Monday, May 25, 2020

Kinh Bất Đoạn - TT Giác Đẳng giảng

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya

111. Kinh Bất Ðoạn  (Anupada Sutta)


Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma  ngày 27 tháng 4, năm 2020
Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Đa số các bài kinh, chúng ta được nghe về lý pháp, sau đó liên hệ đến một nhân vật nào đó. Riêng về bài kinh hôm nay, ngược lại chúng ta được nghe về một nhân vật và, qua đó chúng ta hiểu về lý pháp. Tôn giả Sàriputta, một vị đệ tử được biết đến tối ưu về trí tuệ ở trong số các hàng đệ tử Phật.

 Ngay khi tôn giả Xá Lợi Phất và tôn giả Mục Kiền Liên đến với giáo Pháp Đức Phật, Đức Phật đã cho Chư Tăng biết đó sẽ là hai vị thượng thủ thinh văn. Tôn giả đến với Đức Thế Tôn nếu tính thời gian theo lịch của chúng ta vào tháng Giêng nhưng, theo lịch của Ấn Độ bắt đầu năm mới vào tháng Vesak, chứ không phải tháng Giêng như chúng ta. Tháng Vesak vào tháng 4, âm lịch tôn giả Xá Lợi Phất và tôn giả Mục Kiền Liên cũng như Ngài Ca Diếp trở thành đệ tử của Đức Thế Tôn chỉ một thời gian ngắn sau khi Đức Thế Tôn thành đạo, từ đó trở đi tôn giả Xá Lợi Phất và tôn giả Mục Kiền Liên trở thành vị giáo thọ trong tăng chúng. Ngoài trọng trách Đức Phật giao phó hướng dẫn tăng chúng, tôn giả Xá Lợi Phất cũng là một vị thầy hướng dẫn  nhiều người mới xuất gia kể cả những sadi nhỏ tuổi, đặc biệt giao phó như tôn giả La Hầu La.

Công việc của tôn giả Xá Lợi Phất là khai tâm hay hướng dẫn về pháp học, Ngài Mục Kiền Liên hướng dẫn về pháp hành về thiền định. 

Công việc của tôn giả Xá Lợi Phất hướng dẫn Chư Tăng trình tự thứ lớp từ ngày này qua ngày khác khi sống trong chùa, dạy có trường lớp có giáo trình. 

Đức Phật Ngài chỉ giảng dạy có tánh cách giáo trình khi Ngài lên khung trời Đao Lợi thuyết pháp vào hạ thứ 7, với thần lực của Ngài, trong thời gian dài 3 tháng Đức Thế Tôn có một bài pháp dài nhất, Ngài giảng dạy có lớp lang, còn ngoài ra đa phần Đức Phật Ngài giảng do kế cơ ứng hợp với trường hợp, hoàn cảnh, căn tánh của chúng sanh, chúng ta thấy rất nhiều pháp thoại của Đức Phật giảng trong kinh điển, cũng có vài bài pháp rất dài như Kinh Phạm võng (Brahmajàla Sutta), kinh Sa Môn Quả (Sàmannaphala Sutta). 

Nhưng đa phần, các bài pháp có giáo trình sắp xếp thường tôn giả Xá Lợi Phất giảng dạy. Chúng ta đã từng đọc bài kinh Tệ Túc hay kinh Thập Thượng, những bài kinh này cho chúng ta thấy Ngài đã hướng dẫn Chư Tăng bằng một giáo trình từ đầu chí cuối. 

Trong kinh ghi nhiều tác phẩm quan trọng như tác phẩm Abhidhamma -Tạng Diệu Pháp, phần lớn hầu hết Tạng Diệu Pháp là do tôn giả Xá Lợi Phất giảng dạy. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên với một người đọc kinh điển và có thì giờ học các tạng khác nhau của Tam Tạng kinh điển, kinh, luật, Atỳđàm v.v... 

Rất là khó để chúng ta hình dung khi Đức Phật còn tại thế, có một vị Tỳ Kheo học pháp từ Đức Phật lại có thể giảng giải chánh pháp bằng một cách rất độc đáo của mình như tôn giả Xá Lợi Phất, vị đó phải là, một vị có thẩm quyền, phải có sự tin cậy của Đức Phật và, phải có trình độ sư phạm rất cao, nhà giáo đúng nghĩa một nhà giáo.

Trong bài kinh này, Đức Phật Ngài tán thán tôn giả Xá Lợi Phất, người có trí tuệ rộng lớn, trí tuệ riêng rẽ, trí tuệ thù thắng, trí tuệ một cách phấn khích, trí tuệ một cách thiện xảo. Nhưng, lời tán thán đó không đơn thuần là lời tán thán, thí dụ, chúng ta nói một người nào đó giỏi, người đó hay, nhiều khi chúng ta dừng lại ở đó. Trong cái giỏi, cái hay, cái đẹp, hoặc giả, vì chúng ta nghèo nàn, hoặc giả không chỉ nghèo nàn ngôn ngữ, đôi khi chúng ta nghèo nàn ý tưởng, mình nói họ đẹp nhưng mình không nói được tại sao họ đẹp, mình nói người đó giỏi nhưng mình không nói được tại sao họ giỏi, mình nói người đó hay nhưng mình không biết tại sao người đó hay. Ở trong trường hợp này, Đức Phật Ngài nói lên lời tán thán với bậc đệ nhất thượng thủ Thinh Văn, Ngài đã có những mô tả và, những mô tả này trở thành một bài học lớn đối với chúng ta về, Thiền Chỉ và Thiền Quán.

Những ai tu Tứ Niệm Xứ, trong giai đoạn đầu chúng ta thường lấn cấn giữa hai trạng thái định và niệm. 

Định là sự tập trung.
Niệm là sự ghi nhận, sự quán chiếu.

 Nhưng, niệm lại là cơ sở của trí nhớ, niệm là cơ sở của tuệ quán. 

Thí dụ, chúng ta có thể quán về vô thường. Sự quán về vô thường chúng ta dựa trên sự suy diễn hoàn toàn. Sự suy diễn là, hoa nở sẽ tàn, trước đây 3 tháng không có đại dịch, bây giờ có đại dịch, đó là vô thường. Điều đó là sự quán chiếu về vô thường, nhưng nó thuần về phương diện suy tưởng, nó không có năng lực của định. 

Năng lực của định là một sự gắng chặt, sự kiên định, tạo ra năng lực. Chúng ta gọi là, năng lực của Samadhi, năng lực tam muội. 

Chúng tôi thường lấy ví dụ, một người nói chuyện hay phải có hai khả năng; một là ý tưởng, hai là khả năng xử dụng ngôn ngữ. Có những người có ý tưởng rất đẹp nhưng, khả năng ngôn ngữ của họ có vấn đề. 

Khi chúng ta nói về ngữ pháp, nói về mỹ từ pháp, nói về từ vựng, vốn liếng từ vựng và sự hiểu biết về văn phạm càng nhiều càng chính xác lời nói có lực của lời nói, lực của một người biết về  từ ngữ, biết về ngữ pháp. 

Tương tự, chúng ta ví dụ định và ý tưởng mình muốn phô diễn, như nói về chuyện văn chương, chuyện triết lý, điều đó giống như là quán. Và hai điều này kết hợp một cách nhuần nhuyễn tạo thành một câu nói, một bài nói, một án văn rất đẹp, rất hay.

Thử tưởng tượng, một người nói những điều cao siêu rất hay nhưng, ngôn ngữ họ không có nhiều, họ nói chuyện có quá nhiều trùng lập, lập tới lập lui, tại vì họ không có nhiều danh từ, nhiều khi không nhất thiết phải trùng lập, nhưng tại vì không có đủ ngôn ngữ thành ra họ chỉ nói chữ đó nói tới nói lui. 

Thí dụ, những người mới học tiếng Anh, họ chỉ biết hai chữ là, good hay bad (tốt hay xấu), họ nói cái gì cũng chỉ có chữ good hay bad, (cái gì cũng tốt và xấu hết). Nhưng, đôi khi ở trong ý tưởng họ không phải lúc nào cũng chỉ có tốt và xấu, có khi nói chuyện đó bad (xấu) nhưng xấu thậm tệ thì phải dùng chữ horrible (kinh khủng), hoặc có khi dùng chữ terrible (khủng khiếp), nhưng họ chỉ biết một chữ là bad. Còn về good là tốt cũng vậy, có nhiều chữ để chỉ cho chữ tốt. 

Thí dụ là như vậy, mình phải có nhiều từ vựng khác nhau, khi mình nói có ý tưởng nhưng nghèo dụng ngữ.

Chúng ta có một cái ví dụ khác về niệm và định, một người ra làm ăn buôn bán có nhiều sáng kiến, có nhiều mặt hàng, khách đến cửa hàng rất thích thú để mua nhưng, vốn họ không có nhiều, vốn họ cạn thành ra sự xoay sở của họ hạn hẹp. Một người ra làm ăn buôn bán có nguồn vốn dồi dào thì, ngoài  khả năng điều hành quản trị, ngoài khả năng để làm cho có nhiều mặt hàng phong phú, có nhiều dịch vụ, họ còn có một thứ đó là nguồn vốn của họ nhiều và, nhờ nguồn vốn đó việc buôn bán của họ ổn định, đặc biệt thu hút khách. Như vậy, vốn chúng ta  gọi là Định (samadhi) và, những sáng kiến chúng ta gọi là Vipassana (Thiền Quán). Chúng tôi tạm thí dụ như vậy hi vọng quí vị hiểu.

Cũng giống như trong âm nhạc, một bản nhạc hay chúng ta nói đến lời của bản nhạc, tiết tấu của bản nhạc. Nhưng, bên cạnh lời của bản nhạc còn có hòa âm phối khí nữa, có nhiều khi bản nhạc rất hay nhưng hoà âm dở  không thành bản nhạc hay.

