Monday, November 9, 2015

Vô Thường, Khổ, Vô ngã sự thật luôn là vậy

Vô Thường, Khổ, Vô ngã sự thật luôn là vậy

TT Giác Ðẳng trong room Phật Pháp Buddhadhamma ngày 17-03-2010, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng:Trong một bài pháp thoại ngắn chúng ta có thể cùng nhau nhìn vào một vấn đề mà chúng tôi thấy rằng nếu chúng ta phân tích cho kỹ thì có liên hệ đến nhiều khía cạnh hết sức trọng yếu đến đạo của người Phật tử và nói chung là tất cả những người theo những tín ngưỡng đạo giáo.

Trước nhất là chúng ta vẫn thường thấy ở trong các hệ thống tôn giáo nói đến vị Thượng Đế. Người ta thường nghĩ rằng Thượng Đế là vị sáng tạo chủ, là người tạo ra thế giới này. Và những vị giáo chủ tôn giáo ra đời mà tạo ra một nền đạo lớn như là Ki Tô giáo hay là Hồi giáo thì người ta tin rằng những vị đó là những vị mang phúc âm, mang thông điệp của Thượng Đế đến loài người. Và nếu con người phụng thờ vinh danh Thượng Đế thì Thượng Đế sẽ tạo ra những điều tốt lành cho con người và không tạo ra những điều bất hạnh cho thế gian này. Do đó việc tạo tác của Thượng Đế từ lời cầu nguyện của các tín đồ các tôn giáo nó trở thành một nguyên lý căn bản một tính lý nền tảng của tất cả các tôn giáo, đặc biệt là trong hệ thống thần ngã, cho dù là đa thần hay nhất thần, thì người ta vẫn nghĩ rằng bằng lời cầu nguyện con người sẽ làm cảm động Thượng Đế và khi Thượng Đế cảm động thì sẽ tạo ra những điều mà con người mong mỏi và không tạo ra những điều làm con người sợ hãi.

Điều đó nếu chúng ta thấy kỹ và có suy nghiệm về giáo pháp của Đức Phật thì rõ ràng là giáo pháp của Đức Phật được đặt trên một cơ sở hoàn toàn khác. Ở trong Phật ngôn hôm nay, chúng ta thấy rằng không riêng Đức Phật mà tất cả Chư Phật tức là tất cả những bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã ra đời trong quá khứ, hiện tại, và tương lai, các Ngài đều là những bậc giác ngộ, giác ngộ sự thật, tuyên thuyết sự thật, tức là khi các Ngài tuyên thuyết những gì mà các Ngài thấy, biết, giác ngộ, thì chúng sanh đi theo con đường mà các Ngài hướng dẫn để khám phá ra sự thật. Vì vậy Chư Phật không phải là vị tạo ra thế gian này và những chân lý đó không phải là sản phẩm dồi nặn bởi Chư Phật. Thay vào đó thì chân lý là điều mà được Chư Phật đại ngộ, và các Ngài giảng giải những gì gọi là hữu ích cho thế gian. Chúng ta phải dựa lên trên nền tảng này để hiểu tại sao Đức Thế Tôn có nhiều lần khẳng định rằng:

"Các con phải tự nỗ lực, các đấng Như Lai chỉ là bậc đạo sư tức là bậc thầy dạy."

Và khi chúng ta hiểu được cái vị thế này thì chúng ta hiểu rằng những gì Đức Phật Ngài làm cho thế gian này thì Đức Thế Tôn đã làm, phần còn lại là những gì chúng ta cần phải làm, thì chúng ta nên biết rõ hơn là chỉ ngồi đó mà cầu mong rằng Đức Phật sẽ mang lại pháp nhãn, sẽ mang lại tuệ giác, sẽ mang lại đạo quả cho mình.

Đề tài này thì không phải chỉ đơn giản như vậy. Ở đây thì chúng tôi xin được nói đến ba phần của pháp thoại này:

1) Phần thứ nhất: Chúng ta thử dành một ít thì giờ để chiêm nghiệm về Vô thường, Khổ não, Vô ngã là những chân lý mà Đức Phật Ngài đã khẳng định rằng dầu Chư Phật có ra đời hay không thì những sự thật đó vẫn là một thực hữu, vẫn là một sự tồn tại không thể khác hơn ở trong thế gian này.

2) Ở trong điểm thứ hai: Chúng ta thử thẩm định lại xem trong kho tàng kinh điển của đạo Phật thì phần nào là phần mà Đức Phật Ngài tuyên thuyết về sự thật, phần nào là phần do Đức Phật Ngài chế định. Chế định ở đây tức là Đức Phật Ngài là vị đã đưa ra những gì có tánh cách là thi thiết, có tánh cách là giai đoạn, tùy theo mỗi vị Phật, tùy theo mỗi văn hóa, tùy theo mỗi quốc độ, tùy theo căn cơ chúng sanh.

3) Sau cùng thì chúng ta thử bàn về một điểm là ở trong kinh điển Phật Giáo Bắc Truyền hãy dùng chữ phương tiện "paya". Phương tiện nghĩa là cái gì giả mà tạm gọi là bày ra, và những gì phương tiện chỉ mục đích dẫn đến cứu cánh. Thật sự ở một phương diện nào đó Phật Giáo Đại Thừa cũng có cách này cách khác hao hao giống như câu nói mà chúng ta hay nói là "cứu cánh biện minh cho phương tiện." Thì chúng ta thử thẩm định giữa những pháp môn tu tập cái nào khế hợp với sự thật và cái nào mang tánh cách phương tiện mà hiển bày.

Bây giờ chúng ta đi vào phần đầu tiên. Ở đây chúng ta khoan nói đến cả một hệ thống kinh điển rộng lớn tức là Tam Tạng kinh điển là Kinh, Luật, Vi Diệu Pháp, chúng ta không nói đến những pháp trợ đạo như Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Tứ Niệm Xứ v.v... chúng ta cũng không nói đến một hệ thống kinh điển như là một kho tàng rộng lớn mà chúng ta đặc biệt tập chú và ba pháp là Vô thường, Khổ, Vô ngã, và vì đó là điểm chính mà Đức Phật Ngài đề cập trong bài kinh này, từ chỗ đó thì chúng ta sẽ bước sang phần hai và phần ba.

Vô thường là gì?

Vô thường nghĩa là cái gì không đứng lại một chỗ. Chúng tôi lấy một ví dụ là chúng ta xem một cuốn phim hay, hoặc thỉnh thoảng đọc những quyển chuyện hay. Ví dụ như đã có một thời trẻ chúng tôi rất thích những tác phẩm của Kim Dung, tác phẩm đó là những tác phẩm dài đã tạo nên những nhân vật có cá tính độc đáo, những nhân vật đó chúng ta có thể tìm thấy được cả một bức tranh sống động về con người, và chúng ta có thể gọi là những đại tác phẩm. Chúng tôi không nói rằng ở trên thế giới này không có những tác phẩm tương tự, thật ra Đông cũng như Tây có những tác phẩm vĩ đại ví dụ như Chiến Tranh và Hoà Bình của Lev Nikolayevich Tolstoy chẳng hạn. Nhưng riêng về tác phẩm của Kim Dung thì thật sự đã làm say mê bao nhiêu người là tại vì chúng ta thấy được có rất nhiều nhân vật, rất nhiều tình tiết, về sau này những tác phẩm này được chuyển thành phim ảnh, những cuốn phim dài mà chúng ta gọi là phim bộ, có những bộ 4, 5 chục tập có khi 5, 6 chục tập.

Khi coi những cuốn phim này thì chúng ta thấy rằng tình tiết luôn luôn diễn tiến, nghĩa là nó đi tới, giả sử như chúng ta thích câu chuyện Thần Điêu Hiệp Lữ. Thì chúng ta có thể bắt đầu bằng câu chuyện Dương Quá hồi còn nhỏ đã sống như thế nào, rồi gặp Quách Tỉnh Hoàng Dung ra sao, rồi được gởi lên phái Toàn Chân Giáo học đạo như thế nào, rồi qua bên cổ mộ gặp Tiểu Long Nữ ra sao. Rồi nó không dừng lại tại đó. Có những cảnh rất là thơ mộng nhưng mà cái thơ mộng đó nó phải đi tới. Tại vì nó là chuyện, nó là phim. Nó đi tới rồi cho dù đoạn đó hay hay đoạn đó dở thì nó cũng phải đi tới. Rồi chia tay với Tiểu Long Nữ một lúc, rồi cũng lưu lạc giang hồ, rồi cũng gặp bao nhiêu là tang thương bao nhiêu là nghịch cảnh, bao nhiêu là dâu bể đổi thay, rồi cuối cùng cũng trở về gặp Tiểu Long Nữ sau 16 năm trường xa cách.

Thì chúng ta thấy câu chuyện đó nó có tánh cách đi tới. Nhưng đặc điểm của câu chuyện đó là dầu nó hay nó hấp dẫn thế nào đi nữa, nó không đứng lại một chỗ, và nó không dừng lại một chỗ, mà nó cứ đi tới, mà hễ nó đi tới thì nó có thể đi tới hoài được. Đâu có cái gì mà đi tới hoài, rồi cuối cùng nó cũng phải kết thúc. Thì chúng ta thấy rằng sau 16 năm hội ngộ gặp lại nhau, rồi Dương Quá rồi Tiểu Long Nữ về lại thành Tương Dương tạo ra chiến công hiển hách, rồi chia tay với Quách Tường v.v...và v.v... Thì bây giờ nó lại đến một hồi phải kết thúc. Nhiều khi câu chuyện hay quá và chúng ta cảm thấy tiếc nuối rằng tại sao nó lại kết thúc, phải chi nó còn thêm nữa. Về sau này chúng tôi có nhận thấy một điều có lẽ là vì nhiều người bắt mạch được tâm trạng đó nên chi người ta đã viết ra những bộ cũng mượn danh Kim Dung thí dụ như Hậu Thần Điêu Hiệp Lữ, hay Hậu Cô Gái Đồ Long chẳng hạn, tức là viết thêm và những tác phẩm đó thường không có hay, đúng ra thì nó mất đi những lạc thú ban đầu của một người từ thưở hàn vi hay là từ thời long đong lận đận cho đến khi thành danh thành tài, cho đến khi tạo ra được những điều hiển hách cho cuộc đời. Đúng ra trong nền văn hóa Trung Hoa họ có thành ngữ gọi là "công thành thân thối" tức là trong thời kỳ khởi dựng sự nghiệp lập giang sơn thì có bao nhiêu điều hiển hách, nhưng đến khi mọi thứ đã xong suôi rồi, tạo nên đại nghiệp rồi, thì một người làm tướng nên biết rút lui, vì ở lại thì có nhiều phiền phức. Thì những cuộc kết thúc đó thường tạo cho chúng ta nhiều tiếc nuối. Nhưng mà nó không thể không kết thúc được.

Nhưng vấn đề tại đây của chúng ta nhìn vào vấn đề đó là tất cả những cái hay cái đẹp cái hấp dẫn của thế gian này luôn luôn đi theo đà gọi là diễn tiến hay là biến chuyển. Đúng như chữ mà người Trung Hoa có chữ là "dịch", "dịch" có nghĩa là thay đổi, có nghĩa là biến hóa, nó không nằm yên được, nó bằng cách này hay bằng cách khác, âm dương tướng tượng sanh ra bát quái, bát quái sanh ra bao nhiêu quẻ, rồi chúng ta mới thấy rằng cuộc sống nó là sự kết hợp nó không nằm yên và cái không nằm yên một chỗ đạo Phật gọi là "Vô Thường."

Cái vấn đề của "Vô Thường" là nằm ở chỗ nào? Vấn đề của Vô Thường là tâm tư của chúng ta thì muốn mọi thứ những gì mà tốt nhất đẹp nhất thì nó nằm yên một chỗ. Chúng tôi lấy ví dụ là không có cái gì nói rõ nên điều này như kỹ thuật chụp hình ngày nay. Ngày xưa trong những chuyến đi xa chúng tôi thấy trong 10 người đi thì có 2, 3 người mang máy chụp hình theo mà thôi, lý do là phim lúc đó rất đắc, rửa ra hình cũng rất là đắc tiền và những người nào ưa thích chụp ảnh lắm mới chụp, còn bây giờ thì hầu như 10 người thì hết 9 người là có máy chụp hình tại vì máy chụp hình bây giờ là digital, và khi chụp hình thì chúng ta thường chụp lại những giây phút đẹp nhất, ngay cả khuôn mặt bình thường không đẹp nhưng có nhiều người ăn ảnh thì đứng lại chụp một tấm hình ở trong một cảnh rất là đẹp, trong một giây phút rất đáng nhớ. Những tấm ảnh đó lâu lâu chúng ta muốn coi lại, chúng ta muốn thời gian như đóng khung. Thời gian như đóng khung chúng ta tạm gọi như trong khoa học "time capsule". Time capsule là chúng ta thu góp những dữ kiện nào đó của một thời đại nào đó gom lại gìn giữ, giữ nguyên không cho nó thay đổi để 1000 năm sau những người đời sau họ khai quật lên họ biết rằng là thời đó có như vậy xảy ra. Chúng ta nhiều khi muốn thời gian được đông lạnh nghĩa là nó ở một sự trạng nào đó nguyên vẹn, như là một tấm hình rất đẹp.

Kỳ rồi chúng tôi đi Thái Lan gặp thân mẫu khi ra phi trường, bà cụ ngồi trên xe lăn, mấy anh em huynh đệ chúng tôi như TT Tuệ Siêu, chúng tôi, sư Pháp Nhiên và vài Phật tử đứng chụp một tấm hình. Chúng tôi về rất thích tấm hình đó tại vì bà cụ ngồi trên xe khuôn mặt rất tươi tắn và mấy anh em đứng chung quanh. Khi nhìn tấm hình thì chúng tôi nghĩ đến chuyện sẽ rửa tấm hình đó để trên bàn để mỗi lần nhớ về bà cụ hay nhớ mấy huynh đệ thì nhìn, tấm hình rất đẹp. Nhưng chúng tôi cũng hiểu rằng đó là những giây phút rất ngắn ngủi, ngắn ngủi như chúng ta đưa máy chụp hình lên bấm một cái thì ngay lúc đó tấm ảnh đó giữ lại. Và chúng ta nói cuộc đời nó là như vậy. Nhưng thật sự cuộc đời không phải là như vậy. Tấm ảnh mà chúng ta thấy được chúng ta đem vào lòng nó chỉ là một phút giây ngắn ngủi, cái phút giây đó là gì? phút giây đó là hình ảnh mà chúng ta cố gắng giữ lại về cuộc sống này và chúng ta quên đi những thứ khác.

Khi xem một cuốn phim thì chúng ta có thể cho một phần nào đó đứng lại giây phút mà chúng ta thích nhất, ở cái nét mặt nào thích nhất, ở một bối cảnh nào mình thích nhất. Nhưng cuộc sống của chúng ta không thể nào làm cho nó đứng lại, chúng ta không có một phép nhiệm màu làm đông lạnh thời gian khiến cho thời gian không thay đổi, tại vì cuộc sống là hằng chuyển, cuộc sống là luôn luôn biến dạng, biến thể, biến dịch, cuộc sống là luôn luôn đi tới, và hễ nó đi tới thì đại khái là chúng ta thấy mọi sự là nó có bắt đầu, rồi nó có diễn tiến, và nó kết thúc.

Đức Phật nói cái pháp nó tập khởi như vậy rồi nó diệt tận như vậy. Giây phút rất vui vẻ mà nó đến với cuộc sống chúng ta là nó do lý do này lý do khác, rồi nó tập khởi tức là nó bắt đầu, rồi nó tồn tại trong khoảng khắc nào đó, nhưng rồi nó cũng kết thúc, nó không thể đứng lại được. Đó là định luật của Vô thường. Thì nếu chúng ta nghiệm cho kỹ về cuộc sống vô thường thì chúng ta sẽ hiểu một điều là như vầy, tất cả những sự việc ở chung quanh mình hằng ngày từ gia đình quyến thuộc bạn bè chùa chiền, đến nỗi mà hệ thống chính trị kinh tế, đến cả thế giới này, cả cái hành tinh chúng ta ở, tất cả thế giới này nó luôn luôn hiện hữu ở trong một trạng thái nào đó và nó tiếp tục. Có thể chúng ta thấy là mình sanh ra thì núi Thất Sơn vẫn có đó, dãy Hi Mã Lạp Sơn vẫn có đó, biển Thái Bình Dương vẫn có đó, bây giờ tất cả vẫn như vậy. Không phải. Có thể rằng là sự có mặt của chúng ta trong cuộc sống này quá ngắn ngủi, mà có thể rằng chúng ta không đủ sự tinh tế để cảm nhận rằng những thứ đó có thay đổi. Những thứ đó thay đổi và chúng ta cũng thay đổi. Thế giới bên ngoài cũng thay đổi, thế giới trong lòng chúng ta vẫn thay đổi, chúng ta không nhận ra được điều này, chúng ta luôn luôn đi tìm một cái gì đó gọi là an lạc, đi tìm một cái gì đó đứng lại, đi tìm một cái gì đó không thay đổi, chúng ta gọi là thế giới vĩnh hằng.

Chúng ta mơ ước nhiều về điều đó, chúng ta mơ ước gìn giữ điều đó giống như chúng ta xem một cuốn phim hay quá thì chúng ta luôn luôn mong mỏi được tiếp tục sống với những nhân vật, sống với những tình tiết, sống với cốt chuyện như vậy. Nhưng mà rồi có cuốn phim nào không đến hồi kết thúc, có câu chuyện nào không có tàn cuộc, và đến lúc cuối cùng rồi thì chúng ta cảm thấy tiếc nuối và những người làm ra những điều đó họ cho rằng sự tiếc nuối là sự thành công của những người sáng tác. Nhưng chúng ta tự hỏi trong lòng rằng đã có bao nhiêu thứ đến và đi trong cuộc đời của mình mà nó nằm lại một chỗ không thay đổi. Và khi mọi thứ thay đổi như vậy thường tạo cho chúng ta bao nhiêu là những bâng khuân, bao nhiêu là những ngán ngẩm, bao nhiêu là những buồn chán, bao nhiêu là bực bội, và đời sống của chúng ta mãi mãi đi tìm cái gì ổn khuất nhất.

