy Chư Tỳ kheo trả lời:

 "Bạch Đức Thế Tôn, cái gì vô thường là khổ".

Đức Phật dạy: " Cái gì vô thường là khổ, biến hoại theo lẽ thường, thì có nên cho là cái đó là của "Ta" " là Ta" là "tự ngã của Ta" chăng?" 

Là "Ta", là "Tôi" là "cái ngã của Tôi" tức là cái sở hữu của tôi và cái tự ngã  là mình so sánh với người khác, mình cao hơn, đẹp hơn, nói cách khác đó là ngã sở chấp và mạn thùy miên.

Chư Tỳ Kheo:" Bạch Đức Thế Tôn, chẳng nên".

[7] Khi tri kiến như thật không có,yễm ly bị hỏng.

 Thì ở đây, một trong những thành tựu đối với người tu rất quan trọng, đó là Tri kiến như thật - Yathābhūtaṃ . Sự thật như thế nào mình thấy nó như vậy.  Chúng ta thích vẽ vời, thích tô hồng chuốt lục, vẽ rắn thêm chân, muốn đòi hỏi thế này, đòi hỏi thế kia, và thế gian này mơn trớn ru ngủ, nhất là ngày hôm nay mình sống với quảng cáo, khi họ giới thiệu với chúng ta một sản phẩm nọ muốn nói đến một sự hoàn hảo, một sản phẩm ưng ý thì họ muốn nói lên là cái đó là tối hậu, cái đó không thể nào có cái khác tốt hơn được. Nhưng, tất cả đều một thời, cái đó nó tốt một lúc rồi một lúc không tốt. Hoặc giả vật đó mình thích một lúc rồi một lúc mình không còn thích nữa. Và hành giả tu tập phải có khả năng để thấy tri kiến như thật.

Thế giới thay đổi, thế giới nội tâm của chúng ta thay đổi, cái món đó bữa nay ngon có thể mai nó không ngon, cái món ngon đó bữa nay mình thích có thể mai mình không còn thích. Một người nào đó mình thấy khả ái bây giờ nhưng mai mốt không còn khả ái nữa. Đời sống con người cái gì mình cũng đinh ninh, cái gì mình cũng đòi hỏi, cái gì mình cũng sống bằng sự tưởng tượng là nó sẽ mãi mãi như vậy nhưng kỳ thật thì chúng ta không chấp nhận cái thực tại đó. 

Một người mà có thể sống thoải mái với thực tại, chấp nhận sự thực tại. Ví dụ chấp nhận thực tại là trời nóng thì mình biết là trời nóng, trời mưa biết là trời mưa, mình sống ở đây thì có khi nóng khi lạnh khi mưa, trời là như vậy, mình không bực bội, nhưng có những người thích trời nắng không thích trời mưa, khi có trời mưa thì đâm ra bực bội "sao bữa nay tự nhiên mưa" đó là tại mình không chấp nhận sự thật.
Việc chấp nhận sự thật rất quan trọng với một hành giả tu tập. Tại trường thiền Wat Nong Phra Poon, Thái Lan, người ta có để cái bảng viết tiếng Anh và tiếng Thái:

"Đối với người tu tập không phải là tìm cách để mình suy nghĩ những ý tưởng cao cả, hay mình trở thành một ông Thánh, mà quan trọng nhất là sự thật như thế nào mình chấp nhận nó như vậy".

Sự thật như thế nào chấp nhận như vậy. Chúng ta thường muốn mình phải là con người cao thượng, mình phải thế này mình phải thế kia, mình chứng đạo này chứng quả kia, nhưng mình không có chấp nhận thân mình có thay đổi, tâm mình thay đổi, cảm thọ thay đổi, sự  thay đổi như thế nào nó là như vậy,  sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nó như vậy, một người tu tập phải thấy được tri kiến như thật, Yathābhūtaṃ ñāṇa nghĩa là với trí tuệ sáng suốt thấy nó như thế nào thì nó như thế ấy.

Chúng ta có một người rất thân rồi người thân mất đi mình khổ. Chúng tôi tu ở trong chùa ở gần Ngài HT Ngài tám mươi mấy tuổi, Ngài già Ngài bịnh và Ngài mất, bây giờ đôi lúc đi trên con đường khi xưa chúng tôi thường đi với Ngài chúng tôi cảm thấy trong lòng nao nao, tại vì mình không chấp nhận sự thật cuộc sống nó phải là như vậy. Hoặc giả khi đến Kushinagar, Ấn Độ chúng tôi nhớ hình ảnh của các vị đệ tử Phật khi Đức Thế Tôn Ngài viên tịch chúng tôi thấy rằng những vị sống với Đức Thế Tôn như Tôn Giả Ananda chẳng hạn khi Đức Thế Tôn Ngài tịch thì cảm nhận sự mất mát rất to lớn là bởi vì một khi chúng ta chưa có chứng đắc quả thành toàn thì chúng ta không thoải mái với sự thay đổi, tại vì trong đó mình có sự đòi hỏi nó phải như thế này đừng như thế kia.

[8] Khi yểm ly không có giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt.

Một người có được tri kiến như thật, vị đó đạt đến một trạng thái nhàm chán hay yểm ly. Lấy ví dụ, một người thích đánh bài, không đánh bài cảm thấy buồn và trạng thái không đánh bài thì buồn nếu chúng ta là người không đánh bài mình thấy kỳ, vì không đánh bài thì thoải mái chứ sao lại buồn, nhưng người đó lại buồn, đến lúc nào đó người này cai được cờ bạc rồi nhớ lại chuyện ngày nào tuần nào cũng vô sòng bài casino ngồi thấy nó chẳng hạnh phúc gì hết. Hoặc chúng tôi nghe nói người VN bây giờ nhậu nhẹt nhiều, có những người chúng tôi biết họ nhậu một thời gian rồi bị bịnh bây giờ họ nhớ lại chuyện nhậu nhẹt thấy không vui mà thấy chán quá. Thì sự yểm ly là mình thấy được mặt mũi thật của sự việc đó rồi mình không còn thích thú với nó nữa, mình không còn đam mê nữa cái đó chúng ta gọi là yểm ly.

 Yểm ly dẫn đến giải thoát, tức là ly tham không còn cột trói không bị dính mắc nữa. Giải thoát là cắt đứt khỏi các kiết sử. 

Kết luận:

Thì ở đây, chúng ta thấy hành trình tu tập của một người tu Phật, mục đích tối hậu là chúng ta không còn bị ràng buộc bởi các kiết sử, ràng buộc bởi thế giới nột tại và thế giới ngoại tại. 

- Trong kinh dùng chữ giải thoát, nhưng muốn đạt đến giải thoát vị đó phải có đủ khả năng buông bỏ đạt đến bình thản chúng ta gọi là yểm ly.

- Muốn có khả năng buông bỏ vị đó phải có sự hiểu biết là tri kiến như thật, sự thật nó như thế nào mình chấp nhận nó như vậy.

- Muốn có được tri kiến như thật vị đó phải có tu định, tu giới. 

- Khi chúng ta nói giới định là hai phần và phần ở phía sau thuộc về tuệ. Thấy  như thật, thấy nhàm chán, yểm ly thuộc về tuệ.

