Thursday, August 20, 2015

Kinh Phật Tự Thuyết - Kinh Etaputtaka

(Xin lưu ý: Tất cả những bài chuyển biên chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

Kinh Phật Tự Thuyết - Kinh Etaputtaka

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 18-1-2015, Minh Hạnh chuyển biên và biên tập.

TT Giác Đẳng: Có những bài học trong kinh chúng ta cần  sự vận dụng kiến thức rát nhiều, cũng có những bài học mới nói qua chúng ta đã có thể hiểu. Nhưng giữa cái hiểu của chữ nghĩa và cái hiểu để thay đổi đời sống chúng ta mới xem chừng như gang tấc nhưng cách xa rất nhiều. 

Chúng ta hãy nhìn những người sống trong cuộc đời này kể cả bản thân của chính mình luôn luôn khao khát có được người thân, thân đến đỗi như núm ruột của mình thì mới chịu. Dĩ nhiên, chúng ta đi tìm nhiều quan hệ trong cuộc đời này, nào là bạn bè, nào là những người cộng sự. Chư Tăng thì tìm sự thân mến của Phật tử, Phật tử tìm sự thân mến của Chư Tăng. Chúng ta tạo nhiều quan hệ gắng bó thân thiết, có được như vậy mình cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa.

Hầu như tất cả chúng ta đều có quan niệm giống nhau, mình cu ki một mình, mình cô đơn một mình thì buồn thì bạc phước, và mình càng có đông người thân càng vui càng hạnh phúc. Chúng ta cũng biết rằng có nhiều người muốn có con nhỏ nhưng không phải là con của người khác mà là con của mình sanh ra năm đứa ba đứa. Những cặp vợ chồng son sống với nhau muốn có con để muốn có cái gì đó thật sự có ý nghĩa cuộc đời này.

Sự thật là như vậy. Sự thật chúng ta muốn tạo ra những núm ruột, chúng ta muốn tạo ra sợi giây thân ái trong quan niệm của chúng ta sợi giây đó là sợi giây càng bền chặt càng gắng liền bất khả phân thì chuyện đó tốt.

Trong kinh Đức Phật Ngài dạy chỉ có thiên tai, chiến tranh bệnh tật mới có thể phân chia được tình thương thiêng liêng giữa con và mẹ. Và trong nhiều đoạn kinh khác Đức Phật Ngài gợi nhắc cho chúng ta thấy sợi giây thương yêu đã cột kết chúng sanh trong cuộc đời này, nhưng nó không phải chỉ cột mà nó còn cho chúng ta một cảm nhận rằng có được những thứ đó làm cho cuộc sống ngọt ngào, làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên ấm áp trở nên hạnh phúc. Thật sự, chúng ta chỉ nhìn thấy một chiều chỉ thấy một khía cạnh. Như trong trường hợp một nam cư sĩ sống gần bên Đức Phật đi chùa thường và được nhiều dịp nghe pháp  khi đứa con yêu qúi độc nhất của mình bị mạng chung bị chết sự sầu muộn đã hiện lộ ra thấy rõ, thậm chí dù được gặp Đức Phật.

Chúng ta nói một cách rất bình tỉnh, nếu như trong đời gặp được Đức Phật ngồi trước Ngài đảnh lễ Ngài đó là điềm hoan hỉ vô hạn. Chúng ta nhìn một người thiện nam, một người có đức tin Tam Bảo giờ đây ngồi trước Đức Phật trong lòng vẫn xót xa, vẫn thương nhớ, vẫn đau khổ về sự mất mát đứa con thân yêu của mình. Điều này rất bình thường không cần phải chuyện xưa, chuyện hôm nay chúng ta cũng thấy như vậy . Chúng tôi đã có dịp gặp nhiều Phật tử những người rất có đạo tâm, rất có thiện chí, công quả ở chùa, phục vụ cộng đồng nhưng đối với cảnh sanh ly tử biệt của người thân trong gia đình thì hầu như tê tái mất hoàn toàn khả năng sống bình thường như câu chuyện trong bài kinh này.

Bài kinh này rất giản dị, qua bài kinh chúng ta có thể nhìn thấy ý nghĩa của Phật Pháp. Đức Phật Ngài không có huyền hoặc, Ngài không nói chuyện vượt ngoài cuộc sống bình thường. Thí dụ Ngài nói về sự Khổ hay Khổ Diệu Đế, ở trong những khổ Đức Phật Ngài đề cập đến đó là thương phải xa, điều tiếp theo là ghét phải gần. Chuyện thương phải xa là một trong 5 tâm niệm Đức Phật dạy chúng ta nên thường nghĩ đến:

- Ai sống ở đời cũng có lúc già không thể trẻ hoài.
- Ai sống ở đời cũng có lúc bệnh chứ không phải mạnh khỏe hoài. 
- Ai sống ở đời cũng có lúc chết chứ không phải sống hoài.
- Ai sống ở đời cũng phải chịu sự sanh ly tử biệt chia cách với người thân, không thể vui sum vầy hoài.
- Và ai sống ở đời cũng có nghiệp riêng của mình. 

Những sự thật này rất đơn giản, rất hiển nhiên, không cần phải nói một cách triết lý cầu kỳ để chúng ta hiểu nhưng đem vào lòng để thấm thía để sống với những điều đó từng ngày, nhiều lúc chúng ta từ chối.

Đời sống của chúng ta ít khi chịu xây đắp, tu tập, bồi đắp một khả năng để sống với trí tuệ, sống với ánh sáng Đức Phật soi sáng cho chúng ta. Chúng ta thường sống bằng thói quen nhiều đời gọi là bản năng đi truy cầu trong mong mỏi tạo thêm những quan hệ. Những quan hệ này không biết mang lại cho chúng ta có bao nhiêu niềm vui nhưng khổ thì vô cùng.

Ngày hôm qua chúng tôi lên Dallas có vài công việc Phật sự nơi đó. Chư Tăng ghé vào một nhà Phật tử, người này rất thương Chư Tăng, ở trong nhà có 3 người con, những đứa bé ngoan dể thương. Nhưng chúng tôi có thể nhìn thấy được sự cực khổ của hai vợ chồng để lo cho 3 đứa con, cả 2 vợ chồng đều có công việc làm để lo, rồi lo việc Phật sự, lo việc cộng đồng, rồi 3 đứa con, đôi lúc phải nhờ đến bà nội giúp đỡ. Mình không cần nói nhiều, mình nhìn thấy đó là gánh nặng rõ ràng. Và dĩ nhiên, không thể phủ nhận được đối với bình thường cuộc sống có con cái như vậy người đời cảm thấy rất vui rất hạnh phúc, nhưng chỉ đơn giản chuyện sáng lo điểm tâm cho mấy đứa con, lo điểm tâm cho Chư Tăng thấy cũng là sự vất vả mà hai vợ chồng gánh vác. Ở đây, chúng ta không có nói sự đúng sai phải quấy, không cần tríết lý, thì con mình nuôi, lớn lên nó có cuộc sống riêng của nó nhưng những năm dài vất vả âu lo chưa kể những việc khổ, chưa kể có những cái đau mà không có bút mực nào nói hết.

Chúng ta là vậy, thân phận của con người là vậy. Mình mong có rất nhiều và mình khổ rất nhiều về những thứ đó, đó là hệ lụy của luân hồi. Không có thì khổ vì không có, mà có cũng khổ vì có. Không phải chỉ qúi vị người Phật tử là khổ vậy đâu, chúng tôi đi tu thời bây giờ rất qúi trọng một điều người tu sĩ phải có chùa to chùa lớn, có Phật tử đông, phải có đàn tín thế này thế kia, thậm chí phải có địa vị này chức vụ kia. Nhưng để làm gì? Nói nghe thì rất bi đát, nhưng thật sự niềm hãnh diện nào đó mình không biết nhưng khổ thì nhiều. Không biết chúng ta có làm chuyện lớn gì nhưng chúng ta làm lớn chuyện thì nhiều. Cái khổ nhỏ không muốn lại muốn khổ lớn. Và đời sống của chúng ta thường là chúng ta tạo cho mình những gánh rất nặng mà đối với Đức Phật thì cái khổ đó là cái khổ hiển nhiên, rất là hiển nhiên của cuộc sống. Nếu chúng ta đọc kỹ lại thời Đức Phật còn tại thế bản thân của Đức Phật, bản thân của Chư Tăng những đệ tử Phật các Ngài sống rất đơn giản đi chỗ này sang chỗ khác, thủ đắc rất ít, có rất ít. Ngày hôm nay người ta có khuynh hướng ngược lại là chúng ta mong có nhiều, có lớn chuyện để làm gì? Để mà khổ, đơn giản như vậy

Những trói trăn những hệ lụy của kiếp nhân sinh nó vô cùng. Có thể chờ cho đến khi nào bản thân của chúng ta thay đổi cái nhìn của mình, đặc biệt lúc chúng ta tu tập, từng trạng thái từng cảm thọ sanh và diệt, hết diệt rồi sanh, sanh rồi diệt tiếp nối lẫn nhau như nước chảy qua cầu, như một giòng nước thiên thu bất tận, lúc đó chúng ta mới thấy rằng: thật ra chúng ta làm chủ rất ít. 

Nhìn vào hơi thở của mình, hơi thở thì có hơi thở ra hơi thở vô, nhìn vào những cảm thọ sanh khởi, không có rồi có, có rồi biến mất nằm ở trong giòng chảy liên tục thiên thu bất tận và ở đó chúng ta mới thấy rằng tất cả những sự chấp thủ của chúng ta thật sự chỉ là ảo giác.

Chúng tôi sinh ra ở miền Tây. Miền Tây là vùng của sông nước, và đặc biệt những con sông có rất nhiều lục bình rau mát. Có một lần chúng tôi xem một đoạn phim tài liệu về Cần Thơ, nhìn giòng sông Hậu Giang có bao nhiêu là lục bình trôi lửng lơ, cả một thời thơ ấu hiện về, coi đoạn phim đó chúng tôi nhớ cuộc sống của mình cũng hiện hữu giống như giòng sông, giòng thủy lưu cuộn chảy không biết bao nhiêu nước ra biển, và chúng ta thấy rất nhiều rau mát nhiều lục bình chảy qua chân cầu mỗi ngày. Một thế giới hiện tượng xảy ra như vậy, không biết cái gì là của ai, thuộc về ai, nhưng chắc chắn rằng mọi thứ đến và đi, mọi thứ hiện hữu theo dòng cuộn chảy, và chúng ta ngồi đó mà cười mà khóc với nó và chấp thủ với nó và khổ vì nó.

Chúng tôi nhớ hồi nhỏ lúc đi học ở Vạn Hạnh với TT Tuệ Siêu, lúc bấy giờ huynh đệ hai anh em ở chùa Từ Quang, Gò Vấp. Lần đó chúng tôi gặp Pháp Sư Thông Kham được mời đến nói chuyện ở chùa Từ Quang, chúng tôi nhớ Pháp Sư Thông Kham câu nói rất ý vị, đó là, mình có 5 uẩn đã khổ rồi, mình mong thêm 5 uẩn nữa, khổ nữa, mong 5 uẩn nữa, khổ nữa,và mình cứ mong thêm, mong thêm và mong thêm, mình nghĩ được chứ thật sự khổ chất chồng. Đó là cái nhìn về cuộc sống bình thường. 

Có hai điều trong cuộc sống chúng ta là sanh ly tử biệt, sống mà phải ngăn cách, chết lại bị mất nhau. Không ai tránh khỏi sự sanh ly tử biệt đó.

Đọc những câu chuyện hay suy ngẫm mọi việc, đặc biệt như những bài kinh Đức Phật ghi lại ở tại đây. Thật ra chúng ta thấy trong cái nhìn của bậc Giác Ngộ, không phải nhìn về triết lý hay có chuyện nhồi nặn về ngôn từ trong cuộc sống này, những gì Ngài nói là một hình ảnh rất rõ nét, rất thực tế về cuộc sống, có những cái đáng yêu đáng qúi cột chặt và chi phối chúng ta. Chư Thiên cũng vậy loài người cũng vậy bị nhiều phiền lụy khổ đau khi cái chết hoặc mình chết hoặc người thân của mình chết, Đức Phật Ngài không nhìn điều đó như một sự não lòng để than dài thở vắn, Ngài nhìn điều đó Ngài khuyên chúng ta tinh tấn tu tập, tại vì nếu chúng ta không khéo tu không khéo suy tư thì từ cái khổ nó khổ nhiều thêm, khổ bất tận. Và Ngài cũng dạy cái mồi của ác ma khó vượt qua, cái khổ đó thật sự khó vượt qua. 

Ngày hôm qua chúng tôi gặp một gia đình Phật tử có mấy người con, một người đã tốt nghiệp và trở thành vị đại tá trong quân đội Hoa Kỳ tạo niềm hãnh diện lớn cho gia đình. Ở Mỹ trong lễ gắng lon lên chức trong quân đội người gắng lon là người cha hay người mẹ hay người vợ. Thì bà mẹ đến gắng lon cho con trai mình lên đại tá rất là hãnh diện về chuyện này. Và cũng trong gia đình đó lại có một người con khác, người con này không được may mắn như người anh của mình, làm ăn thất bại rồi vợ buồn xin ly dị. Chúng tôi có thể đọc được cái vui của cặp vợ chồng đó, cái buồn của cặp vợ chồng đó, khi có một đứa con được thành đạt thì rất là vui và nói về đứa con mới bị khánh tận vợ bỏ thì cặp đó rất là buồn. Thì bây giờ mình mới thấy cuộc sống không nằm ở trong một cung bậc mà nó nằm trong nhiều cung bậc. Nhưng phải nhận rằng Đức Phật dạy cuộc sống vui ít khổ nhiều và nguy hiểm nhiều hơn, không biết cái vui mình được bao nhiêu mà khổ rất nhiều, nhiều, nhiều lắm. Chúng ta có trăm ngàn nỗi khổ của cuộc sống,cái khổ của sanh hữu, nhưng chúng ta thật sự rất khó, rất khó để thấy điều này, rất khó để buông xả, để cho cái gì đi. Và cảm nhận được điều đó chúng ta mới thấy niềm tin mạnh mẽ vào pháp hành.

Pháp hành ở đây là pháp tu Tứ Niệm Xứ. Nếu chúng ta có thể nhìn thân và tâm này, cảm nhận được cái này sanh rồi diệt, rồi tiếp nối sanh diệt và trong sanh diệt đó chúng ta có thể nhận được nó có bản chất riêng có tự tánh riêng, "không phải là ta", "không phải là của ta", "không phải tự ngã của ta", càng thấy rõ như vậy chúng ta càng thấy bình tâm hơn thấy an lạc hơn. Còn cái gì đó mình nghĩ là "ta" là "của ta", "tự ngã của ta" thì thật sự mình khổ nhiều hơn. Ở đây rất rõ, Đức Phật Ngài không dạy chúng ta phải suy tư bằng triết lý, mà đơn giản là mở mắt nhìn vào sự thật, chấp nhận sự thật, ở trong sự thật đó cho chúng ta biết về những sự việc có thể xảy ra trong cuộc sống này đến đi sanh diệt, và chúng ta thử nhận thức, thử tìm xem ở trong cái đó mình làm chủ được bao nhiêu, mình làm được gì hay mình chỉ khổ thôi.