Thời đại chúng ta đang sống có một chuyện rất chớ trêu là mình luôn luôn đi tìm cái gì tốt nhất trong cuộc đời này, chiếc xe mình lựa chọn cũng là chiếc xe tốt nhất, cái máy computer mình chọn cũng là cái máy computer tốt nhất, bộ đồ mình mua cũng là tốt nhất, cái máy mình sài cũng là tốt nhất. Nhưng mà cái nhất đó nó được bao lâu, có những cái nhất được một năm, có cái được sáu tháng, có cái được ba ngày, quần áo thì theo mùa, máy móc thì cũng có lúc cái này đến thì cái kia đi. Chúng ta luôn luôn đi tìm một sự dừng lại, đi tìm sự đứng lại, đi tìm một bức tranh được chụp ở một giai đoạn nào đó rất đẹp, chúng ta nói là tuyệt hảo nhất và mong rằng những thứ đó sẽ không thay đổi nhưng mà rồi mỗi thứ cũng thay đổi, cái thay đổi đó có nhiều lý do, nhưng chúng ta nói như vậy là người ta nói rằng hoặc là cảnh thay đổi hoặc là người thay đổi. Cụ Nguyễn Du đã từng viết một câu thơ từ chữ Hán được dịch ra là "Trước sau nào thấy bóng người, hoa đào năm cũ còn người đó đâu." Chúng ta nói "Đào hoa y cựu tiếu đông phong" mình đi về một nơi cảnh cũ tìm lại hình bóng của ngày xưa rồi ở đó hoa đào vẫn nở cảnh cũ vẫn còn đó mà người đã đi đâu. Thì cái đó chúng ta nói cảnh ở bên ngoài nhưng chúng ta cũng cần nói ở trong lòng của chúng ta thay đổi rất là nhiều.

Chúng tôi có nhiều lần trình bày với qúi Phật tử rằng: thật ra tuổi trẻ của chúng tôi có một điều rất êm đềm đó là quê ngoại, quê ngoại của chúng tôi có một con kinh đào và ở trong sân nhà ngoại thì đằng sau có một cái hố, ở trước mặt nhà thì có con kinh đào, và ở giữa có một khu vườn có một mảnh ruộng, và trong khu vườn đó được chia làm nhiều mảnh mà người miền nam gọi là cái líp, và giữa những cái líp này có những con mương những cái ao được đào. Những buổi trưa hè nắng ăn cơm xong thì chúng tôi thích đi xuồng dọc theo những cái líp tìm những trái ổi, những trái cam trái, trái chuối chín cây rất là thú vị. Sau đó chúng tôi rời quê ngoại để vào chùa tu rồi lên Sàigòn, nhiều năm sau trở về lại thì chúng tôi nghĩ rằng quê ngoại không thay đổi nhiều nhưng mà ở trong lòng mình thì thật sự thay đổi nhiều, có thể rằng bây giờ thấy con kinh nhỏ hơn, bây giờ thấy thế giới ngày xưa mình thấy rất êm đềm nó không êm đềm như vậy, có những buổi mình đi xuồng ở trên líp buổi trưa hè và xin cho cuộc sống dừng lại, nhưng bây giờ mình thấy cuộc sống đó buồn chán quá, nó đơn giản quá.

Thật ra vấn đề nó nằm ở chỗ này, vấn đề nằm ở chỗ là tâm và cảnh đều thay đổi hết, thế giới bên ngoài cũng thay đổi và thế giới trong lòng của chúng ta cũng thay đổi, và sự thay đổi đó nhiều khi chúng ta không để ý ở một điều là chúng ta có cưỡng cầu, có cố gắng nắm níu, và cái cố gắng nắm níu lại chúng ta có cố gắng sửa đổi thời gian lại giống như là khi mình coi phim, tại sao chúng ta thích coi phim, là tại vì chúng ta có thể quay ngược phim trở lại, có thể cho phim chạy qua đoạn khác, có thể làm cho nó đứng lại. Và chúng ta nghĩ rằng chúng ta cố ý nắm níu lại một hình ảnh nào đó như vậy nhưng tất cả đều thay đổi. Và vì vậy khi chúng ta nghiệm về lý Vô thường thì chúng ta phải hiểu rằng mỗi một tuổi mỗi một giai đoạn thì chúng ta nhìn cuộc đời khác đi và thế giới này nó cũng từ đó mà khác đi.

Ba mươi năm trước chúng tôi đặt chân đến Mỹ, nước Mỹ ngày đó và bây giờ khác nhau, và không phải đất nước Mỹ ngày đó và bây giờ khác nhau mà tâm tư của chúng tôi ngày đó là một người 17, 18 tuổi, đặt chân đến xứ lạ quê người nhìn thấy nước Mỹ như thế nào và hôm nay chúng tôi nhìn lại nó cũng khác nhau, cái sự thay đổi đó nó liên tục, nó liên tục bởi vậy Đức Phật Ngài dạy rằng:

"Một ở trong cái khôn ngoan nhất của chúng sanh trong cuộc đời này là thấy được tính tập khởi và tính đoạn diệt của các Pháp, tức là thấy được tính sanh và tính diệt của các Pháp."

Và thậm chí Đức Phật khẳng định một điều rằng "Ai sống trăm năm mà không thấy được pháp sanh diệt thì không bằng sống một ngày mà thấy được pháp sanh diệt."

Tại vì sao? Tại vì chúng ta hiểu được những thứ đó thay đổi rất nhiều và nếu chúng ta hiểu được mọi thứ thay đổi thì thái độ sống của chúng ta cái vui cái buồn cái sự chấp nhất của chúng ta sẽ khác đi hơn là chúng ta khư khư nghĩ "à! nó muôn năm phải như vậy và lúc nào nó cũng phải như vậy."

Khổ não.

Một khía cạnh khác mà phần hai Đức Phật giảng trong Phật Ngôn này đó là Khổ não. Chữ khổ ở đây thật ra rất là khó dịch. Chữ khổ có ba hình thức:

Thứ nhất sự khổ là điều gì trái ý nghịch lòng. Chúng tôi lấy ví dụ như mình không thích ăn cay mà bây giờ ăn món cay quá, mình thích người ta khen mình mà bây giờ người ta chê mình, hoặc giả mình thích đi đến một nơi sạch sẽ lịch sự mà bây giờ người ta đưa đến một nơi dơ quá, và người ta bất nhã quá, thì gọi là trái ý nghịch lòng thì cái đó là cái khổ. Cái khổ nó đơn giản là trái ý nghịch lòng ai cũng hiểu hết.

Có một thứ khổ khác mà chúng ta có thể nói là nó gần với ý nghĩa của kinh điển hơn là sự khổ không toại nguyện hay là không thoả mãn. Nghĩa là ở trong cuộc sống này chúng ta muốn đi tìm một cái gì đó từ bộ quần áo mình mặc, từ cái máy mình sài, từ một người bạn đường mà mình muốn chia sẻ cuộc sống, và một kiểu sống, một cách sống nào đó gọi là lý tưởng 100% nhưng rồi chúng ta đi mãi mãi mà không tìm thấy. Cái gì cũng có tánh tương đối của nó. Ví dụ như một người sống ở VN khổ quá họ nói rằng qua Mỹ thì mới sung sướng, nhưng qua Mỹ rồi họ mới thấy là qua Mỹ cũng có cái được cái không được. Một người độc thân thì nghĩ là mình có gia đình cuộc sống mình sẽ tốt hơn, lập gia đình rồi mình hiểu là có cái được có cái không được. Rồi cuộc sống của chúng ta hồi không có chiếc xe thì mình thấy là có chiếc xe sẽ giải quyết được mọi vấn đề nhưng khi có chiếc xe rồi thì cũng có cái được cũng có cái không được. Cái bất toàn của đời sống nó khiến chúng ta không hoàn toàn thoả mãn, không hoàn toàn hài lòng về cuộc đời này, chính vì vậy mà mỗi chúng ta luôn luôn sống ở sự trăn trở. Hồi còn trẻ thì có cái trăn trở của tuổi trẻ, lúc mình già có cái trăn trở của tuổi già, lúc mình nghèo thì có cái lao đao lận đận của người nghèo, lúc mình dư giả tiền bạc thì mình cũng có cái phải lo phải buồn phải lo lắng liệu toan của người có tiền. Nói chung cuộc sống là bất toàn và trong cuộc sống bất toàn đó thì nó luôn luôn dẫn chúng ta đến một tình trạng đó là không hài lòng, không mãn nguyện.

Nhưng cái không hài lòng mãn nguyện lớn nhất có lẽ nó đến từ chỗ này, từ chỗ vô thường, cái gì có sanh thì phải có diệt, do có sanh lên phải có diệt, do vậy trong tận cùng tâm thức của chúng ta luôn luôn có sự bất an, luôn luôn có sự hoài nghi. Bây giờ chúng ta nói một chuyện như vầy là có người nào đó lớn lên trong cuộc đời này bị phản bội trong tình yêu và từ đó về sau thì họ thù hận họ nghi ngờ tất cả những mối tình, thì chuyện đó dễ hiểu với chúng ta lắm. Nhưng bây giờ chúng ta tự hỏi rằng nếu trong cuộc đời của chúng ta không phải chỉ có một chuyện làm chúng ta thất vọng mà nó có hàng trăm hàng ngàn chuyện làm chúng ta thất vọng thì chúng ta có nghi ngờ cuộc sống không, chắc chắn là có, nhưng mà quả thật trong đời sống của chúng ta có hàng trăm ngàn thứ để chúng ta thất vọng, tại vì những điều mà chúng ta mơ ước, giống như Tô Đông Pha nói rằng: "Vị đáo sanh bình hàn bất tiếu, đáo đắc hoàn lai vô biệt sự, lô sơn yên toạ triết giang triều." Khi chưa đi đến thì mình thấy nó đẹp thấy mơ ướt đủ điều hết, nhưng đến rồi thì thấy nó cũng vậy thôi, và cái cũng vậy đó khi mình trở về thì mình thấy nó vẫn là nó nhưng trong tâm tư mình cái thái độ đã khác đi rồi.

Do vậy chúng ta phải nói rằng một trong ý nghĩa của sự khổ đó là bất toại nguyện hay nói một cách khác chữ dukkha. Chữ duk có nghĩa là rỗng không nghĩa là chúng ta không tìm thấy cái lõi của nó chúng ta không tìm thấy cái tuyệt đối của nó. Trong kinh ví dụ như là một củ hành hay một cây chuốt, chúng ta cứ lột ra từng lớp này rồi lớp nữa rồi lớp nữa rồi cuối cùng thì tất cả chỉ là những lớp mà nó bọc lại với nhau, chúng ta không tìm ra cái lõi.

Thì vấn đề của chữ khổ Đức Phật Ngài dạy đó là bất toại nguyện nghĩa là về đời sống này không bao giờ có sự thoả mãn hoàn toàn và điều đó là một điều chắc chắn khi Đức Phật dạy rằng:

"Này các tỳ kheo cái gì vô thường thì cái đó là khổ."

Tức là cái gì mà nó thay đổi diễn biến. Tại vì chính cái yếu tố vô thường đó nó khiến cho chúng ta không tìm thấy một sự an lành. Chính yếu tố vô thường đó nó không cho chúng ta một chỗ nương tựa vĩnh hằng. Chính sự vô thường đó nó là một sự đe dọa bất tường, luôn luôn lúc nào nó cũng nói với chúng ta rằng "à! cái đó nó có sanh rồi nó có diệt, nó có đến rồi nó có đi, cho dù đó là người thân của mình, cho dù đó là tài sản của mình, cho dù đó là gì gì đi nữa thì nó luôn luôn có đến và có đi. Và điều này đối với Đức Phật thật sự là quan trọng, thật sự là cần phải lưu ý, phải hiểu, và phải lãnh hội.

Vô Ngã

Bây giờ chúng ta nói sang đoạn thứ ba của bài kinh này Đức Phật nói về sự vô ngã.

Chữ vô ngã ở tại đây là một chữ mà chúng ta dễ dị ứng. Tại sao chúng ta dị ứng? Tại vì hầu hết tất cả những cái gì mà chúng ta cảm thấy là có ý nghĩa trong cuộc đời này nó đều liên quan đến ngã và ngã sở hết, "đây là tôi", "đây là của tôi." Một căn nhà có đẹp đến đâu, một cuộc sống có vui đến đâu, nhưng mà căn nhà đó và cuộc sống đó không phải là của mình thì nó không có ý nghĩa gì hết. Giống như qúi vị coi phim đọc chuyện mà thấy rằng có ai đó sống trong cảnh thần tiên như Lưu Nguyễn lạc thiên thai, hay chúng ta nói đời sống của một vị công chúa đẹp như câu chuyện thần thoại cổ tích, hoặc của ai đó, của các tài tử, nhà tỉ phú thì chúng ta không mảy may màng đến tại vì cái đó không phải của mình. Cái gì mà gọi là của mình thì mình mới cảm thấy có ý nghĩa. Cái gì mà gọi là của mình là mình thì mình mới cảm thấy rằng thật sự mình tha thiết.

Bây giờ vấn đề của chúng ta nằm ở chỗ nào? Cái gọi là của mình thì đối với Đức Phật rất là đơn giản để định nghĩa. Cái gì mà mình có thể muốn nó như thế này muốn nó như thế kia thì cái đó mới thật sự là của mình, nếu mình muốn nó như vậy mà nó làm như vậy thì mới thật sự là của mình. Ví dụ như bây giờ qúi vị có một người thân mà qúi vị muốn người thân đó chìu qúi vị, người thân đó lo cho qúi vị, chú ý đến qúi vị, mà người đó đáp ứng thì mới gọi là người thân. Còn nếu người đó họ không quan tâm gì đến qúi vị gì hết, qúi vị nói đông họ nói tây, qúi vị muốn cái này họ làm cái khác, thì như vậy không gọi là người thân được. Thành ra khi cái gì gọi là của mình thì nó phải đi với cái định lý là nó phải như thế này phải như thế kia, đừng như thế nọ thì nó mới là của mình

Nhưng theo trong kinh Phật thì một sự thật là có rất nhiều thứ mà chúng ta không để ý như ngay đến bản thân của mình, thân của chúng ta tâm của chúng ta, chúng ta muốn vậy mà nó không phải như vậy. Chúng ta khoan nói đến chuyện đất nước, khoan nói chuyện đến thế giới, khoan nói chuyện đến thời cuộc. Chúng ta nói về thân của chúng ta, tóc bạc trên đầu chúng ta biểu nó đừng bạc, không được, chúng ta già đi theo năm tháng, chúng ta không thể bảo nó đừng già, chúng ta nay bịnh mai đau biểu nó khỏe hoài cũng không được. Như vậy nếu qúi vị nghiệm cho kỹ thì cái thân nó vốn có tự tánh của nó và nó không làm theo ý mình, rồi mình cãi "à! thân vì nó là vật chất mình không làm chủ nhưng mình có thể làm chủ cái tâm." Nhưng một cách đơn giản thôi, Đức Phật Ngài dạy rằng một vị tỳ kheo một buổi sáng mà muốn an trú vào thứ tâm nào thì an trú vào được thứ tâm đó và làm sáng chói khu rừng. Nhưng nếu người trong chúng ta mà chúng ta có thể điều khiển tâm ý như mình muốn, ví dụ như lúc mình muốn tâm mình yên, thanh thản đi ngủ thì nó lại chăn trở, nó lại thức muốn làm cái này làm cái kia, và những lúc chúng ta muốn làm nó hưng phấn muốn nó phấn khởi muốn nó phấn chấn thì nó lại thụ động nó lại buồn ngủ. Cái vui cái buồn của chúng ta cũng vậy. Một vị thi sĩ cũng phải than là "hôm nay trời lại lên cao tôi buồn chẳng biết vì sao tôi buồn" Cái buồn của mình mình cũng không biết nữa, mà cái vui của mình mình cũng không làm chủ nó. Cái vui mình muốn giữ nó hoài cũng không được, mà cái buồn mình muốn xua đuổi nó đi nó cũng không đi.

Do vậy thế giới của chúng ta quả ra nếu chúng ta sống mà nhớ điều nên nhớ đáng nhớ thì thật ra chúng ta hạnh phúc lắm, tại vì trong cuộc đời chúng ta có nhiều kỷ niệm đẹp. Nhưng điều oái ăm là những người đã rất tốt với chúng ta, những kỷ niệm rất đẹp của chúng ta, những cảnh đẹp mà chúng ta đã đi qua thì chúng ta lại không nhớ nhiều, mà chúng ta nhớ đến ân oán, chúng ta nhớ đến cái xấu cái quấy, chúng ta nhớ đến những điều trái ý nghịch lòng, và có nhiều cái nhớ của quá khứ làm cho chúng ta bực bội làm cho chúng ta gây gỗ làm cho chúng ta khó chịu, và chúng ta không thể nào làm chủ được cái nhớ của chúng ta hoàn toàn.

Bây giờ chúng ta nói đến cái thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng, thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác, vị giác, rồi ý thức. Chúng ta nói nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý, hay là thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng, suy nghĩ. Thì qúi vị thấy rằng cũng không phải lúc nào mình cũng có thể chủ động được những cái mình thấy được, những điều gì mà mình nên thấy, muốn thấy. Có những điều nghe thấy mà đau đớn lòng như cụ Nguyễn Du nói thì chúng ta vẫn thấy chúng ta không thể xua đuổi đi được. Thế giới ở bên ngoài hầu như là nó đi vào trong đời sống của chúng ta, nó như là một cái chợ, một cái chợ là mình không biết ai là người sẽ vào, người ta sẽ bán cái gì và phiên chợ buổi đó ra sao, chúng ta chỉ biết là chúng ta đang có cái chợ thôi. Đời sống tâm tư của chúng ta cũng vậy, bao nhiêu là những cảnh buồn vui thương ghét trái ý nghịch lòng nó len lỏi đi vào đời sống của chúng ta, chúng ta không thể xua đuổi nó đi được, chúng ta không thể quẳnh mặt làm ngơ với nó được, chúng ta phải chấp nhận nó là một thực tại.

Và do vậy nếu chúng ta nghiệm cho kỹ và nếu chúng ta nói một cách thành thật thì dù là sắc, dù là thọ, dù là tưởng, dù là hành, dù là thức, đi nữa thì tất cả những thứ đó nó không thể làm theo một điều mà theo Đức Phật dạy rằng: nếu những thứ đó thật sự là của ta thì ta có thể nói rằng: nó như thế này và đừng như thế kia." Nhưng không phải là bởi vì nó là "Vô Ngã" nên mình không thể nói nó theo ý của mình được. Và hơn thế nữa thì có một thứ mà hầu như trong người của chúng ta ai cũng mơ ước hết: đó là mọi thứ đều xuôi theo ý của mình. Do vậy chúng ta mới có từ "trái ý nghịch lòng." Cái gì theo ý mình ví dụ như ngày hôm đó chúng ta làm việc gì đó mà mọi người đều nhanh nhẩu mọi người đều thiện cảm đều làm theo đúng thời khóa biểu mọi thứ như mình muốn thì mình rất là hoan hỉ. Ví dụ như hôm nay chúng ta vào trong rơom rồi có mặt đông đủ các vị giảng sư, rồi các Phật tử trong ban điều hành làm việc nhanh nhẩu chương trình tốt đẹp, paltalk không có vấn đề thì nó quá lý tưởng cho một buổi sinh hoạt. Nhưng nhiều khi nó không theo ý mình được tại vì chúng ta không quyết định được tất cả.

