Sunday, May 19, 2013

Ý khởi lên như vậy có là một cái tội để nhận quả trong kiếp sau không?


Hỏi:  Con xin hỏi nếu mình chỉ nghĩ không thôi, không hành động thì mình có phải chịu một tội gì không thưa Thầy. Chẳng hạn như khi mình thấy con gián, và trong tâm khởi lên ý muốn giết con gián, nhưng lại không giết.  Thì ý khởi lên như vậy có là một cái tội để nhận quả trong kiếp sau không? Con xin cung thỉnh Thầy từ bi giảng cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng trả lời: Thưa qúi vị ở đây có một số các điểm rất quan trọng liên quan đến câu hỏi trên.  Chúng tôi nói về một cái hạnh nghiệp mà gọi là ác nghiệp hay thiện nghiệp.  Với một nghiệp như vậy, nó có thể liên hệ đến 4 khía cạnh khác nhau, hoặc giả là tự thân mình làm, hoặc giả  mình ra lệnh cho người khác làm, tức là sai bảo người khác làm, hoặc giả  mình khuyến khích hay chỉ dẫn người khác làm, hoặc giả mình vui theo việc làm của người khác. 

Lấy ví dụ chúng ta bố thí, chúng ta dạy người khác bố thí, như qúi vị đưa một đồng cho đứa con, dạy đứa con bỏ tiền đó vào trong thùng phúc sương cúng Phật. Hoặc giả khuyến khích, tác động người khác bố thí, như kêu gọi người khác góp phần công đức.  Hoặc gỉả mình tùy hỷ phước, là mình vui theo phước của người khác. 

Thì 4 trạng thái đó đều tạo ra nghiệp hết, do đó chúng ta không phải chỉ có thập thiện thôi, chúng ta có tứ thập thiện, không phải chỉ có thập ác, mà chúng ta có tứ thập ác gọi là 40 ác nghiệp và 40 thiện nghiệp. Mười ác nghiệp là sát sanh trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói đâm thọc, nói nhãm nhí vô ích, nói chia rẽ, rồi tham ác, sân hận ác, tà kiến ác. Nhưng 10 ác nghiệp đó nó làm nhân cho 4, tức là tự mình làm, mình sai sử người khác hoặc khuyến khích người khác làm và mình vui theo việc làm của người khác tạo ra 40 thứ như vậy. 

Thì ở đây có một khía cạnh liên hệ đến câu hỏi, là nếu cái nghiệp chỉ nói lên cái ý thì có sao không, chỉ là ý,  cái ý ở đây là ý gì, ý thế nào? Cái ý ở đây là vui theo việc làm của người khác, hay một cái ý được mô tả trong quan niệm về giới.

Ví dụ như hành động gọi là sát sanh trong đạo Phật, thì phải hội đủ 5 chi phần  mới gọi là sát sanh.

1) Thứ nhất đối tượng phải là con vật có thức tánh.

2) Thứ hai mình phải biết con vật có thức tánh.

3) Thứ ba  có ý giết.

4) Thứ tư cố ý ráng sức giết.

5) Thứ năm con vật đã chết vì sự ráng sức giết đó.

Khi hội đủ 5 chi phần đó, đạo Phật mới gọi là sát sanh.  Sát sanh ở đây, từ đối tượng con vật có thức tánh, rồi cộng với cái y' muốn giết, rồi dùng sức để giết, và dĩ nhiên nó đi kèm với y' thức muốn giết.  Trong đó con vật có thức tánh, rồi muốn giết, rồi cố y' giết và sau cùng là hành động đó hoàn tất bằng cách là con vật đã chết vi` sự ráng sức ấy. 

Hay đối với giới trộm cắp, vật đó phải là vật có chủ,  biết vật đó có chủ, và  cố ý lấy, và  ráng sức lấy, và người chủ họ đã ghi nhận rằng họ đã mất đi cái đó vì sự ráng sức đó.  Và hội đủ 5 chi phần đó mới gọi là đứt giới không trộm cắp.

Thì bây giờ trong phương diện giới một hành động phải hoàn tất mới gọi là phạm giới, sát sanh cũng vậy, trộm cắp cũng vậy.  Nhưng trên phương diện nghiệp  nhiều khi một niềm vui thôi, ví dụ như  thấy người này phe này giết phe kia mình  hoan hỷ, mình thấy sung sướng, thi` cái vui đó nó có kết quả rất nặng có đôi khi ngang bằng với người tạo nghiệp.  Người khác họ làm phước làm thiện, mình hoan hỷ với việc thiện của họ cũng phước rất nhiều, gọi là tùy hỷ phuớc.  Như người khác họ sát sanh trộm cắp, họ làm những việc thất đức, mình cũng vui theo, thì thưa qúi vị ý nghiệp đó nó cũng tạo ra nghiệp rất lớn. 

Ở đây chúng tôi nói nghiệp tùy hỷ, hỷ nghĩa là vui, là cảm thấy rất sung sướng, cảm thấy mình chia sẻ với quan niệm như vậy thi` nó tạo nghiệp tương tựa.  Còn có những cái gọi là ý nghiệp, tức là những ý nghiệp đó chỉ len lỏi trong đầu của mình.  Có những người ý rất bực bội cái gì, như ai nói gì` mình giận quá, mình nghĩ phải chi mình là vua, mình sẽ đem người đó ra  chém đầu, hay phải chi mình có quyền hành bắt người đó bỏ tù, phải chi mình là dân anh chị thì mình có thể làm thế này, thế kia.  Đó chỉ là ý nghĩa trong đầu mình, chưa có làm ra, cái đó Đức Phật gọi là tà tư duy. 

Tà tư duy cũng có ảnh hưởng chứ không phải không có ảnh hưởng, nhưng ảnh hưởng đó khác hơn một hành động đả thể hiện ra bên ngoài.  Tư duy đó nó có thể làm cho tinh thần của chúng ta căng thẳng hơn, tư duy đó nó làm cho chúng ta tổn giảm thiện pháp, tư duy đó nó có thể làm cho chúng ta kém đi tinh thần sản khoái cần thiết của mi`nh, do vậy nó có ảnh hưởng chứ không phải là hoàn toàn không ảnh hưởng.

Do đó chúng tôi xin trả lời trong trường hợp của câu hỏi này, nó có 4 điểm là nếu ý nghiệp ở đây nói đến sự tùy hỷ, vui theo, sung sướng với cái gì người khác làm,thì` niềm vui đó có quả rất mạnh, đôi khi ngang bằng với người tạo nghiệp, nó thuộc về ý nghiệp.  Điểm thứ hai trên phương diện giới,  phải là một sự thể hiện trọn vẹn, nghĩa là một hành động biết đối tượng đó, biết người đối tượng đó, có ý và cố ý làm cho đến hành động đã làm thì mới gọi là đứt giới, trên phương diện giới nó lại khác. 

Nhưng trên phương diện tư duy thì ảnh hưởng rất nhiều, ví dụ như có một số người ngày hôm nay họ sống với thế giới của họ là game, là phim ảnh. Ở trong phim  cũng có những hận thù, cũng có những sự giết người bằng máu lạnh.  Nó cho chúng ta thấy như trong xã hội Nhật Bản, là một xã hội rất thịnh về những tranh hoạt catơon.  Tranh hoạt catơon ở Nhật Bản rất mạnh, người ta thấy dường như những đấm đá, hận thù, hơn thua v.v… tất cả nó đều gói trọn trong những cái hư cấu, hư cấu này là câu chuyện, những câu chuyện này hoàn toàn không có dính dáng tới cuộc đời, những câu chuyện hoàn toàn không có gi` xảy ra hết.  Nhưng với một lời khen chê nào đó, với nhân vật nào đó người ta cảm thấy rất  sung sướng, nhất là qúi vị chơi game cái đó nó cũng ảnh hưởng tới đời sống tinh thần.