Bài học ngày hôm nay cũng như  rất nhiều bài kinh khác đôi khi cho chúng ta có cảm tưởng như Đức Phật đưa ra một thứ triết lý sống gì đó, nhưng thật sự ở đây không có triết lý sống.

Ở đây bài kệ này có đủ Tứ Đế: Khổ, Nhân Sanh Khổ, Sự Diệt Khổ và Con Đường Đưa Đến Sự Diệt Khổ.
- Khổ ở đây là sự đau khổ héo mòn, bị thần chết nhiếp phục.
- Nhân Sanh Khổ ở đây là chấp vào những khả ái, khả hỉ, khả lạc.
- Sự Diệt Khổ là người đó đã đoạn tận gốc của khổ.
- Con Đường Dẫn Đến Sự Diệt Khổ là hành trình đoạn tận ái chấp, vượt qua mồi nhử của ác ma. 

Nhưng trong bài kệ này Đức Thế Tôn không nói một cách quy mô lớn lao Tứ Diệu Đế. Ngài chỉ từ một câu chuyện nói lên lời cảm khái. Ở trong lời cảm khái này Đức Phật Ngài không nói triết lý hay nhuộm thế gian một màu. Đơn giản Đức Phật Ngài chỉ rõ cho chúng ta thấy cuộc sống là như vậy, khổ đau là như vậy, nhân sanh khổ là như vậy, sự diệt khổ là như vậy, con đường dẫn đến sự diệt khổ là như vậy.

Thật ra với một người sống với Phật pháp thường lâu ngày chúng ta sẽ đồng ý với nhau là có nhiều sự khổ, rất nhiều sự khổ do cái nhìn sai, chấp sai, sự chấp thủ cái không đáng chấp thủ mà ra, đa phần là vậy. Tại vì chấp thủ thì chúng ta khổ. Nếu chúng ta có thể soi sáng chính mình bằng những sự thật hiển nhiên chấp nhận sự thật đó và ý thức rõ điều đó xảy ra ở trong cuộc sống thì chúng ta sẽ bớt khổ rất nhiều và lúc đó chúng ta mới hiểu câu là tại sao Phật Pháp chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc. 

Trước khi nói đến "ly khổ đắc lạc" phải có "chuyển mê khai ngộ". 

Tại vì sao vậy? 

Những cái mê, những cái chấp sai, hiểu quấy trong đời sống làm cho chúng ta khổ. Bây giờ trước khi đạt đến hạnh phúc, trước khi ly khổ đắc lạc chúng ta phải chuyển mê khai ngộ. Danh từ chúng ta thường gọi ở ngoài là có Giác Ngộ  thì mới giải thoát được. Có trải qua những chuyện như ông nam cư sĩ này rồi từ đó chúng ta thắp sáng ánh sáng trí tuệ của mình thì chúng ta mới hiểu thế nào là "Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền

Bởi vì sao vậy? 

Ai có thể thấy đúng như sự thật, chấp nhận sự thật và không cưỡng cầu với sự thật thì người đó thật sự an lạc.

 Đó cũng là một cái gì rất đẹp ở trong cuộc sống hàng ngày nếu chúng ta sống với một tâm tư thanh thản, với một tâm tư ít nặng lòng. Chúng ta có thể hình dung được một vị cư sĩ có đức tin mạnh mẽ, thường đi chùa nghe pháp, duyên lành nhiều như vậy thường đảnh lễ cúng dường Đức Phật và cơ hội tu tập nhiều như vậy, thường được nghe pháp từ chính Đức Phật giảng thế mà có những lần ngồi trước mặt Đức Phật trong lòng không nghĩ đến Phật, không nghĩ đến pháp, chỉ nghĩ đến đứa con yêu qúi đã mất rồi. Chúng ta không có gì để trách cứ hay chỉ trích người đó. Chúng ta cũng vậy thôi. Có chuyện gì phải trách cứ người đó. Nhưng đó là một sự thật, sự thật cho chúng ta thấy rằng đôi khi chúng ta hữu phước, hữu duyên, hữu hạnh tới đâu mà bị che mất những hữu duyên đó, mà chỉ nghĩ đến "tôi" đến "của tôi" và sầu khổ về chuyện đó. Ở trong cuộc đời này không phải là chuyện chúng tôi phê phán ai, chúng tôi không nói ai đúng ai sai, ai hay ai dở, chúng tôi nói sự thật nó là như vậy. Sự thật là một người trải qua cảnh sanh ly tử biệt, sự thật là một người chịu khổ nhiều về sanh ly tử biệt, và sự thật về một người bị khổ như vậy không còn nghĩ, không còn thấy, không còn biết nhiều về chuyện khác, chỉ nghĩ về chuyện khổ của mình thôi. Bao nhiêu lần trong chúng ta phải bận lòng quá nhiều với sự mất mát của người thân và trong sự mất mát đó chúng ta không thấy được sự thật, chúng ta tiếp tục bị dập vùi bị cuốn theo nỗi đau khổ.

Có một Phật tử hỏi một câu với Ngài Mahashi:

 "Tất cả pháp sanh ra do duyên, và mình biết danh sắc do thức, thức do hành, hành do vô minh. Như vậy trước vô minh là gì, cái gì tạo nên vô minh?". 

Ngài Mahashi nói rằng ở trong kinh dạy rất rõ là giáo lý Duyên Khởi là một vòng tròn. Như chúng ta biết vô minh duyên cho hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử sầu bi khổ ưu não, toàn bộ ngũ uẩn tập khởi. Nhưng Ngài nói có một đầu mối nữa đó là lão tử sầu bi khổ ưu não là thức ăn của vô minh, là duyên của vô minh.

Chúng ta nghiệm trong bài học này, đúng là sầu bi khổ ưu não. Chúng ta thường nghe nói sầu bi khổ ưu ai là duyên của vô minh. Tại sao duyên của vô minh? Một vị thiện nam có nhiều đức tin và thường nghe pháp bây giờ có đứa con chết nên khổ quá, ngồi trước mặt Đức Phật bậc Thiên Nhân Chi Đạo Sư, bậc Đại Giác, bậc Đại Bi, Đại Trí mà trong lòng mình khổ, cái khổ đó khiến cho hình ảnh của Đức Phật không giống như mọi ngày, khiến cho giáo pháp của Đức Phật không giống như mọi ngày, tâm chúng ta chỉ khổ thôi. Thì sầu bi khổ ưu ai là nhân của vô minh là vậy. Chúng ta càng vô minh thì càng khổ, mà càng khổ thì càng vô minh, đời sống có cái chuyện lạ lùng như vậy. Chúng ta thiếu chánh trí chúng ta khổ, mà càng khổ nó càng che mờ chúng ta càng thiếu chánh trí. Giống như mình lái xe đi lạc đường và càng lạc đường thì chúng ta càng bối rối và càng bối rối thì càng lạc đường. 

Tất cả chúng ta đang có mặt ở trong pháp hội lớp Phật Pháp ngày hôm nay, chúng tôi mong rằng tất cả chúng ta đang có những giờ phút rất thanh thản, chúng tôi hi vọng và chúng tôi cũng mong tất cả Chư Tăng và Phật tử ở trong giờ phút này không ai đang khổ vì cảnh sanh ly tử biệt. Nếu chúng tôi không biết thì qúi vị tha thứ cho. 

Nhưng trong lúc chúng ta chưa gặp cảnh sanh ly tử biệt chúng ta hãy đem vào lòng pháp quán Đức Phật dạy là sống hàng ngày thì nên tâm niệm mình sẽ phải chia cách người thân của mình. Đó là một điều hiển nhiên, không phải chờ thân nhân đi trên chuyến máy bay rồi máy bay bị rớt như chiếc máy bay Asia vừa rồi chúng ta mới khóc, không phải chờ đến khi có thiên tai, có chiến tranh, có này có kia chúng ta mới khóc. Và cái khổ là điều chắc chắn.

"Đi chung một chuyến tàu đời, 
Mỗi sân ga lại có người xuống lên, 
Có khi mình xuống đầu tiên, 
Có khi nửa chuyến ngại ngùng chia tay,
 Đâu ai đi hết đường dài, 
Từ ga đông đến ga đoài còn nhau". 

Cuộc sống chúng ta chênh lệch, đến với cuộc đời này, người đến trước kẻ đến sau, ra đi, kẻ đi trước người đi sau. Trong cái chênh lệch đó không đến một lần không đi một lần tạo nên những cảnh não lòng phải chia tay. Nhiều khi người ta nói "người đi không khổ người ở thì khổ", nhưng cũng có người nói "người đi cũng khổ mà người ở cũng khổ". Nói cách nào đi nữa thì cũng có nhiều cái khổ.

 Chúng ta đừng quên tâm niệm của Đức Phật dạy nên nhớ đã có sống thì phải có sự phân ly, chia lìa với người thân của mình không sớm thì muộn không chóng thì chầy, người ta không bỏ mình thì mình cũng bỏ người ta, mình không thể giữ mãi, mình không thể giữ hoài, không thể nắm níu hoài, đời sống là như vậy.

Thậm chí một người rất hiểu đạo khi đứa con mình chết đã nói một câu:

"Con tôi lúc đến không mời, ra đi cũng chẳng một lời tiễn đưa, khổ vui duyên nghiệp sẵn chừa, khóc than vô ích người đưa khổ sầu." 

"Lúc đến không mời lúc đi không tiễn" đó là sự thật của cuộc sống. Hiểu được điều đó chúng ta cũng cảm thấy nhẹ nhàng với nhau. Thí dụ như trong đời sống hàng ngày đôi khi có một số quí Phật tử  buồn tại sao cũng đi chùa, cũng hộ pháp, cũng làm việc lâu mà thấy giữa Phật tử với Chư Tăng không có quan hệ thân thiết mật thiết. Chúng tôi thưa thật tình mà nói  quan hệ bình thường giữa một nhà Sư hướng dẫn Phật Pháp và người Phật tử nghe pháp ít khổ hơn, nó nhẹ nhàng hơn. Tất cả những quan hệ gắng bó mật thiết nào chúng ta nhớ rằng nó có vị ngọt của nó nhưng nó cũng có cái nguy hiểm của nó, cái nguy hiểm của nó là khổ. Giống như một cặp vợ chồng son trong sự thương yêu mình nên có con để tạo thành một mái ấm gia đình hoàn chỉnh để rồi vợ chồng có sợi giây thiêng liêng ràng buột nhau v.v... và v.v... Chúng ta chỉ nghĩ một chiều thôi và chúng ta không thấy được cái khổ mà nó mang lại. 

Bà Viskha một đệ tử của Đức Phật một lần đến chùa gặp Đức Phật với khuôn mặt rất khổ sầu. Đức Phật hỏi tại sao, bà thưa:

"Bạch Đức Thế Tôn, con có một người cháu rất thân yêu vừa mới bạo bệnh qua đời".

Đức Phật chỉ hỏi một câu là "Này Viskha, con có muốn nhiều con nhiều cháu không?"

Bà là vị Thánh Tu Đà Hườn, bà bạch với Đức Thế Tôn: "Con rất thương con cháu, thậm chí có con cháu nhiều như dân trong thành Xá Vệ con cũng cảm thấy hoan hỉ". 

Đức Phật nhắc: "Cũng may Visakha chỉ có một số con cháu thôi, nếu con cháu đông bằng thành Xá vệ thì ngày nào cũng phải khóc, vì trong thành Xá vệ ngày nào cũng có người chết

Có người ở trong thành phố Houston chúng tôi biết họ sống cả đời chuộng về xã giao hay đi giao thiệp đó đây, ai mời cũng đi, ai làm thân thì cũng gắng bó. Có lúc người đó than với chúng tôi rằng "khổ quá, quen nhiều tuần nào cũng đi đám cưới, tuần nào người ta cũng mời đi sinh nhật, mời riết rồi khổ quá, mà cho mỗi chỗ 50, 30 thấy cũng là gánh nặng rồi". Tự nhiên nó là như vậy thôi. Đời sống chúng ta không phải mình có nhiều là hạnh phúc. Nhiều khi mình mong có chức vụ này, có địa vị kia, có này có khác nhưng mình thử hỏi xem có cái đó nó làm chúng ta vui bao nhiêu, hãnh diện bao nhiêu, mà cái nhọc nhằng cái khổ nó có bao nhiêu. 

Thật ra Đức Phật Ngài không dạy cầu kỳ khó hiểu, Ngài dạy chúng ta những điều rất thực rất hiển nhiên của cuộc sống. Điều quan trọng là chúng ta nghe những điều đó bằng con mắt trí tuệ hay không, chúng ta có thể suy tư những điều đó để có thể thấy hay không.

Có một lần chúng tôi đọc một bài viết ghi lại lời giảng dạy của Ngài Ajahn Chah, Ngài thuyết pháp Ngài có một cách nói vui khó ai bắt chước được giống Ngài. Ngài diễn tả về con gà, một người nhà nông nuôi con gà, cho con gà ăn, rồi con gà quấn quít tung tăng chung quanh người nhà nông đó. Đến một ngày người nhà nông đó cột chân con gà đem ra chợ bán. Rồi có người mua đem con gà về cắt cổ làm thịt. Nhưng khi con gà sống nó không hiểu được thân phận của nó, nó vẫn tung tăng, nó không biết gì thân phận của nó là người ta nuôi nó không phải là vì thương, mà người ta nuôi nó để cho nó lớn rồi bán đi và người mua về để làm thịt. Nhưng, Ngài dạy rằng: "Thật ra đó là thân phận của tất cả chúng ta". Đối với thần chết, thân phận của chúng ta giống như con gà ăn thóc thì bươi và hí hửng tung tăng. Nhưng chúng ta không biết đến cái chết. Chúng ta không biết ý nghĩa gì về cuộc sống, chúng ta rất là hí hửng và hân hoan khi có được cái này có được cái kia, chúng ta không thấy được cái khổ của nó.

Bởi vậy, con đường Đức Phật dạy: chúng ta đó là hãy tập im lặng nhìn vào thân và nhìn vào tâm và nhìn vào hơi thở, hơi thở vào hơi thở ra, nhìn vào cảm thọ của mình, cảm thọ đến cảm thọ đi, nhìn vào tất cả 5 uẩn dù là sắc, thọ, tưởng, hành, thức nó có biến thiên nó có thay đổi. 

Năm uẩn là thường hay là vô thường, biết 5 uẩn là vô thường. 

Cái gì vô thường là khổ hay vui, biết là khổ.

Cái gì vô thường là khổ với sự sanh diệt theo lẽ thường thì có nên cho điều đó là "ta" hay là "của ta", "tự ngã của ta" chăng. Không nên.

Cho nên sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn nào dù trong đời quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, thù thắng, gần hoặc xa, các uẩn ấy chỉ là uẩn thôi, và nên nhận thức bằng chánh trí đúng theo thực tướng như vậy nó không phải là "ta" không phải là "của ta" hay "tự ngã" của ta

Bậc Thanh Văn được nghe và thấy như thế rồi thì sanh tâm yểm ly đối với các pháp, nơi nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham tâm được giải thoát, khi tâm được giải thoát vị ấy chứng đắc tuệ giải thoát, vị ấy biết rõ sanh đã tận phạm hạnh đã thành những gì nên làm đã làm và không còn tái sanh nữa .