Vì vậy ở đây, samadha với vipassana, định và niệm là hai cái lực;

-  Một bên là samadha dẫn đến tâm giải thoát. 

- Một bên là vipassana dẫn đến tuệ giải thoát.

Thật ra, năng lực chính của tâm giải thoát là định lực nhưng, định lực đó ban đầu đi với tầm, tứ, hỉ, lạc, xả. Từ từ nhuần nhuyễn hơn chỉ có tứ, hỉ, lạc, không có tầm. Nhuần nhuyễn hơn nữa không có tầm, tứ, chỉ có lạc và định và sau cùng thì không có lạc, chỉ có xả và định.

 Samadha tạo cho người ta có một tâm lực, một vốn liếng, vốn liếng đó đủ mạnh đủ chắc. Như chúng tôi đã thí dụ, một người có nhiều ý tưởng là một lẽ nhưng, dụng ngữ nghèo nàn đôi khi họ phô diễn ý tưởng của họ một cách rất nghèo nàn, mặc dầu, họ có nhiều ý tưởng hay vì họ không có đủ ngôn ngữ, như mình học một sinh ngữ mới không có nhiều dụng ngữ đôi khi mình nói lập đi lập lại. 

Ở đây, ưu tiên của Phật Pháp là thiền quán, chúng ta nói thẳng như vậy, đó là tuệ giải thoát. Tuệ giải thoát ở đây là, mình thấy rõ được thực tính của vạn pháp. Nhưng, điều đó không có nghĩa là, khi chúng ta đề cập đến tuệ giải thoát, chúng ta coi thường tâm giải thoát. Bởi vì, chúng ta biết những trở ngại trong cuộc sống của chúng ta, trở ngại đời sống nội tâm, có năm ngăn ngại là, tham dục, sân độc, hôn thụy, trạo hối, phóng dật. Những trạng thái đó chỉ thật sự được áp đảo, được sua tan do sự thực hành thiền chỉ, thực hành liên tục, thực hành bền bỉ, có định lực, có tầm, tứ, hỉ, lạc, định, mới xua được những trở ngại của đời sống nội tâm.

 Đôi khi, một số người không nghiên cứu về chuyện này nói rằng, thiền chứng là chuyện không cần thiết, nó chỉ là một cái gì gọi là optional (không bắt buộc) mình có cũng được, có thì tốt, không có cũng không sao.

Đồng ý, Đức Phật không nói là ai tu tập thiền đều đắc chứng các tầng thiền nhưng, ở đây chúng ta phải nói samadha là, làm cái gì thì phải tập trung. Ví dụ, nói mình quán vô thường mà mình chỉ quán trên sách vở, nhìn một vườn hoa, hoặc giả, đọc tin tức rồi mình nói cuộc sống là, vô thường, khổ, vô ngã.

Ý tưởng đó chỉ chợt đến chợt đi, nhiều lúc những ý tưởng đó thay đổi đời sống của mình nhưng, đôi lúc không đủ mạnh như  chúng ta có giờ ngồi thiền, trong lúc chúng ta ngồi thiền, chúng ta xử dụng một đề mục cột tâm là hơi thở, khi đi để ý đến bước chân. Tập trung như vậy định và niệm được sanh khởi đầy đủ xung mãn. 

Từ định và niệm thí dụ như là; 

Ban đầu, vị hành giả chỉ làm sao để thuần thục thoải mái với, hơi thở ra, hơi thở vô. 

Đi tới một giai đoạn xa hơn là, vị đó có thể biết được hơi thở ra dài , hơi thở vô dài, hơi thở ra ngắn, hơi thở vô ngắn.

Đi xa hơn nữa, vị đó thở một cách không bị xáo trộn, không bị áp lực, thở một cách tự nhiên, gọi là an tịnh thân hành.

Đi xa hơn chút nữa, vị đó thở và có cảm giác trọn hơi thở, cảm giác toàn thân tôi thở vô, cảm giác toàn thân tôi thở ra. 

Cho đến khi quán vô thường vị ấy thở vô, quán vô thường vị ấy thở ra. 

Thì, quán vô thường vị ấy thở vô, quán vô thường vị ấy thở ra là, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chỉ và quán. 

Quán thấy sự vô thường nhưng, vô thường phải đi với hơi thở, điều này rất  khó để diễn tả cho một người mới tu tập.

Giống như, một người tập yoga phải có những động tác đi với hơi thở, gập người xuống ngẩn người lên, cong người bên phải, cong người bên trái, những thao tác này luôn luôn đi với hơi thở. Nếu những thao tác của yoga không đi với hơi thở thì giảm đi hiệu lực rất nhiều. Các thao tác đó, chúng ta tạm gọi là quán và, hơi thở gọi là chỉ. 

Hay là, người ta có thể hát rất hay nhưng khi hát trật nhịp, một người hát vừa có luyến láy của âm thanh nhưng đồng thời hát đúng nhịp, đúng theo tiếng đàn thì đó, là sự kết hợp nhuần nhuyễn, ở đây chúng ta nói sự kết hợp chỉ và quán.

Bây giờ, chúng ta bước sang một phương diện khác, con người chúng ta thường ít khi làm việc gì,  nắm rõ, biết rõ, cái gì mình đang làm. Nắm rõ biết rõ cái gì mình đang an trú, ở trong trạng thái nào, thông thường chúng ta phải hỏi người khác, người đó phải giải thích mình như vậy là như vậy. 

Ví dụ, trường hợp một người nhiễm bịnh Covid-19, có người nhiễm Covid-19 bị ho, bị nóng, họ không biết là họ đang ở trong trạng thái nào, ở trong tình trạng nào, họ phải gọi bác sĩ. Nhưng, nếu đã là một vị bác sĩ, đặc biệt là vị bác sĩ chữa bịnh Covid-19, khi nghe người bịnh tả trong người bị sốt như vậy, bị ho khan như vậy, bị mất vị giác khứu giác, người bịnh nói đang ở trong giai đoạn nào, đang bị cái gì thì, bác sĩ có thể biết. 

Tức là, có những người ở trong trạng thái đó nhưng họ không biết mình ở trong trạng thái đó. Mình ở trạng thái nào biết trạng thái đó là một chuyện hết sức khó khăn. Kể cả trường hợp, trong đời sống chúng ta nói một cách tầm thường là, tâm mình xấu, tâm mình ác, tâm mình sân hận, tâm mình ganh tị, tâm mình bỏn xẻn, ngay lúc đó, mình biết mình đang ở tâm bỏn xẻn, tâm ganh tị, là chuyện khó. Nếu mình đang bỏn xẻn mà mình biết mình bỏn xẻn thì người mình sẽ khác đi. 

Khi mình tu thiền cũng vậy. Người hành giả khi tu thiền tâm có định biết tâm có định, tâm không định biết tâm không định, tâm tầm thường biết tâm tầm thường, tâm lao chao biết tâm lao chao, tâm cao thượng biết tâm cao thượng. Điều đó không phải dễ, một người không có trí tuệ nhiều thường thường cảm thấy lúng túng, cảm thấy mất phương hướng khi ngồi xuống ngồi thiền, bởi vì, họ nói rằng họ không tập trung được hơi thở.

 Nhưng, một người có trí tuệ, được hướng dẫn đầy đủ, hôm nào tinh tấn vị đó ý thức rõ hôm nay tinh tấn, hôm nào lười biếng vị đó ý thức rõ mình lười biếng, hôm nào tâm loạn động biết rõ tâm loạn động và, mình đi theo tâm loạn động đó nhìn vào mặt mũi sự loạn động đó, hôm nào tâm phóng dật suy nghĩ mình cũng dùng đó làm đối tượng để quán chiếu. Có nghĩa là, một người có khả năng nhìn lại mặt mũi của mình, giống như người ta nói, hãy đưa bàn tay lên nhìn vào bàn tay của mình thì rất khó, chúng ta có thể nhìn chuyện này nhìn chuyện kia nhưng nhìn trở lại chính mình rất khó.

Tôn giả Xá Lợi Phất, đặc biệt Ngài có khả năng nhìn và, nhìn một cách rất xâu sắc trên phương diện Xúc, Thọ, Tưởng, Tư, Định, Mạng, Căn, Ý. Ngài nhìn một cách rất xâu sắc về, Tầm, Tứ, Thắng, Giải, Cần, Hỉ, Dục, những trạng thái tế nhị của tâm, Ngài nhìn rất rõ và, chẳng những Ngài nhìn rõ, Ngài còn có sự quán chiếu trước kia nó không có, bây giờ nó có, hay trong tương lai cũng có, như vậy nó không phải là ta, không phải của ta.

Ngài có thể nhìn thấy được sự vô thường, tánh sanh diệt trước kia không có, bây giờ có sanh rồi nó diệt, tại vì, không có trạng thái nào nằm yên một chỗ, Ngài thấy được cái sanh cái diệt của nó, Ngài thấy được tự tánh của nó, 

Chẳng những như vậy, Ngài còn có một trí tuệ biết đây không phải là điểm dừng, còn phải đi tới. Điều đó quan trọng, chúng ta thường khi hễ nhập một trạng thái gì đó đẹp quá, mình dừng lại tại đó.