 Tâm ảnh hưởng tánh, nghề thì tạo ra nghiệp, và ý nghĩ , tư duy  ảnh hưởng đến đời sống, chúng ta không phủ nhận điều này, nên chúng tôi nói về phương diện giới, chúng tôi nói về phương diện ảnh hưởng của tư tưởng, và chúng tôi cũng có nói về một việc khi nãy đó là niềm vui của mình.  Ví dụ như mình xem TV, mình thấy bên này giết bên kia, và trong cái giết đó mình cảm thấy sung sướng, mi`nh vui theo thì coi chừng mình tạo cái nghiệp rất nặng. Cái buồn vui đi theo một cái gì` đó, là một cái nghiệp nặng chứ không phải là nhẹ, đó là trường hợp câu trả lời ý nghiệp đã được hỏi ở  trên. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Saturday, May 18, 2013

Tại sao con người có lúc lên, có lúc xuống, lúc vui, lúc buồn, lúc thành công và lúc thất bại?


Hỏi: tại sao con người có lúc lên, có lúc xuống, lúc vui, lúc buồn, lúc thành công và lúc thất bại?

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng giảng:  Câu hỏi này có 3 điểm, nói chung chung.  Thứ nhất chúng ta vui buồn, lên xuống là việc tự nhiên của đời sống, cuộc sống nó như vậy, không thể nào khác hơn.  Đôi lúc chúng ta rất tức tối, rất bất mãn với một điều gì đó, bởi vì chúng ta nghĩ rằng nó không nên như vậy, bởi chính do cái nhìn sai của mình.

Tại sao? Tại vì cuộc sống không thể nào đi theo một cường độ liên tục như vậy hoài.  Bất cứ hiện tượng nào về vật chất cho đến tâm thức đều có thăng có trầm, như vận mạng của đất nước, hay những chỉ rối của kinh tế, hoặc giả cái vui buồn trong lòng mình.  Trước nhất chúng ta phải quan niệm đó là một điểm hiển nhiên của đời sống, Đạo Phật gọi là hữu vi pháp.  Chữ này rất quan trọng, hữu vi là sự kết cấu do nhiều điều kiện mà thành, không phải do một ý duy nhất, một cái chủ tâm, giả sử chúng ta vui hay chúng ta buồn, nếu chúng ta vui thì chúng ta nghĩ rằng, do có người này người kia trong cuộc đời của mình mà mình vui, lúc chúng ta buồn thì lấy lý do, do cái này do cái khác mà mình buồn, nhưng không hẳn là những yếu tố như vậy. 

Cái vui, cái buồn hầu hết do nhiều yếu tố, do ngoại cảnh bên ngoài, do sự cảm nhận của mình ở trong một gia đoạn nào đó cho sức khoẻ và nhiều yếu tố tạo nên.  Đạo Phật gọi là những pháp bị điều kiện, bị nhân duyên tác động, và tất cả những hữu vi pháp đều do nhiều điều kiện hết, chúng tôi lấy ví dụ rơom Diệu Pháp chúng ta đang tổ chức ở tại đây, những điều kiện như có vị giảng Sư, có các ops và MC và rồi có quí vị vào học, rồi có kỹ thuật của paltalk. Nhưng tất cả những điều này không cái nào quyết định hết, nó vốn dĩ là một ở trong nhiều điều kiện.  Nếu chúng ta có được rơom paltalk này và thỉnh thoảng bị trục trặc, chúng tôi nói trục trặc như ngày hôm nay chúng ta đang có, thì không nên lấy đó để làm chuyện trách mình.

Dĩ nhiên chúng ta làm rất nhiều cách để cải thiện chính mình, để cải thiện công việc, tuy nhiên luôn luôn phải nhắc nhở mình, các hành hay các pháp hữu tuy là sự tập hợp của nhiều nhân nhiều duyên, không một nhân duyên nào là duy nhất quyết định tất cả, và bởi vì không có một nhân duyên nào quyết định cho tất cả nên cái gì mình muốn, cái gì được kỳ vọng, thì nên đặt nó ở chỗ tương đối thôi, một cách rất tương đối, nó còn có nhiều thứ khác chi phối vào nữa, chúng ta không kiểm soát hết và chúng ta cũng không chủ động được hết.  Đó là điều thứ nhất người Phật tử phải tâm niệm rằng bản chất của các pháp hữu vi vốn có thăng có trầm, có thịnh, có suy, có lên, có xuống, không có giữ một cường độ mãi mãi được.

Điều thứ hai là một người có sự thăng trầm, vinh nhục, lên xuống, do nghiệp của quá khứ, chúng ta biết sanh làm người là đã có phước rồi, nhưng trong một kiếp người thi` do nghiệp quá khứ nó sanh khởi, nên có những ngày chúng ta rất may mắn, rất hoan hỷ, hoặc có những ngày gặp rất nhiều trục trặc buồn phiền.  Khi đã gặp những việc đó chúng ta không nên đặt quá nặng, và nghĩ rằng mi`nh chịu trách nhiệm hoàn toàn. Cuộc sống lạ lắm thưa quí vị, quí vị để y' cái sự run rủi của nghiệp nó khiến cho chúng ta càng suy nghĩ nhiều, chúng ta không khen, không chê ai giỏi dở, hay có những người rất giỏi nhưng họ gặp những tai nạn, nó cũng khiến cho chi phối được sự thăng trầm lên xuống trong đời sống. 

Một người chuyên tâm thiền định có thể cuộc sống bên ngoài không thích hợp với họ, hay hoặc giả họ không có điều kiện vật chất tốt, tuy nhiên do sự kiên trì, những lúc họ ngồi xuống, họ hướng tâm vào đề mục thiền định một cách dễ dàng và họ sống trong một cảnh giới an lạc mặc dù có bao nhiêu thay đổi ở bên ngoài.

Ba  ví dụ về tánh tự nhiên của hữu vi pháp, về nghiệp quá khứ, và do nỗ lực hiện tại, cho chúng ta thấy rằng sự lên xuống thăng trầm của đời sống vốn là một chuyện rất bình thường. Chúng tôi vẫn thường lập lại quí vị nghe một câu nói được Hoà Thượng Hộ Giác Ngài thường nhắc:

- "ở trong cuộc đời này nếu cái gì mà mình có được trong tay của mình, thì đừng nghĩ là mình giỏi mà tại người khác họ chưa muốn lấy thôi, và nếu cái gì mình có rồi mình bị mất thì đừng tự trách là mình không có khả năng để giữ nổi, mà tại vì người khác họ muốn thì họ lấy thôi".

Chúng tôi ngồi trong một căn phòng, căn phòng này cũng có khóa, nhưng chúng tôi thừa nhận một điều rằng cái khóa đó nó chỉ dành cho những người tốt thôi, nếu những người thật sự họ muốn lấy đồ thì dầu rằng ba, bốn cái khoá, hay như nhà băng đi nữa thì họ cũng có thể vào lấy đồ được, đừng nói chi là cái phòng mỏng manh của chúng ta đang có. 

Do vậy trạng thái thăng trầm vui buồn được mất chúng ta xem như hiện tượng cố hữu của đời sống này và nên nhìn đó bằng tâm tư bình thản.

Friday, May 17, 2013

Phước tu thiền và phước dục giới khác nhau như thế nào?


Hỏi. Hai loại phước, phước tu thiền và phước dục giới khác nhau như thế nào? 