Một đoạn kinh trong kinh Vô Ngã Tướng. Bài kinh đó chúng tôi thường tụng trong các đám tang. Tụng thì có tụng thôi nhưng có rất nhiều người trong tang quyến vừa tụng vừa khóc. Khóc vì thương cha, thương mẹ, thương con, thương anh chị em, thương người thân ra đi. Tụng là bởi vì lời ghi trong kinh chúng ta vừa tụng kinh về một sự thật và chúng ta cũng vừa khổ về một điều là không chấp nhận sự thật. Lúc nào đó qúi Phật tử nhìn thấy một người đang khóc, nước mắt đang chảy, giọng đọc nghẹn ngào mà tụng kinh Vô Ngã Tướng thì qúi vị nghe cuộc sống là cái gì rất là khổ. Mình không biết nói sao, tâm đó, trí đó, nhận thức đó, sống giữa  lằn vĩ tuyến bên này và bên kia, một bên thì sầu muộn và một bên là ánh sáng của minh triết. Ánh sáng của minh triết có khả năng soi rọi đến đâu chúng ta không biết nhưng chúng ta biết chúng ta từng đọc những bài kinh như vậy, và đọc trong nước mắt . 

Đức Phật không dạy chúng ta sống huyền hoặc xa xôi, Đức Phật Ngài dạy chúng ta nên sống với sự thật ở trên thân tâm của mình, sanh là như vậy, diệt là như vậy. Và nếu chúng ta có đủ công tâm, đủ tỉnh táo, đủ khách quan để nhìn vào sự thật thì chúng ta bớt khổ, đơn giản vậy thôi, và chúng ta càng chấp sai càng hiểu sai thì chúng ta càng khổ, chỉ đơn giản là vậy. 

Trở lại câu chuyện hôm nay, có thể là bài kinh rất ngắn, và có thể là một ý nghĩa tất cả chúng ta đều nói "chuyện đó dễ quá ai cũng hiểu rồi", và cũng có thể chúng ta nói sự thật đó rất bình thường có chuyện gì mà Đức Phật Ngài phải nói lên một câu Vô Vấn Tự Thuyết như vậy. Nhưng kỳ thực đó là một ý nghĩa lớn, rất lớn, một điều cần được thâm nhập được đem vào lòng, đó là sự thực hiển nhiên và ở đó cũng cho chúng ta thấy cái oái oăm của cuộc sống là nó rõ như vậy mà chúng ta không thấy, nó cần thiết sự nhận thức như vậy mà chúng ta thường từ chối không chịu nhìn nhận, và chúng ta bị vấp ngã, bị vướng vấp, bị khổ đau nhiều như vậy chúng ta vẫn chưa tỉnh. 

Bài kinh này không biết chúng ta có đọc có tụng thành một trang kinh mỗi ngày để chúng ta có hiểu không. Chúng ta nhớ Đức Phật dạy chúng ta nên thường quán 5 pháp, 5 pháp này không có chuyện gì khó hiểu hết, đơn giản thôi:

- không ai trẻ mãi không già, 

- không ai khỏe mạnh hoài không bệnh,

- không ai sống hoài không chết,

- không ai không chịu cảnh khổ sanh ly tử biệt chia cách với người thân của mình

- và không ai không có nghiệp riêng của mình.

Kinh NĂM PHÁP QUÁN

Phật xưa rằng kiếp nhân sinh
Lắm điều khổ lụy chẳng dành riêng ai
Xuân xanh rồi cũng tàn phai
Thời hoa mộng tựa sương mai đầu cành
Tấm thân tứ đại hiệp thành
Ốm đau tật bệnh thường tình xưa nay
Dù cho thọ mạng ngắn dài
Cổ kim nào kẻ thoát tay tử thần
Người thân ly biệt người thân
Trăm năm bao lượt khó ngăn lệ nhòa
Mỗi người riêng nghiệp thiểu đa
Rừng mê bể khổ phải qua một mình
Tử sinh nối tiếp tử sinh
Trầm luân khởi tự vô minh cội nguồn
Trí nhân hiểu lẽ vô thường
Tinh cần tu tập thẳng đường vô sanh. 

 Những pháp quán đó nhiều khi chúng ta không muốn quán, chúng ta không muốn nghĩ, thậm chí chúng ta không muốn nhắc tới, nhưng rồi sự thật nó là như vậy, nếu chúng ta thường thấy, nếu chúng ta thường tâm niệm, thường suy ngẫm thì khi chúng ta đối diện với cái chết chúng ta đỡ khổ hơn, khi chúng ta phải trải qua chúng ta đỡ khổ hơn. 

Và đôi khi chúng ta phải nhắc với chính mình rằng đời sống mình xa đà, đời sống mình khổ là tại vì mình quên lời Đức Phật dạy, tại vì mình không chấp nhận sự thật, và tại vì mình không chịu nhìn vào sự thật. Nếu mình nhìn vào bằng con mắt trí tuệ, bằng sự thanh thản và bằng sự khách quan thì chúng ta thấy Đức Phật đúng là bậc Giác Ngộ, lời dạy của Ngài đúng là Phương Lương Dược và cái trí tuệ mới là sự nghiệp to lớn. 

Hiểu được điều này chúng ta mới hiểu tại sao Đức Phật dạy:

"Này Chư Tỳ Kheo, cái mất mát này là nhỏ bé, là mất mát của danh, mất mát của lợi, mất mát của người thân. Cái mất mát lớn đó là mất mát của trí tuệ".

Không phải lời dạy của Đức Phật chúng ta dễ thấm thía. Chỉ những khi chúng ta tâm niệm được điều Đức Phật dạy ở tại đây, " đúng là sự mất mát của trí tuệ là sự mất mát lớn", sự mất mát đó làm chúng ta khổ rất nhiều, mình tưởng sự mất mát khác là lớn chứ lớn cái mất mát của trí tuệ mới là sự mất mát lớn. 

Đó là vài điều chúng tôi muốn chia sẻ với qúi Phật tử./.

Monday, August 3, 2015

Kinh Phật Tự Thuyết - Phẩm Bồ Đề - Kinh Bahiya

Kinh Phật Tự Thuyết - Phẩm Bồ Đề - Kinh Bahiya 

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 11-1-2015, Minh Hạnh chuyển biên và biên tập

(Xin lưu ý: Tất cả những bài chuyển biên này chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

TT Giác Đẳng: Bài học hôm này Kinh Phật Tự Thuyết - Kinh Bahiya hơi dài, chúng tôi xin được chia bài kinh này thành ba phần: 

Phần thứ nhất, kể câu chuyện liên quan đến Bahiya.

Phần thứ hai, một số chú giải liên quan đến Ngài Bahiya.

Phần thứ ba, ý nghĩa của một lời dạy xúc tích cô đọng nhưng đặc biệt rất quan trọng với tất cả những người hành thiền 

1.Phần thứ nhất, kể lại câu chuyện liên quan đến Bahiya.

Câu chuyện kể Bahiya là một người thương buôn đã đi bằng con đường hàng hải tức là đường biển đến nhiều nơi, lần cuối cùng Bahiya đi sang xứ Suranapong là vùng đất Thái Lan bây giờ, vì Thái Lan có tỉnh Phuket giáp với Ấn Độ Dương, thời đó trong sự giao thương người Ấn Độ có đến Surànapong để buôn bán. Trong chuyến đi trở về thuyền bị bão và bị chìm, Bahiya trôi dạt vào trong cảng Suppàraka miền duyên hải của xứ Suranapong. Cũng do phúc duyên nên không chết, khi trôi vào trong bờ thì không còn y phục bất cứ thứ gì để che thân Bahiya phải phấn đấu sinh tồn bằng cách tìm những vỏ cây bện lại thành y phục.

Sau nhiều ngày ăn trái cây rừng và dùng vỏ cây để che thân Bahiya đi đến một làng. Bởi vì Bahiya là một người có tư cách trí thức và là một người tương đối từng trải nên khi gặp những người dân trong làng với hình ảnh của một người có uy nghiêm riêng đồng thời dùng vỏ cây để làm y phục thì tự nhiên được sự tín ngưỡng của người trong làng. Người Ấn Độ họ rất sùng bái những nhà tu hành, những vị đạo sĩ sống trong rừng và có đặc hạnh, trong trường hợp này Bahiya dùng vỏ cây để làm y phục thì họ phát tâm kính ngưỡng.

 Nhân sự tùng sự. Ban đầu Bahiya cảm nhận người trong làng đã sùng bái mình quá đáng, nhưng dần dà cũng tùy thuận trong sự giao tiếp. Bahiya bỗng nhiên nhận thấy mình giống như vị đạo sĩ và thật sự cũng mong mình là vị đạo sĩ. Rồi dần dà trong phong cách của vị này đã hướng dẫn một số người trong làng hướng về đời sống thanh tịnh. Những người trong làng kính trọng Bahiya giống như một ông thánh sống. Ở trong đời chúng ta có chuyện như vầy, đôi khi mình không nghĩ mình là Thánh, đôi khi mình không nghĩ mình là Tiên là Phật nhưng người khác họ tôn sùng mình quá lâu ngày mình có cảm tưởng mình là vị Thánh thật sự. Trong tiếng Phạn có chữ Arahan là Alahán chúng ta dịch là bậc Ứng Cúng tức bậc đáng cúng dường để chỉ cho bậc thanh tịnh. Bahiya thấy sau chuyến đi thập tử nhất sinh bây giờ sống tại đây ở trong am tranh giản dị trong lòng cũng thanh thản không muốn gì hết cũng không màn những gì cho đời sống hiện tại và thập chí nghĩ có lẽ mình đã thật sự là một vị Thánh.

Trong kinh ghi có một vị Chư Thiên vốn bà con đời trước thấy Bahiya như vậy sanh tâm trắc ẩn vào buổi tối báo cho Bahiya biết thật ra Bahiya không phải là vị Alahan và cũng không biết pháp để trở thành vị Alahan, cũng không hành trình trên đạo lộ của vị Alahan, và ở hướng tây có một thành phố tên là Sàvatthi ở đó có bậc Đại Giác ra đời, Ngài là Phật, là Đức Thế Tôn, Ngài đúng là bậc Alahan, nếu Bahiya tìm đến Ngài sẽ dạy cho con đường để trở thành vị Alahan.

Điều này cũng là duyện đặc biệt, đôi khi người Phật tử hồi hướng đến Chư Thiên để có khi Chư Thiên nhắc nhở mách bảo (chúng ta gọi là cảm ứng) mình được nhiều cái lợi. Đặc biệt ở trong này Chư Thiên và Bahiya vốn có thiện duyên từ kiếp trước là bà con quyến thuộc

Bahiya không phải chỉ là người có túc duyên với Chư Thiên mà lại là một người phước hạnh đã chín mùi để trở thành vị giác ngộ. Khi nghe nói Đức Phật bậc Giác Ngộ tại thành Xá Vệ Bahiya đã rời làng một nơi tương đối nhiều người kính ngưỡng mình để đi về thành Xá Vệ trong tâm trạng rất nôn nóng gặp Đức Phật, gặp bậc Giác Ngộ, rất thiết tha học đạo để tìm ra con đường trở thành bậc Alahan.

Bahiya đặt chân đến Xá Vệ không khó khăn để tìm ra ngôi chùa Kỳ Viên một nơi được xem nổi tiếng nhất trong thành Xá Vệ ngoài hoàng cung. Bahiya khi đến gần chùa Kỳ Viên thấy Thế Tôn đang đi khất thực, khả ái, liền khởi lên tịnh tin. Bàhiya liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, cúi đầu xuống chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

-" Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con, Thiện Thệ hãy thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể được hạnh phúc an lạc lâu dài."

Bahiya đến cầu đạo một cách rất nôn nóng, Đức Thế Tôn Ngài đã dùng cách từ chối để tâm của Bahiya trung hoà lại một chút, sau đó Ngài đã dạy đạo lý những lời dạy này rất cô đọng nhưng chứa đựng những ý nghĩa rất quan trọng.

Trong kinh nói, sau khi Bahiya nghe Đức Thế Tôn giảng đã thành tựu quả vị Alahan ngay lập tức. Sau đó Đức Thế Tôn tiếp tục đi khất thực. Bahiya sau khi thành tựu quả vị nghĩ đến việc đi tìm y bát để trở thành vị xuất gia. Nhưng không lâu sau đó bị một con bò húc chết. Khi Đức Thế Tôn đi khất thực về nhìn thấy thi thể của Bahiya nằm bên vệ đường Ngài đã dạy Chư Tỳ Kheo "đó là vị đồng phạm hạnh hãy hóa táng và xây tháp thờ". Đức Thế Tôn đã gọi Bahiya là một trong những đệ tử đệ nhất tốc trí tức lãnh hội rất nhanh, chỉ nghe một câu rất ngắn và đã trở thành một vị viên mãn giải thoát. Và Đức Thế Tôn cũng đọc lên bài kệ

Chỗ nào nước và đất, 

Lửa, gió không chấp trước,

Tại đây sao không chói, 

Mặt trời không chiếu sáng, 

Tại đây trăng không chiếu, 

Tại đây u ám không, 

Khi ẩn sĩ Phạm chí, 

Tự mình với trí tuệ, 

Thể nhập vào Chánh pháp, 

Vị ấy được giải thoát Khỏi sắc và vô sắc,

Khỏi an lạc, đau khổ.

2. Phần thứ hai, một số những chú giải liên quan đến Ngài Bahiya

Trường hợp của Bahiya là một trường hợp ở trong chú giải đề cập đến nhiều. Một là Bahiya đã thành tựu đạo quả trong thời gian rất ngắn bởi vì trong thời Đức Thế Tôn Padumuttara vị này đã từng làm một phước hạnh lớn và phát nguyện sau này gặp được chánh pháp sẽ chứng đắc Thánh quả một cách nhanh chóng. Do vậy trong đời này sau khi Balamật hạnh đã viên mãn Bahiya gặp Đức Thế Tôn Ngài chỉ nói một câu thì thành tựu quả vị giải thoát rất nhanh.. 

Nhưng Bahiya có hai bất thiện nghiệp: 

1. Bahiya từng là vị Tỳ Kheo hành trì giáo pháp lâu năm ở các đời Chư Phật quá khứ, trong suốt thời gian tu tập chưa bao giờ cúng dường bố thí y và bát đến các vị xuất gia. Ở đây, chúng tôi cũng phải nhìn nhận khi vào chùa tu có những vị tâm không hiểu sao chỉ nhận sự cúng dường chứ không bao giờ bố thí, không bao giờ tạo phước, chúng tôi có gặp nhiều vị như vậy, và đặc biệt mình đi xuất gia có tứ vật dụng do Phật tử cúng y bát lẽ ra mình nên trợ duyên giúp cho người khác tu tập. Thì Bahiya không bao giờ giúp cho người khác tu tập do vậy khi gặp Đức Thế Tôn mặc dù đã giác ngộ đạo quả nhưng không thể trở thành vị tỳ kheo có y có bát vì thiếu phước bố thí trong quá khứ. Các Phật tử ở các quốc gia Phật giáo phần đông nếu có điều kiện qúi Phật tử thường hoan hỉ tổ chức lễ Dâng Y Kathina để nói lên sự qúi kính đối với hình tướng xuất gia để tạo phước duyên cho đời sau đi xuất gia có nhiều thuận duyên gặp Đức Phật để trở thành vị bhikkhu.