- Để có được định, chúng ta phải có giới, giới được xây dựng bởi phòng hộ các căn, phòng hộ các căn được xây dựng bởi tàm qúy, tàm qúy được xây dựng bởi chánh niệm tỉnh giác, và chánh niệm tỉnh giác được tạo thành bởi tu tập chánh niệm, đó là một tiến trình tu tập. 

Thì ở đây, trong bài học này chúng ta trình bày để hiểu ý nghĩa bài kinh, nhưng một khi một hành giả vào trong trường thiền hay một nơi tu tập thì mình thấy rõ ràng rằng đây là những khía cạnh nội tại mà mỗi người phải tự thấy, tự biết ,và tự tôi luyện, tự vật lộn mỗi ngày. 

Nếu chúng ta nói rằng cả một quá trình tu tập nằm ở trong tám công đoạn này thì cũng đúng như vậy, có khi mình nói là giới định tuệ là mình nói nói ngắn, đại khái nằm ở trong tám công đoạn này, và hành trình tám công đoạn thì không ai làm giùm cho chúng ta, chúng ta phải tự làm lấy, mình phải tự biết lấy, không ai sống kế bên mình để nhắc mình về chánh niệm tỉnh giác, hay tàm qúi, hay về ly tham, về yểm ly, tất cả điều đó đều do công phu tu tập của mỗi người, và tất cả đều là những bước khi tu tập chúng ta cần phải quan tâm.

Như ở đây Đức Phật Ngài có đưa cho chúng ta thí dụ về một cái cây phát triển được nuôi lớn như thế nào thì đời sống tu tập không phải là điều mơ hồ trong Phật Pháp. Thật ra ngày hôm nay khi chúng ta nói đến tu nhiều lúc chúng ta nói về âm đức, nói về phước duyên là chúng ta nói mơ hồ. Nhưng khi Đức Thế Tôn còn tại thế sự tu tập là cái gì rất thực rất rõ ràng, tuy là tiệm tiến nhưng từng bước một và trong mỗi bước như vậy là một phương pháp. Ngài Na Tiên nói rằng một điểm quan trọng nhất của Phật Pháp đó là dạy chúng ta về phương pháp, Phật Giáo không ca ngợi những giá trị luân lý đạo đức, mà Phật Giáo dạy chúng ta những phương pháp tu tập, như tu tập lòng từ, tu tập tâm bi, tu tập giới, tu tập trí tuệ. Thì ở đây, bài kinh này cũng dạy chúng ta những phương pháp dẫn đến giải thoát được đề cập ở trong bài kinh này tuy rất ngắn nhưng lại là những lời hướng dẫn rất cụ thể rõ ràng.





Tuesday, May 21, 2019

Quán Tử Thi, Quán Hài Cốt - TT Giác Đẳng

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
22. Đại kinh Niệm xứ (Mahàsatipatthana sutta)
 Quán thân – Quán Tử Thi, Quán Hài Cốt

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 23 tháng 10, năm 2018

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Trong nhiều bài học trước đây chúng ta đề cập đến sự ái luyến bản thân, chúng ta vốn thương yêu nâng niu trao chuốt vẻ đẹp ngoại hình cũng giống như thể lực khỏe mạnh, và chúng ta tìm nhiều cách để thoả mãn sắc thân của mình, từ việc ăn uống để thoả mãn nhục dục hay quần là áo lụa. 

Nhưng, có một thực tế tất cả người tu Phật được hiểu về đặc tánh vô thường, khi tâm thức không còn nữa thân này chỉ là một xác chết, và xác chết đó dù trước kia oanh liệt bao nhiêu, đẹp bao nhiêu, bây giờ xác chết chỉ là một xác chết, tất cả xác chết trừ khi để đông lạnh hay dùng hóa chất để ướp, thì một xác chết tự nhiên sẽ tan rã hủy hoại trong nhiều điều kiện khác nhau theo thời gian.

Nếu chúng ta có dịp nhìn vào xác chết và có một suy tư cảm nhận sâu sắc thân thể của chúng ta rồi cũng sẽ như vậy, không vượt khỏi trạng thái đó, điều đó không những có lợi ích cho chúng ta nhận chân thực tại và khiến chúng ta có một nhân sinh quan tương đối rất khác, nhất là sự chấp thủ về danh, về tướng, về nhân ngã bỉ thử, chấp về nhiều thứ. 

Ít khi chúng ta quán tưởng như vậy, thông thường khi nhìn thấy một xác chết, cảm giác của đa số chúng ta là né tránh, cảm giác thường có là ghê sợ, hầu như không muốn nhìn không muốn ngó. Chúng tôi nhớ có những lần đi tụng kinh đám tang, khi tụng kinh chúng tôi đến đứng gần xác chết, nhưng con cái trong gia đình dù rất thương mẹ thương cha nhưng không dám đến gần, đứng xa ngó thôi, mặc dù xác chết ở Mỹ họ làm rất kỹ, ngoại trừ trường hợp đặc biệt còn đa phần đứng gần không sao hết, nhưng người ta vẫn sợ xác chết. 

Xã hội Ấn Độ có hai hình thức, một là điểu táng, hai là hỏa táng. 

Điểu táng: Khi một người chết, người ta quấn vải chung quanh xác chết đó và làm tang lễ đơn giản, sau đó họ khiêng đến bãi tha ma. Nếu qúi vị sang những thành phố lớn hay một ngôi làng ở Ấn Độ thấy một nơi giống như sân vận động lớn có tường rất cao bao chung quanh thì rất có thể đó là bãi tha ma, nơi người ta giữ xác chết.

 Người chết được mang đến bãi tha ma, người trông coi bãi tha ma mở cửa cho người ta mang xác chết vào đặt ở bên trong rồi ra về, người giữ bãi tha ma sẽ đóng cửa lại. Xác chết sẽ sình chương mục rữa. Tại Ấn Độ có rất nhiều những con kên kên và con quạ sẽ xuống xử lý xác chết đó bằng cách chúng xuống ăn, đó là hình thức điểu táng. Ngày nay cách điểu táng vẫn còn phổ thông tại Ấn Độ.

Hỏa táng. Ở nơi khác người ta có hình thức hoả táng. Hỏa táng có hai cách, một là hỏa táng kín đáo ở trong lò như tại Mỹ, Nhật, Âu Châu, hay tại Thái Lan bây giờ người ta hoả táng rất kín đáo nghĩa là người ta bỏ xác chết vào trong quan tài đưa vào lò thiêu đóng kín giữ nhiệt. 

Theo cách hỏa táng của Ấn Độ, người ta để xác chết nằm trên dàn củi và đốt. Trường hợp người giàu thì họ đốt xác chết thành tro, nhưng người nghèo họ đốt không hết, vì những xương người phải dùng nhiều củi và đốt rất lâu, và cách đốt khơi khơi lộ thiên ngoài trời thì không cách gì tan hết bộ xương. Sau đó họ đem tro cốt đổ xuống sông.

Chúng ta trở lại với bài học hôm nay, một vị Tỳ Kheo khi tu tập pháp quán tử thi hay quán hài cốt, vị này hoặc tình cờ đi gặp tử thi hoặc có chủ tâm đến để quán tưởng. 

