Thursday, April 7, 2016

Kinh Vị Ngọt - Tăng Chi Bộ - Phẩm Chánh Giác

Kinh Vị Ngọt - Tăng Chi Bộ - Phẩm Chánh Giác

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 11-11-2015.

 Minh Hạnh chuyển biên.

TT Giác Đẳng: Người VN chúng ta có chữ "Tu sĩ" để chỉ các vị sống và hoạt động liên quan đến tôn giáo. 

Trong xã hội Ấn Độ  những người làm việc tôn giáo được phân làm hai: 

-1. Các vị giáo sĩ Balamon những vị này học hỏi giáo điển lo  nghi lễ, nặng về cúng tế, người VN gọi là thầy cúng.  Nhưng chỉ giáo sĩ Balamon ảnh hưởng nhiều sinh hoạt của người Balamon vì những vị này hiểu được cách hành trì.

- 2. Tầng lớp khác là Samon tức là những vị tu sĩ nhưng khác với những vị giáo sĩ, những vị tu sĩ này được hiểu là trao dồi thân tâm để chuyển hóa bản thân mình có những tiến bộ trong đời sống tinh thần. Đức Phật và Chư Tỳ Kheo nằm trong số các vị tu sĩ gọi là Samon. Người ngoại đạo thường gọi Đức Phật là Samon Cồ Đàm.

 Ngày hôm nay thỉnh thoảng trong giới tu sĩ Phật Giáo cũng có những vị dùng chữ Samon là Phạn âm của chữ Samaṇa. Đức Phật Ngài định nghĩa  chữ Samon trong một định nghĩa tương đối khác với định nghĩa bình thường. Khi chúng ta định nghĩa chữ Samon là tu sĩ là định nghĩa thường thấy, nhưng ở đây Đức Phật định nghĩa Samon là người tu tập với sự hiểu biết về cuộc sống trong cách hiểu biết Đức Phật Ngài dạy  hiểu biết chân thực, hiểu biết chân xác về cuộc đời qua 3 khía cạnh:  VỊ NGỌT, SỰ NGUY HIỂM, VÀ SỰ XUẤT LY. 

Để thật sự hiểu những điều này, vị tu sĩ hay vị Samon cần có nhận thức rõ ràng. Đối với những chúng sanh đang sống với sự tham đắm có nghĩa  những chúng sanh đó đang hưởng vị ngọt của cuộc sống, cuộc sống không có vị ngọt người ta không tham cầu, rõ ràng  nó phải có cái gì đó người ta mới tham đắm, nhưng trong sự tham cầu đó còn có một cái khía cạnh khác chúng ta cần đề cập đến đó là sự đau khổ. 

Sự đau khổ được xem là bản chất nguy hiểm của đời sống. Ví dụ, khi đi du lịch chúng ta nhìn thấy các quốc gia phát triển rất mạnh mẽ,  những thành phố được xây cất càng ngày càng lớn, càng ngày càng qui mô, càng ngày càng tráng lệ, chúng ta hiểu người ở xứ này đang hưởng vị ngọt. Nhưng rồi chiến tranh, sự ô nhiễm của môi sinh, sự căng thẳng ở trong đời sống của con người, đó là những khía cạnh nguy hiểm có thể tạm kể ra.

 Thí dụ, trong đời sống hôn nhân có thể cho con người những niềm hạnh phúc. Chúng ta tìm thấy hình ảnh của những đôi nam nữ dắt tay nhau đi dạo phố, họ sống chung nhau với những sự ngọt ngào trong tình yêu. Đối với Phật Pháp họ đang hưởng thụ vị ngọt của đời sống. Nhưng mà rồi những phiền não, những đau khổ từ bi kịch của hôn nhân như sự ghen tuông, hay sự đòi hỏi, hay sự bực bội, hay sự ràng buột đó là sự nguy hiểm. Người ta thường thấy được một phương diện của câu chuyện, chuyện của người khác thì mình sáng nhưng chuyện mình thì quáng, đặc biệt lúc mình vui mình thấy đời màu hồng, lúc mình bi quan mình thấy toàn màu đen tối. 

 Đức Phật dạy, một người sống hiểu biết là người thấy được cả hai vị ngọt và sự nguy hiểm. Và một vị tu sĩ một vị Samon thật sự phải thấy cả ba: thế nào là vị ngọt, thế nào là nguy hiểm và cũng thấy được sự xuất ly một phương thức vượt ra ngoài 2 điều đó. 

Chúng ta lấy một ví dụ, mình sống ở trong một xã hội có nhiều tiện nghi vật chất, mình mua được chiếc xe vừa ý, mình rất thích, đó là vị ngọt. Nhưng trong vị ngọt đó cũng có sự nguy hiểm, có cái mình vừa ý thì cũng có những hệ lụy của nó, có những phiền hà, mình có được chiếc xe tốt  cũng lo lắng. Vì vậy cần có sự xuất ly tức là phương cách nào đó để  sống đạt đến một cảnh giới tương đối nhẹ nhàng không bị chao đảo bởi cả hai vui và khổ,  vị ngọt và nguy hiểm của vấn đề.

 Điều này thể hiện một thứ bản lãnh, bản lãnh đó là bản lãnh có thể giải thoát được, có thể vượt lên trên được không bị dính liú vào những việc phiền hà những  vui những buồn.  Nếu chưa có khả năng xuất ly để tâm của chúng ta trở thành bình đạm với mọi sự việc Đức Phật dạy  người đó chưa đủ sự hiểu biết và chưa đủ sự sống của một vị Samon.

 Nói cách khác, trong cái nhìn của Đức Phật chúng sanh thường tình có hưởng thụ tức là có vị ngọt, có khổ đau, có sự nguy hiểm và vượt qua khỏi những điều đó tức là có phương cách để xuất ly. Một vị tu sĩ đúng nghĩa vị tu sĩ phải có sự hiểu biết chân thật, nếu không hiểu biết về vị ngọt người đó sẽ nhìn một cách phiến diện cũng như chỉ nghĩ tới sự nguy hiểm, biết chỉ một chiều, biết chỉ một mặt không đủ và đồng thời vị này cũng phải có khả năng để vượt ra khỏi điều đó. 

Ví dụ, trong sự tranh luận. Vị ngọt của sự tranh luận là làm cho người ta có cảm giác thoả mãn, thoả mãn mình đúng, thoả mãn mình hay. Nhưng sự nguy hiểm của tranh luận là dẫn đến hơn thua, dẫn đến thù oán. Và khả năng xuất ly tức là khả năng làm sao để mình không bị cuốn hút vào sự tranh luận đó. Nếu một vị tu sĩ lúc nào cũng tranh luận hơn thua về sự hành trì, về tông phái, về thế này thế kia. Vô chùa tu chưa biết mình đạt được sự giải thoát gì nhưng qua sự tu tập của mình đầu tiên là tạo sự so đo, tạo thành một sự luận chiến tức là tạo phiền phức trong việc phải phân bua về đúng, sai, phải, quấy và làm cho mình trở lên phiền hà khổ não, là do chúng ta không hiểu sự xuất ly. Một vị tu sĩ thật sự phải hiểu được tại sao chúng sanh tham đắm vào cái gì đó? tại vì nó có vị ngọt, tại sao chúng ta khổ? tại vì nó có sự nguy hiểm, nhưng vị đó còn phải hiểu khả năng xuất ly làm sao đừng để cho  bị vướng vấp nhiều quá, đừng bị cho bị kẹt vào thế giới đó.

Chúng tôi vừa  đưa ra một thí dụ rất thường thấy trong giới tu sĩ. Mình chưa làm cho tâm được ổn định đã tự bị lôi cuốn vào những tranh luận; đây là pháp môn đúng, kia là pháp môn sai, mình tu cao, người kia tu thấp v.v..  Một khi tâm bị vướng vấp vào những chuyện đó mình không thể nào thanh thản, không thể nào định tỉnh, không thể nào sống với cuộc sống tinh thần. Đời sống đi tu, vị Samôn thật sự không phải ngồi đó để tranh hơn thua với người khác, đời sống tu sĩ thật sự không phải là đời sống để mình chứng tỏ mình cao hơn người khác, không phải, mà là khả năng bản lĩnh vượt ra khỏi những hệ lụy và những hệ lụy rất thường tình. Nếu mình vẫn tiếp tục đắm chìm trong hệ lụy đó tức là mình đang sống trong sự nguy hiểm của cuộc sống.

 Nhưng sống với sự nguy hiểm của cuộc sống mà không hiểu sự xuất ly thì Đức Phật Ngài chưa gọi người đó là một vị tu sĩ thật sự, vị Samon thật sự. 

Đức Phật Ngài cho thấy một điều, một vị Samon một vị tu sĩ thật sự phải có khả năng chứng đạt chánh trí thắng trí. Thắng trí là trí tuệ thù thắng trí tuệ vượt lên trên. Chứng đạt và an trú mục đích của Samôn hạnh. 

Chứng đạt được mục đích chính của đời sống tu là gì? Mục đích chính của đời sống tu không phải mình tu rồi mình làm trụ trì, mình có ngôi chùa lớn, mình có địa vị, mình có chức vụ. Thật sự mục đích chính của đời sống Samon hạnh  là thành tựu những giai đoạn tu tập nội tại, sự tu tập nội tại đó đủ làm cho vị đó sáng suốt, an lạc, và giảm phiền não. Nếu không thấy được điều này thật sự chúng ta xa rời mục đích của Samôn hạnh. 

Giống như một học sinh đến trường ngày nay nhiều người quá quan trọng quần áo mặc gì cho đẹp để hãnh diện với bạn bè, họ quá quan trọng vào chiếc xe, quá quan trọng vào những thú vui chơi. Nhìn bên ngoài thấy những vị đó hay nhưng thật ra mục đích của đời sống sinh viên hay đời sống đi học không phải chuyện mình đua đòi hơn thua với bạn bè, mà mục đích làm sao mình học được thật sự tốt, có điểm cao, có sự tiến bộ để hoàn tất công việc học của mình. Đời sống tu tập cũng đơn giản như vậy. Nếu một học sinh trong thời gian đi học không thấy được vị ngọt không thấy được sự nguy hiểm  và không thấy được giải pháp cho vấn đề, dễ bị lôi cuốn và những chuyện không đâu vào đâu hết.