2. Một bất thiện nghiệp khác trong quá khứ khiến cho Bahiya bị bò húc là trong quá khứ Bahiya dùng tên bắn vị Phật Độc Giác do tâm cuồng nộ nên đời này bị quả nghiệp như vậy. 

Câu chuyện về Ngài Bahiya nói lên một điểm ở trong đời sống chúng ta là một tổng hợp của những thiện nghiệp và bất thiện nghiệp của quá khứ. Ở đây không có chuyện gì là rủi là may mà nó là quả của nghiệp. Và Ngài Bahiya đã thành tựu đạo quả với thắng trí rất nhanh gọi là tốc trí citta-Javana, nhưng ngược lại thì không có được thuận duyên như những vị khác những đệ tử xuất gia sống bên chân Đức Phật. Thì cuộc đời của chúng ta, mình không thể lấy một việc mà nói người đó có phước, mình không thể lấy một việc mà nói người đó vô phước, có khi có phước việc này lại không có phước về mặt khác. Về điểm đó cũng là một việc khẳng định cái nhìn của chúng ta đôi khi không có chính xác. 

3. Phần thứ ba là ý nghĩa của một lời dạy xúc tích cô đọng nhưng đặc biệt rất quan trọng với tất cả những người hành thiền 

Chúng ta đi vào bài giảng của Đức Phật cho Bahiya, sau đó là bài kệ do chính Đức Phật Ngài nói lên mà từ cảm khái nhìn vào sự việc. Chúng ta đọc kỹ đoạn này:

- "Vậy này Bàhiya, Ông cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái thức tri, sẽ chỉ là các thức tri ". Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau". 

Bài kệ rất ngắn nhưng hàm xúc và cô đọng nhiều ý nghĩa rất quan trọng. Trước khi chúng ta đi vào từng phần của lời dạy này chúng ta nên nhìn 4 điểm ở trong đời sống.

1. Điểm đầu tiên, trong cái nhìn của khoa học, phương pháp nghiên cứu khoa học có một phương thức là loại bỏ những cái không phải để tìm ra cái thật sự là phải. Thí dụ chúng tôi có một câu hỏi muốn tìm giải đáp và ở ngoài kia có một chục câu trả lời, ở trong chục câu trả lời đó mình biết có câu trả lời đúng thì mình có 2 cách: một là mình tìm những câu trả lời sai và loại bỏ những câu đó, cách thứ nhì là đọc những câu sai và sau cùng chọn câu đúng trong số những câu sai. 

Ở trong lớp chúng ta thỉnh thoảng có bài thi trắc nghiệm, chúng ta có 1 câu hỏi và có 4 câu trả lời thì mình biết câu đúng nằm ở trong 4 câu đó . Nhưng cũng có một cách khác, thay vì tìm câu đúng thì tìm câu sai, câu A là sai không lấy, câu B là sai không lấy, câu C là sai không lấy thì như vậy câu đúng phải là câu D. Thì ở trong 4 câu có một câu đúng. Điều này người tây Phương gọi là approach là phương pháp tiếp cận, phương pháp nhận diện, thay vì nhìn cái gì cũng đúng thì chúng ta nhìn cái không đúng. Phương thức này rất có lợi cho chúng ta. Và chúng ta không nhìn cuộc sống bằng định kiến, thay vì nó phải thế này, nó phải thế kia, thì mình nói là cái này không phải, cái kia không phải.

2. Điểm thứ hai: Ở trong cuộc sống chúng ta thường vướng vấp bởi 3 định kiến là ngã, ngã sở và mạn tùy miên.
Ngã là đây là tôi, thí dụ mình là người lục tỉnh,  là người miền Tây, có ai chê người miền tây quê mùa, đó là đụng tới tôi, vì tôi là người miền tây, miền tây là tôi, đó gọi là "ngã". 

- Ngã Sở. Mình làm trụ trì trong chùa mình nghĩ cái ghế đó phải là cái ghế của mình ngồi, người khác ngồi vào mình giận gọi là "ngã sở" hay là "của tôi", nó là "của tôi", tuy nó không phải là "tôi" nhưng nó là "của tôi", ai đụng đến "cái của tôi" thì tôi cũng nổi giận được. 

- Mạn tùy miên. Mạn tùy miên tức là "tự ngã của tôi". Tự ngã của tôi mang tánh cách so đo, so sánh giữa mình và người khác. Ví dụ như người ta là ca sĩ mình là cũng là ca sĩ nhưng có ai trước mặt mình khen ca sĩ khác thì tự nhiên bản thân mình là ca sĩ mình cũng thấy nóng mặt, người ta là Pháp Sư mình cũng là Pháp Sư nhưng người ta gặp mình người ta không khen thuyết pháp hay mà người ta khen người khác thuyết pháp hay mình cũng nóng mặt, cái đó gọi là "mạn tùy miên". 

Ngã, ngã sở, mạn tùy miên - đây là tôi, đây là của tôi  và đây là tự ngã của tôi  chính quan niệm này chúng ta tạo ra rất nhiều vấn đề  của cuộc sống, rất nhiều  đau khổ của cuộc sống. 

Tại vì sao vậy?

 Trong một bài kinh rất quan trọng  là kinh Căn Bản Pháp Môn, bài kinh đầu tiên của Trung Bộ Kinh  có đề cập đến cái nhìn của phàm phu  là khi nhìn vào thế giới này từ địa đại, phong đại, hỏa đại, thủy đại, từ các cõi, các hạng người, nói chung là cả thế giới này thì Đức Phật dạy rằng kẻ vô văn phàm phu luôn luôn lấy tự ngã đối chiếu với thế giới này, tự ngã đối chiếu với tứ đại, nhìn cái gì đi nữa, dù là xa, dù là gần, dù thế này thế kia thì đều đối chiếu với tự ngã. 

Một bi kịch vừa xảy ra ở nước Pháp, những người khủng bố tấn công  tòa soạn một tờ báo tại vì những người Hồi giáo khủng bố tin rằng tờ báo đăng hình hoạt kê biếm họa châm chích về Hồi giáo thì họ phải trừng trị. Đó là vấn đề ngã, ngã sở, mạn tùy miên - đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi và nó tạo nên bi kịch.

 Trong cuộc sống của chúng ta hàng ngày nếu từ sáng cho tới chiều mình thức dậy mình luôn luôn có những quan niệm, có những cái nhìn, có những nhận thức mà thật ra chúng ta vô tình không biết, cái nào mình cũng thấy rằng đó không phải là "tôi" thì cũng "của tôi", không "của tôi" thì cũng "tự ngã của tôi". Mình nghĩ rằng quan niệm đó mang lại cho mình niềm vui, thật ra nó tạo cho mình rất nhiều vấn đề.

Chúng tôi lấy ví dụ, chúng tôi đang ở chùa Phật Quang, ngôi chùa mới được  tạo lập bởi qúi Phật tử thập phương đóng góp trong vòng mấy tháng để tạo ngôi chùa. Có Phật tử đến nói rằng "Thật sự Thầy rất giỏi, chỉ trong thời gian ngắn Thầy có thể mua được ngôi chùa thì thật sự đó là điều phải nói là Thầy rất có tài ". Rồi có Phật tử khác đến nói rằng: "TT tạo lập ngôi chùa mà ngôi chùa phải có tầm cỡ chứ ngôi chùa sao nhỏ quá, ngôi chùa này so với những ngôi chùa khác không đủ tiện nghi gì hết". Thì thưa qúi vị, cũng ngôi chùa đó có lời khen, có lời chê, có người nói thế này, có người nói thế kia. 

Nhưng thật ra mình phải nhìn thấy một điều là mình làm một ngôi chùa nói giỏi thì không phải giỏi tại vì đó là sự phát tâm của qúi Phật tử xa gần. Nói theo ngôn ngữ của Phật Pháp là do duyên làm nên, có nhiều khi không gặp duyên lành thì mình cũng không làm được. Còn nói làm lớn làm nhỏ thì thật ra làm lớn nhiều tiền quá không có tiền. Quan niệm về lớn về nhỏ, nếu tỉnh táo một chút xíu ở trong đời sống chúng ta thấy mình vui ở trong lời khen và mình buồn ở trong lời chê thì nó chỉ là một sự nông nỗi, chỉ là sự chấp sai. 

3. Điểm thứ ba: Trong ngôn ngữ rất chuyên môn Phật Pháp là mình lấy tự ngã đối chiếu với thế giới này, khi mình lấy tự ngã đối chiếu với thế giới này mình tạo ra rất nhiều vấn đề cho cuộc sống. 

Cũng khuôn mặt đó, cũng mái tóc đó có người khen đẹp có người nói không đẹp. Cũng thành phố đó có nhiều người thiết tha có nhiều người thấy thành phố đó mơ mộng. Qúi vị đừng nói thành phố Paris là kinh đô ánh sáng, nhiều người thích. Một lần chúng tôi hỏi một vị Thầy đến thăm Paris: "Thầy nghĩ thế nào về thành phố Paris?" Thì vị Thầy nói "Thành phố gì phân chó khắp nơi" Tại vì người Pháp thường hay dẫn chó dạo ngoài đường họ để cho chó đại tiện bừa bãi, chuyện đó chúng tôi không phủ nhận, thật ra thành phố để chó đại tiện bừa bãi như vậy cũng là sự không nên. Nhưng đó không phải tất cả là Paris, Paris có như vậy nhưng không phải là tất cả. Cũng có những người chúng tôi hỏi Paris thế nào, thì họ nói Paris gì mà xuống dưới metro (xe điện ngầm) rất là khai, là vì người Pháp làm đường hầm không có tiện nghi như người Mỹ, người Mỹ thật sự khắp nơi đều có nhà vệ sinh, còn người Pháp thật sự đi tìm nhà vệ sinh rất cực do vậy có nhiều khi mình xuống đường hầm mình nghe có mùi khai là tại vì có nhiều người  nếu được tiện nghi thì họ không tiểu tiện bừa bãi như vậy. Nhưng mùi khai dưới metro không phải là tất cả là Paris. Nói Paris là kinh thành của ánh sáng của hoa lệ, cũng đúng, đại lộ Élysées hay khu La Fayette có bao nhiêu tiệm, có bao nhiêu boutique (cửa hàng nhỏ bán quần áo thời trang, đồ trang sức, hoặc những thứ đắt tiền), có bao nhiêu khu thương mại rất giàu, có những hotel 5 sao v.v.. và v.v.. Thì mình nói sao về Paris?  Paris là tổng hợp của tất cả những thứ đó.

Cuộc sống là như vậy,  giống như cuộc đời của Ngài Bahiya, đó là sự tổng hợp của những thiện và những bất thiện, của những cái thuận, những cái chướng, những cái đẹp và những cái không đẹp. Chúng ta chỉ muốn cuộc đời là thế này, cuộc đời là thế kia, chúng ta phán một câu vô tội vạ. Thật ra nó không chỉ là sự nông nỗi trong sự nhận thức mà nó cũng là sự phiến diện của chính mình. Chính sự chấp thủ này làm chúng ta khổ, chấp thủ vào khen, chê, vui, khổ, đặng, thất, vinh, nhục làm chúng ta khổ là vì chúng ta không thấy được.

 Chúng ta nên hiểu chấp thủ về ngã, ngã sở, mạn tùy miên  là một cái gì ăn sâu dấu kín trong lòng chúng ta và nó luôn luôn là vậy, nó là một tiền khiên tật, thường cận y duyên, là một cái gì đó, một cái thói quen lâu đời nhiều kiếp chứ không phải chỉ có đời này, chúng ta luôn luôn đem tự ngã để đối chiếu với thế giới này. Đức Thế Tôn là một vị Giác Ngộ rất hi hữu, Ngài đã dạy về con đường làm sao để gỡ bỏ điều đó, thay vì đi tìm cái ngã, thay vì đi tìm ngã sở, thay vì đi tìm cái gì đánh mất cái ngã của mình thì Đức Thế Tôn khuyên hãy nhìn thế nào mà nó không phải là ngã. 

Ở trước sân chùa có một bụi hồng rất đẹp, chúng tôi chưa bao giờ thấy hoa hồng đẹp như vậy, bên ngoài màu đỏ bên trong màu trắng,  nó có rất nhiều cánh hoa màu từ đỏ nhạt dần cho đến màu trắng, đóa hoa rất lớn bằng bàn tay chúng tôi  xòe ra. Có một Phật tử hôm qua đến gặp chúng tôi nói ở sân chùa có hoa hồng đẹp quá. Chúng tôi thưa rằng "thật ra thì những người Phật tử của ngôi chùa Đài Loan trước kia họ trồng hoa hồng đó, chúng tôi cũng chỉ mới dời về đây mấy tuần lễ thôi", nhưng chúng tôi phải nhìn nhận đó là hoa hồng rất đẹp. Chúng tôi có thể đồng ý là hoa hồng đẹp nhưng  để hãnh diện nói đây là của tôi, do tôi trồng, thì không thể hãnh diện như vậy. Tại sao? Hoa hồng đó mình không trồng và mình không làm cái gì để cho nó đẹp, nó chỉ có mặt một cách rất tình cờ do người chủ trước đã trồng và bây giờ hoa nở ra đẹp, nhưng cũng không phải vì nó không phải mình trồng mà mình không thưởng thức nó, nó vẫn đẹp. 

Ví dụ, qúi Phật tử vào rơom nghe pháp, nghe một vị Sư giảng, đôi khi có nhiều người nghĩ ông Thầy là Thầy của mình ông nói gì mình nghe cũng hay và nếu ông Thầy không phải của mình thì ông nói gì nghe cũng dở, thì đó sự thiệt thòi của chúng ta. Không phải vì ông Thầy đó thân với mình mà ông thuyết pháp gì cũng hay, cũng không phải vì không thân với mình ông thuyết pháp gì cũng dở. 

Nhưng vấn đề chính của chúng ta là gì? chúng ta thường cột cái ngã của mình vào, đây là tôi, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi. 

4. Điểm thứ tư: Đức Phật Ngài dạy chúng ta nên đặt cái nhìn của mình, thứ nhất là chúng ta ý thức sự hiện hữu, cái ý thức sự hiện hữu Đức Phật gọi là Sati là Niệm. Nhưng sắc uẩn chỉ là uẩn, thọ uẩn chỉ là uẩn, các uẩn đó chỉ là uẩn, uẩn chỉ là uẩn, đó gọi là sự chú ý đơn thuần. 

Sự chú ý đơn thuần là pháp sanh diệt mình biết là nó sanh nó diệt, không thêm không bớt, chỉ biết như vậy thôi. Đây là một kỹ thuật một bí quyết rất khó trong đời sống. Chúng ta thường phản ứng hoặc xua đuổi những cái gì không thích, dẫy nảy từ chối cái gì  không vừa lòng và bám víu cái gì chúng ta vừa lòng trong đời sống. Nhưng trong sự dẫy nảy từ chối hay sự bám víu chấp thủ dính mắc chúng ta quên rằng tự mình chuốt lấy cái khổ. 