Chúng tôi có đến ngôi chùa Wat Luang ở vùng Đông Bắc Thái Lan tỉnh Udon (Ubon Ratchathani), để tu quán xác chết, là chùa rừng Wat Pa gọi là chùa Thiền Lâm, chùa rất rộng lớn, một chùa có thể có mấy trăm mẫu đất rừng. Thông thường chùa có một miếng đất ở ngoài mé rừng, tại chỗ đó người ta đào một cái huyệt, trường hợp này chỉ có ở Thái Lan và Miến Điện, những người lớn tuổi họ có lời phát nguyện hiến xác chết của họ cho Chư Tăng tu tập sau khi họ chết, thường là đàn ông, ít có người nữ hiến xác, sau khi chết thay vì hỏa táng xác chết thì đem ra để trong cái huyệt đất và để xác chết nằm tại đó và không lắp đất lại, xác chết sẽ sình chương sẽ mục rã và Chư Tăng đến đó quán tưởng. Muốn đi quán tưởng thường phải xin vị Sư Cả hay vị Thiền Sư  hướng dẫn chúng ta, ví dụ như phải đứng ở thế nào ở trên gió để mùi không đi vào trong người mình, và đôi lúc cũng có sự cẩn thận cân nhắc như không mang theo chất béo như dầu mè, ít khi có chuyện đó nhưng những thứ đó người ta gọi là mời gọi phi nhân thì không mang theo, quán tưởng như thế nào mà đến đó mình có tâm niệm để khỏi bị ám ảnh. Đây là việc tương đối cụ thể.Chúng tôi không đào sâu vào điểm đó ở tại đây.  Chỉ một chi tiết là chánh niệm thì phải thấy thật sự, phải dùng hình ảnh thật sự, tức là tận mắt mục kích, tận mắt mình thấy chứ không phải do người khác kể lại. 

Sau khi thấy hình ảnh xác chết mục rữa đó, vị hành giả quán thân mình với thân đó giống nhau, khi mình chết, nếu không hỏa táng mà đem chôn thì ở trong đáy mộ mình cũng mục rã giống hệt như vậy, và do sự mục rã như vậy thì thân này với thân đó là một, bàn tay, bàn chân, màu da mình trau chuốt thương yêu hàng ngày chăm xóc rồi nó cũng mục rữa như vậy, ở trên thân này cái thân mình chìu chuộng, cái thân mình bảo vệ, cái thân mình tự hào hãnh diện v.v... rồi nó cũng sẽ giống như vậy. Thì dùng hình ảnh đó để quán tưởng.

Trong kinh Pháp Cú phẩm 11, Phẩm Già, có nhiều bài kệ Đức Phật Ngài dạy chúng ta nhìn xác thân huyển hóa. HT Minh Châu dịch:

Như trái bầu mùa thu, 
Bị vất bỏ quăng đi, 
Nhóm xương trắng bồ câu, 
Thấy chúng còn vui gì?

Thi sĩ Tâm Cao có dịch một vài câu thi hóa:

 "Người nay như lá vàng khô, 
phất phơ đứng tựa cửa mồ diệt vong, 
tử thần chờ đợi bên trong, 
tư lương sao chửa dọn lòng lo tu" 

Trong bài kinh này, Đức Phật đặc biệt lập đi lập lại rất nhiều lần: 

"thân này tánh chất là như vậy bản chất là như vậy không vượt khỏi tánh chất ấy". 
- "Ayam pi kho kāyo evaɱ dhammo evaɱ bhāvī etaɱ anatīto,' ti"

-  nghĩa là "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy."

Câu kinh này là một câu khi chúng ta gặp tử thi tình cờ hay cố ý chúng ta có thể quán tưởng.

Ở đây, bài kinh đặc biệt nói về tử thi có hai thứ, một là tử thi đổi màu như xác chết của chúng ta khi tâm thức không còn, chất ấm không còn bị sình chương, thứ hai là tử thi bị mục rã. 

Tiếp theo là quán về hài cốt tức quán về xương.

Có những xương mới mục rã, thí dụ như một xác chết bị chim ăn còn lại bộ xương, thì bộ xương còn dính máu gọi là xương mới hiển lộ. Nhưng có những xác chết đã quá lâu, những bộ xương đã quá lâu bây giờ bị mục nát thành bột màu xương trắng. Những hình ảnh đó chúng ta thường phản ứng bằng sự ghê tởm kinh sợ, nếu người nào sợ ma sợ xác chết, nhưng với một người tu tập nhìn bằng chánh niệm, nhìn rất đơn giản, nhìn thấy xác chết đó bộ xương đó giống như thân này rồi cũng như vậy.

Như trái bầu mùa thu,
 Bị vất bỏ quăng đi, 
Nhóm xương trắng bồ câu, 
Thấy chúng còn vui gì?

Đọc bài kệ trên, đặc biệt với hành giả tu tập về pháp quán tử thi là những điều rất lợi lạc nếu chúng ta sống nặng phiền não tham sân si, nặng về oan trái oán thù, nặng về sự đam mê sắc dục, nhục dục v.v.... những điều này lợi ích cho chúng ta rất lớn. Phải nói như vầy, một khi chúng ta sống lỡ vương vào chuyện hận thù phiền não, người này ghét người kia hận người nọ v.v... thì rất khó gỡ cho chúng ta, khó gỡ là tại vì chúng ta thường xuyên nhìn việc đó trên một cái nhìn đối đãi nhân ngã bỉ thử, nó mắng tôi, nó đánh tôi, nó cướp tôi, nó hại tôi v.v... đó là tôi, chuyện mình là nạn nhân họ là kẻ gây tội v.v... thường nó cứ theo trong người mình theo hoài không nhả ra, cuộc sống không nhẹ nhàng, tâm chúng ta không được thanh thản, thì chính pháp quán thân này rồi sẽ trở thành một xác chết, và khi mình thích nghi thì câu nói  "dậu đổ bìm leo" còn nhẹ, cái thân của mình khi không còn ý thức bị vất bỏ thì dầu là ở dưới đáy mộ bị trùng đục khoét, dầu ở bãi tha ma cho chim ăn có khi những con vật khác ăn, một xác chết mà bị con vật ăn thì hoàn toàn bị vứt bỏ. 

Chúng ta là ai và chúng ta được cái gì, tại sao chúng ta cứ luôn oan trái, tại sao chúng ta hận thù rồi cái thân đó bị mục bị bỏ. Giống như thỉnh thoảng có người đi xe bus dành nhau chỗ ngồi cãi lộn chửi lộn, có một lần chúng tôi thấy hai người đánh nhau vì chỗ ngồi trên xe bus nhưng chỗ ngồi đó chỉ có 5, 10 phút thôi, khi xe đến nơi mọi người xuống ra đi, khi mọi người ra đi thì chỗ ngồi đó không thuộc về ai hết. Đời sống chúng ta cũng vậy, khi chúng ta sống với thân này chúng ta không nghĩ đến cái chết không nghĩ đến vô thường, không nghĩ đến một ngày nào đó rồi cũng bỏ thân này, không phải chỉ có cái nhà của chúng ta là chỗ tạm, mà thân chúng ta cũng là chỗ tạm, trong cõi tạm đó chúng ta khổ sở, chúng ta vật vã, chúng ta nặng lòng,  chúng ta trân trọng, nhưng mà rồi nó trở thành vô nghĩa.