Chúng tôi đọc một vài bài báo gần đây  họ nói về những cậu ấm con nhà giàu, cha mẹ rất giàu, và muốn chứng tỏ sự giàu có bằng cách đốt tiền bằng cách tiêu pha cực kỳ phung phí. Thật sự những điều đó làm cho người ta hãnh diện thoả mãn mình giàu mình có tiền. Nhưng với một người còn trẻ  thật sự hiểu biết thì đó không phải là điều để hãnh diện. Mình may mắn sinh ra trong gia đình giàu có tiền để tiêu pha phung phí điều đó không có gì hãnh diện nhiều. Điều đáng hãnh diện là mình còn trẻ cha mẹ tuy giàu nhưng mình biết tập trung, biết lo chuyện học hành, biết trao dồi nhân cách của mình. Nhưng ít có người nghĩ được như vậy.

Đức Phật Ngài dạy rất rõ, đời sống của một vị tu sĩ không phải là chiếc áo, không phải vai trò địa vị hay gì đó làm cho một vị tu sĩ trở thành vị tu sĩ thật sự, vị tu sĩ thật sự là thành tựu thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Samôn hạnh. Mục đích Samon hạnh là tâm giải thoát và tuệ giải thoát.  

Xuyên qua nhiều lời dạy Đức Phật Ngài đã rất rõ ràng, bản thân của Ngài khi chưa thành tựu chánh đẳng chánh giác khi chưa thành Phật thì Ngài nhìn cuộc đời này cũng là cái nhìn cuộc sống phải có ý trí nhận thức được có vị ngọt, đúng là nó có vị ngọt, nhưng mà rồi nó có nguy hiểm làm chúng sanh đau khổ, Ngài nghĩ đến  con đường xuất ly. 

Và bây giờ Ngài là một vị Phật khi trình đạt giáo pháp khi hướng dẫn người ta tu tập Ngài cũng khẳng định tương tự như vậy, thế nào là một vị Samon? thế nào là một vị tu tập thật sự? Vị tu tập là vị có hiểu biết về vị ngọt của cuộc sống, hiểu biết sự nguy hiểm của cuộc sống, hiểu biết về sự xuất ly. Không hiểu được điều đó  cuộc sống mình nghèo nàn, phiến diện, và chưa gọi là đủ để tự tại trong cuộc đời này. 

Câu chuyện tại trường thiền 

Các vị thiền sư thường nhắc nhở ngay cả với một hành giả đang tu tập vẫn có vị ngọt và sự nguy hiểm đuợc tìm thấy nhưng ở mức tế nhị hơn. Chúng tôi nhớ có một vài trường thiền như trường thiền của Ngài Axàphạ ở Thái Lan, khi bước vào trường thiền cảm giác đầu tiên sẽ rất thích thú, trường thiền được xây trên một mảnh đất rất rộng với nhiều cây cao bóng mát và đặc biệt rất nhiều hoa sứ đã được trồng từ hơn 60 năm về trước bây giờ nó trở thành những cội hoa sứ già gốc to, có hoa màu nửa vàng nửa trắng và mùi thơm hoa sứ thoang thoảng. Hầu như 4 lần chúng tôi trở lại trường thiền này vào nhiều thời gian khác trong năm chúng tôi có cảm tưởng như hoa sứ nở 4 mùa. 

Trường thiền được chăm sóc quá kỹ càng, những am thất được thiết kế tiêu chuẩn quá đẹp do vậy chúng tôi có cảm tưởng như trường thiền biến thành một khu resort một nơi nghỉ hè, những người đi tu học ở tại đây thức ăn không phải trả tiền được cung cấp mỗi ngày rất dồi dào, am thất không có điện nước nhưng tương đối cao thoáng đẹp thoải mái và những con đường đi lại có hoa cỏ có cây cao bóng mát. 

Có một lần chúng tôi đến đó nghe một vị Sư đệ tử đời thứ ba của Ngài Axàphạ hướng dẫn. Vị này nói ngay cả trong thiền viện người ta cũng dễ dàng để dính mắc với vị ngọt. Vị ngọt ở đây là cảm giác rất thanh thản, rất nhàn hạ, rất đẹp, rất hữu tình của những con đường đi lại của hoa sứ của am thất. Nhưng mà rồi cũng có sự nguy hiểm, sự nguy hiểm ở tại đây là hành giả cũng có thể tự mình sống trong một thế giới mà nó quá tế nhị, nó quá thanh thản, nó quá tốt để con người hưởng sự nhàn hạ sanh ra dính mắc rồi sanh ra không tinh tấn, nó có sự nguy hiểm.

 Vị này nhắc nhở một người tu tập là phải thấy được bịnh của mình, mình sống có khi nay bịnh mai đau hay có những thay đổi về tâm lý lúc vui lúc buồn và phải nhận ra được sự vô thường của thân và tâm để tinh tấn tu tập. Nếu chúng ta vào trong trường thiền ở trong một khung cảnh thoải mái dễ chịu  không khéo chúng ta chỉ hưởng được sự nhàn hạ hay hoặc giả chúng ta sẽ bị rơi vào sự nguy hiểm khi tâm của chúng ta bị phiền lụy về những cái không được như ý. Và khả năng của một hành giả ở trong trường thiền là phải đối diện, phải tiêu hóa, phải hóa giải được những phiền hà hệ lụy. Trong mọi cuộc sống bắt buộc chúng ta phải đối diện với trạng huống tương tự. 

Câu chuyện tại Mỹ. 

Chúng tôi qua Mỹ năm 1980, khi đó được lái xe một mình đi đến nơi này nơi khác ở trong miền Nam California, cảm thấy hạnh phúc, thấy thật sự mình được tự do, thật sự sống trong xã hội tiến bộ. Nhưng, trong thế giới đó cũng có bao nhiêu thứ nguy hiểm,  phiền lụy giữa con người với con người, giữa những nhu cầu. Cũng có người thấy nước Mỹ như  một thiên đường, cũng có nhiều người nghĩ ở Mỹ có vị ngọt. Thí dụ, một người đi làm chỉ một ngày ở Mỹ  họ có thể mua một chiếc xe đạp, ở Việt Nam không cách gì đi làm chỉ một ngày mua được chiếc xe đạp, thậm chí ở đây có nhiều người chỉ đi làm một giờ cũng đủ mua một chiếc xe đạp, hoặc có người đi làm một ngày mua được cái TV. Ngày xưa lúc chúng tôi còn nhỏ ở VN cái TV trắng đen là tài sản lớn của đời người không dễ gì mua được, bây giờ đi làm mua được cái TV. Tuy nhiên ở bên Mỹ lại có bao nhiêu bi kịch, đủ thứ bi kịch từ trong gia đình ra ngoài xã hội chứ không phải đơn giản chỉ có vị ngọt không có sự nguy hiểm. Và để sống giữa cuộc đời này, giữa hai mặt nguy hiểm và vị ngọt mình có thể tồn tại ở trong sự thanh thản, có thể có những giây phút thắp một nén nhang trước bàn Phật, tụng một thời kinh, ngồi thiền, hoặc giả chúng ta đang ngồi đây để cùng nhau đọc lại những lời Đức Phật dạy, suy niệm lời của Đức Phật dạy, có những giây phút tương đối không bị vướng vấp bị kẹt vào những chuyện bên ngoài, thì không đơn giản. 

Câu chuyện cổ tích

Chúng tôi nói về một chuyện giản dị nhất đó là chuyện cổ tích. Thi dụ, ngày xưa chúng ta hiểu những câu chuyện cổ tích bà mẹ dạy con đi đường phải cẩn thận, em bé thì ngây thơ và con đường đi rất đẹp có hoa có bướm, nhưng cũng có sự nguy hiểm, có những loài lang sói, có những con sói  như vị phù thủy nó có thể dụ em bé, cuối cùng bắt em bé. Đôi khi trong một chừng mực nào đó đời sống của chúng ta giống như một em bé nhỏ ngây thơ đi lang thang ở đời trên con đường nhìn thấy bao nhiêu thứ hoa thơm cỏ lạ, có hoa có bướm đẹp, cũng có những nguy hiểm đang trực chờ phải làm sao đi đến nơi về đến chốn, phải làm sao để không  bị rơi vào sự nguy hiểm. Đó là điều trong chuyện cổ tích chúng ta thường đọc.

Sáng hôm nay chúng ta thức dậy bắt đầu một ngày mới, ngày mới có thể cho chúng ta niềm vui vị ngọt nhưng chúng ta đừng quên có bao nhiêu nguy hiểm đang trực chờ. Khả năng kéo tâm tư của mình về thực tại, khả năng ý thức được vô thường bất toại và vô ngã trong đời sống, khả năng để sống tỉnh táo tỉnh thức với cái vui cái buồn với vị ngọt của nguy hiểm, khả năng đó là khả năng của vị hành giả tu tập của đời sống Samon hạnh. Khả năng để có thể bình tâm  để giữ tâm mình bình đạm trước những xáo trộn và những chi phối về vị ngọt của đời sống điều đó không phải là chuyện đơn giản. Chúng ta thường vui rất nhiều và khổ rất nhiều, chúng ta thường đưa mình lên tận mây xanh tận đỉnh cao của vị ngọt rồi chúng ta bị lôi xuống vực thẳm của khổ đau. Đời sống đôi khi có sự xáo trộn cực kỳ nó xé chúng ta thành hai ba mảnh đời và nó đưa chúng ta vào một hành trình vô định, và chính chúng ta đôi lúc giống như một con thuyền hay một chiếc lá bị cuốn theo giòng cuồng lưu và bản thân mình không thể cầm tay lái được.