Bởi vì sao? Bởi vì các pháp có sanh và diệt, nó sanh và diệt theo tự tánh của nó, nó đến và đi, giống như đóa hoa hồng nở ở ngoài sân. Đóa hoa hồng nở không phải do sự chủ động của mình và khi nó tàn mình cũng không làm chủ được nó, nó nở ra đầy hương sắc mình cũng không làm chủ được nó nhưng mình vẫn nói cái hoa hồng là của tôi, nó nằm trong sân chùa của tôi thì nó là của tôi, tôi nên hãnh diện về nó khi ai khen vì nó là của tôi, nhưng kỳ thật hoa hồng chỉ là hoa hồng nó có tự tánh riêng của nó. Bây giờ qúi Phật tử nói "Thầy trồng hoa hồng đẹp quá" chúng tôi cũng không biết là chúng tôi có cái gì để hãnh diện với nó vì nó chỉ là nó thôi. 

Chúng ta nghe Đức Phật dạy rằng: "Này Chư Tỳ Kheo, cho nên sắc uẩn nào dù trong đời quá khứ hiện tại vị lai, bên trong bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, thù thắng, gần hoặc xa các uẩn ấy chỉ là uẩn thôi, các con nên nhận thức bằng chánh trí đúng theo thực tướng như vậy, đó không phải là ta, không phải là của ta, không phải là tự ngã của ta".

Khi mình nói sắc uẩn chỉ là sắc uẩn thôi, thọ uẩn chỉ là thọ uẩn thôi, tức là mình không thêm không bớt, nó đến như vậy và nó đi như vậy, không nói đây là "ta", đây là "của ta", đây là "tự ngã của ta". Cái nhìn đó là cái nhìn lẳng lặng trong cõi tịch lặng, cái nhìn của vô ưu, cái nhìn không có mang vào tự ngã kiến chấp, không có mang cái gì. 

Có cái gì để mà phải vật lộn khó chịu khi nhìn hơi thở vô hơi thở ra, rất đơn giản, hơi thở vô biết hơi thở vô, hơi thở ra biết hơi thở ra, cảm thọ đau nhức đến biết đau nhức, đi biết, chân mặt bước tới biết bước tới, dừng lại biết dừng lại, tất cả những thứ đó nó đến, nó đi, nó sanh, nó diệt, biết nó hiện hữu. Chỉ ghi nhận và ghi nhận một cách đơn thuần, đây là thở vô, đây là thở ra, thở dài, thở ngắn, không cần phải nói là "tôi thở", "tôi định tâm", "tôi thế này" "tôi thế kia", "tôi hay" "tôi dở". 

Tại sao mình phải làm như vậy?  Sự chú ý đơn thuần cho phép chúng ta nhìn vào thực tại bằng tâm rất an tịnh, cuộc sống là vậy, đến như vậy đi như vậy. Và cũng đừng nên quên một điều cái làm cho mình sung sướng nhất là ngã, ngã sở, mạn tùy miên, tức là cái tôi, cái ta, đây là của tôi, đây là tự ngã của tôi, chúng ta phải nhìn thấy rất kỹ nó chỉ là ảo giác thôi và nó mang lại cho chúng ta nhiều cái khổ, rất là nhiều cái khổ. 

Quí vị cứ tưởng tượng  ở trong cuộc đời mình người ta khen mình mình vui người ta nói nở lỗ mũi ra, người ta chê mình thì mình xụ mặt xuống. Có lần chúng tôi nghe Ngài Hộ Giác ví dụ,  Ngài nói tâm của mình không tu giống như cục bột người ta muốn nặn vuông thì vuông muốn nặn tròn thì tròn, cuộc đời họ muốn mình hí hửng họ khen mình một câu, cuộc đời họ muốn mình sầu muộn thì họ chê mình một câu, rõ ràng quan niệm về "tôi", "của tôi", "tự ngã của tôi" tạo cho mình vô số vết thương lòng, mình trách móc người khác, người ta chửi mình, nó mắng tôi, chửi tôi, cướp tôi v.v... nhưng  kỳ thật nó đến từ cái chấp sai  của mình. 

Đức Thế Tôn đã từng dùng rất nhiều thí dụ, một thí dụ nhẹ nhàng gần gủi chúng ta nhất là những chiếc lá trong sân chùa, những đồ trong chùa đã mất tánh tư hữu rồi mà nó là những chiếc lá rụng vào mùa thu, chiếc lá trên cành đôi khi người ta còn tha thiết nhưng lá rụng thì người ta chỉ quét dọn thôi và Đức Thế Tôn hỏi rằng: 

"Này Chư Tỳ nếu có ai đó đem những chiếc lá trong chùa Kỳ Viên gom lại đốt hay đổ xuống hố sâu các con có vì thế mà buồn mà phiền không?" 

"Bạch Đức Thế Tôn, không, tại vì chúng con không liên tưởng đến ngã, đến ngã sở"

Đức Phật dạy "sadhu, các con hãy nhìn 5 uẩn như vậy".

Nếu chúng ta có thể có một cái nhìn chú ý đơn thuần những pháp nào sanh khởi chúng ta biết sanh khởi, pháp nào diệt chúng ta biết là diệt, hơi thở của chúng ta, cảm thọ của chúng ta, những hiện tượng tâm lý sinh lý, những gì thuộc vật chất tinh thần, những gì nội phần, ngoại phần, trong và ngoài nó như một giòng chảy một giòng sinh diệt tiếp nối, chúng ta có thể càng ngày càng thấy rõ được bản chất phù du trong từng sát na. 

Ví dụ, hơi thở sau có cái gì để chấp với hơi thở trước, hơi thở trước có cái gì chấp với hơi thở sau. Cái cảm giác hồi nãy và bây giờ có gì để mà chấp. Hồi nãy mình có cảm giác sung sướng và nói "bữa nay tôi hạnh phúc quá" cái "tôi" trong đó nhưng bây giờ cảm giác nó đã đi mất rồi. Thọ chỉ là thọ thôi, tưởng chỉ là tưởng thôi, hành chỉ là hành thôi, thức chỉ là thức thôi. 

Bởi vậy phương thức tiếp cận với thực tại thiền Tứ Niệm Xứ là một phương thức rất lợi lạc, cái lợi lạc ở  đây là mình cho tâm mình một công việc đó là ghi nhận nhưng trong sự ghi nhận đó mình làm sao để tâm mình không có chấp thủ không có vướng vấp và làm thế nào ở trong cái nhìn, từ cái thấy, cái nghe, từ cái thọ, cái tưởng tất cả mọi thứ có thể được thấy được biết mà không cần phải đem vào trong đó quan niệm đây là "tôi", "đây là của tôi", "đây là tự ngã của tôi".

Sự tu tập trong Phật Pháp có khác với thế gian. Thế gian bắt đầu là đi tìm cái "ngã" đi tìm cái "tôi". Nhưng Đức Phật dạy chúng ta nên ý thức được cái nhìn sai lầm về ngã chấp ở trong chính cái thấy, cái nghe, cái tiếp xúc của mình. Và khi mình nhận thức được mình đã có lầm tưởng về cái "tôi", cái "của tôi", cái "tự ngã của tôi" thì thật sự nó không cần thiết để đặt ra vấn đề là cái gì thật sự là cái "ngã".

Thật ra, đây là một sự khác biệt rất lớn giữa Phật Giáo và Bà la môn giáo, giữa Phật Giáo Nguyên Thủy và Phật Giáo Phát Triển, thay vì đi tìm một cái gọi là chân ngã, thì không, tại sao phải đi tìm cái chân ngã, điều quan trọng là thắp sáng được ý thức, thấy được ngã chấp mang lại cho mình đau khổ, chừng đó là đủ, ở đâu chấp ngã thì ở đó khổ, bây giờ mình bớt chấp thì bớt khổ, càng bớt chấp thì bớt khổ, đó là pháp trị liệu rất đơn giản nhưng hữu hiệu vô cùng. 

Ngài Xá Lợi Phất dạy: khi người ta chửi mình thì mình nên thấy lời chửi là âm thanh, tai nghe, ý thức nhận biết. Đó chỉ là một thế giới của hiện tượng của căn cảnh thức gặp nhau, cũng là một cách chú ý đơn thuần. Trong cuộc sống này không dễ dàng để chúng ta thay đổi cái nhìn của mình. 

Ở đây, Bahiya đã từng sống trong tâm trạng nghĩ mình là Alahan, chỉ riêng nghĩ mình là Alahan đã là một ngã chấp rất lớn. Trong cái nhìn rất nôn nóng để đạt đạo, nôn nóng để trở thành vị Alahan. Đức Thế Tôn là bậc Tối Thượng Y Vương, Ngài thấy được điều đó và Đức Thế Tôn cũng phải giảm tốc độ đó xuống một chút, Ngài đã không dạy liền, nhưng bằng lời dạy rất ngắn gọn.

Chúng ta đọc kỹ đoạn này: "Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau".

Đọc câu này đôi khi chúng ta thấy phản phất nghĩa ở trong kinh chữ Hán "Ưng vô sở trụ. Nhi sanh kỳ tâm". Con người mình không chấp thủ ở đời này, đời sau, ở chặng giữa thì đoạn tận khổ đau. Nhưng chữ "kỳ tâm" chúng ta có thể hiểu đó là tâm hoàn toàn giải thoát.

 Đời sống con người hay đi tìm cái ngã của cái gì đang làm, của cái gì sẽ làm, và của cái gì chuyển tiếp điều đó, mình luôn luôn nghĩ mình sẽ có cái này, mình sẽ có cái kia, mình là người này, mình sẽ là người kia, mình có chức vụ này, chức vụ kia, mình được cái này được cái kia. 

Nhưng khi Đức Phật dạy: "Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau".

Lời dạy cô đọng đó hàm tàng một ý nghĩa rất lớn khi chúng ta nói một vị đoạn tận dục ái, hữu ái và phi hữu ái, không đơn giản để chúng ta hiểu và chính ở trong lời dạy ngắn gọn này Đức Thế Tôn đã nói lên đầy đủ ý nghĩa của Bốn Đế: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế. Ngài giảng dạy ở trong hình thức ngắn gọn nhất, ở trong phương pháp của thực hành hơn là lý thuyết. Ngài đã đề cập đến Khổ, Ngài đề cập đến Nguyên Nhân Sanh Khổ. Nguyên Nhân Sanh Khổ là đi tìm cái "ta" ở đời này, đời sau, ở chặng giữa, tầm cầu chỗ này tầm cầu chỗ kia. Khi sự tầm cầu đó vụt tắt thì đau khổ chấm dứt, nói chung là Diệt ĐếĐạo Đế

Đức Thế Tôn dạy Ngài Bahiya là vị đệ nhất về tốc trí tức trí tuệ rất nhanh do đó đối với chúng ta dĩ nhiên bài kệ này không đơn thuần có thể tiêu hóa liền, nhưng chúng ta hãy thử đem điều đó áp dụng trong đời sống hàng ngày, lâu lâu vào buổi sáng hay buổi chiều nhìn vào hơi thở của mình, hơi thở vào, hơi thở ra. Nhìn vào cảm thọ của mình, cảm thọ sanh và cảm thọ diệt. Cái vào cái ra của hơi thở, cái sanh cái diệt của cảm thọ, có cái gì để mình nói rằng đó là "ta", đó là "của ta", đó là "tự ngã của ta", có cái gì? Tất cả chỉ là một phần của giòng chảy, tất cả chỉ là một hiện tượng của một thế giới hiện tượng, tất cả đều đến và đi. Nhưng chúng ta thường ôm chầm những điều đó, rên xiết, kêu ca nói rằng " đây là tôi", "đây là của tôi", "đây là tự ngã của tôi". Để làm gì? Để mà khổ thôi. Đôi khi mình nghĩ rằng mình chấp là lớn chuyện lắm. Mỗi ngày qúi vị vào email đọc biết bao nhiêu thư, email chửi qua chửi lại để làm gì, chỉ để mà khổ thôi, nhưng chúng ta cảm thấy sung sướng điều đó, ngụp lặn trong điều đó, cảm thấy điều đó vinh quang, hơn nhau từng lời ăn tiếng nói là vinh quang nhưng mà để làm gì, để mà khổ thôi.

Đọc những giòng chữ này chúng ta cảm nhận được duyên lành lớn một vị Chánh Đẳng Chánh Giác ra đời, nếu không phải là Đức Phật, không phải là vị Giác Ngộ thì thật sự không biết bao giờ chúng ta có thể có được những lời dạy hoàn toàn khác biệt với tất cả những quan niệm thông thường. Chúng ta hô hào cổ võ quá nhiều về một thế giới này để càng lúc càng chấp thủ nhiều hơn, khổ cho mình và khổ cho người khác nhiều. Đức Phật dạy rằng đầu mối nằm ở trong tâm mình, cái gút nó nằm ở trong tâm mình, đó là sự chấp thủ, hãy nhìn, hãy nhìn một cách đơn thuần giản dị, thấy biết là thấy, nghe biết là nghe, cảm thọ biết cảm thọ, tưởng tri biết tưởng tri, thức tri biết thức tri, chỉ như vậy chúng ta an lạc.

Chúng tôi xin dứt lời ở đây và cầu mong rằng ánh sáng nhiệm màu của Phật Pháp sẽ tiếp tục xoi sáng thế gian này./.
Minh Hạnh chuyển biên, ngày 3 tháng 8 năm 2015

Saturday, July 25, 2015

Tăng Chi Bộ - Kinh Làm Bạn Với Thiện - Như Lý Tác Ý và Giác Chi

Tăng Chi Bộ - Làm bạn với thiện - Như Lý Tác Ý và Giác Chi

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 12-7-2015, Minh Hạnh chuyển biên và biên tập
 (Xin lưu ý: Tất cả những bài chuyển biên này chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

TT Giác Đẳng: Hôm nay chúng ta nói đến 2 phần liên quan đến bài học: một là Như Lý Tác Ý, hai là Giác Chi. 

Giác Chi là những chi phần hay những yếu tố để thành tựu tuệ giác. Yếu tố thành tựu tuệ giác ở đây chỉ cho Thất Giác Chi. 

Thất Giác Chi có: - Niệm Giác Chi, Trạch Pháp Giác Chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Ðịnh giác chi, và Xả giác chi. 

Niệm Giác Chi là khả năng tỉnh táo ghi nhận. Thí dụ, khi mình hướng tâm đến một đối tượng ở thân tâm mình như hơi thở, hoặc bước đi, hoặc cảm thọ thì chúng ta có khả năng nhìn thấy rõ: đây là thọ khổ, đây là thọ hỉ, đây là thọ lạc, đây là thọ ưu, đây là thọ xả v.v... Chẳng những hiểu như vậy chúng ta hiểu được là chúng ta ghi nhận cảm thọ này chưa có bây giờ có là sanh. Và nó có rồi bây giờ chấm dứt gọi là diệt. Thì giống hơi thở vào ra, giống như bước đi, giống như những thao tác lớn nhỏ của chúng ta. Khả năng nhận diện và biết rõ là Niệm Giác Chi. 