(Thảo luận trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma, ngày 14-5-2013.  Minh Hạnh chuyển biên) 

TT Pháp Tân trả lời: Hai loại phước, phước tu thiền và phước dục giới đồng được gọi là phước. Trong chú giải có định nghĩa từ "phước" là "punya" là mang đến sự an lạc cho chúng sinh và đồng thời phước làm tâm được trang nghiêm.

 Một người do thực hiện các phước cũng là những phước hữu lậu. 
 Ngoại trừ phước hướng đến sự giải thoát hay tu tập là nhân không phải là nhân của luân hồi đó là phước vô lậu. 
 Còn nhân đưa đến luân hồi, dù là tái sanh trong cõi dục, cõi sắc hay cõi vô sắc cũng gọi là phước hữu lậu do là còn hiện hữu, còn hiện hữu của pháp hữu vi. 

 Thì khi nói đến những Chư Thiên ở cõi Trời Dục Giới thì đây là cái phước mà do họ làm được mà nó không bắt nguồn hoàn toàn là do tu thiền mà bắt nguồn từ việc bố thí, trì giới, cung kính, phục vụ. 

 Thí dụ, một người bố thí do thực hiện pháp bố thí. Như một người mà phước chỉ là bố thí thôi chứ không có tác ý khéo ở trong đó cũng chỉ giống như là mình tài trợ cho một việc gì đó để ủng hộ cho ai đó từ ở việc bố thí tế độ giúp đỡ cho người khác thì cũng sanh làm một vị tiên, nếu không sanh lại cõi người thì sanh làm một vị thiên ở cõi Trời Dục Giới.

 Nhưng phước đó cũng khác hơn với một người có bố thí có tâm tư, do có tâm tư hướng đến tương lai cho nên dù sao đi nữa thì cũng cho cái phước thù thắng hơn. 

 Một người trì giới cũng là nhân để tránh những nhân ác mà thực hiện những nhân thiện, tránh nhân ác tức là thực hành giới
 Một người cung kính, phục vụ, tức là cung kính đối với Tam Bảo, cung kính đối với bậc trưởng thượng. Hay là phục vụ đối với Tam Bảo, phục vụ đối với các bực giới đức chẳng hạn. Thì ở đây, chúng ta thấy rằng cũng có phước nhưng phước đó cũng chỉ trong giới hạn là sanh ở trong cõi Trời Dục Giới.

 Chúng ta biết rằng, trong cõi Trời Dục Giới có sáu cõi trừ cõi nhân loại chúng ta là cõi vui, nhưng cõi Dục Giới có sáu cõi vui và tùy vào phước của mỗi người mỗi chúng sinh có thù thắng hay không thù thắng nhiều, có đặc biệt hay không đặc biệt nhiều thì do ở phước đó mà sanh ở cảnh giới khác nhau, cảnh giới cao, cảnh giới thấp có khác nhau từ Tứ Thiên Vương, Đao Lợi, Đâu xuất, Dạ Ma, Hóa Lạc Thiên, Cao Hóa Tự Tại cũng đã khác. 

 Một người tu thiền khi thân họai mạng chung do chánh niệm cũng có thể sanh về cõi Trời Dục Giới nhưng chưa chứng thiền, chưa chứng được Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền Sắc Giới hay hoặc là không chứng Thiền Vô Sắc, cũng chưa chứng Thiền Sắc Giới, Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền, nhưng vị đó có chánh niệm do sự thuần thục và thường nghiệp thiện và do thường nghiệp thiện là mình có tu tập thiền định nhờ chánh niệm nhờ định tâm mà vị ấy không tán loạn có thể sanh ở cảnh giới dục giới.

 Như vậy thì ở đây, người tu thiền mà có chánh niệm mà không chứng Sơ Thiền bởi vì chứng sơ thiền thì phải sanh về ba cõi Sơ Thiện Phạm Chúng Thiên, Phạm Trụ Thiên và Đại Phạm Thiên rồi chứng Nhị Thiền thì sanh về ba cõi Nhị Thiện, chứng thiền nào thì sanh về cõi thiền đó, nhưng khi tu tập không có chứng thiền nhưng lúc bình nhật lúc còn sống nhờ niệm định nhờ có chánh niệm và giờ phút lâm chung có chánh niệm thì chúng sanh đó cũng có thể sanh về cõi Trời Dục Giới.

 Nhưng khi nói đến chứng thiền thì chắc chắn năng lực của thiền mang lại cho ở cõi trời Phạm Thiên Sắc Giới và chỉ có thiền định mới mang lại quả sanh ở cõi Phạm Thiên Sắc Giới. 

 Đối với các bậc tam quả thì các vị ấy dù là Thiền Khô đi nữa thì do đoạn diệt sân nên vị ấy cũng sanh về cõi Phạm Thiên Sắc Giới do đoạn diệt được sân rồi, sân tâm là một trong triền cái gọi là sân độc cái, mà sân độc cái là một trong những điều làm chướng ngại đối với các chi thiền sanh khởi lên. Thí dụ, trong chánh kinh có một vị tỳ kheo ly ác bất thiện pháp chứng và trú Sơ Thiền một trạng thái hỉ lạc do ly dục sân có tầm có tứ. 

 Thì mỗi chi như chi tầm, chi tứ, chi hỉ, chi lạc, chi định, thì mỗi một chi như vậy là đoạn tận các triền cái. Ví dụ như là:
 Chi tầm đối trị hôn trầm. 
 Chi tứ là đối trị hoài nghi.
 Chi hỉ là đối sân độc cái.
 Chi lạc là đối trị trạo hối.
 Chi định đối trị với tham dục cái.
 Như vậy, một vị thành tựu được các chi thiền thì có nghĩa là đoạn tận hoàn toàn với năm triền cái cho nên vị ấy sẽ sanh về cõi phạm Thiên đặc biệt là Phạm Thiên Sắc Giới. Khi nói đến thiền sắc thì vị ấy sinh về cõi Thiền Sắc. 

 Bởi vì ở đây, thí dụ như là:
 Chứng Sơ Thiền thì sanh về ba cõi Sơ thiền.
 Chứng nhị thiền thì sanh về ba cõi Nhị thiền.
 Chứng tam thiền thì sanh về ba cõi Tam Thiền.
 Chứng tứ thiền thì sanh về ba cõi Tứ Thiền. 

 Thì ở đây, nếu sanh về cõi Phạm Thiên Sắc Giới hay Vô Sắc Giới là chỉ có thiền định mang lại mà thôi, cho nên điều này là điều đặc biệt cũng là phước nhưng chỉ có phước thiền định mang lại là do tâm định và phước này là do tâm định. Tâm định này không phải do bố thí, cũng không phải hoàn toàn là do trì giới mà có. 

 Trì giới cũng là duyên mang đến định tâm nhưng để đắc được định như Sơ Định, Nhị Định, Tam Định hay là Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền thì phải nói là nhờ giới làm nền tảng vững chắc rồi thì định mới kiên cố được, định mới sanh khởi kiên cố được.

 Cho nên ở đây, phước của một người cung kính, phục vụ, bố thí, trì giới thì cũng chỉ giới hạn sanh ở cõi Chư Thiên Dục giới, từ cõi Tứ Thiên Vương, Đao Lợi Đâu Xuất, Dạ Ma Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại hoặc sanh lại cõi Người, cõi Người chúng ta được xem như là cõi vui, nhưng khi nói đến cõi Dục Giới thì phải nói đến sáu cõi Trời Dục Giới. 

 Phước mình có được sanh về cõi trời Chư Thiên Dục Giới thì do có bố thí, trì giới, cung kính, phục vụ, hoặc là thính pháp. Nhưng trong việc thính pháp cũng là cái nhân để tu tập giải thoát. 