 Thì ở đây Đức Phật Ngài luôn luôn nhắc chúng ta đời sống Samon và bản lãnh của Samon là khả năng có đủ sự hiểu biết về vị ngọt, về nguy hiểm, về xuất ly, vị đó có khả năng thành tựu được thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích Samon hạnh trong đời sống này. 

 Đức Thế Tôn đặc biệt Ngài giảng bài kinh này với một cách trình bày Samon hạnh. thế nào là một vị Samon thật sự, và qua đó Đức Phật cũng đề cập đến 3 điểm của một người tu đúng nghĩa, một vị Samon đúng nghĩa, một vị Samôn theo Đức Phật dạy là một người có khả năng hiểu biết vị ngọt của đời sống, sự  nguy hiểm của đời sống, và sự xuất ly của đời sống, thành tựu được thắng trí chứng đạt và an trú mục đích của đời sống Samon ngay  trong hiện tại này ./.

Monday, March 21, 2016

Tôn Giả Ratthapala - Tăng Chi Bộ - Chương 1

Tôn Giả Ratthapala  - Tăng Chi Bộ - Chương 1 

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 22-2-2016, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Thời Đức Phật còn tại thế tại một vùng đất những người dân có duyên lành đặc biệt với thiền Tứ Niệm Xứ hay Thiền Quán, vùng đất  tên  Kuru. Vùng đất đó ngày nay người Ấn Độ đặt thủ đô là Tân Đề Ly, nơi này vẫn còn có bia ký của vua A Dục đánh dấu nơi Đức Thế Tôn đã thuyết trình kinh Đại Niệm Xứ. Người Kuru đặc biệt mỗi khi gặp nhau thường hỏi nhau "anh chị có thực hành Tứ Niệm Xứ không? có đạt được tiến bộ gì không?" Và việc hành thiền đã trở nên một sự  thực hành rất phổ cập tại đây. 

Tại Kuru một lần Đức Thế Tôn về thuyết pháp, một số đông các vị Balamon đến đảnh lễ Đức Thế Tôn và nghe Ngài thuyết pháp họ rất hoan hỉ, sau khi nghe pháp xong họ đảnh lễ Đức Phật đi về, riêng một thanh niên trẻ tuổi ở lại không về, thanh niên đó đúng với chữ trong kinh thường đề cập kulaputta nghĩa là một thiện gia nam tử trong từ chữ Hán. Thiện gia nam tử chỉ cho một người xuất thân từ trong một gia đình gia giáo còn trẻ có đầy đủ những điều kiện tốt đẹp của đời sống nhưng lại là một người được hấp thụ đầy đủ về giáo dục và rất có thiện tâm, Ratthapala là một thiện gia nam tử như vậy. 

Thanh niên trẻ tuổi đó đến trước Đức Phật đảnh lễ Ngài và khẩn khoản xin được xuất gia bởi vì vị này sau khi nghe pháp hiểu rằng chỉ có đời sống xuất gia mới có thể thực hành phạm hạnh viên mãn được, đời sống gia đình rất khó. Đức Phật Ngài rất hoan hỉ, Ngài dạy  trước khi xuất gia cần phải về nhà xin phép cha mẹ. Ratthapala đảnh lễ Đức Phật  và bạch sẽ làm tất cả những gì cần làm để có được sự chấp thuận của cha mẹ cho đi xuất gia. 

Thanh niên Ratthapala trở về nhà thưa với cha mẹ về ý định của mình mong cha mẹ chấp nhận. Phản ứng đầu tiên Ratthpala tìm thấy ở cha mẹ là sự phủ quyết, sự phản đối mạnh mẽ. Cha mẹ Ratthapala nói: "Con là con trai duy nhất của ta, con muốn tạo phước thì đây là tiền, đây là của, con muốn làm phước như thế nào cũng được nhưng con không thể đi xuất gia được, tại vì con là con độc nhất trong gia đình". 

Với một sự phản đối mạnh mẽ gần như không có cách gì có thể lay chuyển, công tử Ratthapala đành phải dùng cách tuyệt thực. Ratthapala đã ngồi một chỗ không ăn không uống và nói: " Con sẽ không ăn không uống và sẽ không rời chỗ này cho đến khi được phép của cha mẹ đi xuất gia". 

Ban đầu cha mẹ Ratthapala nghĩ cứ để yên như vậy một lúc thì đói khát  Ratthapala chắc chắn sẽ bỏ cuộc. Nhưng mà không, từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều, từ chiều đến tối Ratthapala vẫn ngồi yên bất động. Bấy giờ bà cụ  xót xa, tại vì chưa bao giờ thấy con mình nhịn đói nhịn khát trong một thời gian dài như vậy, hai ông bà lại nghĩ một điều  bây giờ phải nhờ những người bạn. Ratthapala có rất nhiều bạn bè bởi vì là một thanh niên trẻ  giàu có hoạt bát do đó bạn bè đông, Ông bà gọi những người bạn đến, những người bạn này được yêu cầu khuyên nhủ Ratthapala thay đổi ý định. Nhưng mà rồi khuyên nhủ không được, không ai có thể thay đổi ý tưởng của   Ratthapala.

Cha mẹ của vị công tử nhận ra một điều chỉ còn một cách duy nhất cho vị này đi xuất gia rồi sau đó tìm cách để kéo trở về. Cha mẹ Ratthapala cũng nghĩ rằng  cho Ratthapala xuất gia cũng còn có hi vọng Ratthapala không chịu được những gian khổ của đời sống không nhà không gia đình và sẽ trở về với đời sống thế tục.

Cuối cùng công tử Ratthapala đạt được yêu cầu đó là sự đồng ý của cha mẹ cho đi xuất gia. Ratthapala trở lại gặp Đức Thế Tôn, Đức Phật Ngài đã cho phép thọ đại giới. Rất nhanh chóng sau đó không lâu với sự  hướng dẫn chỉ dạy của Đức Phật Ratthapala thành tựu quả vị viên mãn giác ngộ giải thoát trở thành vị Alahán.

 Nhưng câu chuyện mang đầy kịch tính của  vị tỳ kheo trẻ tuổi Ratthapala không dừng lại ở đó, chúng ta được Tôn Giả Ananda tiếp tục kể lại.

Có một lần Tôn Giả Ratthapala đi ngang căn nhà  nơi mình đã lớn lên từ thời thơ ấu. Cha của Tôn Giả Ratthapala đang ngồi phía trước cửa thấy ở xa có một vị Samon khất thực mang bình bát đi đến, ông nổi cơn giận, ông nghĩ trong lòng chính do những ông thầy tu này mình mất đi đứa con yêu qúi. Ông quay lưng vào trong nhà, ông nói với những người gác cổng: "Thấy ông thầy tu từ xa đi đến không? Chính vì ông thầy tu như vậy ta mất một đứa con do đó khi nào ông thầy đi ngang qua các ngươi phải to tiếng chửi".

Vì  ông chỉ thấy Ratthapala từ xa do đó chưa nhận  ra đó là con của mình, và vì quá bực ông đã ra lệnh cho những người khác chửi bới xỉ vả cũng vì ông không biết đó là con của mình. Những người gác cổng phải nghe lời ông chủ khi Ngài Ratthapala đi ngang nhà họ dùng nhiều lời thậm tệ chửi mắng Ngài. 

Tất nhiên, là một vị Samon một vị Alahan khi bị người khác chửi mắng đó không phải việc làm cho Ngài xao xuyến. 

Một chuyện xảy ra là khi Ngài đi ngang qua nhà đến một bãi cỏ tương đối lớn, Ngài gặp một người nữ tỳ đang bưng một thau cháo đi đổ. Gia đình của Ngài Ratthapala rất giàu có, người Ấn Độ ít khi nấu ăn dư thừa, thường họ nấu canh rất kỹ nhưng những gia đình giàu có thường mời người này người kia đến và để có đủ số thức ăn cho tất cả mọi người họ thường nấu dư,  đó là dấu hiệu của gia đình giàu có, và có một điều khác nữa người ta không ăn thức ăn qua đêm lý do thời đó không có tủ lạnh những thức ăn nấu với sữa  để qua đêm thường bị hư nên thức ăn thừa đổ đi cũng là dấu hiệu của người giàu có. Và khi đem đổ người ta không đổ trong nhà vì sợ nó hôi, họ đổ xa. Thì Ngài thấy một người gia nhân ở trong nhà của mình trước kia muốn đổ bỏ cháo Ngài mới nói: "này chị, nếu phải đổ bỏ cháo này thì hãy đổ vào bát của tôi" . Tại vì Ngài biết cháo đó vẫn còn ăn được người ta muốn đổ đi là tại vì ở trong nhà không muốn ăn đồ cũ. Ngài nói: "cứ đổ vào bát của tôi". Người nữ tỳ nhìn lên thấy Ngài bởi vì nghe được giọng nói của Ngài người tỳ nữ nhận ra đó chính là thiếu gia, chính là vị thiếu chủ mình đã từng chăm sóc khi còn là một cư sĩ. 

Người nữ tỳ sớt cháo vào trong bình bát của Tôn Giả một cách lễ độ và nhanh chóng chạy về nhà gặp mẹ của Ngài Ratthapala thưa với bà cụ: "Thưa Tôn Mẫu, Tôn Mẫu có biết là công tử đã trở về không?" 

Khi nghe người nữ tỳ nói như vậy mẹ của Ngài Ratthapala nói với người nữ tỳ:  "Nếu thật sự là Ratthapala về thì con sẽ không còn là người ở đợ trong nhà của ta nữa". Ý muốn nói nếu Ratthapala thật sự trở về thì bà sẽ cho tiền người nữ tỳ trở về lập nghiệp để trở thành một người có đời sống tự lập độc lập không còn thân phận người nữ tỳ nữ. 