Một cái hoa nhiều khi đặt đúng chỗ thì nó đẹp, còn đặt không đúng chỗ thì không đẹp. Chúng tôi nhớ kỳ rồi sang bên Bangkok, và buổi chiều cuối cùng HT Huyền Việt muốn đi trên sông Chao Phraya, chúng tôi đã thuê thuyền để đi từ Watt That Kon đi đến Watt Paknam, rồi không hiểu vì sao người ta lại đưa vào một đoạn kinh đập sâu ở trong làng người ta ở. Thì thật sự lúc đó chúng tôi đã tìm thấy được hình ảnh cuộc sống của sông ngòi tức là cuộc sống rất gần gủi với đời sống nông thôn ngày xưa ở miền Nam VN, có nghĩa là ở giữa là những con kinh rạch hai bên là nhà là vườn, và trên đường đi thấy nhiều hoa như là hoa quỳnh anh, hoa hoàng yến, hoa bằng lăng, màu vàng màu tím đủ thứ hoa nở rộ. Chúng tôi tìm thấy cái gì rất thân quen rất đẹp. Chúng tôi đã nói với HT Huyền Việt là cuộc sống của chúng ta mà thỉnh thoảng được đi trở về miền quê tìm thấy hình ảnh của thiên nhiên rất là gần gủi với thời thơ ấu thì thật là một điều tuyệt vời. Thì HT Huyền Việt cũng nói: "mình muốn như vậy nhưng lớn lên cuộc đời trôi dạt thì có trăm muôn ngàn thứ mà nó không theo ý của mình được."

Thì lúc đó chúng tôi chợt nhớ một điều rằng những giây phút như vậy thật sự rất là hạn hữu. Là vì ý muốn của mình không quyết định tất cả, không có gì quyết định tất cả trong cuộc đời này mà nó phải là sự kết hợp của nhiều thứ. Chúng tôi lấy ví dụ là những đóa hoa hoàng yến nở đẹp thì ít nhất là chúng ta thấy nó đẹp là nó cũng phải có một cái cảnh nào đó ở trong cái không khí nào đó và ở trong thời điểm nào đó thì chúng ta mới thấy nó đẹp. Còn bình thường chúng ta thấy nó thường lắm mặc dầu có những thành phố như Chiang Mai chúng ta về thấy những đóa hoa hoàng yến nở rực rỡ màu vàng thả xuống dọc hai bên đường nhưng mà chúng tôi tin rằng những người ở đó nhiều khi họ không cảm nhận như vậy. Thành ra cái mà chúng ta nghĩ là đẹp nó đòi hỏi như vầy: giống như người ta nói một bữa ăn mà thức ăn ngon, rồi phải có người ăn ngon, rồi cách ăn nữa, và phải có lúc chúng ta cảm thấy ăn ngon thì nó mới ngon được. Do nhiều yếu tố kết hợp, do đó không có một yếu tố nào riêng lẻ độc quyền, và do không có một yếu tố riêng lẻ độc quyền do vậy mọi vật là "Vô Ngã."

Chúng ta nhớ câu nói của Ngài A Xà Chí (Assaji) là "Vạn pháp do duyên mà sanh và cũng do duyên mà diệt." và Ngài Xá Lợi Phất nghe nói như vậy thì tỏ ngộ. Cái do duyên mà sanh do duyên mà diệt là thí dụ như chúng ta nhìn thấy một cảnh tượng đẹp là do một buổi sáng mặt trời lên không khí còn trong lành còn mát mẻ và chúng ta đang có thời gian rảnh rỗi mới cảm thấy được như vậy. Nhưng nếu trong trường hợp mà buổi sáng ra đi, rồi buổi trưa về trời nóng nực, hoặc giả là chúng ta đang bận rộn không có thời gian thanh thản nữa thì ngày đó giờ đó không đẹp nữa. Nó có nhiều yếu tố để quyết định và khi nhiều yếu tố đó nó đi qua rồi nó khác đi rồi, thì mọi sự việc nó phải khác đi. Các pháp do duyên mà sanh và cũng do duyên mà diệt. Những tập hợp của nhiều nhân duyên nó cho chúng ta rất nhiều nhưng mà rồi nó cũng lấy đi rất nhiều, chúng ta không thể không biết về điều này. Thành ra Đức Phật Ngài dạy rằng đó là yếu tính của vô ngã là do nhiều nhân nhiều duyên chứ không phải do một nhân một duyên, và cái ý muốn của chúng ta nó chỉ là một ở trong nhiều yếu tố mà thôi, và đừng nghĩ nó là tất cả.

Sau khi nói về ba chân lý vô thường, khổ vô ngã thì chúng ta nên nhìn lại và tự đặt câu hỏi rằng tại sao Đức Phật Ngài dạy rằng:

"Này các tỳ kheo, cho dù Chư Phật có ra đời hay không thì những sự thật là vô thường, khổ, vô ngã nó đều hiện hữu và đó là một tự tính mà cho dù Chư Phật có nói hay không nói thì nó vẫn có đó."

Tại vì sao ? Tại vì nó là những điều tự nhiên, phải như vậy, sự thật nó là như vậy. Đó là đề tài của chúng ta ngày hôm nay. Thì vấn đề là chúng ta có khám phá, có nhìn nhận, có chấp nhận nó mà chấp nhận một cách khôn ngoan, chấp nhận với tuệ giác hay không mà thôi. Chúng ta nên hiểu điều này và vì vậy con đường tu tập của người Phật tử không phải là cầu mong rằng Đức Phật Ngài sẽ ban một phép lạ để Ngài tạo cái gì cho chúng ta, hay hoặc giả là chúng ta sẽ được Đức Phật Ngài trao cho một quả vị gì đó. Mà con đường tu tập giác ngộ của người Phật tử là đi vào cánh cửa mà chúng ta gọi là giác ngộ, sau giác ngộ là giải thoát.

Giác ngộ là gì? Giác ngộ là lãnh hội, nhận thức và chấp nhận được sự thật. Chúng ta nói lãnh hội có nghĩa mình biết nó là như vậy, nhận thức là thấy nó như vậy và chấp nhận có nghĩa là; à, sự thật nó ra sao thì mình chấp nhận nó như vậy, nó như vậy là như vậy. Ví dụ như một đứa trẻ, con cháu nuôi trong nhà mình bực mình tại sao nó phá tại sao nó quậy nhưng rồi đến lúc nào đó mình nhận ra; à con nít thì nó phải chơi đùa như vậy, mình chấp nhận nó như vậy thì nó như vậy. Hay thành phố Houston vào mùa hè thấy nóng quá sinh bực bội thì lúc nào đó chúng ta chấp nhận; à, mùa hè nó là như vậy. Thì mình không bực bội nữa. Cái đó chúng ta gọi là chấp nhận, đời sống con người của chúng ta là lãnh hội, nhận thức và chấp nhận không phải là chuyện dễ. Đức Phật Ngài nói là thấy, biết, hiểu, và xác chứng là mình thấy nó như vậy, mình hiểu nó như vậy, mình xác chứng, mình chấp nhận nó như vậy, nó phải là như vậy. Cuộc đời ở đây là một thái độ sống mà thiệt ra là một sự khôn ngoan mà Đức Phật Ngài dạy cho chúng ta không phải là vì chúng ta có khả năng để mà gọt dũa để mà nhào nặn cho sự thật nó khác hơn sự thật mà trước nhất là chúng ta phải nhận là tự tánh sự vật nó là như vậy, nó như vậy thì nhận nó là như vậy, khi mình thấy nó là như vậy thì mình không có phiền lụy một cách vô ích, không tạo sự căng thẳng cho mình một cách vô ích. Qúi vị đã sống trong thành phố kẹt xe nhiều đừng để sự kẹt xe đó làm cho qúi vị bực bội, tại vì sự kẹt xe nó là một sự thật là một điều mà quí vị phải sống với qúi vị phải chấp nhận như vậy thôi. Ví dụ sống trong cộng đồng chúng ta than thở là cộng đồng người Việt thì hay chia rẽ hay đố kỵ, cộng đồng người Việt hay nói xấu nhau, chúng ta sống trong cộng đồng người Việt thì khi nào có ai chia rẽ hay có ai đố kỵ lời nói qua tiếng lại thì chúng ta nói; à, cộng đồng của chúng ta là như vậy, chúng ta chấp nhận như vậy, tại vì sự thật nó là như vậy.

Bây giờ chúng ta bước sang một điểm khác:

Có hai điểm chính mà chúng tôi nêu lên là chúng ta phải hiểu rằng ở trong giáo pháp của Đức Phật là điều nào là thi thiết?

Thì câu hỏi này có thể trả lời một cách đại khái nhưng mà phải học Phật lâu năm thì chúng ta mới thấy được điều này. Ví dụ như ở trong kinh điển Đức Phật những sự thật như là Duyên khởi về Tứ đế thì những sự thật đó nó vốn là những sự thật đời nào cũng vậy, Giáo lý nghiệp báo là đời nào cũng vậy thời nào cũng vậy, Chư Phật thấy như vậy, Chư Phật dạy như vậy, chúng ta gọi những pháp này giống như là trong những môn học nhà trường của chúng ta gọi là khoa học tự nhiên, hay là những điều mà tự nhiên, và những điều như trong Luật tạng , trong Giới bổn Patimokkha, Đức Phật Ngài dạy rằng tỳ kheo có bao nhiêu giới tỳ kheo ni có bao nhiêu giới v.v... thì điều đó mang tính là thi thiết hay mang tánh cách chế định, và sự chế định đó thì tùy theo mỗi một vị Phật. Ví dụ như có vị Phật ra đời thì các Ngài đặt ra luật định, có những vị Phật ra đời không đặt ra luật định mà tùy theo cái căn cơ, tùy theo hoàn cảnh cái bối cảnh sống của chúng sanh thời bấy giờ.

Sau cùng có một câu hỏi mà chúng ta nêu ra ở tại đây đó là những Pháp của Đức Phật nêu ra có tánh cách phương tiện phải không?

Chữ phương tiện ở đây là một từ mà rất là chúng ta phải cẩn trọng, chúng tôi nói một lần nữa là người học Phật phải cẩn trọng với chữ phương tiện. Chữ phương tiện có nghĩa là giả lập, có nghĩa là bày ra chứ nó không thật. Chúng tôi lấy ví dụ như bây giờ có nhiều vị thầy giảng Tịnh Độ Tông là ở thế giới Phương Tây có một cảnh giới cực lạc,i có 7 hàng cây báu, có chim ca lăng tần già v.v.... Nhưng có vị khác nói rằng điều đó Đức Phật Ngài phương tiện chế ra chúng sanh thích một cảnh giới, sanh chỗ này, chỗ kia rồi được như vậy, là Đức Phật Ngài chế ra chứ thật sự thì 7 hàng cây báu tượng trưng cho Thất Giác Chi, rồi chim ca lăng tần già tượng trưng cho cái gì đó. Chúng ta gọi đó là phương tiện mà nói. Thì khi chúng tôi đi sang Ấn Độ chúng tôi thấy có một điều như vậy là tận trong tâm của người Phật tử đi hành hương có hai khuynh hướng: một khuynh hướng xem rằng những sự kiện liên quan đến cuộc đời của Đức Phật là những điều thật. Lấy ví dụ như Ngài sanh ra là một vị Thái Tử, rồi Ngài dứt áo ra đi từ giả thê nhi, trên đường Ngài tu khổ hạnh, chúng ta đọc qua mỗi giai đoạn như vậy chúng ta cảm động tại vì đó là đời sống thật. Nhưng một lý thuyết được phổ thông trong Phật giáo Đại Thừa đó là điều đó chỉ là sự thị hiện mà thôi. Chữ thị hiện có nghĩa là bày cho thấy thôi, thị hiện giống như chúng ta tạm gọi là mình viết kịch bản chẳng hạn, tức là câu chuyện đó là một hư cấu mình viết ra để làm cảm động lòng người. Thì đối với Phật giáo Đại Thừa đa số những chi tiết về cuộc đời của Đức Phật mang tánh cách thị hiện có nghĩa là Đức Phật Ngài muốn cho những chúng sanh có căn cơ thấp căn cơ cao họ thấy họ biết như vậy thôi chứ không phải là chân lý, và những điều đó là điều không để ý thấy. Ví dụ như Đức Phật Ngài già hay Đức Phật Ngài bệnh đó chỉ là điều thị hiện chứ thật sự không phải là như vậy.

Thì chúng tôi thưa với qúi Phật tử ở một điểm này nên cẩn thận, thật ra trong giáo pháp của Đức Phật và ở trong nhiều bài kinh chúng ta thấy trong đó có bài kinh Abhaya Sutta tức là kinh Vô Uý Vương Tử, Đức Phật nhắc một điều rằng những pháp nào mà Đức Phật giảng dạy đó là Pháp có hiệu năng dẫn đến giải thoát, Đức Phật Ngài không dạy những điều phù phiếm vô ích, và những Pháp nào mà có hiệu năng giải thoát thì Pháp đó phải tương ứng với sự thật.

Tương ứng với sự thật là thế nào?

Như là đây là Tứ thần túc, Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Mgũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo những pháp đó đều phải tương ứng với sự thật nó không phải là một phương tiện giả lập. Về điểm này là một sự khác biệt sâu sắc, là sự khác biệt lớn giữa Phật Giáo Bắc Truyền và Nam Truyền. Phật Giáo Nam Truyền tin rằng những gì liên quan đến giác ngộ giải thoát thì điều đó phải tương ứng với sự thật, và sự thật này lấy ví dụ như hôm nay chúng ta nói về Vô thường, Khổ, Vô ngã thì bốn pháp này là bốn chân lý là những phương tiện tu tập. Giác ngộ giải thoát thì nó không có gì trái chống mâu thuẫn với những lời dạy về Vô thường, Khổ não, Vô ngã điều này thì thật sự thưa qúi vị chúng tôi tin rằng các vị giảng sư sẽ nói nhiều đến về phần thảo luận.

Nói tóm lại ngày hôm nay chúng ta học một bài kinh trong này Đức Phật Ngài ân cần nói rằng những sự thật là Vô thường, Khổ, Vô ngã dù Chư Phật có ra đời hay không thì nó là một tự tánh vốn không có khác biệt không có thay đổi ở trong quá khứ, hiện tại, vị lai, điều đó là điều chúng ta nên nhớ. Và chúng tôi cũng muốn nhắc qúi Phật tử rằng ở trong lời dạy của Đức Phật thì có những lời dạy mang tính bất di bất dịch nói về hiện tượng của các Pháp nhưng mà nó có những điều do Đức Phật chế định thí dụ như Tạng Luật chẳng hạn.

Bây giờ thì chúng tôi nói gọn phần sau cùng đó là theo trong kinh điển Pali thì tất cả những gì liên quan đến sự tu tập thì điều đó phải là điều tương ứng với sự thật, nó không thể là điều giả lập không thể là điều phương tiện được và đây là sự khác biệt giữa Phật Giáo Nam Truyền và Bắc Truyền./.

Tuesday, October 27, 2015

Biết nghe là một nghệ thuật trong đời sống

(Xin lưu ý: Tất cả những bài chuyển biên chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 
Biết nghe là một nghệ thuật trong đời sống

TT Giác Ðẳng trong room Phật Pháp Buddhadhamma ngày 27-05-2010, Minh Hạnh chuyển biên

Chánh Văn: Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người với trí tuệ lộn ngược, hạng người với trí tuệ bắp vế, hạng người với trí tuệ rộng lớn.

TT Giác Đẳng giảng: Ngài Walpola Rahula có viết một cuốn sách với với tựa đề là "The Buddha 's Sense of Humor - hài hước hay là dữ dội khi chúng ta đọc kinh điển." Đúng ra thì Đức Phật Ngài không thuyết pháp để chọc cười chúng sanh, nhưng đôi khi những điều Đức Phật dạy trong trường hợp như chúng ta đang thảo luận sau đây là thứ gì mà đôi khi chúng ta nói lên quả thật là nghe cũng rất là vui.

Đó là khi nói trí tuệ được úp xuống, nghe thì chuyện đó không vui nhưng nó cho chúng ta ý nghĩa rất rõ ràng là trí tuệ lộn ngược là cái gì mà úp xuống thì nó không chứa được.

Nhưng cái trí tuệ cho chúng ta cảm thấy thú vị đó là Đức Phật gọi là trí tuệ ở bắp vế. Cái gì để ở trên đùi của chúng ta rồi không để ý mà đứng dạy thì nó rớt xuống hết.

Và hạng thứ ba Đức Phật giảng đó là trí tuệ rộng lớn là nghe pháp có chú ý, có lãnh hội và có thẩm thấu. Tức là chúng ta có tiêu hóa có ghi nhận có đem vào trong lòng. Người xưa có dùng chữ thụ nhân, thụ nhân tức là một người đặt mình ở trong phương tiện là một người hấp thụ, là một người bền giữ, người có tâm cầu học, thì điều đó cho chúng ta một số lợi ích nhất là trên phương diện học Phật Pháp.

Đọc lại bài kinh Đức Phật giảng có rất nhiều trường hợp trước khi Đức Phật thuyết pháp Ngài gọi: "Này chư tỳ kheo, hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ Như Lai sẽ giảng".

Trước khi Đức Phật thuyết pháp Ngài nói chư Tỳ Kheo hãy lắng nghe Như Lai sẽ giảng, có lẽ là một trong các phương chặng đầu tiên khiến cho Phật Pháp thấm nhuần tâm tư của chúng ta đó là sự chú ý hôm nay đề tài nói gì, và sự hướng tâm rất quan trọng. Chẳng những vậy mà chúng ta thấy trong bài kinh này Đức Phật Ngài nói rằng chú ý ở đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối. Điều này rất là đơn giản, như hồi chúng ta học khi làm một bài luận văn hay một bài viết phải có phần mở đầu, rồi phần thân bài rồi đến phần kết luận, nếu không có sự dẫn nhập hay lời giới thiệu ban đầu thì thật sự người ta không có ý niệm về cái gì. Giống như mình nhóm lửa thì mình phải có mồi lửa ban đầu. Dẫn nhập giúp cho chúng ta có khái niệm tổng quát. Đúng ra thì việc dẫn nhập là việc rất là lợi ích, đầu tiên trước khi chúng ta đi vào chi tiết thì chúng ta nên có một cái khái niệm chung chung là bài học hôm nay sẽ nói về vấn đề gì, rồi phần thân bài tức là đoạn giữa là chúng ta khai triển đầy đủ và đoạn kết thì chúng ta phải có khả năng để tóm tắt lại, nhắc lại điều trên.