Trạch Pháp Giác Chi là yếu tố phân biệt không lẫn lộn pháp thiện hay pháp bất thiện, đây là pháp nên thân cận và đây là pháp không nên thân cận .v.v... 

Cần Giác Chi là yếu tố tinh tấn. Sau khi mình có khả năng nhận rõ thế nào là thiện thế nào là bất thiện, thế nào là những pháp nên thân cận và không nên thân cận thì mình nên đặt sự nỗ lực ở chỗ nào. Giống như một người làm vườn biết rõ trong vườn cây của mình cây nào nên để và cây nào không nên để, mình đã biết rõ như vậy thì rất tinh tấn, rất tinh cần để chặt những cây không nên để và rất tinh cần để trồng những cây nên làm cho tăng trưởng. 

Hỉ Giác Tri là trạng thái hân hoan, trạng thái hoan hỉ. Trạng thái hân hoan là một trong lẽ sống an lạc của một hành giả. Hỉ Giác Tri như một người làm không biết mệt vì lý do thấy công việc mình có kết quả, mình vui với công việc gọi là Hỉ Giác Chi. 

Tịnh Giác Chi hay Khinh An Giác Chi là trạng thái nhẹ nhàng, trạng thái không có yếu tố của phiền não, trạng thái an tịnh nhẹ nhàng như một người sống không bị phiền bị lụy . 

Định Giác Chi là khả năng tập trung trên một đối tượng và tập trung lâu. Thí dụ mình ngồi niệm hơi thở, mình có thể ngồi niệm hơi thở rất lâu hướng tâm đến điều gì, tâm mình không phải muốn chạy đầu này chạy đầu kia mà nó có khả năng an trú trên một đề mục là Định Giác Chi, chúng ta thường gọi có sự bền bỉ là Định Giác Chi. 

Xả Giác Chi là một trạng thái tâm điềm đạm, trạng thái tâm quân bình, trạng thái này giống như một người đã thạo việc, đã thuần thục, do thạo việc nên thuần thục, người này không có những chao đảo, mà đạt đến sự điềm đạm.

Bảy yếu tố của tuệ giác là Niệm Giác Chi, Trạch Pháp Giác Chi, Cần Giác Chi, Hỉ Giác Chi, Tịnh Giác Chi hay Khinh An Giác Chi, Định Giác Chi và Xả Giác Chi là những yếu tố để làm cho sanh khởi và tăng trưởng tuệ giác. Nó tương tự như ngày nay tại các quốc gia phát triển người ta so sánh những phát minh về khoa học, những phát minh dẫn đầu, chúng ta thấy quốc gia nào có những phát minh dẫn đầu thì quốc gia đó thường có nền kinh tế rất mạnh. Bởi do những phát minh mới tạo ra những sản phẩm mới. Và cái gọi là phát minh lệ thuộc vào nhiều yếu tố từ trường học cho đến môi trường kinh tế cho đến những công trình nghiên cứu, những yếu tố này dẫn đến những phát minh. Thì tương tự như vậy, hành giả sống có được tuệ giác để nhìn thấu triệt, nhìn xuyên suốt vấn đề phải có những yếu tố và những yếu tố này giúp cho hành giả nhận diện, giúp cho hành giả khởi sanh lên tuệ giác, yếu tố đó gọi là Giác Chi. 

Trong bài kinh này có gợi ý khác quan trọng là những Giác Chi sanh khởi do Như Lý Tác Ý. 

Lấy ví dụ như Niệm Giác Chi hay Trạch Pháp Giác Chi. Như Lý Tác Ý ở đây được hiểu là khả năng nhìn sự việc một cách tích cực hay một cách khôn khéo.

Một thí dụ đơn giản là có nhiều người nói rằng "con không thể ngồi thiền được vì tâm động quá". Khi mình thấy tâm động do đó quyết định tâm động thì không ngồi thiền nữa, đó là cái nhìn không thiết thực. Bởi vì sao vậy? Bởi vì các vị Thiền Sư đều dạy hễ ngồi thiền là tâm phải động mới bắt đầu là vậy, chúng ta là phàm nhân, nhưng chính vì tâm mình động nên cần phải ngồi thiền và khi bắt đầu ngồi thiền mình phải vượt qua một giai đoạn, giai đoạn đó là giai đoạn buồn chán, giai đoạn vật lộn với chính mình, khi vượt qua giai đoạn đó mình mới có thể tiến tới.

Một ví dụ khác, thường thường hành giả tu tập những lúc tâm bị phiền não nhất là hôn trầm thụy miên hay bị buồn ngủ thì mình lấy lý do tâm mình bữa nay không phấn chấn, tâm mình bữa nay không tích cực do vậy mình nghỉ. Nhưng kỳ thật với một người có tu tập hiểu biết thì chính trạng thái tâm tinh tấn hay dã dượt, tâm có định hay không có định đều là đối tượng của chánh niệm. Vấn đề quan trọng không phải mình phải như thế này mới tu tập chánh niệm, phải như thế kia mới tu tập chánh niệm. Mà vấn đề là cái nào cũng là đối tượng của chánh niệm, cái nào cũng là đối tượng để mình ghi nhận. Điều này như vầy là, vị hành giả có khả năng để phát triển chánh niệm ở trong mỗi điều kiện ở trong mọi trạng thái tâm, và vị hành giả không đặt điều kiện mình phải tốt thế này, mình phải an lạc thế kia, mình phải thanh tịnh như thế nọ mới tu tập chánh niệm, tại vì đối tượng của chánh niệm là tất cả, tu tập chánh niệm không đòi hỏi là mình phải tốt như vậy mình mới tu tập chánh niệm, mình không tốt như thế kia mình không tu tập chánh niệm, không phải như vậy, mà tất cả đều là đối tượng của sự tu tập chánh niệm. Cái nhìn đó gọi là cái nhìn Như Lý Tác Ý, cái nhìn tích cực. 

Có lần chúng tôi đọc câu chuyện của Khuất Nguyên. Là một người bất đắc chí, khi ông cố gắng đem tài sức để giúp cho cuộc đời, nhưng ông thấy cuộc đời nhiễu nhương người ta sống tranh danh đoạt lợi, và tiếng nói của một kẻ sĩ ưu thời mẫn thế như ông không có một ảnh hưởng gì xây dựng được. Ông chèo thuyền trên sông Tương định trầm mình tự tử. Lúc đó có một ông lão chèo thuyền đi ngang hỏi Khuất Nguyên: "tại sao ông muốn tự tử?" Ông nói rằng "cả đời đều đục, chỉ mình ta trong, cả đời đều say, chỉ mình ta tỉnh và do vậy ta chọn cái chết". Ông lão nghe nói như vậy tiếp tục bơi thuyền đi và ông lão hát "Sông Tương nước chảy trong veo. Thì ta lội xuống rửa lèo mũ ta. Sông Tương nước đục chảy ra, thì ta lội xuống để mà rửa chân". Nước trong thì rửa lèo rửa mũ tức là mình giặt khăn và rửa cái nón của mình và nước đục thì rửa chân không cớ gì phải giận nước đục nước trong của sông Tương. 

Dĩ nhiên, đó là câu chuyện mang tánh cách giai thoại. Nhưng riêng đối vớì người tu tập Giác Chi thì phải giống như ông lão nói: trời mưa cũng vậy, trời nắng cũng vậy, vui cũng vậy, buồn cũng vậy, tinh tấn hay không tinh tấn, uể oải hay không uể oải, mạnh hay khỏe tất cả đều là đối tượng của chánh niệm, thắp sáng chánh niệm, tại vì chánh niệm nhận thức đây là tâm thiện, đây là tâm bất thiện, đây là tâm có định, đây là tâm không có định, đây là tâm cao qúi, đây là tâm hạ liệt, nó là cái gì đi nữa chỉ ghi nhận thôi và luôn luôn làm công việc của một người đứng ghi nhận chứ không phải một người mặc cả trả giá đôi co hay đòi hỏi việc này việc khác. Chúng ta phải thấy đa số những căng thẳng những phiền hà đến từ thái độ sai lầm của chúng ta. 

Ví dụ, chúng tôi làm trụ trì khi có chuyện rắc rồi phiền hà xảy ra chúng tôi bực bội nói rằng mình làm trụ trì đã mệt rồi còn gặp những chuyện này nữa mình bực bội, đó gọi là không Như Lý Tác Ý. Khi làm trụ trì gặp chuyện khó khăn phiền hà mình nói "đây chính là công việc trụ trì phải làm", làm trụ trì mình giải quyết những khó khăn phiền hà, đó là chuyện tự nhiên, nếu không khó khăn không có phiền hà thì không ai cần vị trụ trì, làm trụ trì là phải đối mặt với những chuyện đó gọi là Như Lý Tác Ý , vai trò của mình phải làm, ngồi đó trách móc cằn nhằn để làm gì , để phiền hà thêm chứ không được gì hết. Ở trong tất cả mọi trường hợp, ngồi xuống giải quyết làm được cái gì cần phải làm, không phải gặp khó khăn mình than thở hay cằn nhằn, than thở với ai và cằn nhằn với ai mà là trách nhiệm của mình. Đó là chúng ta gọi là cái nhìn tích cực. Hay chúng tôi lấy ví dụ những vị có trách nhiệm điều hành công việc trong room, có thể là qúi vị vào làm việc có những lúc thiếu người giúp đỡ hay có những chuyện phiền này hay phiền khác rồi qúi vị nói tại sao có nhiều chuyện phiền như vậy, nhưng công việc của tri chúng là gì? công việc của tri chúng là giải quyết những chuyện đó, công việc của tri chúng là mình có mặt để xử lý những chuyện như vậy, nếu không xử lý những việc như vậy đâu ai cần đến mình . 

Nói chung, một người tu tập Giác Chi người đó rất cần Như Lý Tác Ý để có thể vượt qua những rào cản, để vượt qua những gì mình nghĩ khó khăn. Nói cho cùng là mình tự đặt điều kiện cho mình, điều kiện tôi không thể làm thế này, tôi không thể tu thế kia, không thể tu thế nọ là bởi vì, tại, bị, là lý do này lý do khác. Đối với cái nhìn Như Lý Tác Ý là cái nhìn phải vượt qua điểm đó. 

Có người hỏi Ngài Ajahn Chah là "con bận quá con không có thì giờ để ngồi thiền" Ngài hỏi "có thì giờ để thở không?", người đó trả lời "dạ có", Ngài trả lời "có thì giờ để thở thì có thì giờ ngồi thiền được". Đơn giản như vậy, hễ mình muốn chuyện đó thì mình làm được mà mình không muốn thì không làm được. Chúng tôi lấy ví dụ, bây giờ có nhiều người rất thích sài Ipad, rảnh thì giờ là dùng Ipad, vì thích Ipad. Nhưng nếu họ không thích Ipad thì họ nói không rảnh thì giờ để học cách dùng Ipad vì tôi bận lắm bận việc này việc kia tôi không thể đụng vào Ipad. Nhưng nếu mình thích thì tìm mọi giá, mọi thì giờ, mình sẽ học được, và sẽ làm được. Con người mình là vậy, hễ mình đặt trọng tâm ở đó mình quyết tâm làm việc đó thì mình sẽ làm được, mà mình không thấy được cái lợi lạc của nó thì mình không bao giờ muốn dự vào, mà khi mình quyết tâm làm thì cái gì mình cũng làm được, mình phải hiểu như vậy. 

Chúng tôi có đọc ở câu chuyện Siddhartha của Hermann Hesse trong câu chuyện Tất Đạt với Kiều Lan. Tất Đạt đưa ra hình ảnh một viên sỏi quăng xuống hồ tự nó sẽ tìm tới đáy, đó là bản chất tự nhiên như vậy. Đời sống một vị Samon khi có một ý hướng rõ ràng của mình thì tự mình biết sẽ làm việc gì. Quan trọng là thái độ của chúng ta, sự nhận thức của chúng ta, mình tu mình hiểu việc gì phải làm. Mình phải hiểu những cái ngăn ngại nó đến từ thái độ của mình, từ cái nhìn của mình, tôi phải có cái này tôi mới làm, phải có cái kia tôi mới làm, tôi có thế này mới hạnh phúc, tôi không có cái kia không hạnh phúc, đó là tự mình làm khó mình, tự mình đặt điều kiện với chính mình, tự mình làm hàng rào cho mình. Và pháp Như Lý Tác ý hay là chánh tư niệm giúp cho chúng ta vượt qua những hàng rào đó, ở đây không phải là chuyện đơn giản. 

Chúng ta nghe những câu chuyện như bà hoàng phi Khema, một người rất thông tuệ nhưng qúi trọng sắc đẹp và không bao giờ muốn đến nghe Đức Phật thuyết pháp. Đức Phật Ngài đã dùng thần thông cho bà thấy hình ảnh của hai cô thiếu nữ từ tuổi trẻ cho đến tuổi già cho đến khi biến thành tử thi. Lúc bấy giờ bà vượt rào cản trở thành một vị tỳ kheo ni. Thật ra không phải bà không có đủ khả năng để nhận thức ra sanh lão bệnh tử nhưng vấn đề bà có những mặc cảm, mặc cảm đối với sự thật, mặc cảm đối với sự việc. Mặc cảm đó khiến cho mình không muốn nhập cuộc, không muốn lên đường, không mở mắt lớn ra để nhìn sự thật đó. Tất cả những người tu tập đều phải ý thức người cản trở mình nhiều đó là bản thân của mình, người khiến mình không tu được, không an lạc được chính là bản thân mình. Và Như Lý Tác Ý là khả năng để chúng ta thấy được điều đó, Như Lý Tác Ý là khả năng để chúng ta vượt qua điều đó. Đặt lại cái nhìn thôi, trời nắng cũng được, mưa cũng được, siêng cũng được, biếng cũng được, vui cũng được, buồn cũng được. Vấn đề không phải nó là cái gì, vấn đề là mình có thắp sáng được chánh niệm nhìn nó hay không, và luôn luôn mình phải tìm cách vượt qua cái nhìn tiêu cực.

Người sống Như lý Tác Ý họ có nhiều điều tốt. Bà Visàkhà cùng người tì nữ đến chùa nghe Đức Phật thuyết pháp, bà giao cho nàng tì nữ giữ áo của bà, trong lúc đó nàng tì nữ cũng mải mê nghe pháp khi về để quên cái áo thì bà dặn trở lại để tìm nếu còn đó thì lấy về, nếu Chư Tăng đã đụng tới rồi thì bà sẽ cúng dường Tam Bảo chiếc áo đó. Khi trở lại biết Tôn Giả Ananda đã cất rồi bà quyết định bán chiếc áo và dùng số tiến bán chiếc áo để xây ngôi chùa về sau này gọi là chùa Đông Phương Tự. Và thay vì trách móc cô tì nữ thì bà Vishaka lại xây chùa xong cám ơn người tì nữ đã tạo cơ hội cho bà làm phước. Thật ra trong hoàn cảnh nào cũng vậy, nhiều khi chúng ta để ý chút xíu chúng ta thấy rằng nó không có tệ giống như chúng ta nghĩ, nó vẫn có yếu tố tích cực. Người ta nói chuyện gì cũng có hai mặt của nó, mặt trái mặt phải và chúng ta muốn nhìn mặt nào là cái nhìn của chúng ta. 