Câu nói đó thể hiện thể hiện tình thương bao la của bà mẹ, mừng lắm, vui lắm khi được nghe đứa con trở về. Bà đi đến cha của Ngài Ratthapala hỏi: "Ông có biết con trai mình trở về không?" Khi ông nghe nói con trai mình đã trở về ông vội chạy ra đường và đi theo hướng người nữ tỳ nói, từ xa ông thấy một vị Samon ngồi dựa vào bức tường, mau chóng ông nhận ra đó là đứa con trai của mình Ratthapala đang ngồi trong sự thanh tịnh yên lặng thọ thực, thực phẩm đó chính là phần cháo trong nhà  biểu người nữ tỳ đem đổ. 

Ông chạy đến nói: "Này con thân yêu, có phải con đang ăn cháo bị đổ bỏ không? Đây là nhà của con tại sao con không vào nhà?" Câu nói đó của người cha nói lên đủ tất cả sự thương yêu của bậc cha mẹ đối với đứa con của mình.

Ngài Ratthapala từ tốn trả lời: "Đối với đời sống Samon chỗ nào cũng là nhà".

Câu nói đó là một câu nói rất hay về sau này có một nhà thơ viết câu này thành một bài thơ rất đẹp:

 "Trong trời đất nơi nào không quán trọ,
 tâm tư vô danh lai khứ cũng vô danh."

Chúng ta có câu nói  "bốn biển là nhà". Nhưng câu nói ở đây,  với vị Samon  đã xuất gia rồi thì không có nhà, đã từ bỏ gia đình rồi thì không có nhà nữa. Thật ra một sự khác biệt giữa vị tu sĩ Bàlamon và Samon. Đời sống Samon là đời sống từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống không nhà. 

 Ngài Ratthapala nói Ngài có đi ngang nhà nhưng không nhận được thực phẩm, chỉ nghe những lời chửi mắng thôi. 

Cha của Ngài nói bây giờ hãy về nhà tại vì lúc đó không biết, bây giờ hãy về nhà. 

Tôn Giả Ratthapala nói hôm nay thọ thực như vậy đã đầy đủ rồi, Ngài nói hôm nay Ngài ăn cháo vậy là đủ rồi. 

Cha của Ngài nói "vậy ngày mai đến nhà dùng cơm". Đó là lời mời trai tăng và Tôn giả im lặng, sự im lặng là cách nhận lời của những đệ tử Phật, và  chính Đức Phật cũng đã như vậy. 

Cha của Tôn Giả Ratthapala lập tức trở về nhà gọi những người trong nhà chuẩn bị những gì cần thiết. Ông cho dọn dẹp trang trí nhà rất đẹp, nhà đã giàu đã đẹp rồi bây giờ phải làm cho đẹp thêm, đặc biệt trong nhà được trang trí bằng hai đống vàng đống bạc. Ngày xưa người ta không dùng tiền giấy như chúng ta bây giờ,  họ dùng vàng và bạc. Và vàng và bạc được chất thành đống lớn được những tấm màn để che lại giống như một cách để trang trí. Cha của Ngài cũng gọi những người vợ cũ của Ratthapala, trước khi Ratthapala đi xuất gia cha Ngài cũng đã tìm những mỹ nữ những người đẹp về đề làm vợ cho đứa con trai của mình. Ông dặn những người vợ này hãy trang điểm thật đẹp, mặc đẹp với những bộ quần áo đẹp ngày xưa đã từng được Ratthapala ưa thích. 

 Đêm đó Ngài ngủ ở ngoài rừng dưới một cội cây. Sáng hôm sau Tôn Giả Ratthapala từ chỗ nghỉ của mình đi đến ngôi nhà xưa  để làm theo lời hứa với người cha đến để nhận thực phẩm trai tăng. Khi Ngài Ratthapala đến trong nhà đã soạn một chỗ ngồi giống như ở trong nhà thường mời các vị Balamon đến ăn cơm. Người Ấn Độ rất quen thuộc với nghi thức này, thỉnh thoảng họ mời các vị tu sĩ đến nhà dùng cơm, cho đến bây giờ cũng như vậy, những vị đi học ở Ấn Độ lâu lâu cũng được các người Balamon mời đến nhà ăn cơm. 

 Khi Tôn Giả ngồi xuống, cha của Ngài gọi các gia nhân kéo những tấm màn lêm, khi hững tấm màn được kéo thì hiện ra những đống vàng ngọc ngà châu báu thật lớn, lớn đến nỗi Ngài sống trong gia đình giàu có mà Ngài chưa thể tưởng tượng là trong nhà có tiền bạc nhiều như vậy, lâu này cha của Ngài chưa bao giờ mang vàng bạc ra chất đống nhiều như vậy.  

Người cha nói với Tôn Giả Ratthapala bằng tất cả sự thương yêu của người cha: "Này con Ratthapala, đây là tiền tài là gia sản của mẹ, của cha, của tổ tiên, con có thể hưởng thụ vật chất những gì con muốn và đồng thời làm các công đức làm các việc phước đức, con hãy rời bỏ đời sống xuất gia hoàn tục để hưởng thụ các tài vật và làm các phước thiện". 

Ý người cha muốn nói chỉ cần Ratthapla hoàn tục tất cả tài sản này giao hết cho Ratthapala  có quyền hưởng thụ và cũng có thể làm phước nếu  qúi đạo, thi dụ như qúi đời sống hiền thiện thì Ratthapala có thể làm công đức được.

 Ngài Ratthapala đã nhẹ nhàng nhưng rất rõ ràng Ngài nói : "Thưa gia chủ, nếu thật sự gia chủ có thể làm theo lời của bần đạo đem tất cả vàng bạc châu báu này đổ xuống giữa giòng sông Hằng tốt hơn, bởi vì chính những thứ tài sản này làm cho gia chủ sầu bi khổ ưu não nhiều.""

 Ngài nhìn từ góc cạnh của người xuất gia do sự giàu có hưởng thụ con người sanh ra phiền não và sống trong phiền não thì sanh sầu bi khổ ưu não." 

 Khi nghe Ngài nói như vậy những người vợ cũ của Ngài chạy đến ôm chân Ngài hỏi: "Thưa phu quân có phải vì một thiên nữ nào đó phu quân sống phạm hạnh không?"

  Ý muốn nói có phải vì Ngài mơ ước sanh về cõi trời để sống với một thiên nữ nào, hay nói cách khác vì một người nào đó đẹp hơn những người vợ cũ Ngài đi xuất gia chăng, sống phạm hạnh chăng?. 
  
  Ngài Ratthapala không nói không phân bua nhiều, Ngài nói: "Này các chị, không phải vì thiên nữ nào mà chúng tôi sống phạm hạnh". 
  
  Những người vợ nghe Ngài Ratthapala kêu mình bằng chị thì mấy vị đó xỉu liền ngã ra bất tỉnh là tại vì chưa bao giờ Ngài Ratthapala gọi những người vợ bằng chị hết. 
  
  Kế đó Tôn Giả Ratthapala nói với cha của Ngài: "Này gia chủ nếu Ngài muốn bố thí đồ ăn thì xin cứ cho đồ ăn và xin đừng phiền nhiễu". 
  
  Người cha thấy Ngài dứt khoát như vậy bèn nói với những người trong nhà  dọn thực phẩm cho Ngài ăn. Những người trong nhà mang thức ăn rất ngon, thức ăn thượng vị được chuẩn bị rất kỹ lưỡng để cúng dường Ngài Ratthapala.
  
   Sau khi thọ thực xong Ngài Ratthapal đứng dậy và Ngài  nói một bài kệ, bài kệ rất đẹp, bài kệ được Tôn Giả Ananda nghe và trùng tuyên lại, bài kệ này lẽ ra dịch là thơ thì rất là hay. Bài kệ đã ảnh hưởng của chúng tôi, bài kệ này đã đi vào trong tuổi thơ của chúng tôi. Thật ra khi TT Tuệ Siêu và chúng tôi còn nhỏ vào chùa đọc những bài kinh này có thể những bài kinh đọc rất  sớm từ lúc mới vô chùa, bài kệ đã để lại một ấn tượng rất lâu dài rất đẹp.
  
Hãy nhìn hình bóng trang sức này, 
Một nhóm vết thương được tích tụ, 
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều, 
Nhưng không gì kiên cố, thường trú. 

Hãy nhìn dung mạo trang sức này, 
Với các châu báu, với vòng tai, 
Một bộ xương được da bao phủ, 
Được y phục làm cho sáng chói. 

Chân được sơn với son với sáp, 
Mặt được thoa với phấn, với bột, 
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu, 
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác. 

Tóc được uốn bảy vòng, bảy lớp, 
Mắt được xoa với thuốc, với son, 
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu, 
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác. 

Như hộp thuốc trang hoàng mới mẻ, 
Là uế thân được điểm thời trang, 
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu, 
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác. 

Người thợ săn đặt bày lưới sập, 
Loài nai (khôn) chẳng chạm bén chân, 
Ăn lúa xong, chúng ta lên đường, 
Mặc cho kẻ bắt nai than khóc. 

  Ngài đọc câu kệ như vậy với phong thái thoát tục nhẹ nhàng.
  
   Sau đó Tôn Giả Ratthapala rời khỏi ngôi nhà của mình, nơi đó có cha có mẹ có những người vợ cũ có cả một gia sản khổng lồ bạc vàng châu báu. Ngài đi đến một vườn có cây cao bóng mát, là một công viên do vua Koravya tạo nên để thỉnh thoảng đến nghỉ mát. 
   
   Cũng trong bài kinh này lại có thêm một phần đối thoại, phần đối thoại này không mang nhiều kịch tính nhưng lại có ý nghĩa rất đẹp và ý nghĩa này cũng thường được các vị Giảng Sư nhắc lại.
   