Tâm tư và trí tuệ của con người nó có một cách tình tự nhất định, dĩ nhiên là có nhiều trường hợp chúng ta tình cờ nghe một câu thơ hay bất chợt nghe ai nói điều gì đó thì chúng ta lãnh hội được, nhưng đa phần thì sự lãnh hội nhận thức của chúng ta nó đi theo một tình tự nhất định. Nếu chúng ta đã từng ngồi ở trên ghế nhà trường và nghe vị giáo sư giảng bài thì chúng ta hiểu rất rõ là một người nói chuyện mà khiến cho chúng ta hiểu rõ, thì người đó nói phải có đầu có đuôi. Lời nói có đầu có đuôi là lời nói đó có thể cho chúng ta khái niệm chung, nó phải có sự bắt đầu, rồi có phần khai triển, rồi sau cùng có phần tóm tắt lại. Nói có đầu có đuôi thì vấn đề được hiểu rõ ràng hơn, còn nói mà không có đầu có đuôi thì thật sự rất khó hiểu. Chúng tôi biết có một số người khi nào cần nói cái gì thì nói, nói ngang vậy thôi, bình thường thì chúng ta không để ý khi ở gần những người đó thì chúng ta mới nhận ra đó là cách nói chuyện của họ, nếu chúng ta không có thân thiết hay chúng ta không hiểu rõ thì thật sự là chúng ta không hiểu họ nói cái gì. Chúng tôi lấy ví dụ là đang ngồi ăn cơm vị đó nói về chuyện đi hành hương Ấn Độ, mà khi nói về chuyện đi hành hương Ấn Độ thì vị đó không nói là "à kỳ rồi chúng ta đi hành hương Ấn Độ Sư có nhớ là ông đó hay bà đó như vậy như vậy..., hay là mình lên chỗ đó như vậy như vậy...." mà vị đó cứ nói ngang là "Sư có thấy cục đá đặt ở lối vào vườn Lộc Giả như thế nào?" Nhiều lúc thưa qúi vị những người nói không có đầu không có đuôi như vậy khiến chúng ta không nhận ra rằng họ đang nói cái gì. Vì vậy tâm linh và trí tuệ của chúng ta tuy rất mẫn tiệp, rất nhanh chóng, nhưng trong cách truyền đạt thì bắt buộc chúng ta phải được có điểm khởi đầu có khái niệm trước rồi tiếp theo đó là khai triển mở rộng và sau cùng chúng ta tóm tắt lại để kết thúc đến chỗ chúng ta gọi hoàn mãn.

Đức Phật là một nhà giáo dục và có lẽ hơn ai hết khi Ngài giảng giải cho chúng thấy rằng Ngài chú trọng rất nhiều về phương pháp giảng giải. Bài học này là một thí dụ. Bài học này nhắc cho chúng ta thấy một điều là Đức Phật Ngài đã đi vào trong một số những chi tiết. Bây giờ chúng ta nói lại từng phần: Đức Phật Ngài nói có ba hạng người, hạng người với trí tuệ lộn ngược, hạng người với trí tuệ bắp vế, và hạng người với trí tuệ rộng lớn. Đó là phần mở đầu của Đức Phật. Bao giờ cũng vậy, khi Đức Phật Ngài giảng thì đầu tiên thường là Ngài đi vào trực khởi, không đi vào luân khởi, Ngài đi trực khởi Ngài nói rất rõ những gì mà Ngài nói, Ngài cũng có thí dụ luân khởi mà ít lắm, đa phần là Ngài đi thẳng vào đề tài nhưng Ngài tóm lượt lại mấy phần. Thí dụ ở đây Ngài nói có ba hạng người ở đời đó là; hạng người có trí tuệ lộn ngược, hạng người có trí tuệ bắp vế, và hạng người có trí tuệ rộng lớn. Rồi bắt đầu Ngài đi vào chi tiết thế nào là hạng người có trí tuệ lộn ngược. Đúng ra cách nói của Đức Phật không dư thừa mà rất trong sáng rõ ràng nếu chúng ta để ý thì chúng ta học được thật nhiều

"Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) thường thường nghe pháp từ các Tỷ-kheo, các vị Tỷ-kheo thuyết pháp cho người ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh."

Đức Phật dạy rằng sơ thiện, trung thiện, hậu thiện tức là thuyết pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, nhưng ba cách căn bản này chúng ta thường hiểu rằng đó là pháp học, pháp hành, và pháp thành. Pháp học tức là giáo pháp được trình bày trên phương diện lý thuyết, pháp hành là giáo pháp được trình bày trên phương diện thực hành, và pháp thành tức là giáo pháp được trình bày trên phương diện chứng ngộ. Ba đoạn đó không trái trống nhau giống như một thứ thuốc uống khi chúng ta uống vào thì nó giảm đau lại có tác dụng tốt lâu dài, nó không có những tác dụng phụ, không dị ứng, không biến chứng, và cuối cùng là hết bịnh, do vậy chúng ta gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện là tốt đẹp ở đoạn đầu, ở đoạn giữa và ở đoạn cuối. Hay nói một cách khác là giáo pháp tốt đẹp ở chỗ lý thuyết, ở chỗ thực hành, ở chỗ chứng ngộ, có nghĩa, có văn, giáo pháp được trình bày rõ ràng ở trên hai phương diện ngôn từ và nghĩa lý trong sáng. Nhiều khi người ta nói rằng ngôn ngữ không cần thiết quan trọng là lấy ý thôi, nhưng mà ngôn ngữ nó là một cách diễn đạt. Hồi nãy chúng ta nói nếu mình trình bày một điều gì đó mà mình trình bày không trong sáng, không rõ ràng thì thật sự nó có vấn đề, dễ tạo ra hiểu lầm. Chúng tôi lấy ví dụ như là ngày nay người ta có hàng mấy trăm quyển giải thích về Lão Tử Đạo Đức kinh, và các nhà phê bình nói rằng Lão Tử Đạo Đức kinh thì có quá nhiều cách khác nhau không biết ai là người thật sự nắm được cái tinh yếu Lão Tử Đạo Đức kinh. Chuyện này dễ hiểu thôi. Lão Tử Đạo Đức kinh có nhiều điều rất thú vị nhưng có rất nhiều câu mơ hồ, mơ hồ đến đỗi mà ai muốn giải thích sao cũng được, như câu "Đạo khả đạo phi thường đạo," người ta có trăm cách giải thích. Đức Phật Ngài không bao giờ muốn giáo pháp được giảng dạy mơ hồ, hiểu sao cũng được, giải thích cách nào cũng được mà Đức Phật Ngài đặt nặng về sự trong sáng và sự tinh xác. Dĩ nhiên là nhiều vị không đồng ý, mà cho rằng đạo là ở chỗ nào có vẻ mơ hồ mới linh, mới đặc biệt. Nhưng chúng ta nên nhớ học pháp căn bản là ở chỗ thực hành và chứng ngộ, mà muốn thực hành thì lý thuyếp phải trong sáng và rõ ràng. Ngày nay phần nhiều chúng ta sống trong thời đại này có trăm muôn ngàn thứ mà chúng ta cần phải biết cái nào càng rõ ràng càng trong sáng thì cái đó càng lợi ích. Chúng tôi có đọc một số các cẩm nang hay sổ tay hướng dẫn, như hướng dẫn phương diện máy móc, xử dụng nhu liệu, chúng tôi thấy rằng ngay cả những công ty lớn có nhiều công ty họ viết cuốn cẩm nang mình đọc không hiểu gì hết cho đến khi một người nào đó kinh nghiệm họ lượt bớt cho chúng ta. Cái đó là khuynh hướng rắc rối và rõ ràng là cái khuynh hướng nào mà làm cho thân thiện gọi là friendly thân thiện trong sáng dễ hiểu là điều tốt nhất, chúng ta nói đến tinh thần phục vụ. Bởi vậy nó phải có nghĩa, nó phải có văn, trình bày phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Cho dù chúng ta sống trong thế giới phiền não tại vì bản thân của chúng ta có phiền não thì chúng ta phải nhìn nhận rằng Phật Pháp hướng chúng ta đến chỗ trí thiện, trí thiện đó là sự trong sạch kể cả đoạn lià những cái chấp trước, cái ngã chấp đối với các pháp

"Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối."

Là nghe pháp mà không để ý, một người nghe pháp có để ý thì người đó sẽ có khái niệm chung chung, giống như chúng ta coi một cuốn phim. Có nhiều người coi cuốn phim mà không hiểu phim diễn về cái gì là tại vì họ không chú ý. Nhưng một người tinh tế một chút, họ coi họ có chú ý đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối thì họ mới thấy những đoạn đó có liên hệ với nhau, những đoạn đó được nối kết lại với nhau. Chúng tôi thí dụ một người thợ may khi cắt vải họ cắt ra nhiều mảnh nhưng mà rồi họ dùng những đường kim sợi chỉ để kết những mảnh vải lại với nhau thành áo quần chúng ta mặc. Thì tương tựa như vậy tất cả những sự trình bày nó sẽ là những mảnh rời nếu chúng ta không để ý đoạn đầu đoạn giữa đoạn cuối.

"Cũng vậy, khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỷ-kheo, một cái ghè bị lộn ngược, nước chứa trong ấy tuôn chảy, không có dừng lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... không có tác ý đoạn cuối. Cũng vậy, khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng lên ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ lộn ngược."

Chúng tôi nhớ hồi còn nhỏ ở với Sư Trưởng, Sư Trưởng có nói một câu là ngay cả một vị giới tử thuyết trình, tức là lên đọc bài soạn sẵn thì Sư Trưởng ngồi lắng nghe và khám phá ở đó có nhiều điều hay để học. Một người có tâm nghe pháp chỉ cần nghe một bài kinh được đọc lên, nghe vị giảng sư nào đó nói một vài điều thì chúng ta cũng có thể học được, quan trọng là sự học hỏi của chúng ta. Có một vài lần chúng tôi đi hành hương với những phái đoàn Phật tử, chúng tôi có nhận ra một điểm này, có những người Phật tử đi đến một khu chợ, như kỳ rồi chúng tôi đến thành phố Mumbai của Ấn Độ, thì người ta dẫn chúng tôi đến một khu nhà ga ở chỗ đó như là một khu chợ trời, trăm muôn ngàn thứ bán các vật lưu niệm của Ấn Độ kể cả các Phật cụ, nhưng có vài Phật tử họ đi một buổi rồi quay về nói ở đây không có gì để mua hết thì chúng tôi cũng nhận rằng mỗi người có nhu cầu riêng. Sau đó có một số Phật tử khác cũng đi cùng chuyến họ lại mua được một số vật kỷ niệm của người Ấn Độ bán ngoài chợ và khi về tới khách sạn thì những người kia nói "tại sao nãy mình đi mà mình không thấy." Cũng đi mà không thấy, và dù có thấy cũng không để ý nhiều. Chúng tôi nhận ra rằng có một lý do rất đơn giản, đó là đa số những người sống tại Âu Mỹ quen đi mua sắm ở những khu shopping có tánh cách gọi là sắp đặt nhất định. Thí dụ như mình cần mua quần áo thì đi đến tiệm chuyên bán quần áo, mình cần mua thức ăn thì đến tiệm chuyên bán về thức ăn và ngay cả những khu shopping có những khu bình dân, có những khu giàu có, và có những khu có tánh cách trang trí và những thứ mà chúng ta dùng như là quần áo giày dép thì nó cũng có phân loại riêng như những Departments Store chẳng hạn. Bằng thói quen đi shopping đó khi qúi vị đi vào chợ trời thì thật sự là khó để shopping lắm, tại vì chúng ta thấy ở đó nó lộn xộn không có thứ lớp gì hết, có những cửa hàng của người Tây Tạng bán Phật cụ tuy gian hàng rất nhỏ nhưng có một số tượng Phật có thể thỉnh được nhưng những vị này hoàn toàn không để ý, chúng ta quen sống ở trong cái nếp nào đó đi qua chỗ xa lạ thì chúng ta không có nhận ra. Thì cũng tương tựa như vậy, một số các vị có thói quen là mình học Phật Pháp thì phải đến chùa ngồi ở trong chánh điện rồi phải có vị Pháp Sư đăng toà thuyết pháp, rồi trong đó phải chuông trống rầm rộ mới gọi là học Phật Pháp. Còn bình thường mà nói một cách rất gọn rất ngắn không bày vẽ mang nặng về hình thức thì chúng ta không để ý. Tuy nhiên nếu chúng ta đi vào trong kho tàng kinh điển của Đạo Phật thì thấy rằng rất nhiều trường hợp, Đức Phật Ngài đã giảng cho những người Ngài gặp dọc đường, Ngài giảng cho những người đến đảnh lễ Ngài, ở trong một bài giảng rất ngắn vậy mà thay đổi tâm tư của người đó. Do đó nếu chúng ta quen thuộc với Phật Pháp thì một quyển pháp nhỏ cũng đáng cho chúng ta lưu tâm chứ không phải là chúng ta cần đến cả bộ kinh điển to lớn. Nhưng thí dụ đầu tiên Đức Phật Ngài thí dụ ở tại đây là trí tuệ lộn ngược nghe cũng thú vị, đầu óc của chúng ta tiếp thu không có khả năng chất chứa để chứa đựng như bình đựng nước bị lộn úp lại, đã bị lộn úp lại thì đâu chứa đựng được cái gì. Chúng tôi nhớ ở trong thiền tông có câu chuyện là đầu óc của một người mà có nhiều sự cố chấp thì giống như một ly trà và đã đầy rồi có chế thêm vào cũng tràn ra, nhưng câu chuyện thí dụ ly trà tràn ra thì chúng tôi nghĩ rằng nó cũng còn có thể chứa ít hoặc nhiều, còn ở đây nói trí tuệ lộn ngược thì nó không chứa được cái gì hết.

Đức Phật Ngài lại nói đến trường hợp thứ hai là có người lắng nghe và cũng có nhận thức nhưng mà rồi chỉ nghe và nhận thức ngay chỗ mình ngồi thôi khi đứng lên thì quên hết tất cả, đây là trường hợp xảy ra rất thường. Chúng tôi có một vị sư đệ là ĐĐ Giác Nguyên mà thường qúi vị nghe là ĐĐ Uyên Minh. Vị nào nghe sư Uyên Minh thuyết pháp rồi thì biết là Sư Uyên Minh thuyết pháp rất vui, nhưng nó lại có một chuyện là sư Uyên Minh đôi lúc sư thuyết pháp vì quá vui nên qúi Phật tử ngồi nghe sư thuyết pháp chỉ cười, mỗi lần chúng tôi về bên Tampa, Florida, sư thuyết pháp ở trên chánh điện có khi Phật tử ngồi cười từng chập, nhưng sau đó có người khi gặp những người khác họ nói bữa nay sư Uyên Minh thuyết pháp hay quá vui quá, rồi người ta hỏi là sư Uyên Minh nói cái gì thì vị Phật tử đó nói rằng không nhớ được chỉ biết là rất hay. Biết rất hay mà không nhớ được thì chuyện đó rất là bình thường. Tức là lúc sư Giác Nguyên thuyết pháp quí Phật tử rất là vui nhưng mà vì quá vui với cái duyên dáng với sự chọc cuời của sư Giác Nguyên và cũng có thể là quí vị chỉ lo để ý đến cái gì vui thôi nên vị đó không nhớ được pháp, khi bước ra khỏi chánh điện biểu lập lại cái sư Uyên Minh nói thì không nhớ, họa hoằn lắm thì mới nhớ được một chuyện. Chúng tôi nghĩ việc đó cũng là một việc bình thường, như đa phần chúng ta đi nghe pháp, ngồi trong pháp hội, lúc nghe lúc ngồi mình nhớ được nhiều thứ nhưng nghe xong thì quên hết, về điểm này thì chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng mỗi người có một tư chất, cái tư chất đó là trí nhớ và sự thẩm thấu. Nói điểm này thì chúng tôi nhớ đến câu chuyện người ta nói rằng ở bên Tây có hai vợ chồng, bà vợ khi coi phim ở trên TV hay trong rạp thì chỉ nhớ đến một việc là Tây trắng với Tây đen thôi, cứ Tây trắng đánh Tây đen, ông này ông kia không nhớ tên nhớ tuổi gì hết chỉ nhớ người này đánh người kia và đôi khi bà vợ nhắc lại chuyện phim làm ông chồng phải suy nghĩ rất nhiều mới nhận ra là bà vợ nói cái gì, mặc dù lúc coi phim thì người ta cũng cảm thấy hay cũng biết được nhân vật này nhân vật kia nhưng sau đó không có khả năng nhớ và gìn giữ lại. Thì Đức Phật Ngài có một cái ví dụ ở tại đây mà chúng ta đọc ở đoạn thứ hai

"Ví như này các Tỷ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả."

Ở đây gọi là trí tuệ trên đùi hay trí tuệ bắp vế, thì cái gì mình để trên đùi hay bắp vế khi đứng dạy bị đổ hết, khi mình nghe Pháp, khi mình lắng nghe hội luận hay thuyết trình mà lúc nghe thì nghe rất là nhiều, cười trong cái cười chung, vui trong cái vui chung, xúc động trong cái xúc động chung nhưng khi đứng dạy thì quên tất cả thì chúng ta nhớ rằng lúc đó cái trí tuệ người ta giống như trí tuệ bắp vế, cái gì để trên đùi thì khi đứng dạy đi mất hết.

Và sau cùng Đức Phật Ngài đề cập đến một thứ trí tuệ gọi là trí tuệ rộng lớn, trí tuệ này biết lắng nghe, biết lãnh hội và biết thẩm thấu tức là biết tiêu hóa. Đoạn này Đức Phật Ngài dùng nhiều thí dụ, ở trong một thí dụ Ngài nói rằng cái lưỡi mà tinh tế dù chỉ nếm một chút vị canh thì cũng cảm nhận được mùi vị của vị canh, hay là một người có mắt tinh tế thì khi có ánh sáng họ nhìn thấy họ sẽ nhận ra được vật nào xấu, vật nào đẹp, vật nào gần, vật nào xa. Người có tinh tế thì họ rất dễ nhận ra pháp nào là pháp nào. Có một sự việc mà đôi lúc thật ra chúng ta không thể truyền cho nhau được, chúng tôi lấy một ví dụ ở đây không phải nói để tự phụ, nhưng việc học Phật Pháp cũng có một điều là vị nào quen đọc kinh điển hay thường đọc sách cầm lên một quyển sách chỉ đọc thoáng vài ba trang hay chỉ nhìn lượt qua thôi thì đa phần là có thể đánh giá được quyển sách đó có giá trị hay không có giá trị, nhất là khi chúng ta đứng trước một tủ sách lớn, nhưng một người không quen thuộc với việc đó thì đứng cả ngày lựa hết cuốn sách này đến cuốn sách kia rốt cuộc lựa cuốn sách nào bìa đẹp nhất in đẹp nhất mang về, nhưng đẹp nhất về hình thức không nhất thiết là có giá trị về nội dung. Khi chúng tôi ở Sàigòn với HT Tịnh Sự thì chúng tôi có đem tâm sự này nói với một người ở trong chùa đó là cô Tư Yên, bây giờ cô đã mất rồi, cô là người nấu ăn cho HT ở trong chùa. Có lần tôi nói với cô Tư là nếu mình quen thuộc với sách vở thì không cần đọc hết cả ngàn trang mình mới biết giá trị của cuốn sách, mình cầm cuốn sách lên đọc cách họ chú thích, cách họ viết thì mình có thể nhận được giá trị của cuốn sách. Cô Tư Yên cười và nói cho chúng tôi nghe một thí dụ mà chúng tôi vẫn nhớ đến bây giờ, cô nói rằng: "Chuyện đó giống như đi chợ sư ơi. Một người biết đi chợ hay quen đi chợ, ra chợ ngó thoáng qua là biết cái nào mình nên mua, cái nào nó tươi cái nào nó tốt thì mình mua, còn người không quen đi chợ đi ra mua trái cây thì trái cây không ngon, đồ ăn thì lại không tươi mà mua mang về, tại vì không biết đi chợ."