 Nhưng cái định thì chỉ có tu tập thiền định, chỉ có định tâm và định tâm không bị hoại mất trong giờ phút lâm chung thì chính định tâm đó hoặc là một người mà chứng được Sơ Thiền thì sau khi thân hoại mệnh chung nếu không hoại thiền thì vị ấy vẫn có quả do năng lực của thiền mang đến vị ấy sẽ tái sanh ở trong ba cõi Phạm Thiên Sơ Thiền, Phạm Chúng Thiên, và đại phạm thiên, tương tự như vậy như vậy.

 Thì ở đây, phước tu thiền thì phải nói là do định mang lại, nhưng một vị tu chứng thiền thì vị đó phải có nhiều công hạnh chứ không phải mình chỉ nỗ lực tu tập mà có được, nhiều người tập trung tu tập, cố gắng tu tập, có sự nhiệt tâm, có sự tinh tấn, có sự dứt bỏ, nhưng phước trổ khác vì nó chưa đủ nâng đỡ. Thí dụ như mình chưa từng thực hiện pháp bố thí, hoặc không thực hiện pháp trì giới, hoặc không nghe giảng pháp, không nghe các vị thiền sư giảng dạy, hoặc không nghe các vị pháp sư nói Phật Pháp, thì mình cũng không biết đâu để tu tập.

 Biết như vậy, mình có tu, có học, có nghe, có hiểu, và mình kết hợp nhiều phước khác nhau, như là chúng ta biết có mười việc để tạo phước tức là, bố thí, trì giới, cung kính, phục vụ, tùy hỉ phước, hồi hướng phước, cải chánh tri kiến, hoặc thính pháp, thuyết pháp, thì đều sanh phước, mỗi loại phước có thể mang đến định, nhưng có những phước chỉ mang đến hổ trợ cho định, hoặc có những phước chỉ mang đến cảnh an lạc của cõi Chư Thiên Dục Giới mà thôi. 

 Nhưng có những phước nếu mình có khéo tác ý hành trì, cũng là đồng thời bố thí nhưng mình có bố thí để hộ trợ mình nguyện phước này để giúp xả những phiền não ở nội tâm để chấm dứt làm pháp độ để chấm dứt sanh tử luân hồi, thì nó trở thành phước vô lậu. 

  Hoặc là trì giới mà mình có tác ý nghĩ là giữ giới này mong cho mình được bỏ bớt những phiền não ở nội tâm không tạo nghiệp bất thiện nữa để chấm dứt sanh tử luân hồi thì trì giới cũng là nhân để đưa đến phước vô lậu. 
  
  Thì những phước có khác nhau từ ở mức độ là tác ý của mình, vừa là tác ý của mình vừa là cách tu tập của mình, cách hành trì của mình.
  
  Cho nên ở đây, chúng tôi xin thưa rằng: Tất cả những loại phước thì mỗi loại phước có khác nhau, phước tu thiền thì chỉ có tu thiền mang lại nhưng để đắt được định thì xin nói rằng có nhiều thiện pháp khác để hổ trợ cho đắt định chứ không phải là chúng ta chỉ ngồi tập trung mà chúng ta lại đắt định, chúng ta không có bố thí hoặc không trì giới hoặc không thính pháp hoặc không có nhiều các thiện phước khác thì chúng ta cũng khó mà đắt định được. Còn phước sanh về Chư Thiên thì xin thưa là khi nãy chúng tôi đơn cử là một người có bố thí nhưng không có tâm tư không có trí tuệ thì nó khác với người có trí tuệ, người có trí tuệ cũng đồng làm thiện pháp bố thí nhưng mà cả hai phước đó khác nhau./.   

Thursday, May 16, 2013

Tu tập một pháp môn nhưng không tiến bộ, có nên đổi sang pháp môn khác không?


Hỏi: Một người tu tập một pháp môn của Đạo Phật trong nhiều năm nhưng vẫn bị nằm một chỗ không tiến bộ về mặt tâm linh, vậy người này có nên đổi pháp môn mới không? Ý tiếc thời gian tu lâu của mình bỏ thì không nỡ nhưng tu tiếp thì không giải thoát, vậy nên làm gì, kính xin qúi Ngài chỉ dạy.

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu giảng : Trong câu hỏi này thì chúng tôi sẽ kể cho quí vị nghe một câu chuyện.

      Câu chuyện một đệ tử của Ngài Xá Lợi Phất khi Ngài Xá Lợi Phất cho một đệ tử xuất gia là một Tỳ Kheo, Ngài dạy cho vị ấy tu pháp môn là quán thân bất tịnh, nhưng xuốt thời gian ba tháng hạ, vị Tỳ kheo này không đạt được kết quả ngay cả một cái ấn chứng của sự tu tập cũng không có, ấn chứng của đề tài thiền quán cũng không có, bấy giờ Tôn Giả Xá Lợi Phất dẫn người đệ tử của mình đi đến Đức Phật.

       Đức Thế Tôn với Phật nhãn Ngài biết rõ căn tánh của vị Tỳ kheo này nên Ngài chuyển hướng, cho vị Tỳ kheo này một đề tài ngắm nhìn một cái hoa sen ở trước cửa chùa Kỳ Viên, và cái hoa sen đó lúc đầu thì tươi đẹp trong sáng, nhưng chẳng mấy chốc trở thành khô héo và rơi rụng, những cánh sen trơ trọi lại cái gương sen và rồi gương sen cuối cùng cũng bị khô héo, và bể ra rơi trên mặt nước, cảnh tượng này đã đánh thức tâm linh, tiềm thức quá khứ xa xưa của vị Tỳ Kheo này là một người thợ kim hoàn, là một người thợ chuyên môn làm các vật nữ trang bằng vàng .

          Đức Thế Tôn biết rõ được tâm tánh của vị Tỳ kheo đó cho nên Ngài đã dùng hình ảnh của hoa sen đẹp, bởi vì vị Tỳ kheo đó đã từng chiêm ngưỡng màu sắc óng ánh của kim loại quí như vàng, và Đức Thế Tôn đã dùng phương tiện này cho vị Tỳ kheo đó nhập tâm thưởng thức cái đẹp của cánh sen hồng, rồi khi vị Tỳ kheo này đang thưởng thức vẻ đẹp tinh khiết của cánh sen.  Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn đã dùng thần thông làm cho cánh sen đó mau úa tàng khô héo, sự sinh diệt đột ngột như vậy khiến cho vị Tỳ kheo này cảm nhận được tánh chất vô thường, do đó, vị Tỳ kheo này đã phát triển minh sát quán thấy danh sắc và vô thường chứng quả A la Hán.

       Ở đây, nếu như một vị hành giả tu tập đã nhiều năm thực hành một pháp môn nào đó, nhưng pháp môn đó không có hữu hiệu, không có tác dụng . Chúng tôi nói ở đây không hữu hiệu, không tác dụng là không phải vì cái tánh chất của Giáo Pháp, mà vì căn tánh của chúng sanh này không thể nhập được bằng phương tiện pháp môn này, thì bấy giờ nếu như một vị hành giả tu tập có trí tuệ, và có sự thiết tha mong cầu sự tiến bộ giải thoát, thì vị Tỳ kheo đó phải lập tức đi đến vị Thầy của mình để trình bày, hoặc là tự mình thông hiểu được các pháp, thì mình phải chuyển đổi pháp môn chứ không thể nào chúng ta nắm bắt một pháp môn mà chúng ta khư khư gìn giữ nó.

