Monday, June 10, 2013

Sự tác hại của ngã mạn là gì?

Hỏi : Sự tác hại của ngã mạn là gì?

(Câu hỏi được hỏi trong lớp Diệu Pháp - Minh Hạnh chuyển biên) 

ĐĐ Pháp Tín trả lời: Sự tác hại của ngã mạn thì có rất nhiều. Trong tích truyện Kinh Pháp Cú nói về sự ngã mạn của một cô thiếu nữ đang ở trong một thời kỳ vàng son sắc nước hương trời, con của vợ chồng ông Bàlamôn. Đức Thế Tôn lúc bấy giờ Ngài đã quán xét thấy duyên lành của hai vợ chồng ông Bàlamôn, nên trên đường đi khất thực Ngài đã ấn dấu chân cho đậm dưới đất để cho hai vợ chồng ông Bàlamôn này thấy. Hai vợ chồng ông Bà La Môn này là người rất hiểu tướng số nên khi thấy được dấu chân của Đức Thế Tôn thì biết vị này phải là vị Chuyển Luân Thánh Vương hoặc là một vị thuộc về qúi tướng, do đó hai vợ chồng người Bàlamôn này đã đi tìm đến chỗ Đức Thế Tôn để tìm coi vị này là ai, và sau khi đã tìm đến Đức Thế Tôn rồi hai ông bà đã mời Đức Thế Tôn ngồi ở đó để ông bà về nhà dẫn người con gái đến mong muốn gả cho một người có bàn chân như vầy. Thì chúng ta thấy rằng khi vợ chồng ông Bàlamôn dẫn cô con gái đến, Đức Thế Tôn đã quán xét thấy duyên lành của hai vợ chồng ông Bàlamôn này sau khi nghe thời pháp sẽ đắc được một quả vị thánh gọi là một quả vị A Na Hàm.

Đức Thế Tôn mới thuyết về sự bất tịnh của thân ngũ uẩn, và Ngài đã nói về đêm thành đạo của Ngài có ba người con gái của Ma Vương với sắc đẹp nghiên nước nghiên thành, nhưng Đức Thế Tôn còn không có sự để ý đến ba người con gái đó, thì huống hồ gì đối với tấm thân của người con gái con của ông Bàlamôn này như là một đống đổ vỡ, một sự bất tịnh, toàn là những mồ hôi nước bọt, những chất thuộc về bất tịnh được bao bọc bởi da. Do vậy Đức Thế Tôn với mục đích thuyết pháp cho hai vợ chồng ông Bàlamôn nghe để đắc đạo quả .

Thì lúc bấy giờ người con gái này vì sự kiêu mạn về sắc đẹp của mình nên khi bị nói đụng chạm như vậy, nàng đã có một sự kết oan trái với Đức Thế Tôn. Chúng ta thấy rằng sự ngã mạn của cô con gái này đem đến một tác hại là ngăn cản đạo quả và ngăn cản sự có niềm tin với Tam Bảo. Giả sử như cô con gái này nếu có đầy đủ duyên lành phước báu balamật thì có thể là chứng đắc được đạo qủa như một người bình thường khi gặp được Đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ hoặc sau khi mình cúng dường hay là mình làm một thiện sự gì đó thì sẽ có được một cái nhìn tương đối với Tam Bảo là Đức Phật, giáo pháp và chư tăng. Nhưng do vì sự ngã mạn ngăn cản lại không cho người con gái này biết được giáo pháp hoặc có được lòng tin nơi Tam Bảo. Thì ở trong trường hợp này chúng ta thấy rằng sự tác hại của ngã mạn làm cho chúng ta bị thiệt thòi rất nhiều đối với các thiện pháp. Chúng ta nói về thời kỳ Đức Phật còn tại thế, ai mà có duyên lành gặp Đức Phật thì phần lớn là đắc chứng được các quả vị thánh hoặc là có niềm tin bất động với Tam Bảo hoặc cũng gieo một duyên lành gì đến với Tam Bảo. Thì chúng ta thấy rằng ở trong thời Đức Phật mà vì ngã mạn thành ra bị ngăn chặn về đạo quả là lớn nhất, và ngăn chặn về những về đức tin ở nơi Tam Bảo.