Cái biết và cái không biết, cái tinh tế và cái không tinh tế, cái chính xác và không chính xác này nó là cái khéo mà đôi khi chúng ta rất khó để giải thích. Ở trên cuộc đời này người ta gọi là một chợ đời có trăm muôn ngàn thứ cho mình lựa chọn, nào là bạn bè, nào là sách vở, nào là những gì nên nghe và không nên nghe. Có Phật tử nói với chúng tôi rằng không hiểu tại sao mà những chuyện thị phi ông này bà kia nghe xong thì nhớ liền, thí dụ như nghe người ta nói xấu bà này thế này bà kia thế kia thì dễ nhớ, nhưng sao nghe Phật Pháp thì cứ lùng bùng bên tai vậy, không nhớ được. Thì thưa qúi vị, chúng tôi cũng phải nhìn nhận rằng quen trong cảnh giới nào thì mau mắn để ghi nhận, mau mắn để lãnh hội, mau mắn để ghi nhớ về điều đó, nó quen thuộc thôi. Do vậy bình thường chúng tôi có sự cố ý đó là chúng tôi không viết lại những bài kinh mà chúng tôi đem nguyên chánh văn bài kinh vào trong lớp học, qúi vị đọc thì hơi khó nghe, tại vì có nhiều đoạn dịch nguyên văn thì nghe hơi khác với chúng ta một chút xíu, nhưng chúng tôi muốn qúi Phật tử có cơ hội làm quen với văn phong của kinh điển, khi chúng ta làm quen với kinh điển rồi, như ở trong lớp học này có nhiều Phật tử nói với chúng tôi rằng hồi xưa đọc kinh rất ngán, bây giờ đọc kinh bắt đầu thích là bởi vì quen thuộc với sự hành văn với văn phong, với cách trình bày kinh điển, đó là một điều lợi cho chúng ta, khi chúng ta quen với điều gì thì chúng ta dễ phân biệt, dễ đón nhận, dễ lãnh hội, dễ nhận thức, và thế giới đó là một thế giới mở rộng ra, chúng ta đi vào thế giới đó chúng ta được một điều mới và đi vào thế giới đó là chúng ta tìm thấy được cả một vùng trời cao rộng.

Thỉnh thoảng có nhiều vị text chat riêng với chúng tôi, qúi vị đó cũng đồng ý một điều là nghe pháp là một điều rất an lạc nhất là nghe những đoạn đọc từ kinh điển, chúng tôi phải thưa với qúi vị rằng những lúc chúng tôi đọc kinh điển đôi khi chúng tôi cảm thấy Đức Phật như một ông cha Ngài ngồi đó Ngài dạy một cách rất là cặn kẽ cho những đứa con của mình, các vị tỳ kheo tỳ kheo ni, thiện nam tín nữ, Ngài chỉ dẫn rất nhiều điều như bài học này qúi vị nghe Đức Phật Ngài giảng Ngài không nói những điều xa xôi huyền hoặc, Ngài nói những điều rất thực tế, và ở trong kinh điển không phải có một hay vài thí dụ như vậy mà có hàng trăm hàng ngàn thí dụ như vậy. Và với cá nhân của chúng tôi đi vào thế giới đó thì quả thật là một thế giới thân quen, ở ngoài cuộc sống bình thường có bao nhiêu là hệ lụy phiền phức nhưng trở về đọc lại kinh điển, lật từng trang kinh thì tìm về một thế giới quen thuộc, thế giới đó quả thật là cho chúng ta rất nhiều.

Mấy hôm nay chúng tôi đang soạn chú thích những bức tranh về cuộc đời của Đức Phật, có 108 bức tranh như vậy, chúng tôi làm việc này không thấy cực mà cảm thấy rất vui là khi soạn thì mỗi một bức tranh chúng tôi có một câu thơ lục bát ngắn, ví dụ như trong bức tranh về Đức Bồ Tát lúc Ngài đứng ra nhận công quả dọn một con đường để rước Đức Phật Nhiên Đăng, nhưng khi Đức Phật Nhiên Đăng đến thì Ngài vẫn chưa hoàn tất con đường đó và Ngài đã nằm xuống thỉnh cầu Đức Phật và Chư Tăng bước lên người của Ngài để đi qua, và cái việc làm với tấm lòng cao qúi đó Ngài đã phát nguyện là Ngài sẽ thành Phật trong tương lai, Đức Phật Nhiên Đăng đã thọ ký cho Ngài. Chúng tôi chú thích là: 
"Kiếp xưa đại nguyện cúng dường
Hình hài gieo xuống trải đường Phật đi."

Chúng tôi làm những vần thơ như vậy tuy rất ngắn, theo thể lục bát, nhưng chúng tôi muốn rằng những vần thơ đó được qúi vị nào đọc dễ nhớ khi liên tưởng đến ý nghĩa của bức tranh, trong lúc soạn những chú thích của những bức tranh này thì trong lòng của chúng tôi rất vui và rất an lạc, là tại vì sao? là tại vì đó là một thế giới thân quen khi chúng ta đọc lại những giai thoại liên quan đến cuộc đời của Đức Phật thì chúng ta thấy rằng Đức Phật là bậc đại phúc, đại đức, đại từ, đại bi. Có người thương Ngài, có người ghét Ngài, có người phỉ báng Ngài, có người lắng nghe Ngài, có người mạ lỵ Ngài, nhưng mà với tất cả thì Đức Phật có một thái độ của bậc giác ngộ, thái độ của bậc tỉnh thức, chúng ta đọc những đoạn đó chúng ta thấy an lạc vô cùng.

Và bài học ngày hôm nay chúng ta thấy Đức Phật Ngài dạy về ba hạng người: hạng người với trí tuệ lộn ngược, hạng người với trí tuệ như bắp vế, hạng người với trí tuệ rộng lớn. Nghe thì có một chút khôi hài nhưng nó là một thực tế mà chúng ta thấy trong đời sống. Trí tuệ bị lộn ngược giống như một cái ghè đựng nước mà nó úp xuống thì nó không chứa được cái gì hết, trí tuệ như bắp vế là cái gì để trên đùi của chúng ta rồi đứng dạy nó rớt xuống hết, nhưng trí tuệ rộng lớn là người biết lắng nghe, lắng nghe đây là chú ý đoạn đầu, chú ý đoạn giữa, chú ý đoạn cuối, chẳng những biết nghe mà còn biết lãnh hội, chẳng những lãnh hội mà còn biết tiêu hóa nữa thì như vậy là một người biết hưởng nhiều sự lợi lạc. Đó là ý nghĩa của bài học này./.

Tuesday, October 13, 2015

Kinh bị dính mắc - Phật Tự Thuyết

(Xin lưu ý: Tất cả những bài chuyển biên chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

Kinh Phật Tự Thuyết Kinh  bị dính mắc

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 5-3-2015, Minh Hạnh chuyển biên 

TT Giác Đẳng: Thành Savatthi kinh đô xứ Kiều-Tát-La (Kosala) là một giao điểm của một trục lộ giao thông thương mại rất quan trọng. Một kinh đô rất  phồn thịnh, đặc biệt có 4 điều: 

- Một là nằm ở vị thế rất trù phú, ngày xưa các quốc gia phồn thịnh phần lớn do hai yếu tố nông nghiệp và giao thương, Xá vệ có cả hai điều đó. 

- Điều thứ hai, thời tiết ở thành Xá Vệ tương đối tốt, đi về hướng Bắc thì lạnh, ví dụ như gần chân núi Hy Mã Lạp Sơn vùng đất ngày nay chúng ta gọi là Népal, đi về phía Nam mùa hè tương đối rất nóng như vương quốc Ma Kiệt Đà, nhưng Xá Vệ tương đối không khí ôn hoà. 

- Điều thứ ba, thành Xá Vệ thời Đức Thế Tôn còn tại thế có một đặc điểm là kinh đô của vương Quốc Kiều Tát La, một ở trong 2 vương quốc trù phú của châu thổ sông Hằng, vương quốc khác là Ma-Kiệt-Đà với kinh đô Vương Xá. Riêng về xứ Kosala (Kiều-Tát-La) là một quốc gia lớn, tại thành Xá Vệ có rất  nhiều nhà triệu phú và nổi tiếng, chúng ta được nghe đến ông Cấp-Cô-Độc và bà Vishaka tất cả đều là đệ tử Đức Phật. 

- Điều thứ tư. Đức Thế Tôn Ngài đã an cư 24 mùa hạ tại thành Xá Vệ đó là 24 mùa hạ cuối đời Ngài. Ở trong suốt thời gian gần 1/4 thế kỷ không phải lúc nào Đức Thế Tôn cũng ở Xá Vệ mà là tới mùa mưa Ngài ở thành Xá Vệ thời gian khác Ngài cũng đi du hành đó đây, 24 năm, đó là sự tuần hoàn của rất nhiều chu kỳ về kinh tế. 

Ví dụ như chúng ta thấy nền kinh tế Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng tăng trưởng ở một nhịp độ giống nhau, có sự trồi sụt đó là chuyện rất bình thường, để đi theo chu kỳ hết tăng trưởng rồi suy thoái, hết suy thoái rồi tăng trưởng, vì vậy điều này ảnh hưởng lớn những người dân ở trong xứ khi kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng, niềm tin vào kinh tế được mạnh mẽ người ta bắt đầu chuyển hướng từ cần kiệm qua sự hưởng thụ, và khi người ta có tiền sự hưởng thụ đó có nhiều thứ. Tại Mỹ người ta thường gắng liền hai chỉ số của comsumer confidence và comsumer spending tức là niềm tin của giới tiêu thụ và chỉ số tiêu dùng của người tiêu thụ, khi người ta có niềm tin vào kinh tế tốt người ta sài tiền mạnh tay hơn và đời sống có vẻ hưởng thụ nhờ đó kinh tế phát triển nhiều khía cạnh nhiều lãnh vực. 

Bài kinh ngày hôm nay gợi nhắc chúng tôi hình ảnh của Thái Lan 20 năm về trước, đó là thời đất đai ở Bangkok với giá trị tăng vọt, đó là thời cả đất nước Thái Lan đều hướng tới sự mở mang tăng trưởng. Bangkok chuyển mình khắp nơi đều có cao ốc được xây cất và thế lực của đồng tiền chi phối trong mọi lãnh vực của đời sống. Chẳng những vậy, Bangkok đã mở ra một chương mới về sự hưởng thụ, những khu thương mại sầm uất mọc lên, có thể nói rằng đã đưa rất nhiều người trở thành những người cự phú, cực kỳ giàu có và đời sống xa hoa đã tồn tại ở trong rất nhiều khu phố của Thái Lan, của Bangkok. 

Một khi người ta sống trong thời kỳ hay trong giai đoạn kinh tế tăng vọt thì tự nhiên sự hưởng thụ trở thành điều tất yếu, và hình ảnh đó đập vào con mắt của Chư Tỳ Kheo. Tương tự như 20 năm trước chúng tôi  đi trên những con phố ở Bangkok đã từng thấy sự náo nhiệt của hàng quán ăn uống, của bông hoa của đèn, của quần là áo lụa, nam thanh nữ tú, bao nhiêu là sự phấn khởi nghĩ về tương lai của đất nước. 

Dĩ nhiên nó là một giai đoạn, không phải lúc nào cũng như vậy, nhưng chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng điều đó đã hiện rõ ở trên đường phố ở trên những hành trình Chư Tỳ Kheo đi khất thực và các vị này trở về để trình với Đức Phật về đời sống của những người trong thành Xá Vệ bây giờ họ đặt nặng sự hưởng thụ các dục lạc. Nhân đó Đức Phật Ngài dạy bài kệ:

 Chúng sanh bị tham đắm,
Trong các loại ái dục,
Họ không thấy lỗi lầm,
Trong phiền não kiết sử,
Chắc chắn các chúng sanh,
Tham đắm trong ái dục,
Họ không vượt qua được,
Thác nước rộng và lớn.

Trong bài kệ Đức Phật Ngài đưa ra hình ảnh, có lẽ qúi vị nào ngày xưa trước năm 1975 có đọc tác phẩm "Vô gia đình" một tác phẩm của Hà Mai Anh dịch và cũng là người dịch cuốn "Tâm hồn cao thượng" sau này cuốn là "Vô gia đình", đó là một quyển tiểu thuyết nhỏ nói về một bé trai lạc loài trở thành một người lang thang trải qua bao nhiêu truân chuyên đưa đẩy và trở thành một khách lữ đi trên một con thuyền dọc theo dòng sông Nile. Sông Nile chúng ta được biết ở Ai Cập chảy ra Địa Trung Hải nhưng từ giòng sông Nile ngược giòng đã đi qua nhiều quốc gia Phi Châu và có lúc giòng thủy lưu đã đưa con thuyền đến các ghềnh thác nước. Chúng ta hiểu được ngày nay trên thượng nguồn của con sông vẫn còn có những thác nước, nhỏ gọi là ghềnh, lớn gọi là thác, và những thác ghềnh rất nguy hiểm cho những người đi, khi nó đổ xuống nếu mình không may mắn thoát chết thì từ trên cao rớt rơi xuống kể như từ chết tới chết thôi.

Ở đây, Đức Phật Ngài dùng hình ảnh của một giòng nước chảy mạnh đưa chúng ta đến thác nước và thác nước đó quá lớn, quá cao, quá rộng không thoát được khi đổ từ trên cao xuống. 

Tương tự như vậy, ở trong cuộc đời này có những trào lưu, trào lưu của phát triển, của hưởng thụ. Giống như bây giờ chúng ta đang có trào lưu về tin học, về internet, về điện thoại thông minh, ai cũng có ai cũng sài, và nó trở thành một phần của cuộc sống. 

Nhưng Đức Phật Ngài dạy: chúng sanh bị đắm chìm trong ái dục không thấy được lỗi lầm của ái dục trong phiền não kiết sử tức phiền não trói buột, họ không vượt qua được thác nước rộng và lớn.

Chúng ta hiểu con người thường hay chạy theo trào lưu, chạy theo những quan niệm thời thượng và với trào lưu đó chúng ta bị cuốn hút vào quan niệm của phần đông, cái xu thế của cuộc đời thế nào thì chúng ta lại chạy theo xu thế đó, vì chúng ta không có khả năng để rời khỏi đám đông để nhìn lại vấn đề coi nó ra sao, nó như thế nào. Sự việc đó chi phối chúng ta mãnh liệt, mãnh liệt lắm. Để thấy được lỗi lầm của dục lạc không phải chuyện đơn giản. Nó cũng giống như có thời nào đó tất cả những ngôi chùa Phật Giáo đều đua nhau xây càng to càng tốt, có thời nào đó người ta cố gắng tích tập tài sản càng nhiều càng tốt, có thời nào đó người ta cố gắng hưởng thụ càng nhiều càng tốt v.v... Đó là xu thế, nó là một sự lôi cuốn, nó là giòng cuộn chảy, giòng cuộn chảy đó chúng ta không có ngừng được. 

Đức Phật Ngài khuyên chúng ta nên tỉnh táo nhận ra được lỗi lầm của các dục lạc, sự cột trói của các dục lạc, cái gì khiến chúng ta mất đi sự tự tại mà có quá nhiều vướng vấp, quá nhiều sự ràng buột, quá nhiều sự cột trói  chúng ta phải thấy được lầm lỗi của các dục. 

Thí dụ, Đức Phật Ngài dạy lầm lỗi các dục  là: do các dục nên cha tranh chấp với con, con tranh chấp với cha, anh em tranh chấp với anh em, vợ chồng tranh chấp với vợ chồng. 

Khi dục lạc càng tăng thịnh những sự tranh chấp càng nhiều, người ta hơn nhau từng lời từng chút, người ta sẵn sàng phỉ báng mạ lỵ nhau để tìm cách nâng uy tín của mình trở thành nổi tiếng và chà đạp những người khác để cho người khác không được cái mà đáng lẽ họ phải được. 

Tất cả những hiện tượng đó đều từ lỗi lầm tự nhiên của dục lạc. Dục lạc phải có tranh dành và trong tranh dành thì có bao nhiêu sự tổn thương, bao nhiêu  phiền lụy, bao nhiêu  uẩn khúc, bao nhiêu khổ ải, chúng ta không thấy được điều đó, chúng ta không thấy được sự sa đà của một trào lưu mà người ta đang quá đặt nặng về nó. Thì thưa qúi vị, chúng ta bị cuốn phăng đi giống như một giòng nước từ trên cao đổ xuống chảy mạnh và cuốn phăng đưa chúng ta đi đến thác  ghềnh và trước mắt là một giòng thác rất rộng rất lớn, nó quá rộng để chúng ta có thể chạy trốn có thể tấp vào bên này hay tấp vào bên kia, chúng ta bắt buộc phải chảy phăng xuống giòng thác và rơi xuống. Hình ảnh đó chúng ta tìm thấy rất nhiều ở các nơi. 

Hiện nay chúng ta đang sống trong một thời đại có rất nhiều sự tăng trưởng về kinh tế. Các quốc gia đang mở rộng những biên giới, và ngành giao thương càng mạnh thì tạo nên nhiều điều kiện tốt về tiền bạc, cùng với khoa học kỹ thuật cho phép chúng ta có những thành tựu rất lớn, chưa có thời nào có nhiều những sản phẩm mới như thời đại này, hầu như mỗi tuần mỗi ngày đều có những sản phẩm mới mời mọc người tiêu thụ, và biên giới của các quốc gia cũng mở rộng, với thông hành passport đã cho chúng ta đi rất nhiều quốc gia khác nhau, ngày xưa đi thì khó khăn bây giờ đi tương đối là dễ dàng từ Âu Châu sang Á Châu. đặc biệt các quốc gia Á Châu. Con người đang tôn sùng chủ nghĩa về kim tiền, bên cạnh chủ nghĩa kim tiền chúng ta có thì phải nhận người ta có muôn ngàn cách để hưởng thụ, chính về điều này là những lôi kéo rất lớn. Bài kinh ngày hôm nay theo lời của Đức Phật dạy là tiếng chuông cảnh tỉnh chúng ta, chúng ta bị cuốn hút, chúng ta lao vào đó bởi chúng ta không thấy sự lỗi lầm chúng ta không thấy cái giây cột trói, lỗi lầm ở đây tức là nó có những hệ lụy, giây cột trói ở tại đây tức là những cái ràng buộc. 