Bài kinh này đặc biệt có bốn đoạn:  2 đọan nói về tử thi, và 2 đoạn nói về hài cốt. Dù là tử thi hay hài cốt đều cho chúng ta một cái nhìn rất lợi lạc.

Người Tây Phương có lễ hội halloween là mùa lễ vui chơi, nhất là tại Mỹ, họ bán rất nhiều thứ ở các siêu thị, các cửa hàng bách hóa những sản phẩm trang trí cho mùa lễ, có một thứ chúng tôi rất thích và thường mua để tặng cho những người quen đó là một trái cầu thủy tinh ở trong đó đựng 2 người nam và nữ đang ôm nhau, 2 người nam nữ đó là hai bộ xương hình dạng rất ma qủi nhưng họ để trong trái cầu, hình ảnh đó là một vật thể một hình ảnh người ta chơi trong mùa lễ hội halloween, lễ hội ma qủi của người Tây Phương. Nếu chúng ta nhìn vào trong đó cái nhìn rất đặc biệt, đời sống của chúng ta từ cái đẹp, cái xấu, cái hay, cái dở, cái phải, cái quấy, cái đúng, cái sai thì thật ra nếu chúng ta nhìn vào thực trạng thì nó là như vậy, bây giờ còn tâm thức còn giá trị nhưng một khi tâm thức không còn nữa Đức Phật Ngài dạy rằng nó sẽ bị vứt bỏ nằm ở trên mặt đất như khúc gỗ vô dụng. Thật ra khúc gỗ vô dụng người ta không sợ, người ta có thể đem đốt để dùng được nhưng thân mình nằm trên đất người ta ghê sợ người ta bỏ chạy không muốn lại gần. Thì lúc đó chúng ta là ai, chúng ta là ông này bà kia, là anh hùng, là giai nhân, là người đẹp, người xấu, cái thương, cái ghét, cái vui, cái buồn, cái giận dữ tất cả đều tan biến,

 Một hành giả tu tập Tứ Niệm Xứ những điều này giúp chúng ta tìm lại được sự bình tâm, rất cần cho sự tu tập. Điểm đặc biệt của pháp tu niệm không phải chúng ta dựa trên sự suy diễn. Suy diễn là mình ngồi đó đọc kinh hay nghe người khác nói lại mà do chính mình thấy. Ví dụ, khi mình đi tụng kinh đám ma, bên Mỹ thường thì quan tài không đóng lại nên có thể nhìn thấy xác chết, chúng tôi không nhớ là có bao nhiêu lần đứng trước xác chết và những xác chết đó có thể là của một người đã từng làm tướng hét ra lửa, của một người rất giàu có, hay của một người đã từng lời qua tiếng lại trong cộng đồng rất lâu, bây giờ nằm đó xác chết là xác chết, nó vô nghĩa, tất cả là vô nghĩa, đã nằm xuống rồi thì những thứ đó không còn nghĩa gì hết. Chúng ta hãy ngồi nhìn lại ở trong cuộc sống của mình bao nhiêu những thứ mình thấy rất quan trọng, bao nhiêu những thứ mình rất nặng lòng, lúc đó nghĩ rằng mình sống chết với nó nhưng mà rồi một khi mình ra đi thì nó hoàn toàn vô nghĩa. Đặc biệt điều đó không phải là vật ngoại thân mà chính cái thân này, chúng ta tắm rửa, chúng ta trao chuốt, chúng ta xức lotion mỗi ngày, chúng ta trang điểm quần là áo lụa, thân đó chúng ta tự hào ngoại hình đẹp v.v... Rồi một ngày nào đó:

-  "Như trái bầu mùa thu, bị vất bỏ quăng đi, giống xương trắng bồ câu, thấy chúng còn vui gì". 
Kinh Pháp Cú 149.

 Không phải Đức Phật Ngài dạy chúng ta một hình ảnh bi quan, nhưng Ngài dạy chúng ta một phương thuốc để trị liệu bịnh phiền não. Phiền não, phải nói rằng có trăm muôn ngàn thứ, không dễ dàng mà chúng ta lên án nó hay ra lệnh cho nó biến mất, phiền não nó trở đi trở lại. Chính cái nhìn trung thực, nhìn thật rõ. Đức Phật Ngài không dạy chúng ta phải tưởng tượng và Ngài cũng không dạy chúng ta nhồi nặn quan niệm của chúng ta, Ngài chỉ dạy chúng ta hãy mở mắt nhìn một cách thật trung thực, thử xem như thế nào, có phải là những tử thi đó những hài cốt đó với thân của chúng ta cũng là một bản chất, và cái thân của chúng ta có vượt ngoài bản chất đó hay không, vượt ngoài tự tánh đó không, tự tánh đó là vô thường là biến hoại và nếu hành giả mới thấy như vậy chỉ mới là ghi nhận, chỉ có yếu tố là niệm, nhưng khi nói đến yếu tố định thì chúng ta cần yếu tố bền,và thường xuyên.

 Khi một hành giả thấy được hài cốt thấy được tử thi, hành giả có thể nhìn chung quanh thân của mình và thân người khác, thậm chí có những xác thân rất đẹp. Thời Đức Phật còn tại thế giống như hôm nay khi một người  chết họ bỏ vào bãi tha ma cho chim ăn, có một kỹ nữ rất đẹp và chết trong một cơn bạo bịnh, chết nhanh, thay vì đem đi hỏa táng thì Đức Phật Ngài dạy nhà vua nên để lại cho chư vị Tỳ Kheo quán tưởng, và lúc đó Đức Phật Ngài gọi chư Tỳ Kheo đến nhìn xác chết đó, hình ảnh mỹ miều của cô kỹ nữ lúc còn sống người ta có thể bỏ ra hàng ngàn đồng vàng để ở chung với nàng một đêm, nhưng bây giờ một đồng người ta cũng không muốn tại vì chỉ là một xác chết. Những bài học đó thật sự là những bài học lớn, những bài học không phải dể cho chúng ta đem vào trong lòng mà để chúng ta tu tập, tất nhiên bài học này giúp chúng ta rất nhiều.

Có thời gian chúng tôi vào chùa Watt Chanachat để tu tập, ở chùa cử một Sư người Do Thái làm công việc giữ kho cho Chư Tăng, vị Sư này rất khó chịu, vị nào xin gì Sư này hỏi:

-  "Có cần không?"

Thì có nhiều vị tự ái không xin. Có một vị Sư người Tàu gốc Mã Lai đến xin một sợi giây cột bình bát thì vị Sư giữ kho nói rằng:

-  "Sợi giây cột bình bát của Sư còn sài được sao lại đòi cái mới".

Thì vị Sư người Mã Lai đem tâm oan trái. Chúng tôi không biết sự việc ra sao nhưng tâm oan trái rất mạnh, vị đó về nghĩ rằng "đồ đạc trong kho là đồ của Tăng chúng đâu phải của riêng Sư người Do Thái, mình hỏi xin mà còn thắc mắc xét nét giây mình giây mới hay cũ, còn sài được hay không sài được". 