Trường hợp này giống như, một người rời VN đi qua Mỹ làm việc, đôi khi tìm được điều kiện làm ăn khá. Chúng tôi có quen với một Phật tử, bà dẫn 4 người con từ VN qua Mỹ theo phương diện bảo lãnh, cả bốn người con đều đi làm nail, lúc đó nghề nail ở bên Mỹ rất thịnh làm rất nhiều tiền, làm một thời gian 3 người con quyết định dùng tiền đó để tự mở tiệm nail, người còn lại dùng tiền dành dụm được để đi học lại, sau này ra trường trở thành một vị bác sĩ chuyên ngành gây mê. Một người đang đi làm nail có tiền, không nghĩ mình nên tiếp tục làm ra tiền ở trong ngành đó, cô dùng tiền đó để đi học có lợi cho mình về lâu về dài. Chuyện đó là chuyện khó, tại vì mình làm ra tiền nhiều quá, chưa chắc đi làm bác sĩ gây mê được nhiều tiền như vậy, nhưng đi học lại có lợi những thứ khác. Thành ra, con người chúng ta nói thì dễ chứ để mình không bị kẹt vào cái mình đang có rất khó.

Trong dụng ngữ Phật học của người Trung Hoa, có chữ "vô sở trụ", nghĩa là tâm không kẹt vào điểm này, hay điểm kia bởi vì, khi kẹt như vậy rất khó khăn để chúng ta vượt ra khỏi điều đó. Khi nói "vô sở trụ" nghĩa là có nhấc lên được có đặt xuống được, có nắm được có buông được, có đến được có đi được, nó không dễ, chúng ta thường rất dễ tự thỏa mãn với những gì mang tánh cách giai đoạn, khiến chúng ta không thể đi tới, không thể đi xa hơn.

 Ngay cả khi mình vô chùa tu, được nhiều Phật tử quí, hay mình có thể xây dựng một ngôi chùa, hoặc đi thuyết pháp vài nơi, mình nghĩ  như vậy đủ rồi. Thật sự, mình không thể nghĩ như vậy đủ mà mình phải tiếp tục lên đường. Chuyện tiếp tục lên đường rất khó.

  Tôn giả Sariputta qua lời Đức Phật Ngài thuật lại, tôn giả có làm được một việc chính bản thân Đức Phật sau khi Ngài rời thành Ca Ti La Vệ, Ngài tìm đến hai vị thầy đầu tiên Uddaka Ramaputta và Alarama Kalama, những vị này có thiền chứng rất cao, một vị đắc thiền vô sở hữu, một vị đắc thiền phi tưởng phi phi tưởng, ngay khi Đức Phật Ngài thành tựu những đắc thiền đó, ngài thấy ở đây không đạt tới chỗ viên mãn giác ngộ, Ngài tiếp tục lên đường. Khả năng để tiếp tục lên đường, khả năng đi tới là một chuyện vô cùng khó khăn.

Hồi nhỏ, chúng tôi có dịp ở gần những vị Thầy như Ngài Tịnh Sự, Sư Trưởng, HT Minh Châu, hay một số các vị sau này, chúng tôi cảm nhận tất cả quí Ngài đều có một cái đức mình có thể học được là, không bao giờ tự mãn về sở học của mình, luôn luôn trong đời sống tu và học cần đi tới và, tìm cách để học hiểu. Có những vị tuổi đã lớn gần mất đi cũng còn cố gắng, điều đó chúng tôi thấy rất rõ ràng.  

Ngày xưa, chúng tôi có đọc một cuốn sách của cụ Nguyễn Hiến Lê "tự học là một nhu cầu của thời đại", trong đó nói rằng "chúng ta sống trong thời đại ngày hôm nay đừng bao giờ nghĩ rằng, trường học, tiểu học, trung học, đại học dạy đủ cho chúng ta, khi chúng ta ra ngoài đời chúng ta luôn luôn phải tiếp tục học ,phải tiếp tục để trao dồi kiến thức của mình, không thể để mình nằm yên một chỗ".

Quả thật như vậy, ngày xưa đại học dạy về computer, những ngôn ngữ của "Basic" của "Global" bây giờ hiếm khi dùng, ngành computer bây giờ phát triển mạnh. Ngay cả những vị bác sĩ, nha sĩ, kỹ sư bên này cũng phải đi tu nghiệp để biết thêm về nghề của họ, không thể nào một ngành nghề mình học cách đây 20 năm nằm yên không phát triển. Vì vậy, bên Mỹ những người mới ra trường đôi khi được trọng dụng vì họ học cái mới cập nhựt bây giờ. 

Căn bản mà nói, trong con đường giáo dục bản thân, ở đây chúng ta không dùng chữ giáo dục bản thân, chúng ta dùng chữ tu tập, sự tu tập đa phần con người rất dễ bằng lòng, rất dễ thỏa mãn với một chừng mực nào đó, trong chừng mực đó người đó không thể đi xa hơn được. 

Nói về chỉ và quán, tôn giả Xá Lợi Phất Ngài đạt đến một tâm thuật cao nhất từ trạng thái, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên thức, phi tưởng phi phi tưởng, diệt thọ tưởng định. Theo trong sớ giải khi Ngài đạt đến tầng thiền phi tưởng phi phi tưởng, lúc đó tôn giả đã chứng quả tâm giải thoát là Ngài đạt đến trạng thái phi tưởng phi phi tưởng. Về tuệ giải thoát, Ngài đạt đến  tam quả A Na Hàm và, bằng sở đắc của vị A Na Hàm về tuệ và về tâm giải thoát là bởi vì về phi tưởng phi phi tưởng Ngài nhập diệt thọ tưởng định, sau diệt thọ tưởng định, Ngài hồi quán, Ngài nhìn lại, Ngài đạt được vô lậu giải thoát.

Một vị từng bước một (chữ Anupada nghĩa là từng bước một) thì từng bước một từ, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, mỗi một bước như vậy đối với tôn giả Xá Lợi Phất Ngài thành tựu chứng đắc rất dễ, chẳng những thành tựu chứng đắc rồi Ngài còn nhìn lại, nhìn thấy rất rõ, mọi khía cạnh của nó, bằng sự hồi quán, bằng sự quán chiếu nhìn lại, chẳng những Ngài quán chiếu ngài nhìn lại tất cả những khía cạnh như, Tầm, Tứ, Thắng giải, Cần, Hỷ và Dục v.v... Ngài còn ý thức rất rõ cái gì phải đi tới. Đến lúc Ngài thành tựu được quả vị A Na Hàm, và phi tưởng phi phi tưởng thì Ngài nhập vào trạng thái cao nhất của các thiền chứng là diệt thọ tưởng định, từ đó Ngài rời khỏi trạng thái diệt thọ tưởng định, Ngài khai triển tuệ quán trở thành một vị A La Hán. Không có ngôn ngữ nào chúng ta có thể diễn tả đủ về sự cao siêu của Ngài về phương diện này, phải nói đó là một hành trình được Đức Phật Ngài rất khen ngợi.

Cũng trong bài kinh này có câu Đức Phật dạy: "con của Đức Thế Tôn", thỉnh thoảng Đức Phật Ngài cũng dùng câu này để nói những người được trưởng thành từ giáo pháp. Khi nói "con của Đức Thế Tôn" là người thật sự  trở thành bậc thánh từ giáo pháp của Đức Thế Tôn.

 Ở đây, Đức Phật còn dạy thêm tôn giả Xá Lợi Phất còn có tư cách để triển đạt Phạm Luân tức là vận chuyển Bánh Xe Chánh Pháp. Nói một cách khác là, tôn giả Xá Lợi Phất hoàn toàn có thẩm quyền, có tư cách để giảng dạy, để quảng diễn về lời dạy của Đức Phật để hoằng hóa. Một lời dạy rất cao tột về sự lợi khen tán thán của bậc Thầy bậc Đạo Sư đối với người đệ tử và, dĩ nhiên trong trường hợp này tôn giả Xá Lợi Phất là đệ nhất về trí tuệ.

Bài kinh này, gọi là kinh bất đoạn, chữ Anupada có nghĩa là tuần tự, một hành trình thứ lớp, hành trình tuần tự từng bước một. Bài kinh đặc biệt đề cập đến một nhân vật tôn giả Xá Lợi Phất, bên cạnh đó, còn đặc biệt nói đến một điểm trọng yếu trong thiền là sự kết hợp của chỉ và quán ./.

Wednesday, April 29, 2020

Năm dục công đức - TT Giác Đẳng giảng

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)
PHÁP NĂM CHI phần 5.3
Iii) Năm dục công đức



Iii) Năm dục công đức: Sắc do nhãn nhận thức. Sắc này khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Tiếng do tai nhận thức … Hương do mũi nhận thức … Vị do lưỡi nhận thức … Xúc do thân cảm xúc là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn (pañca kāmaguṇā. cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasañhitā rajanīyā , sotaviññeyyā saddā... ghānaviññeyyā gandhā... jivhāviññeyyā rasā... kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasañhitā rajanīyā.).

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma  ngày 15 tháng 4, năm 2019
Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Hôm nay chúng ta học đề tài rất quen thuộc, tuy vậy, lại là một đề tài lớn ở trong Phật học và, từ đề tài này chúng ta có thể nhận thức được sự tương quan giữa pháp học và pháp hành.

Ở đây, bài học hôm nay nói về năm pháp, năm pháp này làm tăng trưởng sự ham muốn ở trong đời sống của chúng ta và, dĩ nhiên, những pháp này đề cập một cách cụ thể trực tiếp cái gì thuộc về mắt thấy, trong kinh điển gọi là cảnh sắc, cảnh sắc đó, đẹp, vừa ý, khiến chúng ta thích thú, cái đó chúng ta gọi là sắc đẹp.

Sắc do nhãn nhận thức.

Sắc đẹp, bao gồm một thế giới rộng lớn, ở trong đó có những ngoại hình đẹp của người khác phái như là, nam đối với nữ, nữ đối với nam. Hay hoặc giả, vẻ đẹp của thành phố, vẻ đẹp của quần áo, quần là áo lụa, vẻ đẹp của một bức tranh. 