Trong đời sống bây giờ của chúng ta thì sự ngã mạn sẽ làm chúng ta không thực hành được các thiện pháp. Nếu một người có sự ngã mạn quá cao họ không thể nào bố thí, mà nếu họ có bố thí thì cũng không đầy đủ được năm chi, không có sự bố thí đầy đủ của bậc chân nhân, họ không thể nào bố thí tận tay hoặc bố thí với sự cung kính. Sự ngã mạn và pháp cung kính là hai pháp đối lập, nếu một người có ngã mạn thường khi họ thực hành bố thí họ không thể thực hành được pháp cung kính. Do vậy đối với người có sự ngã mạn qúa cao thì không thể thực hành được những thiện pháp, và nếu chúng ta không thực hành được thiện pháp thì chúng ta sẽ thực hành các ác bất thiện pháp. Ngay chính khi chúng ta đang có một pháp ngã mạn thì là một ác pháp.

Một người có sự ngã mạn thì khó có thể mà thực hành các pháp nằm trong thập hạnh phúc, khó tạo được những các pháp dẫn đến hạnh phúc. Chúng ta thấy chẳng hạn như vị đạo sĩ Sanjaya là vị đạo sư của Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên khi còn là hai vị thanh niên anh em. Thì chúng ta thấy trong kinh dạy rằng khi Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên quay trở lại tìm gặp Thầy cũ của mình là vị đạo sĩ Sanjaya để khuyên ông đi đến làm đệ tử tu tập trong giáo pháp của Samôn Gotama, vị đạo Sanjaya này do sự ngã mạn mà không chịu đi theo học và muốn ở lại làm Thầy làm người đứng đầu cho một hội chúng. Sự ngã mạn này qúa cao và cuối cùng dẫn ông đến một sự tức tối khi thấy hội chúng của mình hết phân nửa đã đi theo tu tập trong giáo pháp của Đức Phật Gotama, và sự tức giận dẫn đến học máu mà chết.
Tóm lại, đối với một người bị pháp ngã mạn ngự trị thì thứ nhất là nó sẽ ngăn cản đạo quả và sẽ ngăn cản sự tạo những phước báu gì đem đến hạnh phúc thuộc về cõi trời hoặc cõi người, và song song ở đó thì có nhiều cái do sự ngã mạn mà phát sanh, nhiều ác bất thiện pháp dẫn theo làm cho chúng ta không thể nào tu tập được, thì câu hỏi này chúng tôi xin được trả lời là như vậy./.

Sunday, June 9, 2013

làm sao biết mình đang ở chỗ đúng hay ở chỗ sai?

Hỏi:  làm sao biết mình đang ở chỗ đúng hay ở chỗ sai?

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu trả lời :  Ở đây, khi tu tập nếu như chúng ta không sử dụng trí tuệ để nhận định, thì như vậy, chúng ta khó có thể biết được là mình đang ở chỗ đúng hay ở chỗ  sai, và chỗ đúng, chỗ sai này nói theo  nghĩa chung chung thì  có thể hiểu được.

         Nhưng nếu câu hỏi này được đưa ra thì chúng ta cần phải phân tách chỗ đúng, chỗ sai đó là chúng ta muốn ám chỉ cho cái gì. Cái chi chế đúng hay là chi chế sai, hay là pháp môn sai hoặc khi chúng ta thực hành theo đường lối mặc dù pháp môn có đúng, nhưng chúng ta thực hành như vậy đúng hay là sai, còn tuỳ theo mỗi trường hợp mà chúng ta quan niệm cái đúng hay là sai.

         Và bây giờ làm sao chúng ta biết được mình đang đúng hay là sai, chúng ta chỉ có hai cách nói theo như Đức Phật  thì tất cả các pháp môn tu tập đều nằm trong hai yếu tố căn bản đó là chánh niệm và tỉnh giác. Chánh niệm tức là sự ghi nhớ, sự ghi nhận và chính chánh niệm sẽ giúp cho hành giả pháp hiện hành vi của thân, của khẩu và của ý, còn tỉnh giác ở đây là trí tuệ nhận thức.