Và nghĩ càng nhiều thì tâm càng bực bội mới nghĩ người Do Thái là dân tộc đáng ghét. Thì có một ngày vị Sư người Mã Lai đi khất thực chung với chúng tôi, chúng tôi nói vị này nói vị Sư Do Thái cùng đi khất thực chung thì vị Sư đó đem chuyện này nói với chúng tôi.

 Chúng tôi nhớ lời của Ngài Ajahn Cha nói rằng:

 "Thật ra đó cũng là cơ hội để chúng ta tu tập", 

Không phải là chuyện đổi giây bình bát mà chuyện ở trong lòng chúng ta có cái vui cái buồn có oan trái chúng ta cũng nên suy nghĩ. 

Ngày hôm sau vị Sư Mã Lai cũng đi khất thực với chúng tôi vị đó nói rằng không biết tại sao mà càng suy nghĩ thì càng phiền, càng suy nghĩ thì càng giận, càng suy nghĩ thì càng cảm thấy phiền não, và thậm trí vị này nói rằng nếu ngày nào vị Sư Do Thái đó còn coi kho đồ tứ vật dụng của Chư Tăng thì các vị này bỏ chùa đi nơi khác. Nghĩa là đôi lúc chuyện nhỏ mình suy nghĩ nhiều đâm ra quẩn trí đâm phiền não thêm. 

Thì hai ngày sau có một ông thiện nam thường hay đi chùa cúng dường Chư Tăng vào ngày thứ Tư, bây giờ ông chết, ông rất thương qúi Chư Tăng trong chùa, ông làm di chúc thay vì xác đem hoả táng thì ông cúng xác của ông để Chư Tăng quán tưởng. Chúng tôi rủ vị Sư Mã Lai và 2 vị nữa đi ra ngoài bìa rừng nơi có cái huyệt có xác chết vị thiện nam để ở đó. Việc đầu tiên chúng tôi đi ra đó một là đi thăm xác chết hai là tụng kinh, vì người thiện nam đó cũng đi chùa mấy tháng chúng tôi gặp. Qua ngày hôm sau trở ra xác bắt đầu hôi vì nó sình lên trông ghê lắm, nó sình trương nó đổi màu. Con người mình bình thường, thí dụ như người phụ nữ quen trang điểm, bây giờ không trang điểm đôi khi nhìn thấy đã sợ rồi nhưng xác người mà để đó tự nó sình trương thì dễ sợ lắm. Tới ngày thứ ba, vị Sư Mã Lai mới nói với chúng tôi rằng mấy hôm nay đi coi xác chết thấy có lợi lắm, mới thấy rằng sự phiền não trong lòng mình, sự giận hờn trong lòng mình, cái oan trái trong lòng mình tự nhiên nó không có giá trị nó trở nên vô nghĩa.

Học Phật Pháp thì mình hiểu không phải Đức Phật Ngài muốn chúng ta nhìn những khía cạnh bất toàn, nhìn những khía cạnh khổ của đời sống để làm khổ chính mình, không phải như vậy, nhưng Ngài hiểu đó là những phương thuốc có công năng trị bịnh phiền não và có lợi ích cho chúng ta rất nhiều. Phải nói con người chúng ta khi rời bỏ nhà cao cửa rộng, rời bỏ chuyện tranh danh đoạt lợi vào trong thiền viện lúc bấy giờ sự chấp thủ về thân ,chấp thủ về tôi nặng lắm, nó vẫn còn theo mình, "Tôi là một vị Tỳ Kheo", "Tôi là người này", "Tôi là người kia" và chuyện quán thân, nhìn thấy thân của mình đối với xác chết kia bản chất giống nhau, không rời bỏ tánh chất đó, những điều đó có lợi cho đời sống nội tâm của chúng ta rất nhiều. 

Nhưng nhớ như vầy, trên phương diện tu tập ấn tượng đó phải là ấn tượng thật, chúng ta phải tận mắt thấy ấn tượng đó, không phải do kể lại hay do tưởng tượng. Như nãy giờ chúng ta nói ở đây là tưởng tượng. Tu tập chánh niệm là phải thấy một xác chết thật, tức là phải có niệm, và sau niệm phải có định, định ở đây là sự nuôi dưỡng thường xuyên, nhìn xác chết rồi trở về nhìn lại là bản thân của mình, của những người chung quanh mình rồi tất cả sẽ trở thành xác chết như vậy, rồi thấy xác chết đó vô nghĩa như vậy nằm ở chỗ huyệt lạnh ở nơi đó bị côn trùng đục khoét, rồi cho trùng đến ăn, rồi con này con kia ăn. Mình thấy thân thể mình đã bảo vệ, mình đã trau chuốt, mình tự hào hãnh diện, bây giờ không còn gì thì điều đó là điều có lợi rất lớn.

Chúng tôi cũng xin nói một điểm là khóa tu quán tử thi tương đối cần sự hướng dẫn tốt của một người có kinh nghiệm, nếu một người không có kinh nghiệm thì có thể chúng ta bị phản ứng ngược. Chúng tôi nhớ một lần có một vị Sư được vào trong bệnh viện ở Bangkok để xem các sinh viên cắt tử thi để học, vị Sư đó về ói mửa cả ba ngày chúng tôi tạm gọi là ói tới mật xanh, tại vì vị này không được chuẩn bị, không được hướng dẫn trước. Pháp tu này đôi khi cần một chút kỷ năng, có người hướng dẫn, cần để chia sẻ về điểm này hơn là mình muốn thế nào mình làm như vậy ./.

Thursday, March 7, 2019

Kinh Potthapàda Phần I - [bản ngã và linh hồn] - TT Giác Đẳng

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
9. Kinh Potthapàda 
Phần I - [bản ngã và linh hồn]

TT Giác Đẳng giảng trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, phần 1, ngày 21-8-2019.

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài kinh Potthapàda đặc biệt lợi ích cho chúng ta khi nói về một đề tài gây nhiều tranh luận, nhất là những người học Phật Pháp đôi khi cảm thấy khó hiễu nhưng nếu chúng ta hiểu bài kinh này thì dễ dàng hiểu đề tài liên quan đến bản ngã và linh hồn.

Nhiều lần, một số Phật tử đặt ra câu hỏi về vô ngã hay không có linh hồn, và Phật tử rất là khó chịu bởi vì đa số Phật tử, nhất là Phật tử Việt Nam ảnh hưởng truyền thống Bắc Tông thì chữ linh hồn được xem như một cái gì đó rất tự nhiên là con người có hai phần; phần hồn và phần xác.

Nói chung, ở một mức độ nào đó Phật Giáo Đại Thừa và Phật Giáo Nguyên Thủy đồng ý với nhau về tánh không hay tánh giả hợp của thân và tâm.  Nhưng trong hình thức của Phật giáo dân gian trong đó ảnh hưởng của Lão Giáo thì câu chuyện về linh hồn người Phật tử Việt Nam thường hiểu thì nhận thức quan niệm gần với Bà La Môn giáo hơn là Phật Giáo, đây là điều phải nhìn nhận. Và có lẽ một trong những tác phẩm đầu tiên gây ra chấn động nhiều cho Phật Giáo Việt Nam đó là cuốn Đức Phật và Phật Pháp của Ngài Narada Maha Thera, trong đó Phật Giáo không có nói về một linh hồn hay không nói về cái ngã thường tại. Không nói về ngã thì có nhiều người cố gắng hiểu nhưng nói về không có linh hồn mình nghe nó kỳ, nhất là người đời thì lo về phần thể xác, đạo thì lo về phần linh hồn. 