    Hôm đó vua Koravya muốn đi đến vườn, đây là một khu vườn nhiều nai  với cây cao bóng mát thỉnh thoảng nhà vua đến để săn bắn. Những vị vua giàu có họ thường có một khu rừng riêng  những khu rừng đó người ở bên ngoài không được phép đến săn bắn, chỉ có nhà vua lâu lâu đến đó để săn bắn, đi săn bắn chỉ là thú vui của các vị vua. 
Hôm đó nhà vua đến khu vườn để săn có một người thợ săn đi theo nhà vua, khi đến vườn nai người thợ săn nhận ra Ngài Ratthapala và thưa với nhà vua là ở trong vườn nai đã chuẩn bị sẵn sàng cho nhà vua đi săn nhưng tại vì trong vườn nai có Tôn Giả Ratthapala đang thiền định ở dưới một gốc cây. 
Lời nói của người thợ săn có 2 ý nghĩa: một là trước khi nhà vua đi săn thì người thợ săn đi dò thám trước thấy hôm nay có những con nai sẵn sàng để bắn, và điểm thứ hai người thợ săn cũng thưa rằng ở tại đó có một vị samon, vị samon này thợ săn biết là Tôn Giả Ratthapala. Bởi vì khi Ngài Ratthapala đi xuất gia chấn động cả kinh thành, con trai của một gia đình giàu có là một vị công tử kiến văn quảng bác và có tương lai sáng lạng từ bỏ gia đình sống đời sống không gia đình nên rất nhiều người biết Ngài, và hôm nay thì ở trong chiếc áo của vị Samon Tôn Giả Ratthapala đang ngồi thiền định ở trong rừng người thợ săn có hàm ý rằng vì sự có mặt của Ngài nên chuyện đi săn là không hợp lý. 
Vua Koravya là một vị vua có đạo đức, khi nghe người thợ săn nói như vậy vua nói người thợ săn hôm nay mình đi vào rừng như vậy là đủ rồi đừng săn bắn, hãy đem những thức ăn ngon đem đến cúng dường cho Tôn Giả (Vì khi đi săn tùy tùng của nhà vua mang theo thức ăn ngon để nhà vua dùng).
Nhà vua cùng đoàn tỳ tùng đi đến chỗ Tôn Giả Ratthapala và nhà vua thấy phong thái của Tôn Giả nhà vua cũng hiểu đó là một vị công tử giàu đi xuất gia nên nhà vua sai mang nệm  da rất đẹp của vua để xuống mời Tôn Giả ngồi, nhưng Tôn Giả từ chối và Tôn Giả nói đủ rồi. 
 
Câu đầu tiên vua Koravya hỏi Tôn Giả  Ratthapala:

- Thường thường người ta đi tu do 4 điều suy vong:
 1. là lão suy vong tức là già rồi, tức là khi còn trẻ thì oanh liệt bây giờ già mình không còn oanh liệt tự nhiên mình nản mình đi xuất gia.

 2. Bệnh suy vong. Là con người mình không được khỏe, mình mang bệnh thì mình đi tu cho rồi.

  3. Tài sản suy vong. Mình đến thời nào đó tự nhiên công ăn việc làm thất bại, tán gia bại sản nản đời người ta đi tu.
  
  4. Thân tộc suy vong.  Gia đình vì lý do gì đó tan nát bị chết vì thiên tai hoả hoạn hay gì đó, bây giờ tứ cố vô thân nên đi tu. 
  
Nhà vua nghĩ người ta đi tu do  4 sự suy vong: lão suy vong, bệnh suy vong, tài sản suy vong, thân tộc suy vong. 

Ở đây, không có chuyện vì thất tình giống như chuyện tình Lan và Điệp rồi đi tu bởi vì ở bên Ấn Độ chuyện đó không có. Ở Ấn Độ một người giàu có khi nào họ muốn cưới vợ thì cưới vợ thôi chứ không đến đỗi phải đi tu như vậy. Ở đây chuyện thất tình đi tu không có nói mà nói người bị già,  bị bệnh, bị tài sản khánh kiệt, hay bị gia đình tan nát nên đi tu. 

Nhà vua cũng nói thêm về những quan niệm của mình sau đó nhà vua nói nếu dựa trên 4 điều này Tôn Giả không có điều nào trong đó hết, Tôn Gỉa còn rất trẻ, rất khỏe và gia đình rất giàu có, và gia đình còn đầy đủ cha mẹ đầy đủ người thân, không có 4 suy vong đó tại sao lại đi tu. 

Ít bao giờ có một người hỏi, sau lời hỏi đó lại là một lời trình bày rất li chi cặn kẽ như nhà vua. Có lẽ nhà vua thấy vị này còn trẻ tuổi khỏe mạnh giàu có gia tộc đông đảo lại đi xuất gia phải có cái gì đặc biệt nên nhà vua đã hỏi rất cặn kẽ.

 Cái hay của Tôn Giả Ratthapala là Ngài cũng dùng 4 điều để trả lời cho nhà vua, nhà vua đã nêu lên 4 điều người đời thường đi xuất gia Ngài Ratthapala cũng nói lên 4 điều vì sao Ngài đi xuất gia.

Lời đầu tiên của Ngài Ratthapala Ngài nói rằng: Có 4 điều được Đức Thế Tôn giảng dạy, Đức Thế Tôn là bậc Trí Giả, kiến giả, là bậc Alahan Chánh Đẳng Chánh Giác, do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe 4 điều giảng dạy ấy tôi xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. 

 Ngài trình bày: 
1.  điều đầu tiên là "Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt". Thế giới này dù là đẹp, là xấu, là nhỏ, là lớn, là thực vật, động vật thì tất cả những gì hiện hữu trên thế giới này đều có chung cuộc đó là sự hoại diệt theo luật sanh diệt. "Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt".

2. Điều thứ hai Ngài nghe từ Đức Phật, ngài hiểu, Ngài nhận thức  hoàn toàn đó là "Thế giới là vô hộ vô chủ".

3 Điều thứ ba. "Thế giới là vô sở hữu ra đi bỏ tất cả".

4. Điều thứ tư. "Thế giới là khiếm khuyết, nô lệ cho tham ái".

 Khi chúng ta nói: 

 - "Thế giới là vô thường đi đến chỗ hủy diệt" ý muốn nói tất cả mọi thứ đều có chung cuộc là sự hoại diệt. 
 - "Thế giới là vô hộ vô chủ" là không ai làm chủ, không ai có thể bảo vệ được bởi vì nó đi theo tự tánh riêng của nó.
 - "Thế giới là vô sở hữu ra đi bỏ tất cả", cái gì mình tích tập, cái gì mình có được, cái gì mình thủ đắc mình ra đi thì bỏ hết tất cả. 
 - "Thế giới là nô lệ cho tham ái" mỗi chúng ta có bao nhiêu cũng không đủ và tiếp tục nô lệ cho lòng  tham của mình. Đó là khiếm khuyết nô lệ tham ái. 

  Ngài Ratthapala đã nghe được, học được điều này từ chính Đức Thế Tôn 4 điều này.

 Phần chánh kinh Ngài giảng cho vua Koravya:

  Điều đầu tiên thế nào là  thế giới là vô thường đi đến hủy diệt:    
– Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào ? Khi Ngài 20 tuổi, hay 25 tuổi, Ngài có thiện nghệ về voi, thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc?
Thì nhà vua xác nhận là có 

Thưa Đại vương. Ngày hôm nay Đại Vương còn có sự mạnh khỏe trẻ trung thời còn trai tráng không? 

nhà vua Koravya trả lời:

Không như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, nay tôi đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung, gần 80 tuổi thọ. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Ratthapala, tôi nghĩ: "Ở đây, ta sẽ bước chân", nhưng tôi lại bước chân tại chỗ khác.

  - Chính liên hệ với nghĩa này, này Đại vương, Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt", và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
  
Nhà vua hỏi tiếp:

Khi nói "Thế giới này vô hộ vô chủ". Nhưng thưa Tôn giả Ratthapala, ở vương quốc này, có đội quân voi, cũng có đội quân ngựa, cũng có đội quân xa, cũng có đội quân bộ, nếu chúng tôi gặp nguy khốn thời các đội quân bảo vệ chúng tôi. Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ", ý nghĩa của lời nói này, cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala ?

Nhà vua thấy mình được bảo vệ kỹ càng tại sao thế giới lại vô hộ vô chủ. 

Tôn Giả Ratthapala mới hỏi rằng:

Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào ? Đại vương có mắc chứng bệnh kinh niên nào không ?

Nhà vua nói là nhà vua có bệnh. 

Và nhà vua có những người thân không?

- Dạ có.

- Khi nhà vua bệnh nhà vua có người thân thì trong lúc nhà vua đang đối diện với bệnh tật đang đối diện với cái chết thì nhà vua nghĩ rằng những người thân thuộc đó, những bạn thân đó những người trong hoàng thân quốc thích những người nhà vua rất thương yêu họ cũng rất thương yêu nhà vua họ có chia sẻ được cái bệnh của nhà vua không?, có làm cho nhà vua khỏi chết không? 

Thì nhà vua trả lời thành thực là không. 

Như trong kinh Pháp Cú có câu nói: 

Một khi thần chết hiện về 
Nào ai có thể chở che cho mình
Thân nhân dẫu có chí tình
Ngậm ngùi chỉ biết đứng nhìn khóc thôi.

Ở đây Ngài Ratthapala dùng hình ảnh khi nhà vua bị bệnh thì những người thân của ông dầu có thương đến đâu cũng không làm gì được và chính vì ý nghĩa đó Đức Phật dạy "thế giới này vô hộ vô chủ". 

Nhà vua đồng ý với điều đó. Nhà vua hỏi tiếp:

- Trong vương quốc này rất giàu có, bản thân của nhà vua và nhiều người hãnh diện thấy mình có rất nhiều tại sao nói thế giới này vô sở hữu ra đi bỏ tất cả.

Ngài Ratthapala một lần nữa lại nhắc rằng tất cả tài sản và vàng bạc sau khi mất đi thì sẽ bỏ lại trao tay cho người khác không ai mang theo được, nhà vua cũng đồng ý.