Thế giới của mắt là một thế giới rộng, ở trong thế giới đó người ta bỏ ra rất nhiều tiền để xây dựng những ngôi nhà đẹp tại những đô thị đẹp và, ngay cả bây giờ người ta đầu tư một số tiền rất lớn để giải phẩu thẩm mỹ làm cho khuôn mặt đẹp, làm cho người đẹp có sự thu hút quyến rũ nhiều hơn. 

Chỉ riêng một thứ thuộc về con mắt của chúng ta khiến cho thế giới này tốn không biết bao nhiêu tiền đó là, thời trang. Quần áo mặc thì có lúc rộng có lúc hẹp, có lúc màu này màu kia, kiểu này kiểu kia, nhưng, tất cả đều chỉ là những phương cách để làm thoả mãn con mắt của chúng ta. Khi nói đến thời trang, không biết bao nhiêu ngôn ngữ có thể nói đủ về yêu cầu của con mắt, nhưng rõ ràng là hễ con mắt, thấy cảnh đẹp, thấy sắc đẹp, chúng ta sanh lòng ham muốn, còn nếu không có, chúng ta đi tầm cầu, nếu cần, chúng ta điều chỉnh.

Tiếng do tai nhận thức.

Điều thứ hai, làm tăng sự ham muốn đó là âm thanh khả ái, khả ý, tiếng hay. Tai của chúng ta có nhu cầu nhất định, chúng ta thích nghe lời nói ngọt ngào dễ đi vào lòng người, chúng ta thích nghe những tiếng dễ nghe, như người ta nói rằng, "chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe". 

Nhưng còn hơn thế nữa, chúng ta có một lãnh vực lớn trong đời sống là âm nhạc. Âm nhạc là một thế giới của nghệ thuật âm thanh tạo nên những tiết tấu, những cung bậc làm cho tai chúng ta cảm thấy thích thú. Dĩ nhiên là, âm nhạc có một vai trò lớn trong xã hội loài người. Chúng ta chi không biết bao nhiêu tiền để có được những bản nhạc hay, dù đó là thể loại nhạc cổ điển hay là nhạc đương đại, dù đó là nhạc Đông hay Tây, dù đó là nhạc Tây Phương hay nhạc Ngũ Âm, chúng ta vẫn luôn luôn đi tìm cái gì đó mới, cái gì đó thêm làm cho thỏa mãn tai của mình.

Hương do mũi nhận thức.

Mùi thơm, còn gọi là khí, chữ khí dùng để chỉ về mùi, gồm cả mùi thơm lẫn mùi thối. Nhưng, chữ hương đặc biệt chỉ cho mùi thơm. Mùi thơm ở đây chúng ta nói về mùi mình thích, ví dụ, mùi của hoa, mùi của dầu thơm, ngay cả mùi nước mắm, mùi sầu riêng đối với nhiều người  thích thì cho là thơm. Chữ hương ở đây được xử dụng để chỉ cho mùi thơm. Cũng giống như cảnh sắc, cảnh thinh, thì hương là mùi khả ái khả ý, cả một thế giới đó chúng ta chi rất nhiều tiền, chúng ta bận tâm rất nhiều.

Có lần chúng tôi đọc thống kê về thị trường nước hoa của Âu Châu, một năm người ta tiêu sài trên 15 tỷ Mỹ kim cho nước hoa. Không có nghi ngờ gì, nước hoa là một kỹ nghệ sản xuất lớn. Nhưng, chúng ta cũng nói rằng ở trong cuộc sống hàng ngày có nhiều thứ mùi thơm khiến chúng ta bận tâm tốn tiền tốn thì giờ tìm kiếm. Các hãng xe hơi như hãng xe Lexus, Mercedes v.v.... người ta nghiên cứu  nên để mùi thơm trong xe, khi người mua mở cửa xe với mùi thơm đó họ cảm thấy muốn mua, đó là ấn tượng đầu tiên cho người muốn mua xe, con người thích như vậy. Và, trong căn nhà bình thường mình nghĩ không có mùi nhưng kỳ thật nó có mùi nhè nhẹ. Người ta nói nếu mình lau nhà với loại mùi nào đó thí dụ như ocean spray, hay mùi cây thông thì cho mình cảm thấy sạch hơn những mùi khác và, do vậy có những hóa chất  họ sản xuất ra những mùi đó. 

Nói chung thì, mùi hương thơm chi phối một lãnh vực lớn trong đời sống của mình.

Vị do lưỡi nhận thức 

Chúng ta nói đến cảnh vị, cảnh vị ở đây là, chua, cay, mặn, ngọt, đó là những vị chính, ví dụ, thức ăn, cũng là thức ăn có những vị nếm vào chúng ta cảm thấy ngon, có những vị chúng ta nếm vào cảm thấy buồn nôn. Chúng ta lớn lên với ẩm thực, với văn hóa ẩm thực của một dân tộc. Dĩ nhiên là, chúng ta có thói quen và thói quen đó đóng khung trong một số phương diện nhất định là, mình thèm món đó, mình phải ăn món đó, mình muốn ăn món đó. Không ai có thể phủ nhận rằng ẩm thực là một lãnh vực lớn của xã hội loài người và, dĩ nhiên trong cuộc sống chúng ta.

 Chúng tôi nhớ có lần ngồi nói chuyện với Ajahn Anando, vị trụ trì của Ireka Harama bên Anh Quốc. Đang ngồi nói chuyện thì có vị Sư người Mỹ hỏi vị này là:

-  "Ajahn đi xuất gia là người dạy dỗ Chư Tăng, vậy Ajahn nghĩ rằng cái gì chi phối đời sống tu mình nhiều?"

 Ngài Ajahn Anando nói rằng:

- "Người ta nói đến nhiều thứ nhưng chúng ta có một thứ nên quan tâm là, đừng bao giờ xem nhẹ những thứ bình thường trong đời sống, có những thứ bình thường trong đời sống chi phối chúng ta rất lớn, thí dụ như, ngủ, ăn. Có những vị ngồi thiền lại buồn ngủ tại vì hôn trầm là căn bịnh lớn, ăn cũng vậy."

Và, Ngài Ajahn Anando kể kinh nghiệm chính bản thân của mình là, có những khi đời sống xuất gia không có cái gì để hưởng, bấy giờ cái ăn là lớn, lúc đó ăn cảm thấy rất ngon miệng, lâu ngày ý thức rằng mình phải chánh niệm về việc ăn uống.

Xúc do thân cảm xúc 

Chúng ta nói đến cảnh xúc. Cảnh xúc ở đây, cái gì đụng chạm qua xúc giác của thân, thí dụ, giường, nệm, ghế, thậm chí, quần áo mình mặc, quần áo mình mặc không chỉ đẹp của thời trang, mẫu mã mà, còn tạo cho chúng ta  xúc giác thoải mái, mình mặc bộ đồ vải lụa mềm cảm thấy thoải mái dễ chịu, mình mặc bộ đồ vải thô cảm thấy cứng, cảm thấy khó chịu, vì vậy tại sao người giàu bỏ nhiều tiền mua tơ lụa. 

Xúc giác còn bao gồm những lãnh vực khác lớn như là lục dục, những nhu cầu quan trọng của cuộc sống này. Như trường hợp, chúng ta có cái khăn choàng thì không phải chỉ đẹp mà phải vừa đẹp vừa phải êm, cũng thuộc về xúc giác.

Năm cảnh; sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc, làm tăng lục dục, nó cũng là những gì mà nó liên hệ nhiều với thế giới vật chất và, nó cũng đóng nhiều vai trò trong văn hóa của chúng ta. Ví dụ, nói về:

1. Thời trang mẫu mã quần áo về cảnh sắc,

2. Về âm nhạc chúng ta nghe thuộc về cảnh thinh, 

3. Về nước hoa thuộc về hương, hay là khí, là hương thơm,

4. Về ẩm thực chúng ta nói là cảnh vị,

5. Thân cảm xúc như là giường nệm êm ái v.v... 

Cả năm điều này thuộc về vật chất và, nó có sự chi phối ở trong lẫn ngoài, nội giới, ngoại giới. Thí dụ, chúng ta có một tiết tấu ở trong lòng riêng của mình (thuộc về nội giới), nhưng khi nghe một ca sĩ nào hát với một tiếng hát thánh thót, làn hơi phong phú, sự luyến láy có sức thu hút thì thuộc về ngoại giới, cái gì thuộc về ngoại giới thì nó vô cùng.

Trong một lần chúng tôi đi cùng phái đoàn đến thành phố Hồng Kông, bỗng nhiên, chúng tôi nhớ trong kinh chuyển Pháp Luân Thánh Vương có nhắc đến những đô thị sầm uất có 10 câu nói người dân thường hay nói là, hãy ăn đi, hãy uống đi, hãy hưởng thụ đi, v.v... Trong thế giới của chúng ta ngày hôm nay cũng vậy, một thế giới các cảnh giới dục lạc thừa thãi khắp mọi nơi và, chẳng những vậy nó đạt đến mức độ rất tinh tế.

Khi chúng tôi còn nhỏ, không xa đâu, cách đây hơn 50 năm, ở miền quê mỗi khi có bộ quần áo mới thì rất mừng, đến tiệm may nào đó đặt may rồi chờ đợi, bây giờ chỉ có nửa tiếng thôi mình thấy có biết bao nhiêu quần áo ở ngoài cửa hàng bách hóa, ở  các tiệm quần áo, để người ta lựa chọn, những quần áo này được may bằng nhiều loại vải vóc vật liệu khác nhau và, có thể nhập cảng từ châu lục này qua châu lục kia, từ góc độ này qua góc độ kia. Sự xuất cảng như vậy làm cho quần áo trở lên đa dạng, sẵn sàng. 