Về chữ linh hồn (tâm hồn), chúng tôi thỉnh thoảng cũng có nói một vài chữ liên quan đến điểm này. Sư Trưởng là người học về A Tỳ Đàm và nghiêm túc về Phật học Sư Trưởng không muốn dùng chữ tâm hồn. Nhưng trong ý nghĩa nói về một người có tâm hiền thiện người đời dùng từ "Tâm hồn cao thượng" thì nhắc đến một ý nghĩa khác.

Đại để, chúng ta nên hiểu phần đông quan niệm cái ngã thật sự của mình không nằm ở thân mà nằm ở tâm, tâm ở đây là "danh" theo Phật học, người đời nói là linh hồn, con người gồm hai phần là linh hồn và thể xác.

Trước nhất, quan niệm về linh hồn lại đi với quan niệm về chân ngã hay về bản ngã, bản ngã nằm ở linh hồn nói theo kinh Phật đặc biệt là Vi Diệu Pháp là "thọ là ta, ta là thọ, trong thọ có ta, trong ta có thọ, tưởng là ta, ta là tưởng, trong tưởng có ta, trong ta có tưởng, hành và thức cũng vậy". Điều đó xem linh hồn là bản ngã.

Chúng ta cũng thường quan niệm thể xác thì thay đổi như nay mạnh mai đau, lúc đói lúc no, lúc lạnh lúc nóng, lúc trẻ lúc già thấy rõ ràng. Nhưng nhiều người quan niệm về linh hồn thì thường hằng bất biến, đó là hằng tưởng không thay đổi và chính vì hằng tưởng như vậy mới thật sự là ta, mới thật sự là chân ngã, đó là một quan niệm. 

Về sau này người ta có quan niệm tương đối tinh tế hơn, họ quan niệm nội tâm có hai phần; một phần là mộng thức một phần là chân tâm. Mộng thức là tạp niệm là phiền não, giống như nhiều bụi bao che chung quanh viên ngọc, viên ngọc được ví dụ là chân tâm, phiền não bao quanh gọi là mộng thức.
 Thì sự hiện diện một lúc có cả chân tâm và mộng thức giống như viên ngọc bị bao phủ, mang tánh cách quan niệm thường thức của cái nhìn bình thường, nhất là Phật Giáo Trung Hoa hay Phật Giáo Đại Thừa. Còn trong kinh tạng thì không nói sự tồn tại cùng lúc cả hai chân tâm, một lần tâm sinh diệt chỉ có một sát na, trong cái vòng sinh diệt thì mỗi lần từng sát na sanh và diệt và không thể nói là có ở trong đó cái gì gọi là chân tâm mặc dầu ở trong A Tỳ Đàm có đề cập đến ý tưởng đó, có một thứ gọi là tâm một thứ là thuộc tánh của tâm hay tâm vương và tâm sở. Tâm vương và tâm sở là hai ý niệm hoàn toàn khác với khái niệm về chân tâm và mộng thức. Chúng ta cần hiểu như vậy để chúng ta có khái niệm về bài kinh này và đây là bài kinh rất lợi lạc để mình tìm hiểu về quan niệm bản ngã và linh hồn.

Duyên khởi của bài kinh

Một buổi sáng, ở chùa Kỳ Viên, Đức Thế Tôn Ngài đi khất thực, một sinh hoạt bình thường ở trong đời sống của Ngài, có khi Ngài đi một mình, có khi Ngài đi với người thị giả, có khi Ngài đi với Chư Tăng, có khi Ngài đến nhà Phật tử để trai tăng. Hôm đó, Ngài thấy còn sớm nên Ngài đi đến khu vườn Ekasàlaka khu vườn nghỉ mát của Hoàng Hậu Malika là Phật tử và là Hoàng Hậu của vua Ba Tư Nặc. Theo lời thuật lại của Tôn Giả Ananda, lúc bấy giờ tại khu vườn có một số vị du sĩ ngoại đạo ở trong đó có du sĩ Potthapàda là một vị du sĩ ngoại giáo tương đối có kiến thức uyên bác và đồng thời người tánh nhũn nhặn không cao ngạo và là một người có trí ở trong sự đàm luận bằng trí tuệ. Như thường lệ các vị tu sĩ ngoại đạo thấy Đức Phật từ xa đến họ nói với nhau nên giữ sự yên lặng thanh tịnh, họ nói 

- "Samôn Cồ Đàm không tán thán sự tranh luận chỉ tán thán sự thanh tịnh thôi". 

Ở đây có hai nghĩa:

1. Một là họ có sự tôn trọng Đức Phật, thời đó Đức Phật là bậc Đạo Sư lớn và cũng có sự tôn trọng phần nào.

2.  Điều thứ hai là họ không muốn Đức Phật đánh giá thấp họ do đó khi thấy Đức Phật đến họ nhắc nhở nhau nói nhỏ lại. 

Khi đến Đức Phật Ngài hỏi các vị đang bàn cái gì thì thật sự trước khi Đức Phật đến những đề tài họ bàn là phù phiếm, là phiếm luận. Du sĩ Potthapàda thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn xin Đức Thế Tôn đừng để ý đến những gì họ đang bàn và xin Ngài hoan hỉ trả lời cho một câu hỏi. "

Câu hỏi là:

-  "Tăng thượng tưởng diệt như thế nào, sanh như thế nào, nó có nhân có duyên hay là tự nó? 

Trong câu hỏi vị này dùng chữ  abhisaññā trong bài kinh dịch là tăng thượng tưởng, chữ abhisaññā này người Balamôn giáo dùng giống như chúng tôi dùng chữ chân tâm để đối với vọng thức, chân tâm là một thực thể thật sự con người còn vọng thức là những tạp tưởng ở bên ngoài.

Ở đây, chữ saññā  theo trong Phật học có nhiều ý nghĩa. Saññā ở đây không nên hiểu đơn thuần là nhớ là tưởng, mà saññā là sự nhận thức hiện tại do kinh nghiệm của quá khứ. Ví dụ như qúi vị đang ngồi ở trước máy theo dõi Chư Tăng giảng Phật Pháp trong paltalk, những giòng chữ qúi vị đọc được trên màn hình và những ý tưởng qúi vị đang nghe Chư Tăng giảng tất cả điều đó không đơn thuần là chỉ nghe và chỉ suy nghĩ mà nó dựa trên kinh nghiệm quá khứ, không có kinh nghiệm quá khứ chúng ta không nhận được mặt chữ a, b, c, không nhận dạng ráp lại thành từng chữ do các mẫu tự và cũng không có nhận diện chữ ở trong câu và một người hoàn toàn không biết gì thì họ hoàn toàn không đọc được. Dĩ nhiên, dòng chữ mình đọc được là mình nhận biết được, cái biết đó là do mình đã từng trải từng biết. HT Nhất Hạnh khi còn nghiên cứu về duy thức có viết một cuốn sách lấy bút hiệu Thạc Đức trước năm 1975, "vấn đề nhận thức qua duy thức học"  HT dùng chữ nhận thức để nói về chữ saññā là tưởng hay tưởng tri. 