       Cũng như đối với một người học võ nghệ, nếu như người này được người khác trao tặng cho một bảo  đao, hay một bảo kiếm, hoặc là một vũ khí nào khác, nhưng với người này không có thích hợp để sử dụng  vũ khí đó, thì người này không nên tiếc, bởi vì nếu tiếc như vậy không sử dụng được thì bảo đao đó hay thanh gươm đó cũng trở thành một thanh sắc vô dụng đối với vị đó thôi, người này có thể sử dụng bất cứ một loại vũ khí nào thích hợp và có tác dụng đối với mình ,thì nên sử dụng vũ khí đó như vậy sẽ lợi hại hơn.

       Cũng như vậy khi chúng ta tu tập chúng ta cần phải hiểu rằng giáo pháp của Đức Phật, Ngài trình bày rất nhiều pháp môn, Phật pháp đa môn vì chúng sanh đa bệnh, hễ chúng ta tùy theo bệnh của mình mà dùng phương thuốc để  trị liệu tùy theo căn tánh của mình, là một chúng sanh nặng về ái tham thì chúng ta phải hành cái pháp môn khác, là một chúng sanh nặng về tánh sân hận thì chúng ta phải thực hành pháp môn khác, mà nặng về đức tin chúng ta phải thực hành pháp môn khác, mà nặng về tâm tư phóng dật suy nghĩ ưu tư thì chúng ta phải thực hành một pháp môn khác để đối trị, nặng về trí tuệ thì chúng ta phải thực hành một pháp môn khác để đối trị v.v... tùy theo cá tánh của mỗi người, tùy theo cái trình độ của mỗi người mà thực hành, như vậy việc thực hành mới có kết quả và sự thay đổi pháp môn này hoàn toàn thiết thực chớ không phải có lỗi lầm chi cả, và  cho nên chúng tôi nghĩ rằng việc chúng ta tu tập, chúng ta lựa chọn một đề tài ,một  đề mục ,một pháp môn thích hợp cho mình, thì đó là một điều chúng ta cần phải làm.

        Ở đây chúng ta không nên vì tiếc, vì cảm thấy uổng khi chúng ta bỏ đi thời gian quí báu, trong khi đó  thời gian thọ mạng của chúng ta không có thể quyết định được, không có thể chờ đợi được, cho nên chúng ta phải tranh thủ tu tập như thế nào để cho có hiệu quả, khi chúng ta đang bị bệnh phải nhanh chóng gấp rút điều trị như thế nào, để cho dứt trừ những căn bệnh đó bằng cách là chúng ta phải dùng những liều thuốc, những loại thuốc có tác dụng có hiệu quả, chứ không thể nào nói rằng trước đây tôi đã bỏ tiền ra để đi mua hiệu thuốc này bây giờ còn dư lại đem bỏ thì uổng, thì thôi bây giờ sẳn trong lúc này đang bị bệnh hãy đem thuốc đó ra dùng để khỏi phí tiền bạc, chúng ta suy nghĩ như vậy và chúng ta trị bịnh bằng cách như vậy là vô tình  chúng ta nuôi dưỡng căn bịnh của mình và có thể nguy hại đến cái sức khỏe của mình.  Cho nên trong trường hợp đó chúng ta không nên tiếc nuối thuốc nào cũng tốt cả nhưng chỉ hữu hiệu, chỉ thích hợp cho tùy căn bịnh,

       Cho nên khi chúng ta tu tập cũng giống như trường hợp mà chúng ta trị bịnh vậy, tùy theo pháp môn mà chúng ta thực hành không nên vì pháp môn đó tu tập đã lâu rồi, bây giờ bỏ đi thì uổng cho nên chúng ta kiên trì không có hiệu quả, thì như vậy pháp môn này chả có lợi ích gì cho chúng ta, cho cá nhân mình trong trường hợp đó.  Thành thử đây là vấn đề mà tất cả mọi người tu tập  đều cần phải dùng trí tuệ để suy xét. Chúng tôi xin trả lời câu hỏi này với một vài ý kiến đóng góp như vậy và chúc quí vị được an vui tiến hoá. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật .

Wednesday, May 15, 2013

Năm điều thích hợp cho thiền định là gì?


Câu hỏi: Năm điều thích hợp cho thiền định là gì?

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Ðẳng giảng: về năm điều thích hợp cho thiền định thì:

1.- Trước nhất chúng ta gọi là có thiện hữu, tức là có những người bạn lành, những người bạn lành ở đây được hiểu là những người bạn cùng tu tập pháp môn với mình, gọi là bạn lành tức là người đó có thể chia sẻ kinh nghiệm với mình.

2. Ðiều thứ hai là giới luật được thanh tịnh, nghĩa là khi chúng ta muốn phát triển thiền định thì giới học sẽ trợ duyên rất lớn cho định học và tuệ học.

3. Điều ba, chúng ta cũng nói đến thiện ngôn, hay là những lời nói mang lại lợi lạc, tức là những sự đàm luận mang tánh cách làm cho sáng tỏ đề tài, ví dụ như chúng ta là người trồng hoa kiểng và chúng ta có dịp thảo luận về hoa kiểng là việc rất tốt. Chúng ta học Phật pháp và chúng ta thảo luận Phật pháp thì rất tốt. Chúng ta học thiền định mà chúng ta có những buổi pháp đàm, có những buổi hội thảo về thiền định điều đó là điều rất tốt.

4. Bốn là, sự tinh cần tức là sự hăng hái nhiệt thành, lòng nhiệt huyết.

5. Và sau cùng đó là trí tuệ, trí tuệ tức là cái tri kiến khiến cho chúng ta có thể đào sâu vào những gì mà chúng ta đang làm.

Tuesday, May 14, 2013

Như thế nào là sáu xuất ly pháp


Hỏi: Như thế nào là sáu xuất ly pháp 

(Thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 8-5-2013, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng giảng: đây là đề tài rất quan trọng, thứ nhất là khi chúng ta nói đến Phật Pháp đa phần chúng ta có cảm giác hay cảm tính  nghĩ rằng tu những pháp này thì mình bị mất mát. 

Ví dụ,  một người nào làm chuyện gì cho mình phiền mình giận thì mình cứ nghĩ rằng nếu tiếp tục nuôi cơn giận thì có nghĩa là mình giữ được tư thế, còn nếu người ta làm chuyện gì mà mình bỏ qua không giận thì điều đó có nghĩa là mình dại. Mình giận là một phần, nhưng mình có lý do mình nghĩ rằng rất chính đáng để giận tức là mình không có dại dột, mình khôn mình mới giận, mình nghĩ như vậy. 

Hay là, khi mình nghe nói đến tu tập về vô ngã  thì cảm giác của mình đầu tiên về vô ngã là mất cái tôi, mất cái tôi thì thật sự cuộc đời mình vô nghĩa, mình cảm thấy là mất mát. Nhưng thật sự, chính ở chỗ nào chúng ta có cái tôi mới làm chúng ta nhức nhối, lấy ví dụ như mình làm việc ở trong một tổ chức hay mình sinh hoạt ở trong ngôi chùa và lúc nào mình cũng đặt vấn đề là người này phải khen mình, người kia phải tôn trọng mình, người ta phải làm xứng hợp với địa vị của mình, thì thật sự càng nghĩ  thì chúng ta càng khổ, bởi vì, qúi vị thấy người mà lúc nào cũng cần người khác để ý, cũng cần người khác nuông chìu  mới được an lạc, nhưng thật sự không được an lạc.

Hay hoặc giả, chúng ta có tâm ganh tị với người khác, trong sự ganh tị đó mình cảm nhận rằng mình đang cạnh tranh và nhờ có tâm đố kỵ người khác mình mới vươn lên. Nhưng thật sự không phải như vậy. Tâm ganh tị làm cho chúng ta khổ, làm cho chúng ta nhỏ mọn, làm cho cái nhìn của chúng ta không thông thoáng. Nhưng mình cứ tin rằng tâm ganh tị đó giúp cho chúng ta hơn là tâm hỉ, và mình rất sợ tu tập tâm hỉ là tại vì hễ tu tập tâm hỉ mình nghĩ mình không có sức cạnh tranh với những người khác.