Chúng ta sống trong một thế giới mà quảng cáo là một kỹ nghệ lớn, ngay chính sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc, làm chúng ta bị cuốn hút, nhưng, thêm vào đó còn có kỹ nghệ quảng cáo ầm ĩ, quảng cáo ấn tượng, khiến  chúng ta tiêu sài rất nhiều tiền.

Cuộc sống của chúng ta ngày nay đạt đến nhiều sự ảo diệu, ví dụ, một chiếc Iphone cầm trên tay, đẹp về hình thức, âm thanh hay, tiện dụng về những chức năng thì, với những điều đó đủ sức, đã là quá đủ để cuốn hút chúng ta rồi. Thành ra, thời đại mình sống hiện nay là những sản phẩm tiêu thụ chẳng những đẹp về mẫu mã, tiện lợi về những chức năng mà ngành quảng cáo còn tạo sức hút cho chúng ta rất lớn.

Thì bây giờ, chúng ta nói qua loa về, sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc như vậy, những điều đó rất đơn giản, rất dễ hiểu.

Nhưng, chúng ta phải nói đến điểm thứ hai tiếp theo là, tất cả những thứ đó là phúc hay là họa?

Căn bản mà nói thì nghiệp báo một người sống ở đời có được những dục lạc, sắc, thinh, khí, vị, xúc và, khả ái, khả ý, còn gọi là, sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc. Có được những thứ đó có nghĩa là mình có phước, người không phước sanh ra ở đời lấy nước mắt chan cơm mà ăn, mặc quần áo thô xấu, ở nhà chật chội. Người có phước sanh ra đời nói theo kinh điển bắc truyền là, y báo và chánh báo đều tốt,  do phước báu khiến cho họ có đủ mọi thứ. Chúng ta thường đồng tình với điều đó vì nghĩ rằng đời sống mình có được bữa ăn ngon, mua được bức tranh đẹp, nghe bản nhạc hay, tất cả những điều đó đều là do phước.

Tuy nhiên, Đức Phật Ngài không phủ nhận điều đó, nhưng, Ngài dạy rằng những thứ khả ái khả ý đó, nó có ngoài vị ngọt, nó còn có thứ nguy hiểm là làm tăng trưởng sự ham muốn của chúng ta. 

Mới nói điều này mình cảm thấy bình thường là, con người chúng ta có tri giác, có bi quan, chúng ta biết phân biệt, cái hay, cái xấu, cái tốt và cái không tốt, cái ngon, cái dở, thì, sự ham muốn nó không có gì, nó rất là bình thường. Nhưng, sự ham muốn có ba khuyết điểm và, cả ba khuyết điểm này đều rất nguy hiểm. 

1. Khuyết điểm đầu tiên là, sự ham muốn sanh phiền não, phiền não này tạo nên nghiệp. Mình thích cái gì quá mình phải có nó, mình phải tiếp tục có nó, mình phải chiếm hữu và, thường khi mình phải trả giá rất đắc. Tại sao chúng ta đi làm đầu tắt mặt tối, tại vì chúng ta quá muốn cái gì đó.

Cách đây không lâu, chúng tôi có nhắc đến câu chuyện bi kịch của loài người đó là, một thanh niên Trung quốc quá thích Ipad, bán thận của mình để mua Ipad, người ta đã trả nhiều tiền để mua thận. Khi chúng ta quá muốn cái gì đó chúng ta sẵn sàng đánh đổi, đó là chúng ta nói rằng phiền não, tiền sanh ra nghiệp. Tất cả can qua chiến tranh giữa quốc gia này với quốc gia khác, ở trong kinh Đức Phật dạy rằng, con tranh chấp với cha, cha tranh chấp với con, vợ tranh chấp với chồng, chồng tranh chấp với vợ, anh em tranh chấp nhau, những điều đó đến từ sự ham muốn này, và do có sự ham muốn như vậy chúng ta gọi ham muốn là phiền não tạo ra nghiệp. Đó là khuyết điểm thứ nhất.

2. Khuyết điểm thứ hai là, hễ quá thích cái gì đó thì tâm của chúng ta không có điềm đạm với những thứ mình không thích, con người mình càng thích cái này thì mình càng bất mãn với cái đối lập với nó. Khi nào mình đi đâu nghe một người nào đó nói rằng ghét cái này ghét cái kia mà họ ghét cay ghét đắng thì, chúng ta nên hiểu giá trị ngược lại là có cái gì đó họ rất là thích, cái gì đó  họ dính mắc. Không bao giờ chúng ta quá thích một thứ gì mà chúng ta giữ được tâm quân bình với thứ đối lập. Giống như cái chuông lắc đồng hồ hễ nó qua bên phải nhiều thì nó qua bên trái nhiều, qua bên trái thì nó qua bên phải, chúng ta không thể làm nó qua bên phải rồi trở về đứng giữa rồi mới qua bên trái. Cái quá thích, quá yêu, quá quí, quá khao khát thì, nó cũng là nguồn đẻ ra, quá bất mãn, quá ghét bỏ, quá bực bội. 

Thế giới nào, thời giờ nào, giai đoạn nào, xã hội nào mà, con người nặng về lòng dục thì con người nặng về vật chất, hai cái đó đi chung với nhau và, không bao giờ tham nhiều, sân nhiều mà thiếu si trong đó, si nằm trong tham và sân. Lấy ví dụ đơn giản là, khi mình đi học thì mình bớt đi chơi, tại vì khi mình đi chơi, mình quá thích, mình quá ghiền, mình quá bận tâm đến việc chơi, mình sao lãng việc học. Chuyện đó đơn giản, chuyện đi chơi không phải là cái tội nhưng bỏ học là cái tội. Đời sống con người chúng ta, ví dụ, bây giờ muốn tâm mình an tịnh mà tâm mình nhiều tham quá, nhiều sân quá, nhiều si quá, nó không an tịnh được. Thành ra ở đây, không phải là chuyện tổ tông gọi đó là một thứ tội lỗi, nhưng, trong quan điểm của Ki Tô giáo gọi "sin" là tội lỗi. Nó là một hệ lụy tự nhiên của kiếp sống và, cái hệ lụy tự nhiên đó Đức Phật Ngài dạy rất rõ ràng, hễ mình thấy cái khả ái khả ý thì mình thích, nhưng, bên cạnh đó thì tâm không ổn định được, tâm chúng ta bị xáo trộn.

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật Ngài có ví dụ như vầy, nếu để mình quá đắm nhiễm theo dục lạc, mình giống như mái nhà vụng lợp nước mưa thấm vào, tâm của chúng ta khéo tu bớt đi đắm nhiễm giống như mái nhà khéo lợp nước mưa không thấm vào.

 Ở trong một thí dụ khác rất tượng hình là, người sống buông thả theo dục lạc khi đối diện với pháp thế gian, giống như gió lay cây yếu, người tâm ít phiền não giống như gió thổi núi đá vậy. Cuồng phong thổi núi đá thì núi đá không hề hấn gì,  nhưng, nếu cuồng phong thổi cây yếu, cây sẽ đổ. 

Ở đây có gợi ý, nếu tâm mình sống trong dục lạc thì tâm mình không mạnh được nó giống như gió lay cây yếu, nó dễ buồn, dễ giận và, nếu tâm mình muốn an tịnh phải bớt dục lạc xuống một chút, phải sống quân bình, sống nhẹ nhàng hơn. 

Tại các nước Nhật Bản và Trung Hoa, người ta có những đề nghị thay thế những thú vui trần tục mình bằng những thú vui nhẹ nhàng như học về thư pháp, uống trà, học làm vườn. Trong kinh, Đức Phật nói rằng, những thứ đó cũng làm cho chúng ta chấp mê, ví dụ, chúng ta quá thích làm vườn, cái đẹp của hoa, cái đẹp của vườn cảnh cũng làm chúng ta say mê, làm chúng ta chấp, nó quan trọng với mình quá thì nó cũng chi phối mình, mặc dầu đỡ hơn nhậu nhẹt, đỡ hơn cần sa ma túy.

Khuyết điểm thứ hai của dục lạc chúng ta nói đến phiền não, sự ham muốn  là điều kiện tạo ra sự bất mãn, mình càng thích cái khả ái thì mình càng bất mãn với những điều trái ý nghịch lòng, và sự bất mãn đó làm cho mình khổ.

3. Khuyết điểm thứ ba của dục lạc là hạnh phúc của sự vay mượn, hình thức vay mượn là, phải có một nguồn cung ứng nào đó mình mới vui, tự một mình thì không vui, thí dụ, mình thích nghe âm nhạc thì phải có ca sĩ hát hay, phải có phương tiện để ghi âm, rồi phổ biến trên youtube rồi ghi âm trong mp3 player để chúng ta nghe được, do vậy, khi có lý do gì không có âm nhạc nữa thì mình cảm thấy buồn thấy thiếu. Mình muốn ăn ngon phải có người nấu, người nấu đó phải là người nấu ngon, bây giờ mình thích ăn ngon  không có người nấu ngon, mình trở nên trống vắng thiếu cái gì đó, phải đi tiệm ăn chẳng hạn,

 Thì như vậy, những dục lạc của trần gian như, sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc, nó có một cái phiền là phải có sự cung ứng và phần lớn đến từ bên ngoài. Một vị bắt đầu tu thiền, một vị bắt đầu sống nội tâm là vị có thể tạo nên suối nguồn an lạc ở trong lòng, ví dụ, như nói rằng một trạng thái hỉ lạc do ly dục sanh có tầm có tứ chẳng hạn thì, những pháp tầm tứ hỉ lạc định là những pháp an tịnh an lạc đến từ sự tu tập nội tại. Đơn giản như vầy là, nếu mình tự lực cánh sinh được thì đời sống thoải mái hơn, còn nếu mình nghèo cứ phải đi xin đầu này đầu nọ khi người ta không cho nữa thì mình khổ.