Khi ở gần Ngài Hộ Giác có nhiều lần chúng tôi thấy người Phật tử bị tai nạn xe cộ họ đến nói với Ngài: "Con bị đụng xe nguyên cả cái cản phía sau bị hư xui quá, bạch Ngài" , Ngài nói: "Thật ra mình bị đụng xe mà xe hư còn mình không sao là mừng là rất là may mắn, nếu bị thương tích hay bị gì thì phiền nữa". Thì chúng tôi tin rằng lời Ngài nói không phải là chuyện xã giao mà là thái độ tích cực, chiếc xe đụng rất nặng, chiếc xe bị hư hại mình bình yên thì mình nên hoan hỉ với điều đó. Hay hoặc giả là ở trong cuộc sống của chúng ta có nhiều khi qúi Phật tử đi chùa làm phước có những chuyện phiền, có lý do này lý do khác, người này làm vừa ý người kia làm không vừa ý, nhưng việc mình vẫn cứ làm và nhiều khi làm mệt như vậy mình có công quả thêm thì mình làm đó là thái độ tích cực. 

Chúng tôi luôn tin cái nhìn tích cực hay còn gọi là Như Lý Tác Ý như lời Đức Phật dạy ở đây đó là làm cho những thiện pháp tăng thịnh và làm cho các ác pháp suy giảm. Như Lý Tác Ý giúp cho chúng ta nhìn ở một góc cạnh tốt nhất lợi thế nhất chúng ta gọi là thế thượng phong để nhìn vào vấn đề. Nếu chúng ta muốn thắng được giặc phiền não chúng ta phải chọn cái thế thượng phong, thế thượng phong cho phép những thiện pháp của chúng ta có điều kiện tốt. Mình chưa ra quân mà mình nhìn vấn đề bi quan quá thì thật ra nó làm nản lòng tất cả mọi người. Và đặc biệt trong trường hợp sự tu tập của mình nếu mình cứ nhìn một cách tiêu cực thì sẽ nản. 

Khi chúng tôi làm việc chúng tôi nhận ra một điều ở trên đời này chỉ có hai hạng người, một hạng người có cái nhìn tích cực và hạng người có cái nhìn tiêu cực. Hạng người tích cực thì trong khó khăn nào họ cũng cố gắng nhập cuộc, cố gắng tìm cái gì đó để làm, tìm một đạo lộ để giải quyết sự bế tắc. Người tiêu cực thì lúc nào cũng than vắn thở dài, người tiêu cực lúc nào cũng nản lòng thối trí. Cuộc đời đã khổ rồi gặp họ còn khổ nhiều hơn nữa, chúng tôi gặp nhiều người là cuộc sống đã mệt rồi gặp họ còn mệt thêm nữa, luôn luôn họ muốn chúng tỏ rằng họ thấy được những cái mệt. Nhưng thật ra mình không cần, cái mình cần không phải là mình bươi móc thêm chuyện buồn phiền, cái mà mình cần mình nhìn làm sao tìm ra một ngõ ngách nào đó để khai thông, cái mình cần là làm sao có cái nhìn tích cực nhìn xuyên thấu ./. 

Friday, July 17, 2015

Kinh Mi Tiên Vấn Đạo - Ví dụ về đặc tính của vật thực

Kinh Mi Tiên Vấn Đạo - Ví dụ về đặc tính của vật thực

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 9-3-2014, Minh Hạnh chuyển biên và biên tập
(Xin lưu ý: những bài chuyển biên này chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

TT Giác Đẳng: Câu chuyện về ẩm thực ăn uống là đề tài muôn thuở của chúng ta. Ngày hôm nay khi đề cập đến những đặc tính của vật thực hay thực phẩm chúng ta chỉ nói đến 3 đặc tính mang tánh cách  phổ thông. Khi đề cập đến văn hóa của một quốc gia người ta thường cộng vào phần văn hóa ẩm thực tức là sự ăn uống.

Riêng trong Phật Pháp chữ thực phẩm hay dưỡng tố hay thức ăn là một ở trong những đề tài lớn như chúng ta thường nghe "tất cả chúng sanh tồn tại do vật thực hay do dưỡng tố". Và dĩ nhiên, Phật Pháp đề cập đến dưỡng tố ở trong một hình thức một phạm trù rất rộng, ví dụ: 

- Cơm bánh nuôi dưỡng thân thì cơm bánh là thực phẩm.

- Xúc thực là sự gặp gỡ giữa căn cảnh và thức thì chúng ta có thể hiểu cảnh thường nuôi dưỡng tâm.

- Thức thực, chúng ta nói tâm nuôi dưỡng sự sống 

- Và sau cùng là tư niệm thực chúng ta nói đến hành vi tạo tác hay chủ tâm tạo tác nuôi dưỡng sự luân hồi. 

Nói một cách khác, một nguyên lý đạo Phật dạy tất cả mọi thứ tồn tại trong cuộc đời đều phải có chất liệu gìn giữ cho nó tồn tại. Đơn giản, chúng ta cắt một nhánh hoa cắm vào trong bình nếu không cho nước một thứ dinh dưỡng rất cần cho cây thì hoa đó khi cắm vào trong bình khô sẽ rất mau tàn chỉ một buổi đã héo rồi.

Ở đây, dĩ nhiên thực phẩm trong thí dụ này đề cập đến một loại gọi là đoàn thực tức thực phẩm ăn để sống như cơm, như bánh. Thì rõ ràng người cũng vậy vật cũng vậy, tất cả những thành phần, những động vật, phải có ăn cách này hoặc cách khác. Riêng về con người chúng ta mỗi quốc gia có một loại thực phẩm riêng, người Ấn Độ ăn cà ri nhiều, người Nhật Bản ăn những thực phẩm tươi nhiều, người Trung Hoa ăn dầu nhiều, người Tây Phương ăn thịt nhiều v.v... Nhưng những lúc chúng ta nhịn đói, những lúc chúng ta không ăn chúng ta thấy cơ thể bị ảnh hưởng rất nhiều. 

Cách đây hai năm chúng tôi bị bệnh tiểu đường, và khi bắt đầu bị bịnh tiểu đường chúng tôi thường phải cẩn thận lúc nào cũng phải có thứ gì đó để trong trường hợp đói mình ăn không để cho lượng đường xuống quá thấp. Về điều này đôi khi ăn thực phẩm vào mình cảm nhận ngay ảnh hưởng của thực phẩm đối với cơ thể như thế nào. Những người không bị tiểu đường có thì ăn cho vui không có thì thôi. Nhưng với người tiểu đường đôi khi một viên kẹo cũng làm cho chúng ta khác biệt, có khi thiếu chất ngọt con người héo úa, đói lả người, rồi có chất ngọt vào mình khác đi lúc đó mình thấy thân của mình như một thứ cây, thân mình như một nhánh hoa cần nước để tồn tại không có nước thì héo úa. 

Do vậy, Đức Phật Ngài dạy thực phẩm có đặc tính nâng đỡ làm cho cơ thể được tồn tại làm cho sự sống của chúng sanh được tồn tại. 

Chúng tôi thấy hầu hết trong những phim tài liệu về động vật, những con vật sống trong rừng, sống trên không, hay sống trong nước tất cả khi đề cập đến cuộc sống người ta thường đề cập đến thực phẩm, loài đó ăn gì và làm sao để săn mồi, làm sao để tìm thức ăn, và khi nó ăn xong thì đặc tính gì chúng ta tìm thấy ở loài đó.

1. Thì ở đây trong thí dụ đầu tiên: 

"Tâu đại vương, giống như vật thực là sự nâng đỡ cho tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên là sự nâng đỡ về Đạo Lộ cho tất cả chúng sanh". 

Về điểm này, có chiêm nghiệm có tu tập chúng ta mới thấy. Riêng về bản thân của chúng tôi có thật sự cảm nhận một cách sâu sắc từ những bậc Thầy Tổ từ những vị tu tập, đôi khi chúng tôi nói chuyện với một số anh em huynh đệ nhất những vị thân thiết, chúng tôi thường tâm sự chính nhờ từ nhỏ đến lớn được sống gần những bậc Thầy Tổ như Ngài Tịnh Sự, HT Minh Châu, Sư Trưởng, sau này ra nước ngoài ở gần Ngài Taungpulu, Ngài Ajahn Chah, Ngài Ananda Maitri, hay những người cư sĩ như cô Bảy Vĩnh Phúc chẳng hạn. Chính những vị đó đã cho chúng tôi thấy một người học, một người tu, một người sống với Phật Pháp ảnh hưởng mình đến mức độ nào. Và khi chúng tôi sống tại chùa Pháp Luân một người ảnh hưởng đến chúng tôi rất nhiều, đó là Ngài HT Hộ Giác, có lẽ những ngày giờ cuối đời của Ngài ảnh hưởng với chúng tôi hơn bao giờ hết. Một điều chúng tôi nhận thấy ở Ngài đó là sự trầm tỉnh nhẹ nhàng khi nhìn thấy cái chết, Ngài vận dụng Phật Pháp, Ngài vận dụng tri kiến của mình. Thật ra khi chúng ta sống gần những vị như vậy, khi chúng ta tận mắt mục kích những vị như vậy rõ ràng chúng ta được nâng đỡ bởi những vị đó, và lúc đó chúng ta mới thấy chính sự tu tập của những vị đó cho chúng ta rất nhiều. 

Có một lần chúng tôi nói chuyện với một vị Sư người Hoa Kỳ, vị Sư đó kể cho chúng tôi nghe về kinh nghiệm khi  học ở American University đã gặp được một số học giả rất giỏi Phật Pháp nhưng họ chỉ là những nhà khảo cứu, họ giỏi tiếng Phạn, giỏi lý thuyết nhưng không mang lại cho vị này một sự tinh tấn. Khi vị này đi về các quốc gia Phật giáo gặp những người sống với Phật Pháp mới bắt đầu tìm thấy được chất liệu cho đời sống tâm linh của mình. 

Và do vậy, ở trong đời sống hàng ngày của chúng ta, thí dụ như qúi Phật tử mỗi ngày vào rơom để nghe pháp, chư vị Giảng Sư, những người Phật tử làm công quả. Nói chung tất cả chúng ta đang sinh hoạt ở đây, chúng ta cố gắng làm một điều là gặp gỡ các bậc thiện trí, góp phần vào pháp thí thể hiện sự tinh tấn của mình, sự hoan hỉ của mình đối với Phật Pháp, và mình đóng góp vào sự duy trì Phật Pháp, tất cả điều đó có ảnh hưởng chứ không phải không có ảnh hưởng, và qúi vị cũng thấy rằng nhờ nỗ lực đó  trong suốt mười mấy năm qua chúng ta đã duy trì chương trình Phật Pháp hàng ngày. Dĩ nhiên là do kỹ thuật, nhưng hơn hết và sau hết đó là tấm lòng, đó là sự thể hiện của tất cả chúng ta. Ít có Phật tử nào vào rơom nghe pháp mà biết rằng bản thân của chúng tôi, chúng tôi rất ít khi liên lạc với qúi Phật tử làm việc trong ban điều hành, đôi khi chúng tôi gặp qúi vị đó giống như những vị gặp vậy, vào đây là gặp nhau, tất cả mọi người làm việc từ Chư Tăng cho đến Phật tử làm việc trong tinh thần tự hoan hỉ, tự dấn thân, tự tài bồi công đức  không có một cái gì gọi là quyền lợi, không có cái gì ràng buộc, chúng tôi vẫn thích như vậy, chúng tôi vẫn hoan hỉ như vậy, và chúng tôi thấy điều đó có ý nghĩa khi chúng ta có thể duy trì sự tu tập lâu dài, cho dù là học, cho dù là tu, cho dù là sinh hoạt. 

Một người tu tập đôi khi chúng ta cũng nên biết chính sự tu tập của mình là một trợ duyên, là sự hổ trợ cho cuộc đời. Nói một cách khác, không có sự tu tập, không có sự nỗ lực học Phật Pháp thật ra cuộc sống nhiều khi vô nghĩa. Chúng tôi gặp một người Phật tử, anh là một người rất thành công, ra trường với bằng kỹ sư, làm cho công ty Exxon của Hoa Kỳ, một công ty lớn, cho đến một ngày anh đi chùa tham dự một khóa tu rồi anh tâm sự với chúng tôi suốt 17 năm anh sống tại Mỹ, là một người sinh viên tốt nghiệp, rồi là một kỹ sư đi làm cho một hãng lớn, anh mang theo một giấc mơ của người Hoa Kỳ, đó là từ bàn tay trắng tạo nên sự nghiệp, và anh có thành công, có quyền, có chức, có lương cao. Nhưng rồi một ngày anh nhìn lại thấy ở chung quanh chỉ là những người tranh danh đoạt lợi và đến lúc nào đó anh ngồi xuống với những người tu tập anh thấy ở đây cho mình ý nghĩa khác của đời sống. 

Bởi vậy, cuộc sống nâng đỡ chúng sanh giống như vật thực có đặc tính là chất liệu để duy trì sự hiện hữu chúng sanh trong đời này thì sự tu tập của chúng ta cũng vậy. 

Chúng tôi kể chuyện này qúi vị nghe rất lạ và có dịp thì chúng tôi cũng sẽ giới thiệu cuốn phim này cho nhiều người xem, một đoạn phim tài liệu của đài BBC nói về con voi đã tạo ra mưa đã tạo ra thời tiết ảnh hưởng như thế nào. Nếu chúng tôi nói điều này với qúi vị trong rơom có lẽ qúi vị nhìn chúng tôi cảm thấy lạ lắm. Loài người làm mưa làm gió cũng còn khả dĩ được, con voi làm gì có thể ảnh hưởng tới thời tiết? 

Nhưng đó là kết luận của rất nhiều nhà nghiên cứu. Lý do rất đơn giản như vầy, nếu chúng ta học về mưa chúng ta biết chính những khu rừng miền nhiệt đới gọi là rainforest là một lồng hấp để tạo ra mây, để tạo ra mưa và chính rừng đã ảnh hưởng đến thời tiết rất nhiều. Chúng ta quan niệm biển bốc hơi thành mây, mây xuống thành mưa nhưng thật ra trong hệ thống tuần hoàn thì rừng rainforest đóng một vai trò rất quan trọng về việc chi phối thời tiết. Những khu rừng nhiệt đới từ Nam Mỹ như rừng mưa Amzon sang những khu rừng bạc ngàn Đông Nam Á chi phối hệ thống thời tiết. Nhưng bây giờ qúi vị hỏi: Chuyện đó liên hệ đến loài voi điều gì? Thì thưa, có một sự việc, loài voi là một sinh vật rất đặc biệt khi sống ở trong rừng nó ăn lá ăn trái. Những nhà nghiên cứu cho chúng ta biết hầu như trái gì voi cũng ăn, lá gì voi cũng ăn và khi ăn thật sự nó không nhai kỹ, chúng ta tạm gọi là trẹo trạo nuốt trọng, và khi nuốt trọng những trái này đi qua đường ruột qua bộ phận tiêu hóa thì còn nguyên vẹn. Điều này là điều tại sao. Bây giờ nếu qúi vị nghe có loại cafe phân voi, ngày xưa chúng ta nghe có loại cafe phân chồn bây giờ có cafe con voi. Thì con voi ăn những trái này và những trái này đi qua đường tiêu hóa đi ra hạt giống vẫn còn nguyên vẹn và cộng với phân của con voi nó đã tạo thành một điều kiện để khiến cho những cây những trái này mọc ở nhiều nơi khác nhau. Thì con voi qua vấn đề ăn uống và bài tiết nó giống như một người làm rừng một người trồng rừng. Người ta nói ở những khu rừng nào loài voi bị tiêu diệt nhiều cây mọc không đều không tốt như những khu rừng loài voi tự do đi lại. 