 Sau cùng Ngài giải thích về "thế giới là khiếm khuyết nô lệ cho tham ái". Ngài Ratthapala hỏi nhà vua về một tâm trạng là "nhà vua đã có một vương quốc phú cường nhưng khi nghe nói phía Đông, phía Nam, phía Tây, phía Bắc có những quốc gia nhỏ đất đai màu mỡ ,có vàng bạc châu báu, nhưng nền quốc phòng yếu. Nhà vua có ý định đến xâm chiếm mở mang bờ cõi không?"

 Nhà vua trả lời là có.

 Không biết bao nhiêu là đủ, mình có vương quốc giàu có rồi nhưng nghe người ta có được mình vẫn muốn chiếm đoạt thì Tôn Giả Ratthapala gọi đó là "Thế giới là khiếm khuyết nô lệ cho tham ái".

Khi nghe Tôn Giả Ratthapala trình bày 4 điều này nhà vua đặc biệt hoan hỉ phát tâm trong sạch. Ở tuổi gần 80 tuổi nhà vua đã có rất nhiều nhưng chính ở tuổi 80 nhà vua lại học hiểu được những điều gọi là lẽ thật của cuộc sống mà chúng ta gọi là chân lý vi diệu. Chân lý đó không có gì dấu diếm hay không minh bạch mà là nó rất rõ ràng, thì đó là một điều vi diệu. 

Sau khi Tôn Giả Ratthapala giảng cho nhà vua nghe xong thì Ngài đọc một bài kệ:

Ta thấy người giàu sang ở đời, 
Có của vì si không bố thí. 
Vì tham, họ tích tụ tài vật, 
Và chạy theo dục vọng càng nhiều. 
Dùng bạo lực, chinh phục quả đất, 
Vua trị vì cho đến hải biên, 
Không thỏa mãn bờ biển bên này, 
Và chạy theo bờ biển bên kia. 
Vua cùng rất nhiều loại người khác, 
Ái chưa ly, mạng chung đã đến, 
Bị thiếu thốn, không bỏ thân họ, 
Không thỏa mãn lòng dục ở đời. 
Quyến thuộc tán loạn, khóc người ấy: 
"Than ôi, người ấy không bất tử ! ". 
Mạng thân người ấy vải bao phủ, 
Họ đốt lửa làm lễ hỏa thiêu. 
Bị thọc với cây, người ấy cháy, 
Độc mảnh vải, bỏ tiền của lại. 
Ở đây, quyến thuộc cùng thân hữu, 
Không nơi nương tựa cho kẻ chết. 
Kẻ thừa tự, nhận mang tài sản, 
Riêng con người, theo nghiệp phải đi, 
Tiền của đâu có theo người chết, 
Cả vợ con, tài sản, quốc độ. 
Tài sản không mua được trường thọ, 
Phú quý không tránh được già suy, 
Kẻ trí nói đời này thật ngắn, 
Thật vô thường, biến đổi luôn luôn. 
Kẻ giàu, kẻ nghèo đều cảm xúc, 
Người ngu, kẻ trí đồng cảm thọ, 
Kẻ ngu bị ngu đánh nằm ngã, 
Bậc trí cảm xúc, không run sợ. 
Do vậy, trí tuệ thắng tài vật, 
Nhờ trí, ở đây được viên thành. 
Không thành mãn trong hữu, phi hữu, 
Kẻ ngu tạo tác các ác nghiệp. 
Nhập thai thác sanh thế giới khác, 
Người ấy luân hồi, tiếp tục sanh, 
Kẻ thiểu trí chắc hẳn phải là 
Nhập thai và sanh thế giới khác. 
Như kẻ trộm bị bắt khi trộm, 
Ác tánh hại mình do tự nghiệp, 
Chúng sanh cũng vậy chết đời khác, 
Ác tánh hại mình, do tự lực. 
Dục vọng nhiều loại, ngọt, khả ái, 
Nhiễu loạn tâm dưới nhiều hình thức, 
Thấy hoạn nạn trong dục trưởng dưỡng, 
Nay tôi xuất gia, tâu Đại vương ! 
Như quả từ đây, người bị rụng, 
Cả già lẫn trẻ, khi thân hoại, 
Do thấy chính vậy, tôi xuất gia, 
Hạnh Sa-môn phải là tối thắng. Thưa Đại Vương.

Với bài kệ này Tôn Giả kết thúc cuộc đối thoại với vua Koravya, 

Đức Thế Tôn về sau này khi nhắc lại một người xuất gia với niềm tin tối thắng ở trong số đệ tử của Ngài là Tôn Giả Ratthapala một khi nghe pháp một khi lãnh hội pháp và quyết tâm đi xuất gia rồi thì rất khẳng khái, rất cương quyết, rất quyết đoán ở trong nỗ lực của mình làm sao để sống phạm hạnh và Ngài đã sống phạm hạnh một cách viên mãn ./. 


Monday, February 29, 2016

Kinh Kẻ Lọc Vàng - Tăng Chi Bộ - TT Giác Đẳng

Kinh kẻ lọc vàng  - Tăng Chi Bộ - Phẩm Hạt Muối

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 7-11-2015, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Đức Phật đưa ra hình ảnh kẻ lọc vàng. Qúi Phật tử có ai đã từng xem phim tài liệu về những người đi tìm vàng. Riêng chúng tôi không được biết nhiều về cách đi tìm vàng của người  VN hay các xứ Á Châu. Tại Hoa Kỳ  có những phong trào Gold Rush nghĩa là đi tìm vàng như ở chung quanh biên giới Nevada và California hay ở Yukon gần Alaska chẳng hạn.

 Vàng ở trong thiên nhiên thường là những miếng vàng hay bụi vàng, những bụi vàng thường hoà với cát sạn sỏi. Chúng ta nghe như vậy cảm thấy rất thất vọng. Nhưng thật ra, chúng tôi không biết  vàng ở trong thiên nhiên  có bao giờ có khối vàng thật lớn hay không nhưng đa phần người ta dùng chữ đi đãi vàng. Đi đãi vàng  là họ tìm đến những giòng suối hay đào những nơi có vàng trộn lẫn ở trong đất cát, rồi  sàng lọc  rửa cho đến khi nào vàng được lấy ra riêng và cát sạn lấy ra riêng, loại vàng đó gọi là vàng tạp gồm có những bụi vàng hay những miểng vàng nhỏ. Để có một khối vàng hay có một miếng vàng lớn như chúng ta thấy vàng từng lượng hay  từng khối, người ta phải dùng một loại lửa,  đặc biệt là vàng chịu được lửa, vàng không bị  biến hoại nhưng nó có thể ở nhiệt độ nóng tan chảy quến với nhau. Người ta dùng lửa để vàng  tuôn chảy và vàng kết lại thành khối. Khi nó kết lại thành khối như vậy chúng ta gọi là vàng đã đến mức độ tinh lọc. Tnh lọc nghĩa là trở thành vàng ròng không bị pha tạp bởi những quấy nhiễm. 

  Thì ở đây, Đức Phật Ngài dùng 2 công đoạn để chỉ cho 2 phương pháp luyện tâm.

1. Công đoạn đầu tiên, Tăng Thượng Tâm, tức là dùng tâm tốt, tâm lành, tâm thiện để đẩy lui những ác tâm những bất thiện tâm. 

2. Khi tâm giảm bớt những quấy nhiễm rồi và muốn đạt đến chỗ cao siêu hơn  Ngài dạy  phải tìm cách để quân bình 3 thứ:  tác ý về định, tác ý về cần và tác ý về xả. 

Về điểm này là một bài học cao siêu cho những người tu tập về thiền định. Nhưng chúng ta có thể hiểu nôm na những điều đó trong đời sống hàng ngày và nó trở thành bài học có giá trị. 

Chúng tôi sẽ trình bày những điều này trong ngôn ngữ bình thường trong đời sống hằng ngày của chúng ta, chúng tôi không có đào sâu vào khía cạnh thiền định, và ở đoạn cuối chúng tôi sẽ trở lại nói ý chính của bài kinh này.

Trong cuộc sống của chúng ta có những  người có được những đặc điểm như trí nhớ rất tốt, sự phán đoán rất chính xác, tâm của họ có sức chịu đựng bền bỉ hơn người khác, hoặc giả đời sống của họ có vẻ như ít có bị giao động bởi những phiền lụy ở bên ngoài. Để được tâm như vậy những người này họ cần có Tăng Thượng Tâm. 

Tăng Thượng Tâm ở đây là tâm khéo bỏ  những tạp nhiệm, bỏ những tâm bất thiện. Trong trường hợp đời sống của chúng ta bị chi phối bởi quá nhiều hận thù, bởi quá nhiều những tâm ganh tị tật đố, hay tâm sân hận thì điều đó cản trở trí nhớ của chúng ta,  cản trở khả năng phán đoán của chúng ta, và cản trở khả năng tinh tế trong sự cảm nhận.

Ở đây, Đức Phật Ngài đặc biệt dạy những người muốn thành tựu thiền định và thần thông phải bỏ những tạp niệm. Nhưng ngay trong đời sống hàng ngày  nếu chúng ta khéo thì cũng có thể gạn lọc  bớt đi những phiền não trong tâm.

 Và rồi xa hơn nữa, Đức Phật dạy khi đã có Tăng Thượng Tâm rồi thỉnh thoảng mình phải có tác ý về định, tác ý về sự tinh tấn, và đặc biệt của một hành giả tu tập cần tác ý về xả.

   Những tác ý này tương tự như,  một người đã học ra trường, một người đã có những thành tựu nhưng trong sự thành tựu họ phải tìm cách để gìn giữ. Thí dụ, qúi vị nào  ở Mỹ biết lái xe hiểu rằng một chiếc xe  sản xuất để chúng ta chạy được ở mức độ tương đối tốt, hoàn chỉnh rồi, nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng phải thay nhớt, phải đi làm thăng bằng (alignment) những bánh xe và chúng ta phải tune up (bảo trì xe) v.v..... 