        Phàm làm một việc nào hễ khi chúng ta có chánh niệm có tỉnh giác là chúng ta có sự nhận định một cách sâu sắc về hành vi đó, về sự tu tập đó và nhờ có trí tuệ như vậy cho nên chúng ta không thể nhận định sai sự việc.  Cũng như khi chúng ta nói về giáo pháp làm sao để chúng ta có thể phân định được giáo pháp này là đúng hay là giáo pháp này là sai.

       Ở đây, nếu như riêng về sự đúng sai. Nếu chúng ta đề cập đến vấn đề là làm sao nhận định giáo pháp đúng hay là sai thì trong trường hợp đó chúng ta phải y cứ vào nhận thức pháp luật.  
- Nếu là pháp của Đức Phật thì là pháp đó phải là ly tham,vô nhiễm,
- Nếu là pháp của  Đức Phật thì pháp đó khi thực hành phải là  pháp lià khỏi dục ách phược, hữu phược, trí ách phược, vô minh ách phược,
- Nếu là pháp của ĐứcPhật thì pháp thực hành tức là  không có tích lũy kiếp sống sanh tử luân hồi. 
- Pháp của Đức Phật là đưa đến sự thiểu dục nghĩa là ít ham muốn, đi đến sự chi túc tức là biết đủ, đưa đến viễn ly tức là độc cư không thích ồn ào, không thích tụ hợp.
- Pháp của Đức Phật đưa đến sự tinh cần.
- Pháp của Đức Phật là đưa đến trạng thái không dễ dui.

 Pháp nào có tám đặc điểm trên thì đó là Pháp và Luật mà đức Phật Ngài đã thuyết. 

 Còn pháp nào không có tám đặc điễm trên thì đó là phi pháp phi luật không phải là lời dạy của bậc Đạo Sư.  

Đó là cách mà chúng ta nhận định về đúng và sai của chánh pháp .Còn nếu pháp mà chúng ta nghe được từ nơi một người nào đó, thì chúng ta lấy tám điều này để làm tấm gương hay làm kim chỉ nam để nhận xét.

        Còn nếu chúng ta nói về pháp môn, thì trong trường hợp đó chúng ta cũng phải dựa vào trí tuệ để mà  cứ vào căn tánh của mình.  Khi chúng ta là người có tánh đa tham, tánh đa si hoặc là người có tánh đức tin hay là tánh trí tuệ v.v...thì chúng ta phải lựa chọn một pháp môn thật đúng thật chính xác, nếu không như vậy thì chúng ta đã đi sai pháp môn thích hợp với căn tánh của mình.  Do vậy gọi là không tương ứng với căn tánh, và do không tương ứng với căn tánh như vậy, cho nên khi thực hành thì sẽ không có kết quả.

        Còn vấn đề đúng sai. Nếu chúng ta nói trong đời sống hàng ngày khi chúng ta có những hành vi , có những lời nói khiến người khác họ không vừa lòng, họ có thể chỉ trích lúc bấy giờ thọat đầu chúng ta khởi lên  sự hoang mang không biết mình làm như vậy có đúng hay là sai, tại sao bị chỉ trích, công kích, người ta ghét bỏ như vậy, thì trong trường hợp đó chúng ta phải dùng trí tuệ để suy sét  sở hành của mình, dựa trên phương diện luật mà Đức Thế Tôn đã chế định, dựa vào luật thì chúng ta sẽ biết rằng mình đã làm đúng hay làm sai, hoặc là chúng ta dựa trên tinh thần tu tập mà chúng ta có thể đoán biết được mình làm như vậy là đúng hay là sai, thì trong trường hợp đó luận về đúng hay sai không thể nào mà chúng ta xác định được một chiều, một khía cạnh để trả lời, mà chúng ta cần phải phân tách như vậy./.