Chúng tôi nghe rất nhiều những câu chuyện đau lòng, câu chuyện đó là ở VN có những người bỏ xứ ra đi vượt biên giao nhà cửa lại cho người thân cho cha cho mẹ, rồi cha mẹ sống trong căn nhà đó thì nhiều năm qua những người này gửi tiền về để lo chăm sóc cha mẹ, chuyện đó rất là tốt. Nhưng có một ngày người con khám phá ra căn nhà  cha mẹ đang ở rất  được giá, nhà ở VN mà giá cao hơn ở Mỹ, thì những người này trở về VN tìm cách lấy lại căn nhà để bán đi  có số tiền khổng lồ và phải mời cha mẹ anh em ra khỏi nhà rồi chẳng những vậy còn dẫn đến kiện tụng, dẫn đến bao nhiêu nước mắt bao nhiêu sự đau lòng. Chúng tôi ở bên Mỹ này cũng gặp nhiều trường hợp con cái đi làm đầu tắt mặt tối, nhà bên California rất  đắc người ta tìm mọi cách để làm sao có lợi tức để trả tiền nhà hàng tháng, cha mẹ già hàng tháng sống chung với những vị này thì chúng ta cũng hiểu  đi làm cực quá tiền bạc thì cũng không dư giả thành ra những vị này lại nghĩ rằng cha mẹ già rồi lãnh tiền hàng tháng cũng không sài cái gì sao cha mẹ không đóng góp vào việc nhà, cha mẹ vì thương con thương cháu ở trong nhà nên cũng đóng góp vào nhưng đôi khi cũng có những lời trách móc nặng nhẹ là sao ba má không giúp cái này không giúp cái kia. Khi nghĩ những chuyện đó bi kịch rất là buồn, buồn ở độ là lẽ ra sống trên một quốc gia có điều kiện về kinh tế nhiều làm ra tiền nhiều  chúng ta sẽ vui hơn nhưng  bởi vì chúng ta mong muốn nhiều quá, chúng ta mong muốn có nhà cửa, chúng ta mong muốn có đầu tư về dài và đôi khi chúng ta quên đi cái tình, quên đi cái ân sâu, quên đi ơn nghĩa cha mẹ mà chỉ mong  sao cha mẹ không có giúp cái này cha mẹ không giúp mình cái kia. 

Cuộc đời là như vậy. Đức Phật Ngài dạy chính do những dục lạc tạo nên những sự tranh dành tạo nên những va chạm, tạo nên những hệ lụy giữa người thân với người thân, nó còn có vô số chuyện khác. Chúng ta đọc tin tức ở VN thấy có nhiều trường hợp con cái cần cái gì đó, cần tiền để đi với bạn trai, đi với bạn gái,  cần tiền để chơi game hay làm cái gì đó mà cha mẹ có tiền không cho thì giết cha giết mẹ chỉ để lấy tiền bạc để lấy ít đồ trang sức, đó là bi kịch của cuộc sống. Cuộc sống của con người đến mức độ nào đó mình quá mong muốn, mình quá khao khát chuyện gì đó thì mình có thái độ bất chấp và sự bất chấp đó tạo ra đau thương ngay cả trên người thân rất thân của mình, Đức Phật gọi là đó là lỗi lầm của dục lạc. Các dục lạc vui ít khổ nhiều và nguy hiểm lại nhiều hơn. Đó là điều Đức Phật Ngài dạy. 

Chưa có thời nào chúng ta sống dễ dàng để cảm nhận điều Đức Phật dạy như thời này và với câu Phật ngôn này thì đúng là một giòng thác, một giòng nước lũ cuốn phăng, một giòng nước chảy rất mạnh dẫn đến một thác ghềnh và thác ghềnh đó quá lớn để chúng ta tránh né chúng ta phải rơi xuống từ trên cao.

Ở trong kinh cũng nói có thời nào đó con người rất khôn ngoan rất qủi quyệt, từ sự tranh chấp tạo ra chiến tranh, tạo ra điêu linh, tạo ra sự tàn hại lẫn nhau, rồi những người có trí bỏ tất cả đi vào trong rừng để tránh xa những sự tranh chấp đó. Bây giờ chúng ta nhìn lại trên thế giới thay vì sự giàu có làm cho con người được sống bình an được hưởng thụ, thì chính sự sự giàu có sự phát triển làm cho con người tranh chấp. Quê hương Việt Nam của chúng ta nằm ở trên vị thế Viễn Đông là một thùng thuốc nổ có thể nổ ra bất cứ lúc nào trước những cuồng vọng xâm lăng trước những tham vọng điên cuồng tại vì nguồn hải sản phong phú đó, khoáng sản phong phú đó, dầu khí phong phú đó nằm ở dưới đáy biển và người ta sẽ tạo thành một cái thế để khơi dậy bất cứ mọi trận chiến nào nếu người ta thấy rằng người ta có đủ sức lực mạnh, nếu người ta thấy rằng người ta có đủ vũ khí để theo đuổi những tham vọng điên cuồng như vậy. Thì nó là bi kịch muôn thuở của nhân loại. Và đó là cái khổ muôn đời mà Đức Phật dạy rằng đó là lầm lỗi của các dục. Chúng ta quá khao khát cái gì đó dẫn đến sự bất chấp thủ đoạn. 

Một người học Phật, thỉnh thoảng chúng ta ngồi nhắc lại đọc lại, chiêm nghiệm những lời của Đức Phật. Đức Phật Ngài dạy chúng ta rất rõ ràng là chúng ta nên ý thức những điều đó và làm thế nào để cuộc sống không trở thành một thảm kịch, nó không dẫn chúng ta đến một chung cuộc quá khổ ải, quá phiền lụy. Không phải chỉ có thời xưa mà thời nay cũng vậy, sự phát triển, sự tăng thịnh của nền kinh tế thường hay dẫn con người đến chỗ xa đoạ ngông cuồng và để lại không biết bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu bi kịch cho cuộc sống. 

Chúng ta tu tập theo Đức Phật và gọi Ngài là Phật tại vì chúng ta hiểu Phật là bậc tỉnh thức. Ngài tỉnh thức trong cả hai trường hợp, sự tỉnh thức trước những nghịch cảnh khổ nạn và Ngài tỉnh thức trước những đam mê dục lạc của cuộc sống. Trong cả hai trường hợp Đức Phật Ngài đều là bậc tự mình thấy rõ biết nên chúng ta gọi Ngài là Phật, bậc tỉnh thức. 

Con người chúng ta có bao nhiêu thứ nhu cầu và đặc biệt sở thích của chúng ta là những cuồng vọng. Phải nói, chúng ta tự hỏi  nếu mình có nhiều tiền bạc, có chức cao quyền trọng con người chúng ta sẽ như thế nào? Chúng ta có trở thành điên đảo, chúng ta có đánh mất đi giá trị chân thật của mình không? Điều đó dám có lắm chứ không phải không. 

Tại Hoa Kỳ, người ta có làm một cuộc nghiên cứu tìm hiểu nhiều người khi  trúng số độc đắc, cái giàu có của họ không hẳn mang lại cho họ được hạnh phúc mà đa phần  mang lại cho họ nhiều khổ lụy và khổ lụy đó có thể nói là vô cùng, họ mất đi người thân, họ mất đi chính họ, họ mất đi cuộc sống ổn định và bao nhiêu thứ chồng chất, đến nỗi có một vài người mong muốn  phải chi họ đừng có trúng số để trở lại cuộc sống bình thường trước kia. 

Chúng tôi sống ở trong chùa quen biết những người xuất gia, có những người đáng lẽ đời sống tu tập tốt lắm nhưng vì một chút hư danh, vì một chút địa vị nào đó mà đánh mất đi định hướng của mình, trở thành cuồng nhiệt ở trong danh trong lợi, cuối cùng ở trong cuộc sống chỉ từ khổ đau đến khổ đau chứ không được gì hết. 

Và khi nghĩ đến những vị đó, nhìn những vị đó thì bản thân của chúng ta cũng nên thắp sáng nhận thức của mình liệu  mình có đi theo con đường đó hay không? Đó là tại sao mỗi ngày chúng ta ngồi đây đọc lời  Đức Phật dạy mang lại cho chúng ta rất nhiều lợi lạc. Bởi vì chính có Đức Phật có lời dạy của Ngài và có sự gợi nhắc về lời dạy của Đức Phật lâu lâu cho chúng ta hồi tỉnh một chút, cho chúng ta nhìn lại vấn đề khác đi. Từ chỗ nghèo rồi có tiền bạc,  từ chỗ tầm thường rồi có địa vị, từ chỗ một cuộc sống rất an lạc vì không đặt quá nặng cái "tôi" cái "ta", cái mình trở thành rất quan trọng, trở thành vĩ đại. Và đời sống mình thay đổi rất nhiều để có thể đi, có thể sống, có thể an lạc với cái gì bình dị nó không phải là chuyện đơn giản. Chúng ta thường chạy đuổi  theo những hư danh, chúng ta thường chạy đuổi theo những mồi danh bã lợi, và rồi đến lúc nào đó mình nhìn lại mình cảm thấy mệt mỏi về đủ thứ chuyện.

Chúng tôi có mắn ở trong đời được tiếp xúc với một vài vị trưởng lão và những vị này có một quá khứ lừng lẫy, có địa vị cao trọng và cuối đời có được tâm rất thanh thản. Hình ảnh của những vị đó quả thật dạy cho chúng ta rất nhiều. Mình cứ tưởng tượng một người sống cuối đời khi kề cận cái chết mà cứ nghĩ đến danh đến lợi thì thật sự khổ sở lắm. Những lúc đó  tâm chúng ta thanh thản thì đỡ hơn nhiều, những lúc đó tâm của chúng ta nhẹ nhàng thì chúng ta bớt đi cái khổ. Mình khách quan thì mình có thể nói như vậy nhưng nếu người đó là chính mình thì điều đó không đơn giản, không phải dễ hiểu và cũng không phải dễ làm. Chúng ta  thường bị cuốn hút, cuốn hút vào những quan niệm của phần đông, cuốn hút vào  xu thế và chúng ta không thể cưỡng lại được. Hãy nhìn giòng nước chảy rất mạnh, giòng nước đưa đến những thác nghềnh và những thác nghềnh này có thể làm chết người khi mình rơi xuống liệu chúng ta có đủ sự bình tỉnh để làm thể nào để vượt qua khỏi giòng nước đó rồi lên bờ hay không? Câu trả lời là ở mỗi chúng ta. 

Ở đây hình ảnh Đức Phật dạy về sự cột trói. Nhiều khi mình thấy đó là cái gì mình được, cái gì mình có, cái gì mình thủ đắc. Nhưng kỳ thật Đức Phật dạy rằng đó là sự cột trói. Sự cột trói đó  nó bắt buột chúng ta phải làm cái này không làm cái kia, hay buột dính với cái này không được buông cái kia, đó là sự buột trói. 

Trong Đạo Phật dạy một chữ rất đẹp, những phiền não nội tại là những kiết sử, là những dây trói buột. Và cứu cánh của chúng ta là giải thoát. Giải thoát cái gì? Giải thoát khỏi phiền não, giải thoát khỏi hệ lụy của năm uẩn. Nhưng trước nhất là giải thoát khỏi phiền não. Và cách cởi giải thoát là bắt đầu bằng sự giác ngộ. Giác ngộ và giải thoát ./. 

Saturday, September 19, 2015

Hạnh Tu Như Cọp

Hạnh tu như cọp 

TT Giác Đẳng giảng tại chùa Pháp Luân ngày...tháng 12, năm 2012, Song Ánh chuyển biên và biên tập, TT Pháp Nhiên hiệu đính

Lời giới thiệu:

Vào năm 1979, trong một lớp học Phật Pháp tại chùa Kỳ Viên ở quận 3, TP. HCM, lúc bấy giờ giảng viên là một vị sa di trẻ. Sư Giác Đẳng khi ấy mới 16 tuổi, nhưng đã thể hiện được năng khiếu giảng dạy của mình.

Một lần nọ, sư Giác Đẳng nói với chúng tôi về đề tài hạnh tu như cọp, và có hứa sẽ giảng cho chúng tôi nghe bài Pháp này, nhưng chẳng bao lâu sau thì sư đã đi nước ngoài để du học.

Thời gian thấm thoát đã 32 năm trôi qua và cơ duyên được nghe bài Pháp đã đến với chúng tôi. Ngày 14/12/2012, chúng tôi sang Hoa Kỳ để dự lễ kỷ niệm mười năm ngày khánh thành Bảo Tháp tại Thích Ca thiền viện ở tiểu bang California dưới sự bảo lãnh của ngài Hòa thượng Thiền sư Kim Triệu cùng với sự tài trợ vé may bay của các bạn Lệ Trinh, Lý Nhàn, Lệ Lệ (Lý), Tiết Tiểu Minh, Hoa Cúc và gia đình Long Tuyết (Texas).

Trong dịp này, chúng tôi đã đến Houston (Texas) gặp lại Thượng tọa Giác Đẳng và chúng tôi nhân cơ hội này đã thỉnh cầu sư thuyết bài Pháp “Hạnh tu như cọp”. Với chúng tôi đây là bài Pháp vô cùng quý báu vì chúng tôi phải đợi hơn 32 năm. Với thời gian dài như vậy mà chúng tôi đến ngày hôm nay vẫn còn sống để nghe sư thuyết giảng !

Trong thời Pháp, sư Giác Đẳng có cho ghi âm và sao chép ra đĩa CD, nhờ vậy mà chúng tôi có thể nghe lại khi về nhà. Do thiện ý muốn phổ biến bài Pháp có giá trị này nên chúng tôi đã biên tập, đánh máy, photocopy và cho ra đời quyển sách nhỏ với nhan đề “Hạnh tu như cọp”.

Nội dung của bài Pháp đề cập đến bốn đặc tánh của loài cọp (cọp đực). Bốn đặc tánh ấy là:

1- Khả năng sống độc lập (sống một mình)

2- Khả năng cảnh giác rất cao

3- Săn mồi vừa đủ ăn

4- Không biết sợ

Với vị hành giả cũng phải có bốn đức tính như sau:

1. Sống độc cư thanh tịnh

2. Khéo phòng hộ các căn

3. Ăn uống có tiết độ

4. Không biếng nhác, tinh cần ( có tinh thần vô úy)

Chúng con thành kính tri ân sư Giác Đẳng đã từ bi thuyết giảng cho chúng con một bài Pháp vô cùng quan trọng và có giá trị thiết thực cho sự tu tập của hành giả. Chúng con cũng tri ân Sư Pháp Nhiên đã hiệu đính cho quyển sách này.

Mong rằng quyển sách “Hạnh tu như cọp” sẽ là một tài liệu quý báu, là kim chỉ nam giúp cho hành giả thăng tiến trên con đường chấm dứt sanh tử.

Do công đức ấn tông Kinh sách này, chúng con thành tâm hồi hướng và chia phần phước thiện thanh cao này đến ông bà, cha mẹ, thầy tổ, bà con quyến thuộc, bạn hữu và tất cả chúng sanh, cùng toàn thể chư Thiên, toàn thể chư Thiên hộ trì Chánh Pháp. Cầu xin quý vị hoan hỷ nhận phần phước thiện này. Cầu mong quý vị an lạc, thoát khoải cảnh khổ và được an vui lâu dài.

Nguyện cho chúng con sớm thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử.

Sadhu! Sadhu! Sadhu!

Bài Pháp

TT Giác Đẳng: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Bài Pháp hôm nay là một trong những bài Pháp có thể nói rằng rất khó quên trong cuộc đời của chúng tôi. Bài Pháp là một lời hứa mà 32 năm qua vẫn chưa thực hiện được. Ngày đó tôi là một sa di trẻ ở Việt Nam, trước khi rời quê hương ra nước ngoài, tôi hứa là sẽ nói về đề tài hạnh tu như cọp, lúc đó chỉ là một câu nói tình cờ trong lớp học Phật Pháp, nhưng hôm nay thật bất ngờ hữu duyên để có thể thực hiện lời hứa ấy.

Hôm nay hai cô Ánh Hoa, Ánh Nguyệt sang Hoa Kỳ. Cũng lạ, mặc dù trước đây chúng tôi cũng đã vài lần gặp nhau tại Ấn Độ, Thái Lan và Trung Quốc, nhưng chưa bao giờ có dịp để thực hiện điều này vì quả thật do những điều kiện đặc biệt về hòan cảnh, thời gian và và cái nhìn, mà nội dung của bài pháp có thể thay đổi ít nhiều theo từng thời điểm trình bày. Nếu bài Pháp này được nói 32 năm về trước thì một số suy nghĩ trong đó sẽ khác với ngày hôm nay. Hôm nay, nhân dịp hai cô đến chùa và nhắc lại lời tôi đã nói cách đây 32 năm, tôi xin trình bày bài Pháp này để hoàn thành lời hứa cũng như thỏa mãn sự mong đợi của hai vị.

Trong Giáo Pháp, Đức Phật thường dùng chữ thiện xảo, tức là khéo léo. Thiện xảo là khả năng mà chúng ta có thể làm được một điều gì đó theo phương pháp. Thí dụ như người nấu một bữa ăn, người xây dựng một ngôi nhà, nghệ nhân thực hiện một công trình điêu khắc. v.v … Nếu làm đại khái thì nhiều người có thể làm được, nhưng để làm cho tốt, cho được mỹ mãn thì chúng ta phải cần đến phương pháp. Một học giả người Đức, trong bài viết lời tựa cho một quyển sách Vi diệu Pháp đã nói rằng sự khác biệt giữa đạo Phật và các tôn giáo khác là đạo Phật không chỉ ca ngợi những giá trị của thiện pháp mà còn đề cập đến những phương pháp nhằm giúp để thành tựu và chứng đạt những thiện pháp đó.

Một điều mà chúng ta biết là cứu cánh của đạo Phật có thể tóm gọn trong bốn chữ Giác ngộ và Giải thoát. Giác ngộ là thấy được chân tướng của các pháp, và Giải thoát có nghĩa là cắt đứt những dây kiết sử. Đức Phật không chỉ nói đơn giản rằng Giác ngộ và Giải thoát là điều cao quý mà chính Đức Phật và cả chư Phật trong quá khứ đều nói và trình bày mà còn chỉ dẫn hành trình của con đường và phương pháp thực hành để đưa đến Giác Ngộ và Giải thoát. Có một điều mà chúng ta thường ít quan tâm đến đó là trong đạo Phật có một pháp gọi là Pàtimokkha mà chúng ta gọi là Giới bổn. Giới bổn mà ngày nay quý phật tử biết đó là Tỳ khưu và Tỳ khưu ni gới được chư Tăng tụng để nhắc nhở và hành trì. Pàtimokkha được người Trung Hoa dịch là Biệt biệt giải thoát, có nghĩa là những điều này được thực hành thì sẽ đưa đến giải thoát những phiền não.

Pàtimokkha hay Giới bổn đều được các chư Phật dạy để trì tụng chứ không phải riêng gì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy mà thôi.

Các Giới bổn mà Đức Phật dạy về Tỳ kheo và Tỳ kheo ni giới có tính ứng hợp với căn tánh của chúng sanh thời đó. Họ có những sai quấy và Đức Phật chế định theo giới luật. Đó là Giới bổn, điều học. Nhưng Giới bổn mà Đức Phật tự thân hành trì thì rất đơn giản, nó chỉ vỏn vẹn trong bốn điều, và ngài Na Tiên (Nàgasena) đã dùng bốn điều này để giảng giải. Và khi ngài trình bày về điều này ngài đã dùng hình ảnh của một con cọp, một hình ảnh rất gần với đất nước Ấn Độ thời đó để minh họa. Vì vậy, chúng ta nói hạnh tu như cọp thì nghe cũng hơi lạ tai, bởi vì ai cũng nói dữ như cọp chứ không ai nói tu như cọp.