Thì khi chúng ta đề cập đến những pháp như từ, bi, hỉ, xả, hay tu tập vô tướng tâm, hay quán tưởng về vô ngã tướng, thì quán tưởng về vô tướng tâm hay vô ngã tướng hay từ, bi, hỉ, xả, cảm giác đầu tiên của chúng ta là chúng ta phản ứng là mình tu những pháp đó là mình chịu mất mát, bị thiệt thòi hay mình mất đi cái này mất đi cái kia. 

Thực tế mà nói thì, chúng ta quên đi rằng chính sự tu tập những pháp đó khiến chúng ta bớt khổ, ở trong đời sống chúng ta khổ nhiều lắm. Trong kinh Đức Phật Ngài diễn tả tâm của chúng ta giống như vết thương, các giác quan của chúng ta giống như vết thương khi nào vết thương không băng bó mà người ta đụng vào thì mình nhứt nhối vì đau. 

Hồi chúng tôi còn nhỏ ở Việt Nam sống ở trong chùa đôi khi bị đứt tay hay đứt chân, điều mà chúng tôi sợ cái đứt là một lẽ rồi người ta lấy alcohol sức vào, chúng tôi không biết là qúi Phật tử có ai sống qua cái cảm giác đó không, alcohol để sát trùng thì rát khủng khiếp lắm, để vô thì nó rát và nó đau.

 Nhưng thật ra thì khi chúng ta đề cập đến cái rát của alcohol thì là nhỏ thôi, nhưng chúng ta hãy nghĩ điều này ở trong cuộc đời chúng ta có bao nhiêu lần chúng ta đau như sát muối. Ví dụ, mình là con người rất hiền lành hay mình là người luôn luôn mong cho người khác được tốt đẹp và mình mong người khác tôn trọng mình bây giờ người ta phỉ báng mình hay bôi nhọ hay vu vạ mình, tự nhiên mình về cảm thấy vừa thất vọng vừa bực tức vừa khổ sở, thì những lúc đó mình cảm nhận rằng rất là đau, mà không phải cái đau có một mà có cả trăm ngàn cái đau trong cuộc sống. Chính nhờ pháp tu này làm giảm thiểu những cái đau đó. 

 Chúng tôi lấy thí dụ, về vô tướng tâm giải thoát, cái vô tướng ở đây đặt biệt là khi mình nhìn thấy cái gì, mình nhìn thấy nó như vậy chứ thật sự nó không hẳn là như vậy. 

 Chúng tôi lấy ví dụ, như chúng tôi đang sống ở Texas, một tháng trước khi chúng tôi rời Texas thì đang là mùa hoa bluebonnet nở, chúng tôi làm một chuyến đi Austin, Texas và trên đường đi hai bên đường người ta trồng hoa bluebonnet thay cho cỏ xanh và là mùa hoa nở rộ như những tấm thảm rất là đẹp, và lúc hoa nở như là tấm thảm rất là đẹp mình nhìn thấy cảnh tượng lúc đó nếu có một người nào có mặt ở Texas trong thời gian đó với thời tiết mát mẻ của mùa xuân và nhìn thấy thảm hoa bluebonnet thì cảm tưởng Texas là thiên đàng chỉ có cảnh tượng thảm hoa bluebonnet ở trên những cánh đồng bất tận vào mùa xuân với không khí mát mẻ với hoa nở đẹp. 

 Nhưng, thật sự đó không phải tất cả là Texas, nó chỉ là một khoẳc khắc, nó chỉ là một thời điểm, nó chỉ là một phần của rất là nhiều phần, một hình ảnh của rất nhiều hình ảnh.

  Cuộc sống của chúng ta cũng vậy, cái gì cuộc sống của chúng ta, chúng ta nhìn thấy cảnh hoa đẹp của mùa xuân thì chúng ta nên biết rằng đúng thời đúng lúc đúng chỗ và nó chỉ hiện hữu ở trong một thời gian tương đối ngắn, nó chỉ hiện hữu ở trong một khoẳnh khắc nào đó rồi nó cũng tan biến đi. Mùa hè nếu qúi vị trở về thăm Texas thì trời nóng oi bức đến nỗi không muốn bước ra bên ngoài hay hoặc giả mùa đông về thì trời lạnh giá và khi những thảm hoa tàn tạ rồi thì chúng ta cũng thấy nó không có gì hết. 
  
  Thì như vậy những cái gì mình nắm bắt ở trong cuộc đời này mà mình gọi đây là đẹp, đây là tối hậu, đây là vĩnh hằng, đây là tuyệt nhất, đây là tốt nhất, thì nó chỉ là ảo giác thôi, không hơn không kém. Giống như khuôn mặt của chúng ta ở một thời điểm nào trong ngày thì nhìn thấy đẹp đẽ khuôn mặt thanh tú nhất là vị nào có trang điểm ăn diện, nhưng nó không phải tất cả chúng ta, nó chỉ là một phần nào, một khoản khắc.
  
  Và do vậy, khi chúng ta sống về vô tướng tâm thì mình hiểu rằng dù là đẹp, dù là xấu, dù hay dù dở, dù xa dù gần, dù thô dù tế, tất cả những điều đó chỉ là một khoẳn khắc, một sát na, một thời điểm, một chập, một mảng, ở trong một tiến trình dài. Và không nên lấy đó là tất cả là tuyệt đối. 
  
  Khi chúng ta quán tưởng vô tướng thì rất là sợ. Đời sống có ý nghĩa là tại vì chúng ta tin  tuyệt đối về những thứ đó nhưng thật ra tin tuyệt đối về những thứ đó nó làm cho chúng ta khổ. 
  
  Lấy ví dụ, như bây giờ qúi vị tìm được một người bạn đời hay một người tình mà qúi vị nghĩ rằng người đó hoàn toàn trên tất cả mọi phương diện nhưng rồi một lúc nào đó qúi vị tìm thấy sự tuyệt vọng, chúng tôi nhớ có một lần chúng tôi nghe một bản nhạc có câu "dường như trong ta em có điều tuyệt vọng" bản nhạc đó thì thật sự không biết người nhạc sĩ đó viết như thế nào nhưng rõ ràng nó có một điểm là không ai chỉ có một điều tuyệt vọng mà có rất nhiều thất vọng trong cuộc sống. 
  
  Tại vì chúng ta nghĩ rằng cái đẹp nhất phải là tất cả, cái đẹp phải rắn chắc như lõi cây, cái đẹp đó phải nằm yên như một trái núi. Nhưng ở trên thực tế không phải như vậy. 
  
  Và do vậy, trong cái nhìn của người tu Phật không phải cái giá trị của những pháp như vô thường, khổ, vô ngã, vô tướng, những pháp như tu tập tâm từ, bi, hỉ, xả, tu tập để được hơn cái gì thua cái gì, được cái gì mất cái gì, nhưng điểm chính những pháp đó là hoá giải được những phiền não của chúng ta, thành ra trong những lúc chúng ta khổ thì dễ tu nhất.
  
  Qúi vị cứ để ý như vầy, lúc nào tâm của chúng ta gặp hoàn cảnh nào mà chúng ta đau như sát muối vào trong vết thương, ví dụ như tự nhiên có ai họ chê mình hay một người mình rất qúi bây giờ họ trở mặt với mình họ nói những câu rất đau lòng thì thay vì chúng ta giận chúng ta buồn thì chúng ta trở về phòng chịu khó ngồi xuống lẳng lặng chánh niệm nhìn vào nỗi đau đó và khi nhìn vào nỗi đau đó mình biết rằng mình thiếu những pháp xuất ly. 
 