Hồi nhỏ chúng ta đi học làm luận văn thường dùng chữ tri giác là biết, là cảm được, là nhận thức được là do kinh nghiệm từng trải.

Trong bài kinh, du sĩ ngoại đạo Potthapàda nêu lên vấn đề là abhisaññā là thượng tưởng nghĩa giống như chân ngã hay chân tâm, đối ngược lại với vọng thức. 

Câu hỏi của các vị này hỏi về sự sanh diệt. Một số các tu sĩ ngoại đạo nói: "Không nhân, không duyên, các tưởng của con người sanh và diệt. Khi tưởng sanh con người có tưởng, khi tưởng diệt con người không có tưởng, đó là một quan niệm.

Tưởng là tự ngã con người, tưởng có đến và đi, khi tưởng đến con người có tưởng, khi tưởng đi con người không có tưởng.  Như câu chuyện "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" tức là có linh hồn đi từ thân xác này sang thân xác khác, linh hồn nhập vào thân xác này thì con người có tưởng, khi không còn thân xác này nữa thì không có tưởng. Một số vị quan niệm rằng tưởng là một thực chất là một thực thể mà các vị Samôn Bàlamôn có năng lực có thể kéo tưởng đó ra khỏi xác con người, có khi tưởng nhập vào người này nhập vào người kia. Đó là một giải thích.

Đức Phật Ngài không trả lời từng câu, Đức Phật Ngài dạy nếu  những vị nào nói tưởng không do nhân không do duyên thì đã sai từ ban đầu. Chính do nhân do duyên thì tưởng sanh diệt và Đức Phật Ngài lời nói có những trường hợp do sự tu tập làm đoạn tận một số tưởng và có một số trường hợp tu tập làm cho tưởng sanh. 

Chúng ta tạm ngưng phần chánh kinh ở đây để nói về nhận thức của chúng ta về thế giới này.

Chúng tôi và ĐĐ Nguyên Thông đang sống trong ngôi chùa và trong cùng một thành phố, nếu có ai hỏi, dường như chúng tôi và ĐĐ Nguyên Thông đều nói khác về biết chùa Pháp Luân, biết thành phố Houston. Tại vì mình đang sống ở chùa đang sống trong thành phố nhưng kỳ thật sự cảm nhận (nhận thức) của ĐĐ Nguyên Thông về chùa Pháp Luân về thành phố Houston rất khác với chúng tôi. Vì tùy thuộc vào quá khứ của mỗi người. 

Chúng tôi sống ở đây mấy mươi năm và trải qua rất nhiều sinh hoạt, bởi vậy chúng tôi nghĩ về thành phố Houston có khác, ĐĐ Nguyên Thông là người mới đến thành phố sau nên nhận xét về thành phố Houston có khác. Ở  trong ngôi chùa cũng là chánh điện, cũng hội trường, cũng tăng xá, cũng Phật cảnh đó nhưng chúng tôi nằm trong cương vị Trụ Trì thì nhìn chùa có khác, ĐĐ Nguyên Thông nhìn chùa có khác. 

Tại vì sao? Tại vì bất cứ cái gì  mình nhận thức có nên lệ thuộc vào cảnh đó hay không mà nó còn lệ thuộc vào quá khứ, nó tùy thuộc vào cảnh, nó tùy thuộc sự hoạt động của mình. Cũng như cũng nhìn trái táo nhưng lúc mình đói bụng mình nhìn nó khác và lúc mình no mình nhìn nó khác, cũng là nhìn một tượng Phật thôi nhưng sự cảm nhận của chúng ta trong lòng hoàn toàn khác tại vì dựa trên quá khứ và trình độ của mình. Ví dụ như ĐĐ Nguyên Thông rất thích bông hoa cây cảnh trồng cây trong vườn thì cảm nhận về bông hoa cây cảnh khác với một người nào đó không thích cây cảnh. 

Vì vậy, chúng ta cùng sống trong một thế giới nhưng nhận thức lại rất khác, sự khác biệt đó là do những điều kiện như khi đói mình nhìn trái táo nó khác với khi no, tại vì không phải chỉ có trái táo mà nó còn có cái no cái đói trong lòng mình. Mình nhìn cái chuông cái mõ nếu mình giỏi về nghi thức thì có cái nhìn khác với người không giỏi về nghi thức. Người ta hay tưởng cái này cái kia ngay cả Thượng Đế nhưng một điều rằng God hay Thượng Đế mặc dầu nói có một chữ nhưng sự nhận thức của mỗi người mỗi khác, tùy vào quá khứ tùy vào trình độ và xuất thân của mình là ai thì nhận thức đều có khác. Vì vậy cả thế giới này ngay cả trong paltalk này cùng paltalk và cùng mở ra cùng nghe như vậy nhưng không phải mọi người nghe giống nhau cảm nhận giống nhau, thì điều đó nó lại còn do nhiều nhân nhiều duyên.

- Điểm đầu tiên Đức Phật dạy: "Ai nói nhận thức không do nhân không do duyên thì tự nó là sai". Bởi vì rõ ràng tất cả những gì chúng ta nhận thức đều do nhân do duyên, không thể có chuyện gì không do nhân không do duyên. Đó là điểm đầu tiên Đức Phật Ngài trả lời.

Tiếp theo Đức Phật Ngài dạy có "một điểm nhiều người thường nghĩ là sự nhận thức hay linh hồn là cái gì không thể thay đổi được" về điểm này căn bản rất sai.

 Mặc dù người ta nói là "giang sơn dể đổi bản tính khó rời" nhưng nếu sự nhận thức không thay đổi được, giòng tâm thức không thay đổi được thì sự tu tập không có giá trị. Chính vì có thể thay đổi được nên sự tu tập có giá trị. Chúng tôi lấy một ví dụ là có một thời nào đó khi chưa tu tập mình nghe người ta khen hay chê tâm của mình phản ứng rất mạnh, nhưng không có nghĩa là trạng thái tâm đó phải là như vậy và nó vĩnh viễn là như vậy, nếu chúng ta khéo tu một thời gian và chúng ta khéo suy nghĩ khéo quán tưởng một thời gian thì mình ít bị chi phối bởi cái khen chê. Sự nhận thức, sự nhìn của chúng ta với bao nhiêu sự việc trong đời sống cũng vậy. Hay hồi còn nhỏ mình có tánh rất hiếu thắng muốn cái gì phải muốn cho được, phải ăn thua đủ, nhưng lớn lên do sự tu tập mình đầm lắng đi và khi mình đầm lắng đi mình nhìn thấy sự hơn thua không còn quan trọng nữa. Thì hồi nãy, mấu chốt của điểm hồi nãy mình vừa trình bày đó là nhận thức có nhân có duyên chứ không phải là không nhân không duyên. Đó là điểm đầu tiên chúng ta phải biết.

- Điểm thứ hai, trong bài kinh này Đức Phật có nhắc lại một đoạn rất dài nhưng bài kinh đã lượt bớt đó là đoạn nói về Samôn quả và con đường tu tập giới định tuệ ở trong đó có giới học tăng thượng, định học tăng thượng, tuệ học tăng thượng, tâm giải thoát tăng thượng, và tuệ giải thoát tăng thượng.  Đức Phật Ngài dạy đó là một tuyến trình tu tập, ở trong tuyến trình tu tập đó  làm cho nhận thức của chúng ta thay đổi chứ không phải không thay đổi.