Saturday, June 8, 2013

Tự Thân

Hỏi: Tự Thân

(Bài dẫn nhập phẩm Tự Thân trong kinh Pháp Cú, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng giảng: Phật giáo là một trong những tôn giáo không có nhấn mạnh nhiều về sự cầu nguyện hay nhấn mạnh về những niềm tin, mà Phật giáo nhấn mạnh rất nhiều về sự hiểu biết, trong sự hiểu biết đó chúng ta có thể đem ra ứng dụng vào trong đời sống hành ngày. Tuy vậy để có thể cảm nhận và có  thể đưa đạo Phật vào trong đời sống chúng ta không phải là một câu chuyện dễ dàng và chúng tôi nhớ rằng Thiền Sư  Suzuki, một vị Thiền Sư của Nhật Bổn, Ngài rất nổi tiếng là vị đã có phong trào đưa Thiền vào xã hội tây phương, vị Thiền Sư này đã viết một đọan trong tác phẩm Thiền Luận rằng giáo lý về Không Tánh là một trong những giáo lý rất rạng rở của Đạo Phật và đặc điểm đã nhấn mạnh là thiền tông. Nhưng chính giáo lý về Không Tánh này đã giết chết một trong những bộ phận của Phật Giáo Nhật Bổn, người ta đã nhân danh giáo lý này, mà đã làm tiêu hủy đi truyền thống giới luật tinh nghiêm ở trong Sơn Môn,  khi người ta nói rằng "Vạn Pháp Giai Không" đó là một điều mà Thiền Sư Suzuki đã nói trong Thiền Luật.

             Chúng ta cũng nghe đến một câu chuyện khác, chúng tôi  nhớ rằng Thiền sư Pháp Minh một vị đã viết kinh Pháp Cú mà Sư Trưởng hay trích đoạn năm 1979 có một tác phẩm nhỏ được xuất bản trong nội bộ mang tên là  "Cái Ta Nguy Hiểm", đó là bản dịch của Sư Chơn Tâm dịch của Ngài Buddhadàsa, thì Ngài Pháp Minh viết lời tựa cho quyển "Cái Ta Nguy Hiểm "này và ở trong lời tựa Ngài Pháp Minh đã nhấn mạnh rất nhiều về một điều, đó là giáo lý vô ngã phải được hiểu như thế nào đó chứ không thế nào không có cái ngã được bởi vì không có cái ngã thì chúng ta tu để làm gì , ai chứng và ai đắc v.v... Và câu chuyện đó tuy là một bài kệ rất là ngắn gọn nhưng đã gây ra rất nhiều tranh luận sôi nổi, chúng tôi thật sự không biết về khoản đời sau đó thì Ngài Pháp Minh có thay đổi ý kiến gì thêm trong quan niệm của mình hay không, nhưng  phải nói rằng có một cái gì  đó rất là không ổn. Trong  đường hứơng giáo dục của Phật Giáo khi một số các nhà học Phật thì lại nhấn mạnh rất nhiều về một giáo lý vô ngã là một cái quan niệm rằng tất cả mọi thứ đều là rỗng không là huyễn hoá, và không có quan niệm ngã tánh nào có chủ đích. Và ngựơc lại thì chúng ta cũng đề cập đến rất nhiều những quan điểm tu là phải cho mình, là quan niệm tu tập cho mình làm thế nào phải cải thiện đời sống bản thân, đời sống nội tại ở trong đó chúng ta thấy những tranh luận rất lớn về tinh thần tự giác giác tha, tự lợi lợi tha .

             Trong truyền thống Phật Giáo Đại Thừa, khi đề cập đến quan niệm bồ Tát Đạo hay là Bồ Tát Hành là quan niệm đi vào đời, đi vào địa ngục mới cứu độ chúng sinh thì chúng ta vẫn thấy quan điểm của Tịnh Độ tông để làm sao từ bản thân của mình đựơc vãng sanh về Tây Phương cực Lạc, đó là quan niệm hết sức phổ thông của Phật Giáo Đại Thừa.

           Riêng về truyền thống của Phật Giáo Nam Tông thì chúng ta gặp sự chống  rất là gay gắt ở trong truyền thống của những vị dạy về A Tỳ Đàm, khi những vị này có những định nghĩa về Niết Bàn, về giáo lý về vô ngã, có nhiều vị định nghĩa Niết Bàn như là một sự vắng mặt toàn diện không còn gì hết, nghĩa là cuộc sống tất cả sự hiện hữu đều chấm dứt và điều này cũng là một trong những điều rất gay gắt, nhứt nhối, là bởi vì có rất nhiều định nghĩa cho rằng Niết Bàn có nghĩa  là một sự chấm dứt toàn bộ mọi thứ ,thì ở đây nó sẽ trở thành một điều rất tai hại ở trong chuyện quảng diễn giáo lý của Đạo Phật.