Bây giờ chúng ta nói đến Giới bốn đầu tiên hay nói đến đặc tính thứ nhất của loài cọp. Cọp sống một mình. Quý vị cũng thường nghe nói một rừng không thể có hai con cọp và cọp ở đây chính là con cọp đực. Một con đực sống với nhiều con cọp cái, nhưng trong một lãnh địa thì không có trường hợp hai con cọp đực sống chung với nhau được. Cọp đực phân biệt giang sơn của chúng bằng phân và nước tiểu. Khi một con cọp đực sống nơi nào thì nó dùng phân và nước tiểu để phân ranh, và con cọp này không bao giờ lấn qua ranh phận của con cọp kia. Vì vậy mà người ta nói rằng trong một rừng không thể có hai con cọp. Những nghiên cứu ngày nay cho biết là giang sơn của một con cọp đực thường rộng ít nhất là từ bảy cho đến mười cây số vuông. Con cọp đi lại, sống, săn mồi và nó là chúa sơn lâm trong cái giang sơn riêng biệt của nó.

Ngài Nàgasena dùng hình ảnh này để ví với lối sống của một hành giả- đó là sống độc cư. Tất cả chúng ta, trong sự tu tập, đều phải trải nghiệm một điều mà tất cả những nghệ nhân, những người làm nghệ thuật đều biết: Đó là cho đến khi nào họ thật sự thoát ra được những cái giá trị được thẩm định bởi người khác, bởi xã hội để tự mình nhận chân ra những giá trị đó và dám sống với chúng, sống với chính mình thì đó là một bước ngoặc rất quan trọng trong cuộc đời của họ. Đối với người hành giả cũng vậy. Ví dụ trong đời sống, trong công việc làm hay việc tu tập, mình thường luôn nghĩ rằng ta làm những điều như vậy có ai khen mình không, có được người khác chấp nhận hoặc công nhận hay không, hoặc là những gì mình làm có phù hợp với cái cách mà người khác suy nghĩ hay không. v.v … Điều này trở thành một sự lệ thuộc cố hữu trong cuộc sống, do vậy khi làm việc gì chúng ta cũng phải làm theo những cái giá trị vốn đã được áp đặt, vốn đã có sẵn.

Một hành giả, cho dù sống giữa thị thành hay sống giữa làng mạc, trong rừng sâu đều cần phải có một khả năng độc lập tuyệt đối. Đó là thấy cái này là tham thì phải từ bỏ vì vị ấy nhận thức được rằng tham là một sự ngăn ngại chứ không phải từ bỏ tham vì sợ nếu không bỏ nó thì sẽ bị phật tử chê trách, hay là người này người kia chê trách mình, không đồng ý với mình. Có nghĩa là việc tốt hay xấu hành giả phải tự mình nhận biết điều đó, có như vậy, đó mới là tính cách độc lập. Dĩ nhiên là trong giai đoạn đầu, khó có ai có đủ trình độ để làm được như vậy.

Ở giai đoạn đầu hành giả phải nương vào Kinh điển, lời dạy của thầy tổ hay sự phê phán của xã hội, của gia đình , của bạn bè và những người chung quanh, để phân biệt đúng sai; nhưng đến một lúc nào đó, một hành giả biết sống độc cư- tức là một mình với tự thân, thì vị đó có thể tu tập, có thể thấy các pháp từ cái nhìn hoàn toàn độc lập của chính mình mà không cần dựa vào sự bình phẩm của người khác. Đây là một trong những điều rất khó. Nếu chúng ta hỏi những người làm nghệ thuật thì họ thường dùng hai chữ “thoát thai”. Thoát thai có nghĩa là đến một lúc nào đó mình thật sự trưởng thành và tìm được giá trị do chính mình tự chứng, tự biết chứ không phải dựa vào sự phán xét của người khác. Không phải do người khác nói tốt mà mình nghĩ tốt, mà do tự mình thấy được điều đó là tốt. Mình không cầu chứng từ người khác.

Trong Kinh ghi lại rằng, một lần nọ, Đức Phật hỏi ngài Sariputta có phải ngài hiểu Đức Phật bằng niềm tin không? Ngài Xá-lợi- phất bạch: “ Dạ con không hiểu Đức Phật bằng niềm tin”. Ngài Xá-lợi-phất muốn nói rằng “ Con hiểu Đức Phật bằng trí của con chứ không phải do người ta xưng tán Ngài mà con tin theo”. Phần nhiều trong cuộc sống của chúng ta, phần lớn chúng ta tu tập dựa trên đức tin. Ví dụ một vị thiền sư cho chúng ta những lời dạy hết sức thuyết phục về vô thường, chúng ta nghe và chúng ta đồng ý với vị thiền sư, cho rằng vị ấy nói đúng. Điều đó có nghĩa là chúng ta không thực sự thấy vô thường bằng cái nhìn độc lập. Có thể chúng ta kính trọng vị thầy ấy quá, có thể chúng ta đánh giá quá cao vị thiền sư, và vì vậy vị ấy nói gì mình cũng cho là đúng một trăm phần trăm. Nhưng một hành giả đạt đến khả năng độc cư thì vị ấy phải có khả năng nhận biết về sự vô thường bằng chánh niệm và bằng chính nhận thức của mình.

Trong Kinh Đại Niệm Xứ có một câu mà nhiều hành giả không để ý “ Vị ấy quán thân trên thân, không nương dựa bất cứ việc gì ở đời”, nghĩa là vị ấy ở trong tư thế hoàn toàn độc lập, thấy và biết như vậy. Thật ra, kinh nghiệm sống độc cư và kinh nghiệm nhận thức độc lập , hai thái độ đó đi liền lạc với nhau, nghĩa là một người có kinh nghiệm nhận thức độc lập thì vị ấy có khả năng sống độc cư. Còn một người có khả năng sống độc cư thật sự thì người ấy phải là người có khả năng nhận thức sự việc một cách độc lập. Đến mức độ đó chúng ta mới tạm gọi là có sự trưởng thành trong đời sống. Lấy ví dụ khi chúng ta còn nhỏ, những điều đúng, sai, phải, quấy mà cha mẹ giáo dục chúng ta thì rất tốt, vì mỗi chúng ta được khuôn đúc , được nuôi dưỡng trong các giá trị căn bản ấy. Tuy nhiên khi chúng ta lớn lên mà chúng ta làm gì cũng luôn tuân theo cái khuôn thước của cha mẹ chúng ta đề ra, cái này là đúng, cái kia là sai thì chúng ta không thể được coi là trưởng thành. Một người trưởng thành thật sự là một người một ngày nào đó nhận chân ra giá trị đúng, sai, phải, quấy là do tự mình hiểu biết chứ không phải vì cha mẹ tôi nói như vậy là đúng, ông bà tôi nói như vậy là đúng. Tuy nhiên khi mình còn nhỏ thì chúng ta cần những lời dạy dỗ ấy.

Do vậy, pháp đầu tiên của hành giả là giống như loài cọp, chúng sống một mình ở trong rừng, và do sống một mình trong rừng nên chúng phải có thái độ hoàn toàn độc lập, không sống theo bầy, theo đàn như một số các loài động vật khác. Có những động vật chúng sống quây quần theo bầy đàn, thí dụ như loài trâu rừng, bầy nai. v.v.. Nếu bầy của chúng chạy về hướng đông thì chúng sẽ chạy về hướng đông. Chúng chạy về hướng đông là do một con nào đó trong bầy chạy về hướng đó và rồi cả nguyên đàn chạy theo. Nhưng loài cọp thì không như vậy. Con cọp đực luôn luôn hành xử độc lập, từng con một ở trên từng lãnh địa một. Vậy, cái bản lãnh quan trọng nhất của hành giả là bản lãnh sống độc lập.

Có nhiều người không hiểu rõ đạo Phật, họ nói rằng đạo Phật sùng bái chủ nghĩa độc thân. Thật ra đạo Phật không lên án việc có gia đình cũng như lên án cuộc sống cộng đồng. Đạo Phật cũng có cộng đồng Tăng chúng, có bạn song hành như một vị thiện hữu. Tuy nhiên, đạo Phật rất chú trọng về khả năng độc lập trong cách nhìn của mình, bởi vì đến một lúc nào đó, đến một thời điểm nào đó thì hành trình của hành giả sẽ là con đường độc đạo, chỉ một người đi, và chỉ có tự thân một người đó biết nó mà thôi, chứ không thể có hai hoặc ba người được. Nói một cách khác, cha mẹ ta dạy ta như thế nào, thiện hữu dạy chúng ta như thế nào, những lời dạy của các vị thiền sư như thế nào, nó chỉ làm kim chỉ nam trong một giới hạn, một chừng mực nào đó; và khi chúng ta thực sự ra khơi, mỗi người phải tự xác chứng lấy mình chứ không phải thông qua cái giá trị do người khác đem đặt để cho mình. Đó là đặc điểm đầu tiên khi chúng ta nói về đặc điểm đầu tiên của loài cọp, và đạo Phật nói là “ sống độc cư thanh tịnh” là nói đến ý nghĩa độc lập này.

Tiếp theo đặc tánh thứ hai của loài cọp là có một tính cách khác hơn nhiều so với các loài vật khác vì nó là một động vật sống nhờ vào sự đi săn.

Cọp là một mãnh thú và các mãnh thú khác hơn những loài thú thường ở chỗ khả năng cảnh giác của chúng rất cao. Cọp là loài tấn công, do đó cọp và sư tử -khả năng cảnh giác của chúng- cao hơn những con vật khác. Những loài vật khác khi ngủ là ngủ vùi, hoặc ngay khi chúng đang chơi đùa thoải mái chúng cũng luôn ở trong tư thế dễ dàng bị tấn công. Nhưng những loài mãnh thú thì khác, thí dụ sư tử và cọp luôn luôn ở trong tư thế tấn công của một loài có cảnh giác. Tương tự như một hành giả có chánh niệm và tỉnh giác, họ biết rằng các phiền não có thể tấn công bất kỳ lúc nào, các ma chướng có thể đến với họ bất kỳ lúc nào, vì vậy họ không giải đãi, xem thường hay mất cảnh giác.

Đức Phật dạy phòng hộ các căn là Ngài muốn nói đến việc chúng ta thường có một nhận thức liên quan đến tự ngã, đây là một nhận thức gây ra phiền não. Ví dụ như có ai đãi mình món ăn ngon, luôn có cái Tôi xen trong đó “Tôi được ăn ngon”. Hay khi mình phải chịu cái cảnh lạnh lẽo thì ngoài cái cảm giác lạnh lẽo mình còn gói ghém một khái niệm “Tôi” trong đó “Tôi lạnh”. Hoặc khi chúng ta đi tham quan một cảnh đẹp thì không phải chỉ đơn thuần là để thỏa mãn con mắt mà còn để thỏa mãn cái tôi “Tôi đã thấy như vậy”.

Đối với các hành giả tu tập nhiếp hộ các căn hành giả sẽ thấy phiền não này sanh khởi từ mắt có nghĩa là nó đến từ mắt chứ không liên hệ gì đến cái Tôi, cái Ta hết. Phiền não đến từ tai, từ lưỡi, từ mũi, từ thân, từ ý cũng tương tự như vậy. Nói một cách khác, điều đó có nghĩa là hành giả có một khái niệm rất rõ ràng, chuyện nào ra chuyện đó. Chuyện của mắt thì ra chuyện của mắt, chuyện của tai thì ra chuyện của tai, chuyện của mũi thì ra chuyện của mũi, chuyện của lưỡi thì ra chuyện của lưỡi. v.v …. không có Tôi hay Ta xen trong đó. Vị hành giả chỉ thấy đơn giản vậy thôi, thấy riêng từng phần.

Nói đến chuyện tu tập thì hành giả phải có khả năng phân biệt được đâu là các cảm thọ khổ, lạc, ưu, xả và các cảm thọ đó đến từ đâu. Nếu nó đến từ xúc thì đó là từ nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc hoặc ý xúc ? Chữ xúc ở đây có nghĩa sự gặp gỡ giữa căn cảnh và thức. Và vị ấy hiểu rằng cảm thọ này đến từ mắt, từ tai, từ lưỡi, từ thân hoặc từ ý. Chỉ đơn giản vậy thôi. Vị ấy không thấy có khái niệm “Tôi, Ta” trong cảm thọ đó.Ví dụ cách đây một giờ đồng hồ, hành giả được ăn một bữa rất ngon, vị ấy biết khi thực phẩm ngon ấy chạm với lưỡi thì lưỡi hưởng thụ một cách thích thú, một cách hạnh phúc, lưỡi cảm thấy rất ngon. Và bây giờ không còn ăn nữa thì cảm giác ấy đã diệt đi, tức là vị ấy thấy sự sanh và diệt. Nếu hành giả không phòng hộ các căn thì hành giả ấy lại nghĩ rằng: Hôm nay “Tôi” có phước. “Tôi” được ăn một bữa thiệt ngon. “Tôi” thật là hạnh phúc vì được đãi một bữa ăn thiệt ngon mà nhiều người khác không có, chỉ có “Tôi” mới được ăn. Hoặc cảm thấy “Tôi” quan trọng như thế này thế kia khi được đãi ăn một bữa như vậy.

Tuy nhiên đối với một hành giả tu tập thì chuyện nào ra chuyện đó. Hễ nó sanh thì biết nó sanh, nó diệt thì biết nó diệt. Nói một cách khác là không để cho sự việc sanh khởi liên hệ đến bản ngã. Khả năng phòng hộ các căn này được hiểu và được xem như là thiện xảo của hành giả để có thể phân biệt ra ái đến từ thọ, thọ đến từ xúc, xúc đến từ sáu căn và sáu cảnh. Đó là cách vắn tắt chúng ta nói về sự tu tập phòng hộ các căn. Về điểm này thì các thiền sư dạy về Tứ niệm xứ chi li hơn, chúng ta không đào sâu nhưng điều quan trọng là chúng ta phải phân biệt được danh và sắc. Danh và sắc đối với một hành giả tu tập thì chúng trực tiếp liên hệ đến sáu căn, ví dụ cái gì mình nghe, cái gì mình thấy, mình ngửi, mình nếm, xúc chạm , cái đó gọi là sắc. Cái cảm thọ do sự xúc chạm, gặp gỡ giữa căn và cảnh , cái phản ứng thích hay không thích với sự xúc chạm, gặp gỡ đó gọi là danh. Như vậy chúng ta thấy rằng cái mà chúng ta gọi là tôi hay ta này đây thực ra chỉ là tâm và thân hay danh và sắc tương tác với nhau mà vận hành vậy thôi. Khi chúng ta thấy được mấu chốt của sự tác động qua lại giữa thân và tâm hay danh và sắc đó, chúng ta sẽ thấy rằng mọi sự đến và đi là các phản ứng do thân và tâm tác động qua lại vào nhau chứ không có một cái gọi là ngã tính ở trong đó, khi hiểu ra được như vậy thì mọi sự chúng ta cứ để tự nhiên, nó đến thì cho nó đến, nó đi thì để cho nó đi.

Chúng ta luôn vướng vào cái tự ngã hay là ngã tính. Ví dụ chúng ta nghe Paris là kinh đô của ánh sáng và ao ước được một lần đến đó. Có dịp chúng ta đặt chân đến Paris, chúng ta thấy được dòng sông Seine, tháp Effel, khi về nhà điều đó lại trưởng dưỡng thành một niềm hãnh diện, mang đến cái tự ngã: “Tôi” cũng là một người đặc biệt, “Tôi” có được may mắn đến tham quan tháp Effel, tự cảm thấy “Tôi” là người quan trọng… Hành giả hành tập là để loại bỏ cái cảm giác về một cái tự ngã này. Cái cảm giác của hành giả chỉ là cái gì đến thì để cho nó đến, cái gì đi thì để cho nó đi, chỉ đơn thuần ghi nhận hay biết, khi nó đi rồi thì mình trả mọi sự về với sự tĩnh lặng. Ngài Ajahn Chah dùng một thí dụ đơn giản để mô tả việc này đó là tâm của hành giả nó phải giống như một cái hồ nước ở giữa rừng, khi những con thú đến uống và mặt hồ khuấy động, đó là điều tự nhiên. Khi những con thú uống nước xong thì mặt hồ trở lại phẳng lặng, chứ không phải những con thú đã đi rồi mà mặt hồ cứ tiếp tục giao động hoài. Khả năng này tiếng Anh gọi là “let go”, tức là chúng ta để cho nó đi. Cái gì nó đến thì nó đến, cái gì nó đi thì để cho nó đi. Tuy vậy, việc này không hề đơn giản. Tại sao vậy? Trong cuộc sống của chúng ta, những gì chúng ta thực sự tiếp xúc, thực sự đối diện thì không nhiều, nhưng bám níu, vướng mắc của chúng ta với chúng thì lại lâu dài. Ví dụ ai đó nói với mình một câu rất nặng, câu nói nặng đó chúng ta có khi nghe chưa tới 30 giây nữa nhưng chúng ta phiền não cả … ba tháng. Cái phiền não vài ba tháng đó là do chúng ta để cái nghe đó liên hệ tới tự ngã của mình. Nếu chúng ta không để cho nó liên hệ đến tự ngã thì việc nó đến, nó đi giống như mặt hồ, chao động nhưng rồi sẽ tĩnh lặng, phẳng lặng trở lại.

Nói tóm lại, hành giả phải phòng hộ các căn như thế này: Hành giả hiểu thọ là duyên của xúc, xúc là do duyên của sáu căn, do vậy, hành giả không nghĩ rằng đây là của Ta, đây là Tự Ngã của ta. Hành giả cũng có khả năng phân chuyện nào ra chuyện đó, hiện tại là hiện tại, cái gì đã qua rồi là qua rồi, sắc là sắc, danh là danh, chứ không thấy rằng, hiện tại và quá khứ, danh và sắc kết cấu với nhau thành một thứ để cho mình phải bám níu. Tại vì sao? Bởi vì một khi hành giả nhìn thấy được sự vận hành của các căn, cảnh và thức một cách tinh tường, chính xác như thế, hành giả sẽ có khả năng buông bỏ, bởi cuộc sống là một sự nối tiếp liên tục của các căn, cảnh và thức. Nói tóm lại, nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc sanh thọ. Nhãn xúc sanh thọ, mình hiểu. Tỷ thức sanh thọ, mình cũng hiểu… Ngài Sariputta dạy rằng nếu chúng ta nghe những điều phỉ báng, nếu chúng ta biết rằng đó chỉ là một sự tiếp xúc giữa căn và cảnh thì chúng ta có thể kham nhẫn được. Điểm này là một đặc tánh giải thích tại sao hành giả khi hành thiền cần phải phân biệt cho rõ danh và sắc. Cái giá trị của sắc là cái mình thấy, mình nghe, mình ngửi, mình nếm và đụng chạm. Yếu tố đó chỉ có giá trị trong một thoáng và không nên để cho nó kéo dài. Khi chúng ta nghe, thấy, ngửi, nếm, đụng chạm thì chỉ nên đơn thuần ghi nhận chúng sanh khởi, đừng dính mắc với chúng để cho chúng trở thành những vấn đề chi phối mình sau khi chúng đã qua đi. Như vậy gọi là khéo nhiếp hộ các căn.