Người ta nói "cái nết đánh chết cũng không chừa" đó là câu nói về người nào đó tánh nết hoàn toàn không thay đổi được, đúng là mình rất khó thay đổi tánh nết, rất khó thay đổi tâm tính người khác. Nhưng nếu một người muốn thay đổi tâm tính của mình chịu khó tu tập thì vẫn có thể thay đổi, điều đó chứng minh rõ ràng. Mình có đi vào chùa tu thì mới thấy rằng năm dài tháng rộng làm cho mình có những thay đổi. Như vậy, một người có trí thì hiểu chính sự tu tập, đặc biệt sự tu tập về giới định tuệ sẽ thay đổi nhận thức của chúng ta, điều đó có.

Ở đây, du sĩ ngoại đạo Potthapàda hỏi thêm:

-  "trong thế giới của nhận thức chỉ có một đỉnh điểm hay nhiều đỉnh điểm?"  

Đức Phật Ngài dạy:

- "Như Lai không nói là một, Như Lai không nói nhiều đỉnh điểm, có cả hai trường hợp".

Lý do rất đơn giản, chúng ta nói nhiều phương diện, một phương diện tuyệt đối, ví dụ như những vị tu tập về thiền không vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu, phi tưởng phi phi tưởng cũng là một đỉnh điểm, nhưng ngay cả trong đời sống hàng ngày của chúng ta thì mỗi một nhận thức, mỗi một cảm xúc, mỗi một phương diện luôn luôn có đỉnh điểm và từ đỉnh điểm đó đôi khi đối với mình  không quan trọng nữa.

Ngài Trungpa Rinpoche là một nhà Sư Tây Tạng nổi tiếng thời còn rất trẻ rất giỏi về biện luận, viết nhiều sách về Phật Học bằng tiếng Anh, ông nói một thí dụ là khi ông còn ở Tây Tạng thì cái gì thuộc về Phật Giáo Tây Tạng thì cao điểm hết, rồi sau đó đi qua Ấn Đột sống trong bối cảnh của Ấn Độ vị này lại hướng đến nhiều cái mà vị này nghĩ là cao siêu nhất, nhưng rồi qua bên Anh thì lại có những cao điểm khác, rồi qua bên Mỹ lại có những cao điểm khác. Thì điều đó cho chúng ta thấy rằng ở trong thế giới nhận thức của con người có những thứ ở một lúc nào đó chúng ta thấy nó rất quan trọng rồi tự nhiên nó lại nguội tắc đi, mình phải biết chuyện đó, có nhiều vị thích làm vườn đi đâu làm gì cũng tập trung tâm ý làm vườn, rồi thời gian chán lại đi chùa, rồi có thời gian thích ngồi thiền, có thời gian thích đi du lịch, có nhiều đỉnh điểm khác nhau. 

Đức Phật Ngài dạy Ngài không nói là có một hay có nhiều, có nhiều người chỉ có một thôi, có người lại có nhiều, thì như vậy chúng ta trước khi có một  kết luận là nhận thức có sanh có diệt hay không, linh hồn có trường cửu hay không, nhận thức có sanh có diệt hay không, nhận thức có nhân có duyên hay không, thì chúng ta nên chịu khó thành thực nhận ra, chúng ta dùng cái gì đó rất bình thường ở trong đời sống để mình thấy một điều là nếu sự cảm nhận không do nhân do duyên thì cảm nhận của tất cả chúng ta đều phải giống nhau hết, nhưng bởi vì tất cả sự nhận thức của chúng ta lúc còn sống tùy thuộc vào quá khứ, tùy thuộc vào trình độ giáo dục, tùy thuộc vào sức khỏe của chúng ta v.v... thì những điều kiện đó nó lại do nhân do duyên. 

Và một điểm khác chúng ta biết là nhiều người họ cũng nói "giang sơn dễ đổi bản tính khó rời" nhưng kỳ thật ở trong Đạo Phật niềm tin của chúng ta cơ sở về tu tập đó là tâm có thể chuyển hóa được, tức là nhận thức có thể chuyển hóa được. Có một lúc nào đó danh lợi đối với chúng ta là cái gì tuyệt đối quan trọng nhưng có lúc nó không ra gì hết, nó không là gì hết có thể là "Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao", có lúc nặng như thái sơn có lúc nhẹ như lông hồng. 

Thì như vậy sự nhận thức của chúng ta có nhiều đỉnh điểm khác nhau, nó không phải là một đỉnh điểm.

Và đặc biệt chúng ta nên nhớ người ngoại đạo có nói đến linh hồn, nhưng nếu nói đến linh hồn là cái gì thường hằng bất biến không thay đổi không do nhân duyên sanh diệt thì như vậy sự tu tập không có giá trị, tại vì linh hồn nó vốn bất biến nó không thể thay đổi được thì mình tu tập để làm cái gì. 

Đạo Phật dạy rằng tâm thức, đời sống chúng ta có tâm thức, tâm thức là một diễn trình có sanh có diệt tiếp nối lẫn nhau và tiến trình sanh diệt tâm thức đó có thay đổi do sự tu tập. 

Con người có thể có lúc rất ác nhưng do sự cải hóa của Phật Pháp có thể thay đổi được. Và con người có thể thiện nhưng vì lý do gì đó có thể trở lên ác, do vậy mình nên cố gắng tinh tấn. 

Trong kinh dạy "khi khởi lên niệm ác mình nên cố gắng tránh liền tại vì ác niệm sẽ lan nhanh. Nhưng khi mình khởi lên niệm thiện cố gắng gìn giữ tại vì niệm thiện dễ bị mai một". 

Điều đó cho chúng ta trong nỗ lực tu tập có ảnh hưởng thật sự đến giòng tâm thức của mình, nếu bây giờ tu tập mình lý luận linh hồn không có điều kiện, không có nhân, không có duyên, và linh hồn đó không thay đổi, mình làm gì không thay đổi, thì thật ra tất cả chuyện tu tập của chúng ta đều vô nghĩa tại mình tu cũng vậy và không tu cũng vậy thôi. 

Đó là tại sao Đức Phật Ngài bỏ rất nhiều thì giờ để nói về con đường giới định tuệ, tâm giải thoát, tuệ giải thoát ở đây, tại vì qua đó Đức Phật Ngài cho thấy một người tu giới thì từ giới họ có thể qua định, từ định qua tuệ, từng bước một mình thấy rõ có thể thay đổi được.

Bài kinh Potthapàda là bài kinh đặc biệt thú vị nói về linh hồn và bản ngã. Bài kinh chia làm bốn phần, hôm nay trình bày phần một, nếu người Phật tử hiểu rõ bốn phần trong bài kinh này thì hiểu tại sao Ngài Narada Maha There viết trong quyển Đức Phật và Phật Pháp là Phật giáo không dạy có linh hồn thường hằng bất biến và Phật Giáo không giảng một bản ngã, chúng ta có thể hiễu rõ hơn là chúng ta chỉ nói phủ nhận đơn thuần ./.

(Còn tiếp phần II, III, IV)