            Có hàng bao nhiêu ý niệm liên quan đến tự ngã, ngay cả trong nền triết học tây phương cũng đã có nhiều cuộc khủng khoảng lớn như vậy,  một trong những nhà tiêu biểu cho triết học tây phương cho rằng đã có một khủng khoảng to lớn về một cái tôi, một cái ta một thứ thị dục của ngã mà  ngừơi ta vẫn dùng, như là một con dao hai lưỡi người ta dùng thị dục của ngã để làm sao cho con ngừơi được thăng hoa và được tốt hơn nhưng ngừơi ta dùng thị dục tự ngã như là một chủ trương để gây ra bao nhiêu đau thương cho đời sống, nếu nhìn vào trong lịch sử của nhân loại thì không có điều gì mà làm cho nhân loại điêu linh cho bằng những quan niệm rằng đây là đaọ của mình và mình đã truyền đạo của mình, đây là dân tộc của mình, mình phải làm cái gì để mang lại quyền lợi cho dân tộc của mình và cái chủ nghĩa quốc gia cực đoan như là chủ nghĩa phát xít của Nhật Bản và của Đức Quốc đã làm cho ngừơi ta rất là ngao ngán và rất là sợ hãi về thứ chủ nghĩa quốc gia Nationalist sắp đe dọa nhân loại trên toàn cầu.

            Ở trên thế giới hiện tại bây giờ ngừơi ta đã có những nỗ lực để xóa giảm  bớt lằn ranh biên giới của quốc gia đặc biệt là tại Âu Châu mở đầu với 12 thành viên và hiện tại đã lên tới 15, 16 thành viên và ngừơi ta sắp chuẩn bị để đón nhận những thành viên mới, và trong cộng đồng chung Âu Châu ngừơi ta muốn tìm thấy một  nền kinh tế chung , một đồng tiền, một thứ tiền tệ đựơc dùng chung và một thứ luật pháp về hình ảnh chung và tìm thấy nhiều điểm chung nhưng không ai có thể phủ nhận một điều rằng đã có nhiểu lấn cấn, nhưng mà những quốc gia này muốn hoài vọng vào trong một cộng đồng lớn để chủ nghĩa quốc gia càng lúc càng giảm thiểu, đặc biệt là chúng ta thấy rằng có rất là nhiều lấn cấn và Anh Quốc đã va chạm với cộng đồng chung Âu Châu và ngừơi ta thành lập những khối liên hiệp khác trong đó kể cả khối Asian  khối liên hiệp Đông Nam Á.

           Cho dù nói thế nào đi nữa thì chúng ta đang sống trong một thời đại đầy dẫy mâu thuẫn giống như sự mâu thuẫn đã xảy ra từ bao giờ, trong sự mâu thuẫn đó chúng ta rất mong muốn có được một không gian rộng lớn, không gian rộng lớn này có thể hoà nhập với mọi ngừơi và đồng thời chúng ta cũng muốn gìn giữ lấy một thế giới riêng tư của chính mình, cái riêng tư đó là bản ngã của mình đó là tự ngã của mình, những ý niệm về ngã và vô ngã không phải là ý niệm dễ tiêu hoá những cái ý niệm mà về đối với một ngừơi làm sao gọi là chịu trách nhiệm về hành động của mình, và một lúc khác thì chúng ta cũng phủ nhận vai trò của tự thân ở trong tiến trình nhân quả mà tất cả đều là vô ngã.
   
           Với đại đa số quần chúng Phật tử ngay cả trong sự tu tập ngừơi ta nghĩ tới sự cứu rỗi của bản thân làm cái gì đó để đời sống của mình kiếp này và kiếp sau đựơc tốt hơn, cho dù ngừơi ta nói bằng những danh từ hoa mỹ người ta  dùng cách này hay cách khác. Nói gì đi nữa thì ngừơi ta cũng nói đến tự thân của mình rất là nhiều. Càng lúc chúng ta càng đề cập đến một giáo lý mà trong giáo lý đó không có nhìn nhận quan niệm về ngã kiến hay quan niệm về thị  dục thị ngã là quan niệm mang lại hạnh phúc. Đức Phật Ngài đã từng nói rằng những ngừơi sống với ngã chấp thì ngừơi đó là những ngừơi đau khổ, sợ hãi chứ không có hạnh phúc.
   