Nếu như mình có tu tập những pháp xuất ly, như  tu tập xuất ly đối với tâm sân, đối với tâm hại, đối với pháp bất lạc, đối với sự tham đắm, đối với nghi hoặc đối với ngã mạn v.v... thì nếu chúng ta có những pháp xuất ly đó thì chúng ta bớt khổ, mà thấy được điều đó thì mình mới thấy giá trị của Phật Pháp, thấy giá trị của sự tu tập. 
 
Con người chúng ta bị bịnh là chúng ta rất là dễ tin vào ma vương, chúng ta rất nghi ngờ đối với Phật, Đức Phật dạy, Ngài nói về vô ngã, về vô tướng, mình nghe thì thấy hay nhưng mình tu mình sợ mất mát, cái gì mình chấp vào bây giờ không có nữa mình cảm thấy mất mát nhưng trên thực tế chúng ta phải nhìn một góc cạnh khác những pháp Đức Phật dạy là phương linh dược là những phương thuốc trị những tâm bịnh và khi chúng ta tu tập những pháp này thì chúng ta giảm bớt cái khổ.
 
Một bài học rất đơn giản trong cuộc sống chúng ta đó là, khen và chê. Khi nào người ta khen mình một câu,  đôi khi lời nói là nịnh bợ, đôi khi lời nói là đãi bôi, đôi khi lời nói xã giao, thì chúng ta cảm thấy sung sướng, cứ sung sướng đi, cứ vui đi. Rồi lúc nào đó người ta chê mình, người ta nói xấu mình, người ta mạt sát mình, thì chúng ta cảm thấy đau, thì cứ đau đi. Nhưng mà rồi, hãy ngồi nhìn những thứ đó, chúng ta ráng nhìn một cách rõ ràng, ráng học những bài học đó rồi dần dà chúng ta sẽ thấy những giá trị pháp xuất ly này.
 
Chuyện chúng ta vui buồn, thì nếu như thân chúng ta bị cảm bị chóng mặt ói mửa v.v... thì tâm của chúng ta cũng vậy. Tâm của chúng ta ở đây là sân, là hại, là tham, là ngã mạn, có nhiều thứ và lúc chúng ta ngồi kiểm lại những cái khổ của phiền não thì lúc bấy giờ chúng ta mới thấy rằng những pháp xuất ly này có những giá trị lớn trong cuộc sống. 
 
Một trong cái khó của người tu tập là vượt qua mặc cảm đối với giáo pháp, cái mặc cảm đó là gì, mặc cảm đó tương tự như bà Khema khi bà là vị hoàng phi nghe nói Đức Phật Ngài không tán thán sắc đẹp thì bà Khema có mặc cảm với Đức Phật mặc cảm với giáo pháp, bà không muốn đến gặp Đức Phật tại vì những lời Đức Phật dạy đi ngược lại với một giá trị lớn trong cuộc sống của bà vì bà là người rất sùng bái sắc đẹp sùng bái cái ngoại hình đẹp đẽ của mình, cho đến khi bà thật sự được nghe được thấy, được Đức Phật khai thị thì lúc đó bà mới cảm nhận được rằng giáo pháp không đơn giản về chuyện được hay mất, mà giáo pháp có thể phá được những căn bịnh trầm kha của đời sống. 
 
 Bởi vậy nhiều lúc chúng ta nên cảm ơn sự đau khổ, có sự đau khổ thì chúng ta mới thấy giá trị của Phật Pháp. Quí vị để ý, trong lúc nào mà chúng ta khổ nhiều thì chúng ta có cơ hội lớn để ta học.
 
Chúng tôi có quen với một một người Phật tử, người Phật tử này là một người lúc nào cũng tin rằng mình là một người rất tôn trọng pháp luật, mình là một người rất đàng hoàng, mình là một người có nguyên tắc sống, và vị này tin rằng mình sống như một công nhân tốt. Có một lần chúng tôi đi chung với gia đình của vị đó thì vị đó lái xe vượt quá tốc độ, lý do không phải vì vị đó chạy nhanh mà thật ra ở đó có tấm bảng báo hiệu giảm bớt tốc độ vì là nơi có người ta đi bộ qua lại đông, nhưng vì lúc lo nói chuyện không để ý, thì lúc bấy giờ vé phạt vì vượt quá tốc độ thì thật ra cũng là chuyện không vui đối với người Mỹ, nhưng chúng tôi có thể nhận ra được là vị này rất là khổ sở, khổ sở ghê lắm, tại vì nó làm tổn thương đến lòng tự hào của mình, mình là một người thượng tôn pháp luật, mình là một người công dân tốt, mình là một người tự hào lái xe mấy chục năm không bị ticket (giấy phạt) bây giờ mình bị ticket cảm thấy khổ ray rứt trong lòng, và cứ nói tới nói lui cứ chắt lưỡi hít hà cứ cảm thấy khó chịu về cái chuyện mình bị ticket. 
  
Thì ngay lúc đó chúng tôi học được một bài học là, ở trong cuộc đời này mình sống nặng lòng với cái gì quá khi chuyện xảy ra ngược lại thì mình đau lắm và cái đau đó là nỗi khổ của đời sống, chính mình phải có đủ trí tuệ để mình vượt qua nỗi đau đó, không có ai giúp cho mình được hết.
  
Chúng ta nhớ một điều như vầy là, dầu Đức Phật có thương chúng ta bao nhiêu, dầu chúng ta có hiểu Phật Pháp bao nhiêu, nhưng chính sự tu tập của bản thân mới giúp chúng ta hóa giải được những đau, hóa giải được những khổ, không có ai khác làm cho chúng ta hết khổ, chúng ta phải có sự trưởng thành giống như bây giờ cha mẹ mình rất là thương mình nhưng mình cứ trẻ con hoài, mình cứ cư xử ấu trĩ hoài, mình không có chịu lớn lên thì thật sự mình không có trưởng thành được. Sự trưởng thành mình ở một điểm như vầy là, một ngày nào đó mình nhận rằng mấy cái này nó chỉ làm cho mình khổ. 
   
Chúng tôi lấy ví dụ là, mình hay giận, mình hay cố chấp, bây giờ một lúc nào đó mình nhận ra mình giận người chỉ thiệt thòi cho mình thôi, dĩ nhiên khi mình giận mình có một ngàn lý do để giận, lý do nào cũng chánh đáng. Bây giờ, những lúc mình giận mình nghĩ tại sao mình giận chi cho nó khổ vậy. Chúng tôi rất thích câu Phật ngôn, một câu Phật ngôn rất là tuyệt vời đối với chúng tôi là 
"kẻ thù hại kẻ thù,
oan gia hại oan gia,
không bằng tâm niệm tà,
gây ác cho tự thân"
  
Tức là kẻ thù của mình hại mình bao nhiêu đi nữa thì cũng không tệ hại bằng chính mình hại mình, nghĩa là mình khổ là tại vì mình tự dấn mình vào khổ, mình khổ là tại vì mình cho phép mình khổ, mình khổ là tại vì mình muốn khổ. Kẻ thù làm cho mình khổ một nhưng mình làm khổ người thân mười, có bao nhiêu lần mình trằn trọc thâu đêm, có bao nhiêu lần mình cảm thấy chua xót trong lòng, có bao nhiêu lần mình cảm thấy rằng mình khổ là bởi vì tâm mình chấp vào những thứ đó mới khổ, thì tâm mình tâm niệm tà làm cho mình khổ hơn là kẻ thù mình.
  