Thì khuyết điểm lớn của năm cảnh dục lạc ở đây thuộc về vật chất, thuộc về ngoại giới và, khi chúng ta quá nghiền quá chấp vào rồi, chúng ta đi tìm nguồn cung ứng, gọi đó là thứ hạnh phúc vay mượn, và khi mình trở về với chính mình, mình ngồi lại nhìn chính mình, sống trong yên tịnh, không có chuyện gì ngoài chính mình thì, mình không vui, mình không hạnh phúc, mình không an lạc. 

Một kinh nghiệm lớn của các vị Thiền Sư là dạy chúng ta nên sống với nội tâm của mình. 

Chúng ta về các quốc gia Phật giáo vào những thiền viện, cho chúng ta vào ở, cho cơm ăn, hướng dẫn chúng ta, nhưng mà, những lần mình vào ở trong một am thất không điện không nước, chỉ có chiếu và gối. Khi mình mới đến chưa cảm thấy gì, nhưng, ngồi yên lặng, một giờ hai giờ đồng hồ, cảm thấy rất nhàm chán bởi vì nó trống vắng không có cái gì hết. Chúng ta quen TV, quen điện thoại, quen ăn, quen uống, quen sinh hoạt, bây giờ trở về với am thất trống như vầy cảm thấy trống vắng. 

Chúng ta học một điều rất quan trọng đó là, chúng ta vốn sống với những hạnh phúc vay mượn, với hạnh phúc của sự lăn xăng, bây giờ mình phải đi xây dựng một thứ hạnh phúc nội tại, hạnh phúc nội tại đó là có thể sống một mình, sống trong sự an tịnh, biết sống với thân với tâm của mình, và sống an lạc, nó lại là một nghệ thuật, là một điều không đơn giản và, chúng ta phải học để sống.

Khi chúng ta nói về năm dục trưởng dưỡng ở đây, chúng ta nên hiểu Đức Phật Ngài không lên án những điều đó, thậm chí Ngài dạy rằng những người có được những cảnh đẹp ở trong đời sống như, sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc do phước của quá khứ. Nhưng Ngài cũng dạy về bản chất tự nhiên của các dục là, quả của nghiệp sanh ra phiền não, và phiền não đó lại sanh ra phiền não, rồi phiền não cũng tạo ra nghiệp, tạo ra sanh tử, chúng ta gọi là, nghiệp hữu, sanh hữu. 

Chẳng những vậy, sống nặng về năm dục tạo cho chúng ta một vị thế là đi tìm những thứ hạnh phúc phải có nguồn cung ứng, mình tạo ra một phần và mình vay mượn là phần lớn, không có thì không được, là chúng ta khổ , đương nhiên chúng ta khổ. 

Do vậy, khi bắt đầu cuộc sống tu tập chúng ta phải tập sống một mình, tập sống với thân tâm, tập sống an lạc, không đi truy cầu những thứ dục lạc đó từ thế giới này bước qua thế giới kia. 

Chúng ta nhớ một điều là, Phật Pháp không lên án như Hồi giáo, Ki Tô giáo, Do Thái giáo họ dùng chữ "tội lỗi" chữ "sin", Phật Giáo không có như vậy, Đức Phật Ngài dạy cho chúng ta sống vì hiểu rằng cảnh và tâm liên hệ với nhau, chúng ta không hiểu được bản chất tự nhiên của cảnh thì tâm của chúng ta giao động, tâm chúng ta đau khổ.
 
Không phải là, chúng ta hưởng được nhiều, sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc, những điều đó không hạnh phúc, nhưng, Đức Phật Ngài dạy rằng những vị ngọt thì có, nhưng nguy hiểm lại nhiều. 

Chẳng những vậy, Đức Phật còn dạy con đường xuất ly là con đường tu tập. Mình cứ hiểu đại khái như vầy, ở trong cuộc sống này có những người mê chơi game, hay nghiện cần sa ma túy, hay hoặc giả, quá lệ thuộc thứ gì đó, thì lúc người ta đam mê những thứ đó họ nghĩ rằng những thứ đó hay, tốt đẹp. Nhưng mà rồi, nghĩ lại cho cùng là, khi mình vượt thoát khỏi mới thấy rằng, đúng ra mình ra khỏi vùng cương toả.

Dục lạc, chúng ta tạm có thể hiểu nó như là một thứ  junk food tức là đồ ăn tạp, người thích ăn hàng, ăn món này món kia, junk food đôi khi làm chúng ta thích, ăn thì ngon, nhưng junk food có nhiều cái hại của nó, là nó có cái ghiền có cái hại, đó là chúng ta nói nhẹ, nói đến xì ke ma túy thì nặng.

Đó là vài điều chúng tôi muốn nói về năm dục trưởng dưỡng./.

Sunday, March 29, 2020

Bốn sự cúng dường thanh tịnh - TT Giác Đẳng giảng

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)
PHÁP BỐN CHI 4.37

xxxix) Bốn sự cúng dường thanh tịnh


Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma  ngày 6 tháng 4, năm 2019
Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Trước khi đi vào ý nghĩa bài kinh ngày hôm nay, chúng tôi muốn nói một điều về cúng kiếng là một hình thức rất phổ cập ở trong các tôn giáo, người ta có nhiều chữ để nói về cúng kiếng như, cúng dường, hay là cúng kiếng, hay là phụng hiến. Người thờ thần lửa, họ có cách cúng tế thần lửa, người thờ Thượng Đế có cách để vinh danh ca ngợi Thượng Đế. Tất cả những sự cúng kiếng đó đều mang hình thức làm sao để cuộc sống của chúng ta có thực hành gì đó để thể hiện lòng tôn kính và, từ lòng tôn kính đặc biệt đó chúng ta thể hiện bằng cách cúng một cái gì.

Trong kinh Pháp Cú có câu: 

Quanh năm bố thí cúng dường,
Không bằng một phút kính nhường thánh nhân.

Cúng tế người đời thường làm đôi khi gọi là bái vật, tức là thờ phượng một ngẫu tượng, thờ phượng một cái gì đó mang tánh cách niềm tin tín ngưỡng nhân gian.

Sự cúng dường mang lại lợi ích thiết thực cho bản thân của mình đó là sự cúng dường các bậc có giới đức. Có thể là, một sự đảnh lễ, hoặc giả là, cơm, bánh, hay những thứ khác. Mới nghe thì rất đơn giản, nhưng mà, ở đó nó lại mang một yếu tính làm tâm của chúng ta được trong sạch. 

Ngày xưa, khi chúng tôi mới vào chùa Phật Giáo Nam Tông, những người Phật tử khi phát tâm cúng dường thì họ không nói "phát tâm cúng dường" mà thường hay dùng chữ "phát tâm trong sạch". Phát tâm trong sạch với một buổi lễ, hay phát tâm trong sạch với vị sư nào đó. Chữ "phát tâm trong sạch" là cách nói theo người Miên, người Thái, người Miến Điện. Nghĩa là, trong đời sống bình thường của chúng ta chỉ biết thu góp, chỉ biết bám víu vào những vật sở hữu của mình, nhưng một khi mình cho ra thì lúc đó tâm mình rất trong sạch. Tại vì khi cúng dường như vậy mình không mong cầu cái gì đó lợi cho mình, mà mình chỉ mong là, hi hiến, hoan hỉ rồi mình cúng dường.

Bố thí là, một cách xả tài, cách giảm thiểu xan tham. Nhưng, cúng dường thì đạt đến một cao điểm nữa ở trong đó có sự cung kính.

 Chữ cúng dường có khi chúng ta đọc cung dưỡng là đọc theo chữ nghĩa ngoài đời.
Đọc cúng dường theo chữ nghĩa của nhà chùa. Cúng dường là một hình thức hiến tặng bằng tâm cung kính
. 
Trong kinh Phật là chữ dakkhiṇā dàna. Có bốn chữ thường được đề cập trong kinh là:
 
 Āhuneyyo là xứng đáng được tôn trọng,

 Pāhuneyyo là xứng đáng được thương mến, xứng đáng được tôn trọng và  thân thiện

Dakkhineyyo xứng đáng được cúng dường để tạo phước.

Añjalikaranīyo: đáng được chắp tay, đáng được lễ bái.

Chữ dakkhineyyo, đặc biệt chỉ cho hình thức cúng dường qua đó có ý nghĩa để tạo phước lành, lấy một thí dụ là, qúi vị Phật tử có tiền đến chùa cúng cho vị trụ trì để nhờ vị trụ trì làm việc gì đó thì không mang tính dakkhiṇā dàna. Nhưng, nếu qúi vị nghĩ rằng lâu quá không làm phước bây giờ làm phước đến Chư Tăng thì gọi là dakkhiṇā dàna, hay là, mình thấy một vị Sư bệnh mình cúng dường thuốc mặc dầu vị Sư đó không phải bà con quyến thuộc của mình, sự cúng dường này cũng gọi là dakkhiṇā dàna.

Thì ở đây, một khái niệm rất quan trọng ở trong nền văn hóa Ấn Độ và, cũng quan trọng ở trong nền văn hoá Phật Giáo đó là, chúng ta nói đến sự trong sạch hay, nói đến chữ Araham là Ứng Cúng.

 Ứng Cúng là bậc đáng cúng dường. Chữ bậc đáng cúng dường có hai ý nghĩa:

1. Một là, cúng dường vị đó tạo nhiều phước báu,

2. ý nghĩa thứ hai. bởi vì đối tượng cúng dường là đối tượng rất thanh tịnh nên được nhiều phước báu. 