         Chúng tôi cũng thưa với quí Phật tử về một hiện tượng thừơng xảy ra như là một điều rất mỉa mai ở trong Đạo Phật và trong hình ảnh  mà chúng ta có thể tìm thấy và trong Đạo Phật có rất nhiều vị cổ võ về một thứ giáo lý vô ngã là chủ ngã không có chỗ đứng, thì bên cạnh đó chúng ta cũng nhận thấy rằng điều này nó chỉ đựơc đặt trên quan niệm về lý thuyết nhiều hơn là đem áp dụng vào trong đời sống của chúng ta, bởi vì ngay cả một vị mà có thể tìm đề tài vô ngã rất gãy gọn rất xuông sẻ thì chính bản thân của mổi chúng ta vẫn thấy trăn trở rất nhiều với những cái gi của tôi, tôi bị xúc phạm như thế nào, cái gì mà tôi có, cái gì mà tôi được, tôi là ai v. v... những thứ đó ảnh hưởng rất lớn.

Friday, June 7, 2013

Để bớt sân tâm phải chăng "né tránh" là thượng sách?

Hỏi: Để bớt sân tâm phải chăng "né tránh" là thượng sách? 

(Thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 6-6-2013, Minh Hạnh chuyển biên và tóm lượt) 

TT Pháp Đăng giảng: Trong câu hỏi này thì bởi vì chúng ta không thể nào mà qua Đức Phật được Đức Phật là bậc Đạo Sư Ngài biết được nên 

Trong bài kinh Đoạn Trừ Lậu Hoặc Đức Phật Ngài dạy có những lậu hoặc mình do né tránh để đoạn trứ, có những lậu hoặc do phòng hộ, có những lậu hoặc nên tu tập. Thì một người có tánh hay sân thì biết người nào hoặc chỗ nào mình đến mà nổi tâm sân thì phải né tránh, né tránh như vậy thì mình đỡ phiền não. 

Bởi thường cảnh sanh tâm. Cảnh là gì? Là cảnh thinh, những lời nói châm chích mình nghe thì sanh lên tâm sân, gọi là tâm sân hữu trợ.

Có hai loại tâm sân là tâm sân vô trợ và tâm sân hữu trợ. Hữu trợ là có sự hổ trợ về thân, về khẩu, về ý của người khác mà họ nói nhiều lần mình tức quá chịu không nổi nên mình sân thì tâm sân này là sân hữu trợ.

Người có tánh sân vô trợ. Cái sân mang đến từ đời quá khứ, đời này họ sanh vào thời kỳ gặp nhiều chướng ngại, rồi không khéo tác ý, không học hành, nên nhiều khi học hành có nhiều sự kiện làm cho mình bớt sân. 

Khi mình có tu tập thấy được tâm sân bởi nhiều khi tâm sân là sự kiêu mạn của mình, mình nghĩ rằng mình giai cấp mà giàu sang vua chúa mình là người có uy quyền thế lực mình là người có tài sản có sắc đẹp v.v... thì chính những điều kiện đó là cái đòn bảy. Như câu chuyện của vị tu sĩ tên là Kuṇḍadhāna đi đâu cũng có bóng người phụ nữ vào làng khất thực nhưng không ai cúng dường, Đức Vua thấy vị này rất đặc biệt nên Đức vua nói rằng: "nếu ĐĐ đi bát mà không ai cúng dường thì ĐĐ vào cung trẫm sẽ cúng dường đến ĐĐ". Thì lúc bấy giờ vị này giống như được tựa vào Đức Vua, chư tăng mà nói cái gì thì vị này chống trả kịch liệt. 
Đức Phật nghe câu chuyện Ngài dạy: 

- "Này Kuṇḍadhāna ông hãy làm như chiếc chuông bị bể thì sẽ dẫn đến Niết-bàn". 

Và Ngài nói kệ rằng:

 Nếu tự mình yên lặng,
 Như quả chuông bể miệng,
 Người đã chứng Niết-bàn.
 Sẽ không còn phẫn nộ.