Thành ra những người hay trách móc thì lúc nào cũng đổ lỗi tại người khác, mình khổ là do cha do mẹ do xã hội do người này người kia, lúc nào cũng đổ lỗi cả thế giới này đã làm cho mình khổ, nhưng chúng ta quên đi một điều rất căn bản là tại vì chúng ta không có tu nếu chúng ta tu thì chúng ta bớt khổ, mình phải tin như vậy, lúc nào mình cảm thấy phiền não, lúc nào mình cảm thấy đời sống mình giao động, đời sống mình khổ sở thì mình nói rằng tại mình thiếu tu, đừng có nói là tại ông A tại bà B tại thầy tổ tại cha mẹ tại bạn bè, nói như vậy thì ai nói cũng được hết.
  
Nhưng một lúc nào đó mình phải đứng dậy, mình nói rằng: đồng ý những cái khổ đó là một phần, nhưng phần chính tại vì mình thiếu tu. Đơn giản như vậy thôi, nhưng nếu mình có tu thì mình bớt khổ, mình thiếu tu thì mình khổ. 
 
Khi mình nói mình thiếu tu thì không phải là chuyện mơ hồ, như Đức Phật Ngài nói rằng: 
Mình thiếu tu tập tâm từ thì tâm sân nhiều.
Thiếu tu tập tâm bi thì tâm thù hận hay gọi là hại tâm nhiều.
Thiếu tu tập tâm hỉ thì sự bất lạc tức là sự khó  chịu bực bội nhiều.
Thiếu tu tập tâm xả thì sự tham đắm dính mắc nhiều.
Thiếu tu tập vô tướng tâm giải thoát thì mình bị kẹt nhiều.
Thiếu tu tập tâm vô ngã thì nghi hoặc nhiều.
Thì sở dĩ những phiền não sanh khởi nhiều tại vì là mình không chịu tu, đơn giản như vậy. 
Do vậy, có lẽ một câu chúng ta tự nhắc đi nhắc lại là:
 Tại sao mình khổ, không phải tại vì cảnh sát cho mình ticket.,
 tại sao mình khổ, không phải tại vì mình mất đồ,
 tại sao mình khổ, không phải tại người ta chê mình,
tại sao mình khổ, không phải tại vì mình nghèo,
Mà mình khổ đơn giản là tại vì thiếu tu. Mình thử ngồi suy nghiễm lại, thử đặt lại vấn đề đời sống mình thật sự rồi già, rồi tóc cũng bạc, rồi mình cũng lớn không phải ai cũng nhắc mình hoài được, nhưng,  riêng đối với người tu tập thì mình phải có thái độ cho rõ ràng là mình khổ là do mình thiếu tu tập.

 Khi đề cập đến những pháp xuất ly và đề cập đến những thiện pháp tu tập và do thiện pháp này giúp chúng ta cởi bỏ đi được những bất thiện pháp, thì khi chúng ta đọc những bài kinh này chúng ta tự khẳng định cho mình thấy rằng tại sao mình vui, tại sao mình khổ, và mình có trách nhiệm của tự thân mình thì chúng tôi tin rằng điều đó có ý nghĩa lớn với người Phật tử, và điều đó chúng ta mới thấy gía trị thật sự của Phật Pháp, không phải Đức Phật Ngài có dư thì giờ Ngài rảnh quá rồi Ngài đem nói vô thường vô não vô ngã như là lý sự,  Đức Phật dạy những pháp xuất ly cho chúng ta là tại vì Ngài biết rằng những pháp đó giúp cho chúng ta giải quyết được những vấn đề trầm kha của cuộc sống chính là sự đau khổ ./.  

Monday, May 13, 2013

Thế nào là đối tượng cảnh của tâm có tính chất thấp, có tính chất trung bình và có tính chất cao đẹp nhất?


Hỏi :Thế nào là đối tượng cảnh của tâm có tính chất thấp, có tính chất trung bình và có tính chất cao đẹp nhất?

(Bài giảng trong rơom Diệu Pháp , Ngày tháng 0 năm 2008 - Chánh Hạnh chuyển biên) 

TT Tuệ Siêu trả lời: Trước hết chúng ta phân theo khía cạnh này.
- Đối tượng nào trợ duyên cho tâm bất thiện sanh lên thì đối tượng đó mang tính chất thấp.
-Đối tượng nào trợ duyên cho tâm thiện sanh lên nhưng vẫn còn bị chấp thủ, chấp trước như chấp thủ phước hữu lậu, đối tượng đó mang tính chất trung bình. Thí dụ như trường hợp một Phật tử đến chùa ngước nhìn kim thân Đức Phật, hình ảnh của pho tượng và sự trang trí trên điện thờ Phật có sự tôn nghiêm , có vẻ linh thiêng, khiến cho tâm thiện của người này sanh khởi. Họ cũng dạt dào niềm tin đảnh lễ Đức Phật nhưng rồi họ lại có sự suy nghĩ, “ Con khấu đầu đảnh lễ Đức Phật nguyện cho con được an vui, nguyện cho con phát sanh lên tài lộc, nguyện cho con những đời sau sau được phú quý sang giàu v.v….” Như vậy đối tượng này hình ảnh này trợ duyên cho tâm thiện sanh lên, nhưng tâm thiện đó vẫn còn bị chấp thủ, tức là chấp trước đời sau, chấp trước phước hữu lậu, đối tượng này mang tính chất trung bình.
-Nếu như một đối tương khi làm duyên cho tâm thiện sanh khởi và tâm thiện đó lại hướng đến sự ly tham, vô nhiễm và thiết tha cho mục đích giải thoát hay khởi lên tâm nhàm chán viễn ly. Chẳng hạn như đối tượng của tuệ quán của thiền minh sát, đối tượng này được xem như là cao đẹp nhất bởi vì đối tượng đó đã làm duyên cho tuệ quán phát sanh, ngăn trừ dần những phiền não cho đến đạt được thánh quả, chúng ngộ Niết Bàn.
Ở đây chúng ta phân ba tính chất đối tượng theo khía cạnh thứ nhất.
Nếu chúng ta phân theo duyên khởi, chúng ta cần phải biết rằng:
-Đối tượng nào là cảnh khi làm cảnh duyên cho tâm bất thiện thì đối tượng trở thành cảnh thấp, tức là cảnh hữu lậu thuộc về bất thiện.
_Đối tượng nào là cảnh duyên cho thiện hiệp thế tức là thiện dục giới, thiện sắc giới, thiện vô sắc giới và đối tượng đó vẫn là cảnh hữu lậu thì đối tượng này mang tính chất bậc trung.
-Đối tượng nào là cảnh duyên của tâm siêu thế tức là đạo quả, đối tượng đó trở thành cảnh vô lậu tức là Niết Bàn thì đối tượng này được xem là cao đẹp nhất.
Đó là chúng ta phân loại theo khía cạnh thứ hai.
Ở đây khi chúng ta muốn đề cập đến vấn đề này chúng ta phải dùng trí để suy tư. Chúng ta lấy chuẩn mực là pháp có ba trường hợp, pháp hạ liệt, pháp trung bình và phap cao đẹp. Pháp Khi chúng ta nắm được ý nghĩa chi pháp ba loại pháp hạ liệt, pháp trung bình và pháp tinh lương chỉ cho pháp siệu thế. Từ đó chúng ta suy ra hễ đối tượng của những loại tâm thuộc về hạ liệt có tính chất thấp. Nếu là đối tượng của loại tâm trung bình, đó là đối tượng có tính chất bậc trung. Còn đối tượng nào là cảnh của pháp tinh lương đối tượng đó mang tính chất cao đẹp.