Đức Phật gọi là bậc Ứng Cúng có nghĩa Ngài là đấng trọn lành, Ngài là đấng hoàn toàn thanh tịnh, ngay cả tiền khiên tật cũng không còn, và do sự thanh tịnh như vậy nên ai cúng dường bậc thanh tịnh thì phước báu vô cùng.

Lấy một ví dụ, bình thường trong đời sống, nếu chúng ta gieo hạt giống ở trên một miếng đất khô cằn thì nó không dễ dàng để đâm trồi nẩy lộc, đơm hoa kết trái, nhưng, nếu chúng ta trồng trên miếng đất màu mỡ thì thấy khác biệt rõ ràng. Chúng tôi là người lớn lên ở miền quê, chúng tôi biết khi đất có phù sa thì hạt giống trổ rất là nhanh, mà đất khô cằn thì mình trồng cái gì cũng còi. Do vậy một bậc trọn lành như Đức Phật hay chư vị Alahan hoàn toàn thanh tịnh mình cúng dường mình được rất nhiều phước. 

Chúng tôi trích dẫn cả hai bài kinh, một bài kinh trong Kinh Phúng tụng (33.Sangìti sutta), một bài khác do Đức Phật dạy ở trong Tăng Chi Bộ kinh, Phẩm Bốn Pháp.

Ở đây, bài học hôm nay là, bốn  ý niệm về thanh tịnh, bốn trạng thái cúng dường thanh tịnh, bốn câu chuyện nói về sự thanh tịnh ở trong bố thí.

Bốn bố thí được định nghĩa như sau: 
1 - Sự bố thí được thanh tịnh là nhở ở người nhận,
2 - Bố thí được thanh tịnh nhờ ở người cho,
3 - Bố thí được thanh tịnh là do cả hai,
4 - Bố thí cả hai người nhận và người cho đều không thanh tịnh.

Thì ở đây, trong điều này Đức Phật dạy, hành động bố thí có thể tạo ra phước thù thắng do nằm trong ba trường hợp, còn trường hợp thứ tư là trường hợp bình thường không thù thắng. 

Người Phật tử trong đời sống hàng ngày của mình làm phước, mình biết đối tượng bố thí là quan trọng, nhưng, quan trọng là tâm của mình, tâm thí của mình có được trong sạch hay không mới là quan trọng. Ở đây, chữ dakkhiṇādàna không dùng để áp dụng cho cách bố thí thông thường, như khi qúi Phật tử bố thí chuẩn bần cho người nghèo thì không gọi là dakkhiṇādàna.  Bố thí gọi dakkhiṇādàna là khi nào bố thí mình nghĩ đến chuyện làm phước.

Sự thanh tịnh từ người cho có nhiều ý nghĩa về sự thanh tịnh, một là vật thí phát sanh hợp đạo, ví dụ, tiền bạc mình cúng dường không phải là do trộm cắp, do sát sanh, hay, do những chuyện làm phi pháp mà nó đến từ phát sanh hợp đạo và tâm cúng dường được thanh tịnh, đây là một điểm rất là quan trọng. Ở các quốc gia Phật giáo khi làm phước thì người cúng dường thường là người phải hiểu được tác ý thanh tịnh của mình. Đặc biệt trong các lễ trai tăng những người thí chủ thường xin thọ tam qui ngũ giới trước khi làm lễ trai tăng.

Tại các quốc gia Phật Giáo, đặc biệt trong ngày Bát Quan Trai Giới, người Phật tử khi thọ trì Bát Quan Trại Giới, ngày đó họ làm phước cúng dường đến Chư Tăng và, làm phước cho đại chúng, họ tin rằng trong những ngày trai giới thân tâm thanh tịnh trong sạch là dịp rất tốt để bố thí.

Trong từ vựng của bài học có chữ duṭṭha sila được dịch là ác giới.

Thật ra, chữ duṭṭha sila có nghĩa là, không có giới hay là, giới không được tốt đẹp. 

Ví dụ, một người làm phước, người đó giữ năm giới trong sạch thì có phước hơn người làm phước không giữ năm giới trong sạch. Chữ duṭṭha sila ở đây có nghĩa là "không có giới".

Sự trong sạch từ người cho đến từ sự tác ý trong sạch và, điều này Chư Tăng thường hay nhắc quí Phật tử đi chùa làm phước. Đôi khi mình làm phước nào đó là do người ta thấy mình có tiền, người ta đến nói khích, thí dụ, "anh chị làm bác sĩ, nhà giàu, cúng nhiều đi chứ sao mà cúng ít vậy", nghe người ta nói vậy mình ngại mình cúng nhiều. Điều đó không tốt, mình làm phước không do sự miễn cưỡng. Khi làm phước mình có ý thức càng rộng thì phước càng nhiều, ví dụ, làm phước không phải là vì mình thân thích với chư tăng ở chùa, mình làm phước không phải vì mình muốn nổi tiếng, muốn danh muốn lợi, mình làm phước chỉ đơn thuần làm phước thôi. Tâm thí rất quan trọng, tâm càng thanh tịnh thì càng được nhiều phước.

Điểm thứ hai, sự thanh tịnh đến từ người thọ thí tức là, Chư Tăng. Căn bản mà nói, nếu qúi vị cúng dường đến Chư Tăng, vị đó đang tu tập, vị đó đang nhập hạ hay là, ở trong khóa tu, hoặc giả là, vị đó ở xa đến, hoặc sắp đi xa, hoặc giả vị Tỳ Kheo bịnh, chúng ta gọi là "bố thí đúng thời", bố thí cho một vị pháp sư đi hoằng dương Phật Pháp thì những bố thí đó tạo ra phước thù thắng từ người nhận.

Thời Đức Phật còn tại thế, có một vị Tôn giả Subuti (Tu-bồ-đề), Ngài đặc biệt có lòng lân mẫn đối với các vị thí chủ. Khi Ngài đi khất thực Ngài thường nhập thiền xuất thiền. Một vị tu tập mới xuất thiền, người cúng dường được nhiều phước, tại vì vị đó đang đạt đến tâm giải thoát rất cao.
 
Đời sống bình thường cũng vậy, Chư Tăng muốn cho người Phật tử được phước thì khi nhận thực phẩm hay tứ sự cúng dường Chư Tăng quán tưởng thanh tịnh giới. thí dụ về thực phẩm, Chư Tăng quán tưởng rằng mình thọ thực không phải vì làm đẹp, không phải vì muốn tráng kiện thân thể, không phải để vui đùa. Mà mình thọ thực để duy trì mạng căn, sống đời sống tu tập để làm tan biến cái khổ đã sanh và, ngăn ngừa cái khổ chưa sanh. Một vị tỳ kheo trong lúc nhận thực phẩm từ người Phật tử mà quán tưởng thì lúc đó vị đó trở thành một đối tượng thanh tịnh và tạo ra nhiều phước báu cho người cúng dường. 

Về trường hợp này, chúng ta nói rằng một sự bố thí được tốt đẹp được thanh tịnh từ người nhận là, người nhận có tu, người nhận có sự thanh tịnh.

Trong trường hợp được cả hai cùng thanh tịnh thì rất tốt. Do cả hai là, người bố thí và người thọ thí đều làm với tâm trong sạch. Về trường hợp này xảy ra rất thường ở những đạo tràng tu tập, chúng ta tìm thấy những vị thí chủ là những người phát tâm rất trong sạch và những người nhận thí là những người tu tập có tâm thanh tịnh trong sạch. 

Tại các quốc gia Phật Giáo như, Miến Điện, Tích Lan, Thái Lan, họ vẫn còn giữ được một cách tổ chức rất quí đó là, các thiền viện khi mình đến xin ở lại tu tập thì họ không lấy tiền, mình chỉ vào đó tu tập, còn chuyện chỗ ở, cơm ăn, đều do có người cúng dường. Bởi vì ở những nơi này những người Phật tử tin rằng nếu người ta tu tập mà mình hộ trì cho người ta tu thì mình được phước, tâm mình trong sạch và người thọ thí cũng trong sạch như vậy gọi là "thắng phước".

 Ở các xứ Âu Mỹ, các thiền viện tổ chức rất chặc chẽ, do vậy khi vào trong  thiền viện tham dự các khóa tu thiền sinh phải đóng tiền. Thì điều đó cũng có cái hay về mặt tổ chức nhưng, lại có cái dở đó là, đánh mất cơ hội quí báu rất đẹp, tại vì một đại chúng, một hội chúng đang tu tập nếu những vị thí chủ cúng dường thì có rất nhiều phước. Do vậy, tại các quốc gia Phật Giáo như Miến Điện, Tích Lan, Thái Lan ngày hôm nay hầu hết những thiền viện không thu tiền học phí.

Trong khi mình vào tu tập, nếu có ý thức một chút thì hiểu rằng, điện nước, chỗ ở, thực phẩm, mình có được là do đàn tín cũng dường, thì trong lúc tu tập mình hồi hướng công đức cho những vị thí chủ đó. Điều này, thật sự có đạo vị.

Cũng có trường hợp người bố thí và người thọ thí đều không ở trong điều kiện tốt đẹp. Trường hợp này cũng có phước nhưng phước này rất hạn chế.

Ví dụ, A Xà Thế lúc còn là vị hoàng tử vì nể phục thần thông của Tỳ kheo Đề Bà Đạt Đa đã cúng dường rất nhiều lễ phẩm, một ngày như vậy nhiều chiếc xe chở những vật cúng dường đến cho Đề Bà Đạt Đa. 