Ở đây Đức Phật Ngài nói đến một trình độ cao hơn và trình độ này phải được chúng ta nhìn tương tự như  một người Phật tử mới đi chùa có những ngỡ ngàng, trong sự ngỡ ngàng này mình phải làm thế nào đó gắng bó với chùa, nhưng một khi đi chùa đã thuần thục đã quen rồi thì việc đi chùa lại đòi hỏi những thứ quân bình khác.

Trước nhất,  Đức Phật Ngài dạy tác ý về định, tức khả năng tập trung khả năng chuyên chú. Chúng tôi thưa ngay cả Chư Tăng học Phật Pháp, giảng Phật Pháp, sinh hoạt Phật Pháp hàng ngày nhưng lâu lâu cũng phải tự nhắc nhở mình phải tập trung nhiều hơn, thiếu sự tập trung thì không có chiều sâu. Tập trung ở đây có nghĩa, giả xử như bài kinh đó có những đề tài cần phải nghiên cứu mình phải bỏ thì giờ ra đào sâu và nếu cần thì phải tra cứu hơn nữa, cần nữa thì phải so sánh giữa bài viết của vị này và vị khác, đó gọi là đào sâu. Đào sâu xoáy vào đó là một trạng thái của định. Do có sự xoáy sâu vào một pháp nào đó tâm của chúng ta thật sự gắng bó  và ở trên đó chúng ta sẽ hiểu chuyện nhiều hơn.

Chính ở trong đời sống đôi khi chúng ta ít có khi hiểu được chiều sâu của nội tâm của chúng ta. Cũng thời trang sách đó đôi lúc chúng ta hiểu thấm thía,  đôi khi chúng ta đọc hời hợt. Thật ra, Chư Tăng quen thuộc với việc này hơn ai hết. Cũng bài kinh đó mình tụng mỗi ngày nhưng có những thời gian mình tụng cho có tụng thôi nhưng thời gian khác chúng ta lại thấm thía.  Ví dụ, hồi chúng tôi còn nhỏ vào trong chùa học kinh Ratana Sutta kinh Châu Báu, lúc đó học kinh Châu Báu tụng cách khác đọc cách khác nhưng  lớn lên bây giờ đọc lại  có thấm thía cách khác. Thì chuyện xoáy sâu đào sâu vào đó là mức độ của định.

 Khi chúng ta quá đặt nặng về định, ví dụ như trong bài học  hôm nay Đức Phật Ngài dạy thỉnh thoảng nên có  tác ý về tướng của định, thỉnh thoảng tác ý về tướng của cần, tại vì nếu chúng ta định nhiều quá có thể dẫn đến thụ động, thụ động ở đây tức là buông bỏ những thứ khác. Trong đời sống khi nào chúng ta tập trung nhiều  quá vào một thứ đôi khi chúng ta quên bẳng những việc khác.

Về bài học này, chúng tôi có được nghe Ngài Ajahn Chah giảng nhiều lần một người phải có quân bình, vừa tu tập thiền định nhưng cũng nhắc nhở mình về những bổn phận đối với Thầy Tổ, bổn phận đối với các bạn đạo ở trong chùa, và bổn phận đối với đàn na tín thí để tạo sự quân bình. 

Minh cứ tưởng tượng sống trong một ngôi nhà hay trong một ngôi chùa, những người thành viên ở trong đó cứ tập trung vào sách vở làm con mọt sách  không làm chuyện gì khác. Chúng tôi đã từng sống với những vị Sư như vậy, tối ngày chỉ biết cầm quyển sách để nghiên cứu thôi không lo chuyện chung một thời gian rồi không sống được với ai hết. Tại vì sao vậy? Tại vì mình sống ở trong chùa cũng nên chia sẻ gánh nặng với người khác, không ai phục vụ mình hoài. Thành ra Đức Phật nói nếu một người không tác ý về tướng định người đó không có chiều sâu, nhưng nếu vị đó tập trung quá nhiều vào tướng định sẽ trở nên thụ động (đây là điểm tế nhị). Để trị sự thụ động vị này phải tác ý vào sự tinh cần. 

Sự tinh cần ở đây tức là sự tinh tấn có cố gắng, mình làm cái gì đó mình có nỗ lực có cố gắng  thay vì mình bằng lòng chấp nhận thì mình cố ráng thêm.  Sự tinh tấn đó rất tốt, nó giúp cho mình vượt khỏi trạng thái thụ động. Nhưng  nó lại có một  điểm yếu, một  nhược điểm chúng ta phải để ý không khéo sự tinh tấn khiến chúng ta bị trạo cử tức là bị trao động.

Chữ trạo cử dùng trong chữ Hán, có nghĩa mái chèo khua động nước. Như mặt hồ đang yên tịnh mình bơi xuồng dùng mái chèo khua động thì mặt hồ  gợn sóng. Chữ trạo cử là mái chèo làm cho dậy sóng. Nếu tâm của chúng ta trạo cử nhiều quá, động nhiều quá thì có sự bất an, tâm của chúng ta động nhiều quá thì có những bất lợi tức là bị vọng động bị giao động. 

Thường thường, trong công việc thấy  nhiều việc phải làm, mình muốn làm nhiều việc thì tốt vì mình là người tích cực. Nhưng cũng có cái dở đôi khi  nó làm cho tâm tư của mình không được an lạc không được ổn định, tại vì mình thấy cái nào cũng có tánh cách cấp thời. Qúi vị Phật tử nhớ câu thành ngữ "bói ra ma quét nhà ra rác", nhà ở mình cầm chổi quét là có rác, một người tinh tấn tìm công việc này việc kia thì thấy nhiều việc làm, đủ thứ việc làm. Nhưng nếu chúng ta không khéo sẽ trở thành vọng động trở thành giao động. Đức Phật Ngài khuyên tác ý về tâm xả tức là tác ý về sự quân bình. Chữ xả ở đây có nghĩa mình biết có việc cần làm nhưng mình cũng hiểu rằng mình nên làm nhưng không nên đòi hỏi phải làm hết, tại vì làm hết không biết chừng nào hết, thành ra làm thì cứ làm nhưng làm ở mức độ vừa phải, cái đó gọi là sự quân bình.

 Đây là một điểm tương đối tế nhị, không phải một điều đễ hiểu trong cuộc sống của chúng ta. Lo bản thân mình quá thành ra thụ động, lo thế giới này quá thì người trở nên giao động. Do vậy mình phải có tâm xả để có chừng mực, mình có lo cho mình cũng nên lo cho đời, lo việc này lo việc kia chứ không nên chỉ tập trung vào một sự việc mà không để ý đến những thứ khác, đó là xả. 

Ba thứ Đức Phật Ngài nhắc chúng ta ở đây:

- Đặc biệt chúng ta nên để ý đến định để ý đến sự chuyên chú, nhưng cũng phải coi chừng định mang lại cho chúng ta chiều sâu nhưng định cũng đưa chúng ta đến trạng thái thụ động. 

- Rồi chúng ta phải tác ý vào sự tinh tấn. Sự tinh tấn mang lại cho chúng ta sự tích cực.

- Nhưng không khéo sự tinh tấn đó mang lại cho chúng ta sự giao động, do đó chúng ta phải có xả. 
Những điều này Đức Phật Ngài ân cần dặn dò chúng ta bởi vì con đường đi  như vậy, trạng thái nội tâm của chúng ta như vậy. Bài học đó không phải bài học của người tu thiền định mà còn là bài học ngay trong đời sống hàng ngày.

Con đường thanh lọc tâm được Đức Phật Ngài ví dụ như một người lọc vàng trải qua hai công đoạn: Công đoạn đầu tiên là tách rời bụi vàng ra khỏi sạn sỏi cát để cho vàng được thanh lọc. Nhưng muốn đạt tới chỗ tinh luyện làm sao cho những bụi vàng kết lại với nhau người ta phải dùng lửa cao, ngày xưa người ta không có lửa ga như bây giờ mà họ phải thục ống bể, họ phải làm sao cho có lửa cao, nhờ sức nóng vàng sẽ chảy ra và sẽ quến lại   họ đổ vào khuôn thành một khối. 

Tương tự như vậy tâm của chúng ta phải được tôi luyện phải được tinh luyện để đạt đến chỗ thù diệu. Ở đây Đức Phật Ngài dùng những hình ảnh như thần thông, có sáu thứ thần thông như thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm thông,  biến hoá thông, rồi lậu tận thông v.v... Những thần thông chúng ta được biết tất cả những thần thông này đều là cao điểm của nội tâm được tinh luyện. Nhưng để đạt đến nội tâm tinh luyện phải trải qua nhiều công đoạn Đức Phật Ngài đã dạy cho chúng ta.

  Với một hành giả ở trong hướng tu tập chúng ta được biết qua lời dạy của Đức Phật có cách để chúng ta đạt được điều đó chứ không phải là một mơ ước hảo. 

Khi chúng tôi còn nhỏ ở bên Việt Nam học sách vở về những công trình khoa học thấy giống như  cái gì  mơ ước, nhưng khi sang bên Mỹ thấy những cách họ đào tạo bên đây là những gì mình học được thì làm được. Người ta được huấn luyện cho ra trường trở thành người làm hơn là ngồi đó suy nghĩ. Tương tự như vậy, chúng ta học bây giờ đa số học về lý thuyết chúng ta không thấy được khả năng áp dụng ở trong đời sống hàng ngày, nhưng thời Đức Thế Tôn còn tại thế  những bài học như ngày hôm nay là bài học rất cụ thể cho những vị tu tập, nó có phương pháp có cái cách để chúng ta đạt được điều này. 