Với một người tu tập thì khả năng cảnh giác phải cao, phải hiểu rằng sáu căn là những cửa ngõ để cho địch tấn công. Nếu mình là một vị tướng giữ thành thì phải hiểu cái thành của mình có sáu cửa và nếu phiền não có tấn công thì chúng cũng chỉ tấn công vào sáu cửa đó thôi và như vậy mình phải thường xuyên cảnh giác.

Đặc điểm của loài cọp và các loài mãnh thú khác là chuyên về săn mồi và tấn công vì vậy chúng cũng có khả năng đề phòng sự tấn công rất cao. Người ta nói “suy bụng ta ra bụng người” , con vật đó thường tấn công những con vật thiếu cảnh giác vì vậy chính bản thân nó phải rất cảnh giác.

Đặc tánh thứ ba của loài cọp và cũng là của một số loài mãnh thú khác là chỉ săn mồi vừa đủ ăn. Nó không giết con nai này để ăn rồi giết con nai kia để chơi, tức là nó biết đi săn ở mức độ vừa phải. Nó không giống con người. Con người chúng ta khi ăn thường ham hố, có khi ăn quá độ hoặc quá no. Đời sống của mình đã đủ rồi nhưng vẫn đi tìm, tích lũy chất chứa thêm, nhưng với loài cọp thì khác. Điều này nhiều người không nghĩ đến nhưng thật ra loài vật chúng hơn loài người. Loài người của chúng ta có khi không ăn cũng giết, không ăn cũng thu thập để dành, nhưng loài vật thì không như vậy.

Trong Pàtimokkha, lời dạy của chư Phật là phải tiết độ trong ăn uống, có nghĩa là một hành giả phải biết ăn vừa với nhu cầu của mình, nếu mình không biết dừng lại có nghĩa là chưa có bản lãnh. Trong tất cả các dục lạc thì sắc đẹp, tiếng hay v.v… thì hành giả tránh được, nhưng riêng cái ăn thì không thể vì đó là nhu cầu. Khi hành giả ăn hoặc uống, Đức Phật dạy ăn và uống phải có tiết độ. Ở đây hàm ý là ăn vừa đủ no, cái thách thức lớn nhất là đồ ăn có ngon đến đâu cũng đừng ăn quá no, cho dù là ngon miệng đến mấy đi nữa cũng không có tình trạng ăn quên thôi. Thực ra, đối với một người bình thường thì cái chuyện ăn quên thôi đó cũng là chuyện bình thường, không có gì tội lỗi, nhưng với một hành giả, việc ăn quên thôi sẽ là một chuyện lớn. Vì sao vậy? Vì cái nghị lực của mình có hay không là nằm ở đó. Ví dụ một người bị bệnh tiểu đường, bác sĩ cho biết rằng không nên ăn nhiều cho dẫu là những món ăn không có nhiều đường vì khi mình ăn quá no thì cơ thể vẫn không thể hấp thu kịp, nó sẽ đẩy lượng đường vào trong máu. Do đó, nguyên tắc của người tiểu đường là phải ăn nhiều bữa nhưng không được ăn no. Vì vậy, người bị tiểu đường nếu được dọn một bữa ăn rất ngon nhưng ăn đến một mức độ nào đó thì phải tự biết ngừng lại. Khả năng tiết chế để không ăn nữa là một sự thách thức. Tương tự, đối với hành giả thì việc tiết chế trong ăn uống cũng nói lên nghị lực của vị ấy trong sự tu tập. Có những lúc chúng ta thọ đầu đà hay tham dự các khóa thiền, cả ngày chỉ ăn một bữa chính, bữa ăn đó đôi khi rất ngon miệng vì vậy đến lúc chúng ta bảo mình phải ngừng ăn thì thật là không phải chuyện dễ. Dường như ai cũng muốn ăn cho thỏa mãn, người ta gọi là mãn khẩu, và nếu mình ăn không cho nó mãn khẩu thì mình thấy có chút gì tiếc nuối. Nhưng hành giả phải có khả năng thấy rằng đã ăn vừa đủ no thì phải biết ngưng lại.

Chúng tôi có vài lần nói về sự khác biệt giữa văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ trong việc ăn uống. Người Trung Hoa nói rằng ăn thì phải ăn cho hết, nếu ăn còn dư là có tội vì vậy khi ăn thì phải rán ăn cho hết thức ăn. Nhưng người Ấn Độ thì khác, đặc biệt trong văn hóa Phật giáo là không rán ăn mà chỉ ăn với mức độ vừa phải, nếu ăn không hết thì đổ cho chim, cho các loài vật khác ăn. Nếu cố ăn cho no, cho mãn khẩu, ăn cho phình bụng thì đó là điều không tốt. Trong Luật, Đức Phật dạy, khi ăn còn năm miếng nữa là no thì nên dừng lại, nói cách khác là ăn còn hơi lưng lững thì phải biết dừng lại. Sự tiết chế đó sẽ giúp hành giả kiểm soát được vấn đề ăn uống của mình. Về điểm này, những loài mãnh thú như cọp, sư tử – chúng ta không biết sức khỏe của chúng thực sự như thế nào- nhưng chúng có đặc tánh chung là không dành giựt quá độ như một số loài khác. Theo các nhà nghiên cứu thì các loài dã can, kên kên hay chạy theo những loài mãnh hổ này, bởi vì khi cọp hay sư tử giết một con vật để ăn, chúng chỉ ăn đủ no là bỏ đi, chứ không vì thấy các con vật khác đến rồi ráng dành phần, ráng ăn cho no. Đó là đặc tánh của con cọp. Đối với hành giả, khi nói đến ăn uống trong sự tiết độ thì cũng giống như loài cọp vậy, có nghĩa là ăn vừa với nhu cầu bản thân, ăn vừa phải chứ không ăn quá no, hay vì mãn khẩu mà ăn. Sự tiết độ này tạo cho hành giả nghị lực, và đây là một điều rất quan trọng.

Đặc tánh thứ tư mà ngài Na Tiên đề cập là cọp không biết khiếp sợ, cá tánh của nó là không biết sợ. Cọp là mãnh thú, đôi khi người ta gọi nó là chúa sơn lâm, đôi khi người ta gọi nó là mãnh hổ.

Nó có một thái độ rất rõ ràng đối với các con thú khác. Tương tự như vậy, hành giải được xem là không biết sợ trước những phiền não của mình, phải có sự hiểu biết đạt đến tinh thần vô úy. Về điểm này, trong Kinh điển gọi là tinh cần, không biếng nhác. Sự tinh cần trong đạo Phật nói đến thái độ rõ ràng trước cái nào là thiện, cái nào là bất thiện. Một người có thái độ không phân biệt giữa thiện và bất thiện, hay gọi là lấp lửng, thì gọi là không tinh cần. Thiện là thấy cái nào đúng thì quyết tâm làm, điều nào là bất thiện, sai trái thì quyết tâm từ bỏ chứ không hững hờ, lấp lửng, phải có thái độ rõ ràng. Chính thái độ rõ ràng như vậy sẽ giúp cho hành giả không nhọc nhằn trong việc tu tập và giúp cho hành giả vượt qua những cạm bẫy, trong đạo Phật gọi đó là không giải đãi, bởi vì hành giả thấy thiện và bất thiện rất rõ ràng. Ví dụ, thông thường một người mà thiếu kinh nghiệm thì người ấy không thể phân biệt được cái gì là lợi hay bất lợi, và do không phân biệt được điều này, người ấy sẽ không có thái độ dứt khoát giữa điều lợi ích nên làm và điều không lợi ích, phù phiếm không nên làm. Nhưng một khi người ấy đã có sự phân biệt thì người ấy có thái độ của người có kinh nghiệm, cái đó trong đạo Phật gọi là tinh tấn hay tứ chánh cần. Đó là thận cần, trừ cần, tu cần, bảo cần, nghĩa là người đó biết ngăn ngừa, biết diệt trừ ác pháp và biết làm cho thiện pháp sanh khởi, biết bảo dưỡng thiện pháp. Nếu hành giả còn lấp lửng, không có thái độ rõ ràng, dứt khoát giữa thiện và bất thiện tức là hành giả không có đủ tinh thần vô úy.

Tại sao dáng đi của con cọp, sư tử lại hùng dũng, đẹp hơn những sinh vật khác? Đó là vì nó có đủ sức mạnh nội tại, nói đơn giản là vậy. Một hành giả trong sự tu tập phải có một thái độ rõ ràng, mạnh mẽ với bản thân mình. Việc này đôi khi không dễ dàng cho chúng ta, bởi vì trong cuộc sống, trong xã hội ngày nay, hầu như mọi thứ đều xây dựng trên một tinh thần hòa hoãn. Ở đây không phải chúng ta muốn nói đến sự cực đoan mà muốn nói đến một thái độ dứt khoát. Không những có thái độ dứt khoát rõ ràng mà chúng ta còn biết mình phải làm gì với điều đó. Đây là đặc tánh của con cọp và là đặc tánh của một hành giả.

Nói đến bốn điều này như nhắc nhở chúng ta nhớ lại lời của Đức Phật dạy là sống độc cư một mình, khéo phòng hộ các căn, ăn uống có tiết độ, không biếng nhác tinh cần. Đó thực ra là giới bổn của chư Phật, chư Phật ngày xưa dạy điều đó. Từ tinh thần độc lập của một người sống độc cư đến tinh thần phòng hộ không để cho các căn, cảnh liên hệ đến tự ngã, cho đến cái nghị lực biết tiết chế vừa phải trong nhu cầu, tiết độ trong ăn uống và sau cùng là một thái độ rõ ràng với thiện pháp và bất thiện pháp hay biếng nhác, không tinh cần. Không biếng nhác, tinh cần là sống một cách rõ ràng, chúng ta có thể hiểu rằng đó là một cái thế của một chiếc ghế có bốn chân, nó giúp hành giả có sự thăng bằng, vững vàng và tiến tới.

Vì vậy, khi nói về hạnh tu như cọp, ngài Nàgasena (Na Tiên) hàm ý nói đến một điều là sự thuần tánh của con vật, nghĩa là nó sanh ra như vậy, bản năng nó như vậy và cái thái độ nó như vậy. Hành giả tu tập đến một lúc nào đó cũng phải có những đặc tánh đó khi đương đầu với phiền não.

Khi nói về hạnh tu như cọp, ở đây chúng ta nên nói thêm là trong mỗi nền văn hóa có một cái nhìn khác nhau. Thí dụ con dơi trong xã hội Tây phương tượng trưng cho loài ma quỷ, nhưng con dơi trong văn hóa Trung Hoa được cho là phúc, tượng trưng cho phước. Con ngỗng trong văn hóa Tây phương tượng trưng cho sự lãng mạn nhưng con ngỗng trời trong đạo Phật lại tượng trưng cho sự giải thoát. Đức Phật đưa ra hình ảnh ngỗng trời rời ao. Trong nền văn hóa Trung Hoa, Việt Nam nói đến ong, bướm hút mật thì tượng trưng cho sự không đàng hoàng của người đàn ông, nhưng ong hút mật trong Kinh điển đạo Phật là hình hảnh tự lợi và lợi tha của vị Tỳ kheo trì bình khất thực:

“Như ong đến với hoa

Không hại sắc và hương

Che chở hoa, lấy nhụy

Bậc Thánh đi vào làng”

Kinh Pháp cú 49

Tương tự, trong nền văn hóa của chúng ta, phần đông chúng ta đều sợ cọp nhất là những người sống trong làng mạc xa vắng. Chúng ta thường nói dữ như cọp để ám chỉ một người bản tánh hung dữ.

Tuy nhiên trong xã hội Ấn Độ thì cọp là loài mãnh thú rất thường thấy, và ngài Nàgasena nhân đó mới nói lên những đặc tánh, có thể nói là rất nổi bật của loài cọp, để giúp chúng ta liên tưởng đến những pháp tu mà Đức Phật gọi là những thiện xảo của một hành giả trên đường tu tập.

Mỗi người rồi một ngày nào đó cũng phải ra đi, phải đối diện với cái chết. Hôm nay, nhân nói đến điều này, tôi muốn nhắc lại thời điểm mà Hòa thượng Hộ Giác nằm trên giường bệnh. Hình ảnh một người trong giây phút cuối cùng của cuộc đời mà bên cạnh mình bao quanh là chư tăng, phật tử, những người rất thương mến mình là một cảnh hiếm thấy. Tuy nhiên hình ảnh này cũng cho chúng ta thấy sự vô hộ, vô chủ của cuộc sống. Cho dù lúc đó bao quanh ngài là bao nhiêu người thương, bao nhiêu người thân thì ngài vẫn phải ra đi một mình, ngài phải đối diện với cái chết một mình và ngài phải tự cứu lấy chính mình, những người khác nhiều lắm là tụng cho ngài một câu Kinh, đọc một vài đoạn Kinh Tứ Niệm Xứ hay là những lời cầu phước cho ngài, nhưng hơn ai hết, chính ngài, ngài phải tự ra đi.

Con người thường hay nghĩ rằng mình sẽ được sự hỗ trợ của người thân, chăm sóc của xã hội trong giây phút cuối đời, nhưng Đức Phật rất nhiều lần nói với chúng ta rằng trong cuộc hành trình sanh tử luân hồi thì mỗi người chúng ta , ngay cả hai chị em sinh đôi, hai người đã gắn bó với nhau suốt cả cuộc đời, dù vậy khi đi qua nhịp cầu sinh tử thì ai cũng phải đi một mình. Đó là độc lộ trường thiên tức là con đường dài mà mỗi người phải đi một mình. Đừng bao giờ nghĩ rằng người này sẽ nâng đỡ cho người kia, người kia sẽ nâng đỡ cho người nọ. Tại sao trong dòng lịch sử của loài người, con người hay thờ phượng Thượng đế, con người hay sùng bái các đấng thiêng liêng cao cả? Tại vì con người rất sợ đi một mình, con người muốn có một đấng thiêng liêng nào đó giúp ta đi qua những nhịp cầu đó. Nhưng cái khác biệt lớn nhất của đạo Phật với các tôn giáo khác đó là đức Phật dạy rằng “ các đấng Như Lai chỉ là bậc Đạo Sư, các con phải tự nỗ lực”. Điều này có nghĩa rằng Đức Phật, Ngài sẽ không nắm tay chúng ta, không đem kiệu đến để rước chúng ta, trái lại Đức Phật dạy rằng những gì Như Lai cần làm cho các con, Như Lai đã làm rồi, tức là những lời dạy của Ngài, chúng ta phải biết dùng những lời dạy của Ngài để mà trang bị cho hành trang lên đường.

Khi chúng ta đọc lên bốn điều sống độc cư một mình, khéo phòng hộ các căn, ăn uống có tiết độ, không biếng nhác tinh cần trong giới bổn, ở đây là nói xuyên qua bốn đặc tánh của loài cọp, chúng ta phải hiểu rằng tự mình phải trang bị, tự mình phải có bản lãnh và tự mình phải chấp nhận. Chúng sẽ đối diện với cái chết vậy chúng ta phải chuẩn bị như thế nào trong cuộc hành trình đó.

Chúng tôi xin nhắc lại một điều, có thể nói là không bao giờ quên được. Vào ngày thứ sáu đầu tháng mưới hai (01/12), ngài Hòa thượng Hộ Giác được đưa vào bệnh viện. Sau khi chụp hình phổi, ngài nằm trong phòng dành cho người lớn tuổi để chờ kết quả. Ngài nằm trên giường để chờ bác sĩ khám bệnh, chúng tôi đứng bên cạnh và cầm tay ngài, thấy da của ngài bị thâm đen do dấu của các ống chích lấy máu. Chúng tôi nhắc lại hình ảnh của ngài Ànanda xúc động khi nhìn thấy da của Đức Thế Tôn nhăn nheo do lớn tuổi, ngài Ananda nhớ lại trước đây Đức Phật có ba mươi hai tướng trượng phu. Chúng tôi nhắc lại hình ảnh này thực sự chúng tôi không có ý muốn ví hòa thượng với Đức Phật nhưng chúng tôi liên tưởng đến thời Hòa thượng còn trẻ, ngài là một người nổi tiếng về phúc tướng, nhưng giờ đây da ngài nhăn, có những suy thoái như vậy. Khi chúng tôi nhắc lại hình ảnh này, ngài Hòa thượng Hộ Giác nói rằng: Đức Phật dạy

“Người nay như lá úa,

Diêm chúa đang chực chờ,

Hành trình không quán trọ,

Dặm trường thiếu tư lương”

và sau đó ngài đã đọc câu Phạn ngữ của bài kệ đó và nói rằng đọc bài Kệ này mới cảm thấy thấm thía.

Thực ra con đường của ngài cũng là con đường đi của tất cả chúng ta, tất cả chúng ta không thể tránh được cuộc hành trình đó.

Nhưng phải nói rằng chặng cuối của cuộc hành trình của ngài Hòa thượng là tương đối đẹp vì ngài còn tỉnh táo, còn nhớ lời Đức Phật dạy, vì ngài còn đủ kham nhẫn và chấp nhận ra đi một mình. Nhưng nếu ở đoạn cuối cuộc đời mà ngài nghĩ rằng đau quá phải rên la, trong lúc này mình phải cần đến người này, cần đến người kia, tại sao người này không thương mình, tại sao người kia không lo cho mình… Và như vậy là ngài chưa chấp nhận sự vô thường. Tất cả chúng ta đều phải đối diện với điều đó một mình và lúc đó thì danh lợi, hơn thua, được mất trong đời chẳng còn ý nghĩa gì hết. Giây phút đó chỉ có mỗi một mình ta đối diện với cái chết và chúng ta thực sự sống với chính mình, lúc đó chúng ta cần một cái tinh thần độc lập hơn bao giờ hết. Tinh thần độc lập đó, đôi khi trong Kinh điển gọi là khả năng của một người biết sống một mình, và biết sống một mình không phải là chuyện dễ.

Hôm nay nhân dịp hai cô Ánh Hoa, Ánh Nguyệt sang Hoa Kỳ và đến chùa Pháp Luân đây, tôi xin được nói vài lời như để hoàn tất một điều mà chúng tôi đã hứa hơn 32 năm trước là sẽ nói về hạnh tu như cọp.

Cầu mong cho chúng ta, tất cả những Phật tử ở trong hoàn cảnh nào cũng nhớ rằng Đức Phật đã cho chúng ta rất nhiều và không những Đức Phật đã cho ta rất nhiều mà nếu chúng ta khéo, chúng ta còn hưởng được cả một gia tài rất lớn do Ngài để lại. Ít nhất qua lời của Ngài dạy, chúng ta biết suy nghĩ, biết làm thế nào để an tâm, tĩnh trí. Nếu nghĩ được như vậy thì cuộc sống- cho dù chúng ta ở đâu, cho dù là sống một mình- chúng ta vẫn cảm thấy nó đẹp và đầy đủ chứ không nghèo khổ, thiếu thốn. Dù ở trong hoàn cảnh nào, chúng ta cũng cảm thấy ấm áp là bởi mình được hưởng một gia tài rất lớn, đó là Giáo Pháp của Đức Phật.

Biên tập: Song Ánh

Hiệu đính: Tỳ kheo Pháp Nhiên

Theo: Thiền Viện Phước Sơn