A Xà Thế nghĩ rằng Đề Bà Đạt Đa là một nhà tu nhưng có đầu óc kinh ban tế thế, chỉ dạy cho mình cách nào để lên ngôi, để đoạt ngai vàng, tức là đã đi bắt giết vua Bình Xa Vương, người cha ruột của mình. 

Còn Đề Bà Đạt Đa lúc bấy giờ đã không còn tu tập nữa, thiền đã hoại, không còn thần thông nữa, nhưng vẫn còn có nhiều kế sách để bày vẽ cho A Xà Thế. 

Có một lần Đức Phật Ngài nhìn thấy những chiếc xe ngựa, ở trong kinh ghi là 500 chiếc xe ngựa, thật ra rất là nhiều xe ngựa chở những thực phẩm đến để cúng cho Đề Bà Đạt Đa. 

Đức Phật Ngài dạy các vị Tỳ Kheo rằng,"giống như cây tre hay cây chuối ra buồng ra nải thì sẽ làm chết cây tre cây chuối, một vị Samon sống nặng về danh, về lợi, thì những vật cúng dường đó sẽ làm cho vị này mất đi mục đích chính của đời sống phạm hạnh" và, quả thật không lâu sau đó thì Đề Bà Đạt Đa đã rơi vào con đường danh lợi và, con đường đó dẫn đến nhiều hành động rất sai quấy bởi vì hai chữ danh và lợi.

Nếu một người Phật tử mang cơm đến chùa cho Chư Tăng, lúc Chư Tăng thọ thực với tâm sanh đắm nhiễm thì phước không có nhiều cho vị thí chủ như vị Tỳ Kheo quán tưởng trước khi ăn, điều đó được ghi dạy rất rõ ràng ở trong kinh điển.

Thì ở đây, Đức Phật Ngài dạy về sự cúng dường, cúng dường ở đây trong Phật Pháp gọi là dakkhiṇā dàna, là một phước thí vị thí chủ làm để tạo phước, thì khi một phước sự dakkhiṇā dàna được diễn ra thì yếu tố của người cúng dường đó là tâm thí và, yếu tố của người nhận gọi là người thọ thí nó đều có một ảnh hưởng. 

Ví dụ:
- Chúng ta vốn thường bố thí vì danh, vì lợi, vì có hậu ý này, hậu ý kia, thì nó khác. 

- Chúng ta bố thí cúng dường với tâm trong sạch vì, qúi và kính một người tu tập mà mình cúng dường thì việc đó là việc khác và, đặc biệt là, người cư sĩ khi muốn cúng dường phải quán xét là vật cúng dường của mình phát sanh có hợp đạo không. 

Trong Trung Bộ Kinh, kinh Jìvaka, Đức Phật Ngài dạy là, "một người sát sanh giết con này con kia để cúng dường người tu tập thì, người đó tạo ra nhiều điều bất hạnh cho bản thân, bất hạnh cho con vật đó" và, việc đó sẽ khiếm khuyết cho phước sự của người bố thí rất lớn khi vị này sát sanh rồi đem bố thí. 

Vì vậy, trong những bài kinh tác bạch để cúng dường có câu là "những vật cúng dường phát sanh hợp theo lẽ đạo". 

Một vị thí chủ cúng dường cũng lên hiểu làm thế nào để tâm mình được thọ hỉ, được hợp trí, được hoan hỉ, tạo nhiều phước. 

Thọ hỉ hợp trí có nghĩa là, khi làm phước mình làm bằng tâm hoan hỉ và có sự hiểu biết công việc mình làm, càng có thọ hỉ càng có hợp trí thì phước nhiều. Với một người cúng dường tâm ý tốt thì được bảo đảm bởi giới hạnh trong sạch, do vậy, tại các quốc gia Phật Giáo khi người cư sĩ làm phước sự lớn thì mở đầu là xin thọ trì tam qui và ngũ giới, luôn luôn là vậy và, vị đó luôn luôn nhắc rằng, trong thời gian đang làm phước thì mình nghiêm trì năm giới trong sạch thì mình tạo nhiều phước. 

Đối với người thọ thí, Đức Phật Ngài khuyên có nhiều trường hợp người thọ thí mang lại phước báu gọi là Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa -  phước điền vô thượng, nếu vị đó mà cao nhất là từ chứng quả A Na Hàm hay Alahan có thiền phi phi tưởng, nhập diệt tưởng thọ định, một vị nhập diệt tưởng định mà xả thiền ra thì người cúng dường được phước báu hiện tiền rất cao. 

Và, một vị Tỳ Kheo có quán tưởng vật thực khi thọ thực cũng tạo nhiều phước đức cho vị thí chủ không hẳn phải là nhập diệt thọ tưởng định. 

Vị Tỳ kheo có tâm từ cho vi thí chủ cũng tạo nhiều phước đức. Tâm từ là, khi thọ thí mong cho người cúng dường được lợi lạc, được lợi ích đó gọi là tâm từ.

Có nhiều người VN thường nghĩ "sau khi mình chết ai lo nhang khói cho mình". Nhưng tại các quốc gia Phật Giáo, những người hiểu đạo họ không cần phải có ai nhang khói cho họ, không sợ phải nhang tàn khói lạnh, mà tự họ làm phước trước, thí dụ họ đào giếng, xây cầu, về sau này họ mất đi, ai xử dụng giếng nước đó hay ai dùng cây cầu đó thì người đào giếng hay xây cầu vẫn còn được phước mặc dầu lúc đó không có ai nhang khói cho họ.

Tại các quốc gia Phật Giáo, trong các trường thiền thì ngoài chuyện xây am thất người ta hay xây con đường kinh hành, con đường kinh hành có chiều dài nhất định và được đắp cao để không bị đọng nước. Thì một vị cư sĩ ở trong làng lúc sắp mất đi nghĩ đến phước đức hậu sự của mình thì vị này cất một am thất và cất con đường kinh hành, ở cuối con đường kinh hành đó họ làm một tấm bia, có khi họ chôn hũ cốt của người thí chủ ở đó, có khi họ để tên và hình vị thí chủ. Khi đến đó tu tập thì mình biết vị thí chủ này đã xây am thất và con đường kinh hành này, vì vậy, khi mình tu tập mình hồi hướng công đức, cái đó là cái gì rất là đẹp.

Đẹp là nói như vầy là, có vài lần chúng tôi có nghe một vị nói rằng mình đi kinh hành buổi tối mà biết là ở cuối con đường kinh hành có chôn hũ cốt cũng sợ ma, mình không tu được. Nhưng kỳ thực không phải vậy, khi những chúng sanh có tâm trong sạch, được sanh làm Chư Thiên hộ trì mình tu tập, mình hoan hỉ và nhờ vậy mình tinh tấn tu tập, mình đi kinh hành thì hồi hướng phước cho vị thí chủ đã làm con đường đó.
Theo căn bản thì, nếu người thọ thí càng ít tham càng ít có đắm nhiễm vị thí chủ càng có nhiều phước, ví dụ, một vị thí chủ mang thực phẩm hay y phục đến cúng dường Chư Tăng, Chư Tăng thọ thực bằng tâm tham thì phước cho vị thí chủ không có nhiều bằng tâm có quán tưởng, tâm có tu tập. Về điểm này, trong kinh gọi là sự thanh tịnh đến từ người nhận hoặc là cả hai, có khi người cho, có khi người nhận, hoặc là cả hai, người cho và người nhận.

 Cũng có trường hợp cả hai đều không thanh tịnh, một vị thí chủ không ý thức rõ việc làm phước thì mình làm phước là làm phước thôi, ví dụ, có nhiều vị viết check gửi đến chùa kèm theo danh sách nhờ Chư Tăng cầu an, đó cũng là hành động bố thí, nhưng mà, làm không có tích cực. Tích cực là mình làm cái gì đó mình gói ghém được tâm tư, gọi là làm có hồn. Có hồn ở đây là, có một sự phát tâm mạnh mẽ, có ý nghĩa, có đạo vị, chúng ta gọi là có hồn hơn là mình làm cái gì chỉ làm cho có làm, làm để trả nợ qủi thần,

 Cũng nên hiểu một điểm như vầy là, đôi lúc mình ảnh hưởng văn hóa của người Trung Hoa, mình nghĩ rằng đốt nhang nhiều là có phước, không phải như vậy, hay là, mình tin rằng mình tạo phước bằng cách mình cạo đầu để cúng cầu xin cái gì đó, nhưng thật ra cạo đầu không có tạo phước gì mà đó chỉ là hình thức thôi. Hình thức quan trọng để tạo phước của chúng ta là mình làm cái gì đó cho người khác. Tại các quốc gia Phật Giáo mấy em nhỏ khi sắp đi thi các em làm phước là để bát cho Chư Tăng, hay là vào chùa vài ngày tu bát quan trai giới, tu thiền, điều đó mới thật sự làm phước, còn mình nói mình cạo đầu hoặc giả mình đốt năm bảy bó nhang, đó không phải là làm phước, đó chỉ là một hình thức thôi, chúng ta là người Phật tử nên lưu tâm về điểm này.

Ở đây nói rõ rằng làm phước cách nào có phước, mình cho một con vật ăn cũng có phước, mình cho con chó, con mèo ăn, thì cũng có phước huống chi là con người. 

Khi tâm càng thanh tịnh, thanh tịnh người cho thanh tịnh người nhận, hoặc cả hai thì phước càng thù thắng. Do vậy chúng ta nên hiểu mình làm phước mình làm cách nào để được phước nhiều và làm cách nào không được phước nhiều. Giống như nấu ăn thì không phải ai nấu cũng giống nhau, có người nấu ăn ngon có người nấu ăn không ngon. Hay buôn bán, có người buôn bán có lời, có người buôn bán không có lời. Thì làm phước, có người làm phước được nhiều phước, có người làm được phước ít, mình nên biết như vậy./.