Chúng tôi cũng xin nói lại: 

- Với một người Phật tử đời sống tu tập để thanh lọc tâm ý, trước nhất chúng ta phải có ý thức gạn bỏ những tâm tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến v.v... Những cái đó bỏ bớt, thí dụ mình có tánh hay nói xấu người khác ,hay có tâm ganh tị người khác, hoặc giả có nuôi thù hận người khác v.v.. những thứ đó mình nên bỏ bớt. Bỏ bớt không phải  vì lý do  mình muốn làm cho mình tốt hơn người khác, mình hơn người khác, mà lý do là tâm mình càng chứa những tạp chất đó không có lợi gì cho mình hết. Chúng ta hay nghĩ đến chuyện thế này thế khác nhưng nếu nhìn qua cái nhìn của Phật học chúng ta càng có nhiều tạp niệm tâm chúng ta càng không an lạc, nếu chúng ta càng có tạp niệm tâm chúng ta càng phiền toái. Do vậy, ở đây khi chúng ta tu tập  chúng ta biết rõ những tạp niệm đó cần phải gạn lọc. 

Và khi tạp niệm được gạn lọc tâm của chúng ta chưa chắc đủ mạnh, tâm đó mới chỉ thanh tịnh thôi, tâm đó mới chỉ là bớt phiền não thô. Nhưng tâm đó  phải được tinh luyện giống như vàng sau khi lọc sạch rồi nó vẫn còn những bụi vàng rời rạc mình phải dùng lửa cao thổi nó chảy ra nước quết lại đổ vào khung trở thành vàng khối.

-  Tương tự như vậy, hành giả tinh luyện bằng tác ý đến tướng định, tác ý đến tướng cần, và tác ý đến tướng xả. Những điều này giúp cho chúng ta rất nhiều.

Ở đây, chúng tôi nói đến kinh nghiệm hồi nãy có đề cập đến với qúi Phật tử là:

- Mình làm việc mình nên tập trung, cái tập trung nó giúp cho chúng ta có chiều sâu. Chúng tôi nhớ hồi mới có paltalk Chư Tăng vào trong rơom rất  lọng cọng nhưng khi làm quen rồi làm rất nhanh, rất dễ, rất thoải mái, đó là nhờ có sự tập trung.  

- Nhưng sự tập trung đó có cái lợi nhưng cũng có điểm cần để ý: nếu cái gì mình tập trung đã quen thuộc quá nó trở thành thụ động. Qúi Phật tử làm việc quen với paltalk quá qúi vị không còn tinh tấn nữa tại vì ngày nào cũng vô rơom mở rơom làm cái này cái kia không còn tinh tấn nữa, Chư Tăng cũng vậy, mình mới học kinh Phạn mình thích lắm nhưng  mình học kinh thuộc lâu ngày quen miệng mình trở nên thụ động, người ta tụng mình cũng tụng theo không có tướng định, không tập trung, đó là thiệt thòi cho chính mình. 

- Thành ra mình phải để ý cái gì nhuần nhuyễn, cái gì quen quá nó trở nên thụ động thì mình phải tác ý sự tinh cần, mình phải nỗ lực để ý, mình nên ráng sức. 

- Nhưng sự cố gắng một chút đôi khi làm chúng ta trở lên mất sự bình lặng mà nó trở nên giao động trong kinh dùng chữ trạo cử, nhiều lúc  sự tu trở thành cái gì rất lăn xăn. Chúng tôi thấy có nhiều người nghĩ đến quê hương, nghĩ đến đất nước,  nghĩ đến chùa chiền, càng suy nghĩ  thì càng có nhiều chuyện phải lo và càng lo thì tâm mình mất đi sự quân bình, sự quân bình quan trọng lắm và do vậy Đức Phật Ngài dạy chúng ta tác ý đến xả. Xả ở đây tức làm cho quân bình lại, không quá chênh lệch. Có người mà cũng có mình, có chuyện hôm qua có chuyện hôm nay, có chuyện  gần có chuyện xa, mình nên nhớ mình không thể lo hết tất cả mọi chuyện trong đời này, mình không thể bỏ hết nhưng cũng không thể lo hết. Ví dụ như chúng tôi đi tu mình bỏ Phật tử thì không có nên, nhưng nếu cả ngày chúng tôi lúc nào cũng lo sợ người này buồn người kia giận thì chúng tôi đâu có tu được. Nhưng nếu chúng tôi nói qúi vị giận thì kệ qúi vị, qúi vị lo thì kệ qúi vị, phiền kệ qúi vị, thì cũng không phải, nó phải có cái vừa chừng của nó, cái vừa chừng gọi là Upekkha là xả, đôi khi chúng ta hiểu nó là sự  thản nhiên, xả không phải là thản nhiên, xả là sự quân bình, cái quân bình đó cũng cần, chúng ta gọi là vừa phải, mức độ vừa phải sẽ đạt tâm của chúng ta đến chỗ tinh luyện. 

 Đức Phật Ngài đặc biệt lưu ý chúng ta một điểm:  Làm gì thì làm sự tu tập nội tâm là một việc rất nên.  Làm gì thì làm sự  tu tập nội tâm là cái yếu tính quan trọng nhất ở trong tất cả. Và sự tu tập nội tâm phải có được cái mà mình gọi là phương pháp ban đầu loại bỏ tâm phiền não. 

Chúng tôi tin một điểm không phải trong thế giới của thiền định thôi ngay cả trong việc học, việc làm, việc chùa, hay trong việc thiện mình làm thì mỗi người chúng ta ban đầu làm với tâm còn chứa nhiều tạp niệm, tạp niệm đó là mình làm vì vui, mình làm vì giận, mình làm vì thế này thế kia, nhưng một lúc nào đó mình làm là bởi vì việc đó nên làm, việc đó cần làm thì mình cứ làm thôi ,và sau thời gian mình làm như vậy thì mình đạt đến khả năng đẩy việc đó đến chỗ tinh  tế hơn. Cái tinh tế đó là cái khéo, cái tinh tế đó là cái hay, tinh tế đó là thiện xảo của mỗi người. Có nhiều người họ không quen làm một việc lâu nhưng khi họ quen làm việc lâu rồi họ nằm ở tại đó không có tiến bộ.

 Ở đây, phải nói việc tu tập nội tâm  có hai giai đoạn: giai đoạn làm quen và giai đoạn làm tốt. Cái làm quen mình làm từ chỗ lạ  làm đến chỗ thoải mái gọi là làm quen, nhưng làm từ chỗ thoải mái đạt đến chỗ ảo diệu thì nó phải làm tốt thật sự tốt. 

Thường thường chúng ta kẹt trong hai việc: Có những người họ thấy việc  họ sợ không làm được. Chúng tôi thấy một số người mới qua Mỹ thấy người ta lái xe họ sợ không muốn lái xe, thấy người ta đi làm họ ngại không muốn đi làm. Mình phải tự nhủ là người ta làm được thì mình làm được, mình lăn vô làm, làm một lúc rồi quen. Thì cái quen đó nó chỉ cho phép mình làm được việc thôi chứ không hẳn là xuất sắc. Từ chỗ làm quen mà trở nên xuất sắc thì nó phải đi qua một công đoạn khác. Lấy ví dụ như  cũng học lái xe nhưng có những người học ra để làm thầy dạy lái xe, còn có những người lái xe cả đời họ chỉ lái thôi chứ họ không giỏi. Cũng có người làm một công việc quen rồi và  10 năm sau họ làm vẫn vậy, nhưng có những người từ chỗ làm quen và thời gian sau họ làm  xuất sắc hơn. Cái xuất sắc đó là do chính cái khả năng đi xa hơn.

 Ở đây Đức Phật Ngài đưa ra hai công đoạn làm quen tức là công đoạn đầu tiên là thanh lọc là vàng được đãi cho sạch cát sạn, nhưng khi đãi tất cả sạn sỏi ra còn lại vàng thì vàng chỉ là những hạt bụi những mảng vàng rất nhỏ rất  rời rạt, rồi người ta cần đến làm sao cho nó quết lại với nhau  họ cần phải đưa vào trong lửa, lửa có ống bể hay bây giờ họ có lửa ga chẳng hạn rồi nó chảy ra rồi họ mới cho nó vào trong một cái khuôn để tạo ra những khối vàng. Tương tự như vậy từ chỗ làm quen  chúng ta đi tới chỗ làm cho nó xuất sắc, quan trọng là do cải thiện. 

Khi chúng tôi còn là một sadi ở gần Sư Trưởng hay nhắc câu "nghề dạy nghề"  ý Sư Trưởng muốn nói khi một vị chưa thuyết pháp được thì làm sao cho mình thuyết pháp được, nhưng khi thuyết pháp rồi mình cố gắng  nghiêng cứu kinh điển cố gắng tìm phương pháp nào làm cho những người nghe  hiểu được. Chuyện đó phải là một chuyện mà mỗi người tự đi xa hơn tự làm xuất sắc hơn. Về điểm này chúng ta phải đi qua hai công đoạn khác nhau,

 Chúng tôi nhắc qúi vị là: 
1. công đoạn một:  loại bỏ bất thiện pháp để tâm của chúng ta bớt đi bất thiện pháp.

2. Công đoạn hai:
- Nhưng khi có thiện tâm rồi Đức Phật dạy thỉnh thoảng tác ý về tướng định. Tâm của chúng ta gắng bó khắng khích đào sâu có một sự cảm nhận rất tập trung. 

- Nhưng, nếu tập trung nhiều quá dẫn đến thụ động thì nên tác ý về cần tức là phải tinh tấn làm sao cho mình có hăng hái có nhiệt huyết. 

- Nhưng khi mình tác ý về tinh tấn nhiều quá tâm mình có thể bị giao động tại vì nó không có an thì nên tác ý về xả, xả làm cho tâm của mình trở lại quân bình. 

Đó là những lời Đức Phật dạy chúng ta cần phải cân nhắc.

Đó là vài điều chúng tôi muốn chia sẻ với qúi Phật tử trong bài học hôm nay trong câu chuyện Đức Phật Ngài dùng thí dụ những người lọc vàng . Ở đây  qúi vị Phật tử nào có coi những phim tài liệu ở trên Youtube về cách người ta đãi vàng thì khi đọc bài kinh này rất thấm thía lợi lạc tại vì y hệt như những gì Đức Phật Ngài giảng ở tại đây ./.