Và do vậy cách ăn uống của voi, cách bài tiết của voi ảnh hưởng đến rừng và rừng ảnh hưởng đến thời tiết. Như vậy, nói sinh hoạt của voi ảnh hưởng đến mưa, đến nắng, ảnh hưởng thời tiết mình nghe lạ, nhưng thật sự đâu đó liên hệ với nhau. 

Thí dụ đó một lần nữa gợi cho chúng ta là ở trong cuộc sống có những ảnh hưởng rất lớn chúng ta không ngờ được. Hành giả tu tập nên hiểu nếu mình tu mình làm tốt việc đó thật sự mang lại chất liệu tích cực cho những người chung quanh mình. Riêng bản thân của chúng tôi cảm nhận điều đó rất sâu sắc từ những bậc Thầy Tổ từ những bậc cư sĩ thiện trí những vị đó chúng tôi được biết đi qua trong cuộc đời, nhờ các vị đó đã cho chúng tôi những chất liệu sống rất quan trọng. 

Do vậy ý nghĩa đầu tiên của vật thực là đặc tính của vật thực nâng đỡ tạo nên chất liệu tồn tại cho chúng sanh, người tu tập cũng nên làm một suối nguồn của an lạc của trí tuệ cho chúng sanh muôn loài. 

2. Trong ý nghĩa thứ hai chúng ta đề cập đến vật thực:

"Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực làm tăng trưởng sức mạnh của chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên tăng trưởng sự phát triển của phước báu." 

Đôi khi chúng ta không thể nói được thế nào là lực, thế nào là sức, nhưng có những ngày chúng ta rất mạnh chúng ta nhấc một món đồ lên rất dễ dàng, những lúc chúng ta mệt hay những lúc đang đói khi nhấc một vật lên cảm thấy nặng nề. Nó có một thứ gọi là cái lực cái sức của chúng ta và rõ ràng cái sức lực đến từ thực phẩm, thực phẩm ăn đúng lành mạnh cho chúng ta sức khỏe. Ví dụ người ăn trái cây nhiều có vitamin C thì chính sinh tố trái cây làm chúng ta dẻo dai làm cho chúng ta lâu mệt khi làm việc. Chúng ta cần nhiều chất như chất sắt, chất đạm v.v... để duy trì sức khỏe. Nói chung tất cả sinh tố đều có vai trò duy trì sức khỏe làm cho chúng ta mạnh khỏe, cái khỏe cái mạnh đó là giá trị đặc thù về vật chất. 

Người tu tập và người hiểu đạo biết trên phương diện tinh thần có một thứ khác gọi là phước. Cái phước lạ lắm, phước làm cho chúng ta hanh thông, phước làm cho chúng ta sáng suốt, phước làm cho chúng ta can đảm. Những người thiếu phước lúc nào cũng thiếu lòng tin cũng sợ hãi, những người thiếu phước trong cuộc sống không hanh thông, những người thiếu phước không có lòng tự tin nhất là khi đi vào đám đông, những người thiếu phước cảm thấy mình yêu đưối. Phước rất đặc biệt. 

Tại các quốc gia Phật Giáo là mỗi lần người ta gặp khó khăn, từ một em học sinh sắp đến kỳ thi hay người vợ đang có chuyện lo cho chồng cho gia đình, hay một thương gia làm ăn buôn bán, khi người ta thấy có khó khăn thì những người Phật tử này làm phước bằng cách đơn giản nhất là buổi sáng mua gì đó để bát cúng dường bát Chư Tăng, khá hơn nữa đi chùa làm phước, khá hơn nữa tổ chức đại lễ Tăng Y. Hoặc giả không làm phước vật chất được thì vào chùa tu Bát Quan Trai, tham dự một khoá thiền, hoặc lắng nghe một thời pháp. 

Trong 10 thiện sự tạo ra hạnh phúc, tạo phước báu là bố thí, trì giới, tham thiền, cung kính, phục vụ, thính pháp, thuyết pháp, hồi hướng phước, phước tùy, hỉ phước và cải thiện tri kiến chẳng hạn. Những điều đó là những nguồn sanh phước, người ta biết rất rõ. Khi chúng tôi thấy những người Phật tử làm như vậy chúng tôi thấy ảnh hưởng tinh thần họ rất lớn, họ làm phước xong tâm họ mạnh mẽ, làm phước xong tâm họ tự tin, và họ làm phước xong họ hoan hỉ. 

Khi chúng tôi nhìn những người đó chúng tôi rất thương cho Phật tử VN. Phật tử VN chúng ta tuy rằng mình tự hào có một nền Phật giáo cả hằng 2 thiên niên kỷ, nhưng qúi vị thấy có đôi khi gặp khó khăn chúng ta chỉ đến chùa thắp nhang cầu nguyện, chúng ta chỉ biết cầu phước mà chúng ta không biết tạo phước. Hay hoặc giả khi chúng ta gặp khó khăn chúng ta tin vào thầy bói thầy phong thủy, rời cái này đổi cái kia hơn là làm phước. Đôi khi có một vài nhà sư chạy theo thời cũng học phong thủy và cũng chỉ bày cho Phật tử đổi phong thủy thế này đổi phong thủy thế kia, chúng tôi nói ở đây không phải chúng tôi chỉ trích những vị đó nhưng chúng tôi cảm nhận rằng những vị đó đang làm một việc không đẹp đối với Phật Pháp.

Đúng ra là người Phật tử khi gặp khó khăn mình không cần nghĩ đến việc rời đổi phong thủy mà mình tạo phước. Có nhiều cách tạo thí dụ như ngoài chuyện bố thí mình có thể tu tập thiền, niệm tâm từ, chúng ta mong cho tất cả chúng sanh trước mặt được an lành, sau lưng được an lành, bên tay phải được an lành, bên tay trái được an lành, ở phương trên an lành, phương dưới an lành, tâm từ là một nguồn suối phước rất lớn. Hay hoặc giả thọ Tam qui, khi ngồi không có việc gì làm mình mình tụng bài Tam Quy:

Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi - Con xin quy y Phật 

Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi - Con quy y Pháp 

Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi - Con quy y Tăng 

Hoặc giả hành Tứ Niệm Xứ, hành thiền ngồi nhìn vào hơi thở ra hơi thở vào. Có nhiều cách tạo phước. Càng gặp khó khăn thì mình nên tạo phước. Nói về điều này đôi khi người ta không tin. Chúng ta tánh quen xin xỏ, thí dụ như gặp khó khăn chúng ta muốn tìm đến một ngôi chùa hay tìm đến miếu đền nào đó thắp cây nhang cầu nguyện. Đôi khi chúng tôi thấy về điểm đó chúng ta không rõ ràng, chúng ta không nhìn vào nhân quả, mình có thể làm phước được tại sao không làm, tại sao mình không làm phước để mình tạo sức mạnh tinh thần. Đôi khi người Phật tử làm những chuyện họ nghĩ là có phước nhưng thật sự không có phước. 

Ở đây hôm nay chúng tôi nói qúi vị đừng buồn, có nhiều Phật tử mong mỏi điều gì đó nguyện "xin cho con được cái đó con nguyện cạo đầu", họ nghĩ chuyện cạo đầu là chuyện đáp lễ cho thần thánh, nhưng thật sự chuyện đó chỉ là giới cấm thủ thôi. Chúng tôi nói ở đây là mình nói mình cạo đầu nhưng thay vì mình nguyện như vậy thì mình giữ một ngày Bát Quan Trai, hay mình ngồi thiền hay niệm tâm từ hay đọc Tam Quy, hoặc giả mình tạo phước, đơn giản thôi mình tạo phước. Người học Phật biết đạo thì ở trong mọi trường hợp tạo phước đó là điều quan trọng đối với chúng ta, chính chuyện tạo phước làm cho chúng ta lấy lại được niềm tin, chính chuyện tạo phước làm cho chúng ta được thanh thản trong lòng, chính chuyện tạo phước làm chúng ta hoan hỉ, và chỉ lòng tự tin, chỉ với sự hoan hỉ chúng ta đi tới. 

Do vậy ở trong ý nghĩa thứ hai: vật thực cho chúng sanh sức mạnh thì người tu tập làm sao quan niệm rằng chính sự tu tập đó mình tạo ra phước cho mình và cho những người chung quanh mình. 

Có một câu Phật ngôn rất thú vị, đó là liên hệ đến vừa là thí dụ ở đây và vừa là nghĩa bóng và nghĩa đen nữa: Đức Phật dạy: 

"Ai bố thí vật thực là cho sức mạnh" 

Những người hay bố thí vật thực người đó được những pháp: sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh. Bốn pháp thù diệu đó, ở các quốc gia Phật Giáo người Phật tử ưa thích cúng dường thực phẩm và làm như vậy lòng được hoan hỉ. 

Chúng ta cũng hiểu một điều mình sống khỏe là do mình có chế độ dinh dưỡng tốt, mình sống khỏe là do mình biết gìn giữ. Nhưng kỳ thật còn có một thứ nữa là mình sống khỏe là nhờ nhiều phước báu, mình có phước thì mình có nhiều thứ, mình phải tin vào điều đó.

Do vậy, điều thứ hai hành giả nên biết đặc tính của vật thực là cho sức mạnh thì đặc tính của người tu tập là phải tạo phước lành.

3. Ý nghĩa thứ ba chúng ta đề cập đến vật thực:

 "Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực là được mong mỏi đối với tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên được mong mỏi bởi tất cả thế gian". 

Đặc tính thứ ba của vật thực hay thực phẩm đó là, thực phẩm là cái gì ưa thích của chúng sanh trong đời. Con người sanh ra ở đời nói đến ăn là một lạc thú. Người Ấn Độ, người Trung Hoa, người Việt Nam, người Thái Lan, người Pháp, người Đức mỗi người có cách ăn uống riêng. Nhưng ở văn hóa nào cũng vậy, người ta rất thích thực phẩm, tại thực phẩm không phải chỉ nuôi mạng chúng ta mà thực phẩm còn cho chúng ta cái lạc thú của ăn uống. Thì ở đây nói là mình tu tập làm sao mà chính sự tu tập của mình mang lại sự ưa thích sự hoan hỉ cho người khác. 

Có những tôn giáo người ta càng tu thì càng làm phiền người khác, có những tôn giáo người ta càng thực hành thì càng làm khổ người khác. Nhưng nếu người Phật tử thực hành đúng lời Đức Phật dạy là mình sống vô hại đối với những chúng sanh khác, mình sống mang lại an lạc cho chúng sanh khác, mình sống với sự thanh tịnh, mình sống với sự bất hại, tất cả những điều đó đều mang lại niềm vui cho người khác, người tu đúng nghĩa thì người đó được sự hoan hỉ, nếu chúng ta thực sự tu tập đúng nghĩa thì được sự hoan hỉ.

Chúng tôi đã đi và đã nhìn thấy nhiều vị những vị có đức tu đều mang lại sự an lạc cho người khác. Lấy một điều bây giờ nghĩ đến chúng tôi vẫn còn rất hoan hỉ đó là tánh kham nhẫn của Ngài HT Hộ Giác, chuyện nào hoan hỉ thì Ngài nói, chuyện nào không hoan hỉ thì Ngài nói một lời nhẹ nhàng và sau đó thường Ngài nín thinh, cho đến lúc Ngài sắp ra đi cũng vậy. Bây giờ ngồi nghĩ đến chúng tôi vẫn còn cảm thấy Ngài cho chúng tôi rất nhiều với đức kham nhẫn của Ngài. 

Và như vậy, đời sống tu tập tu tập đúng nghĩa thì đó là nơi hoan hỉ của Chư Thiên và nhân loại, là nơi mong mỏi của Chư Thiên và nhân loại 

Bài học về thực phẩm là bài học lớn, hồi nãy chúng tôi nói ở trong kinh Phật nói đến thực phẩm hay là dinh dưỡng "tất cả chúng sanh tồn tại do vật thực do dinh dưỡng" là một đề tài lớn, và thực phẩm trong đời sống hàng ngày cũng là một đề tài lớn. 

Với tất cả chúng ta thì 3 điều này rất dễ hiểu: 

- Thực phẩm đem lại chất liệu cho chúng sanh tồn tại - người tu tập đời sống tu tập là đời sống mang lại lợi ích cho đời. 

- Thực phẩm mang lại sức mạnh cho chúng sanh - thì sự tu tập mang lại phước lành trong cuộc sống 

- và thực phẩm là đối tượng ưa thích mong mỏi của chúng sanh - thì người tu tập đúng nghĩa cũng phải là sự mong mỏi ưa thích của cuộc đời. 

Những ý nghĩa này rất giản dị, giản dị đến nỗi chúng ta không cần nói nhiều nữa nhưng nó cho chúng ta bài học lớn và chúng ta mong là những ý nghĩa đó sẽ được chúng ta ghi tâm khắc cốt. Cuộc sống đó làm cho chúng ta có ý nghĩa cho mình và cho những người chung quanh. 

Thì với bài học này chúng tôi xin được cầu mong một vài điều:

- 1. Điều thứ nhất là mong cho tất cả qúi Phật tử đặc biệt là những vị hằng tâm hằng sản thường cúng dường thực phẩm tứ sự cho Chư Tăng, mong cho tất cả qúi vị trong lúc luân hồi từ thân này đến thân giải thoát không bao giờ đói khổ, là người sanh ra có 4 pháp là sống lâu, dung sắc thù thắng, an vui, sức mạnh. 

- 2. Và chúng ta cũng mong rằng tất cả những phước báu mà chúng ta làm dù là tài thí hay pháp thí, ở đây thì chúng ta chủ yếu là pháp thí nhưng qúi Phật tử cũng đóng góp tài thí nhiều bằng cách này hay cách khác chúng ta hồi hướng cho những nạn nhân mới đây như những nạn nhân trên chiếc máy bay Malaysia MH 370, chúng ta không biết họ sống chết ra sao nhưng chúng ta cầu nguyện cho họ được phước báu. 

- 3. Và sau cùng chúng ta hãy nguyện hãy mong rằng tất cả những gì chúng ta đã tạo xin là một chất liệu tốt, chất liệu lành mạnh, một chất liệu bền bỉ cho cuộc sống nội tâm của chúng ta để chúng ta không sống trở nên vô nghĩa trở nên vô vị và trở nên vô vọng, mà tất cả chúng ta sống có ý nghĩa có mưu cầu an lạc cho mình và cho những người chung quanh mình.

Với bài học hôm nay tất cả chúng ta sẽ có được 3 đặc tính là mang lại lợi lạc cho đời, mang lại phước báu cho đời, và là nơi mong mỏi của Chư Thiên và nhân loại. 

xin được dứt lời ở tại đây./.