Thì cái chuông bị bể nghĩa là, chuông phải ngân vang, con người mình có kiêu mạn bây giờ mình bỏ kiêu mạn rồi giống như cái chuông bị bể người ta đánh sao cái chuông cũng không kêu. Bây giờ mình biết tự ngã của mình, mình bỏ tự ngã thì ai chọc ghẹo gì mình cũng không thấy. 

Trong kinh, Ngài Xá Lợi Phất dạy : mình sân là do tự ngã, và tu tập cách quán để đoạn trừ sân. Mình có tai có cảnh thinh rồi có tiếng nói, người nào đó chưởi mình, vì mình có cảnh thinh, có nhĩ căn, có nhĩ thức, nương nơi nhĩ căn. Nhưng nếu mình có tu tập mình biết ngăn chặn, chẳng hạn như căn phòng ngăn bít âm thanh không lan vào trong tai mình được. Giống như người chết cũng có nhĩ vật nhưng ai chưởi thì người chết cũng không nghe được vì người chết không có nhĩ thức, nhĩ thức là tâm. Giả như mình bị điếc, tâm nhĩ thức đó cảnh thinh không có thì không nghe được như vậy. Mình là người có phước sanh ra đầy đủ nhĩ căn nhĩ thức mình phải tu tập nhĩ căn còn nếu không mình nghe người ta khiêu khích tâm sân nổi lên. Ngài Xá Lợi Phất Ngài dạy mình quán như vậy thì không thấy cái tự ngã ở đâu./.

Thursday, June 6, 2013

Tâm này chói sáng là sao?

Hỏi. Tâm này chói sáng vậy tâm bất thiện thì sao?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 16-2-2012, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng giảng: "Tâm này chói sáng", nếu ai học A Tỳ Đàm thì biết rất rõ là đúng nghĩa:
- "tâm" là "thức uẩn".
- và những phiền não thuộc về "hành uẩn"

. Hành uẩn có thiện và bất thiện. Thì cho dù hành uẩn là thiện hay là bất thiện đi nữa thì thức uẩn có đặc tính là biết cảnh và thức uẩn đó thì với nghĩa Đức Phật dạy ở tại đây là chói sáng.


Chúng tôi lấy ví dụ như là vàng thì có mặt ở trong đá trong đất và dĩ nhiên là chúng ta có thể lấy vàng từ trong mỏ vàng. Theo các nhà khoa học cho chúng ta biết rằng ngay cả trong đất sau vườn nhà chúng ta hay là một cục đá mà chúng ta thấy thì nó cũng có một lượng vàng nhất định, tức là ở trên trái đất chỗ nào cũng có vàng hết nhưng mà để lấy vàng ra từ trong cục đá hay trong một thước đất chẳng hạn thì công lấy quá nhiều so với lợi nhuận mình có được, thí dụ lấy một chút vàng trong khi đó mất nhiều công quá nên người ta không lấy, thì vàng có mặt ở khắp nơi. 

Thì thức uẩn là một thành tố của tất cả tâm. Tâm trong A Tỳ Đàm là biết cảnh. Thì chữ "biết" tự nó là chói sáng. 

Ở đây, Đức Phật Ngài không nói đến một cái chân ngã một tự hữu vĩnh hằng. Thức uẩn cũng có sanh diệt.  Nhưng căn bản của thức uẩn là biết cảnh và thức uẩn có mặt ở trong tất cả các tâm, bất cứ một đơn vị tâm nào cũng có bốn nhân uẩn là thọ, tưởng, hành và thức, và do vậy cái biết đặc biệt có giá trị và Đức Phật Ngài muốn cho chúng ta dùng cái biết, ví dụ như  mình có trí tuệ, mình có sự hiểu biết thì thay vì trí tuệ hiểu biết đó mình đầu tư vào những chuyện hoang phí như chơi game hay hoặc giả phiếm đàm với thiên hạ hay là gì đó thì mình dùng trí thức hiểu biết đó vào trong những việc lợi lạc cho đời sống của mình những gì nó liên hệ đến mình những gì mang lại lợi ích cho người khác thì tâm mình chói sáng.

 Đức Phật Ngài nói rõ chứ không phải là Ngài nói mơ hồ, Ngài nói rằng: một người tâm thanh tịnh thì người đó biết được lợi ích của người biết được lợi ích của mình biết lợi ích cả hai và chứng ngộ các pháp bậc thượng nhân tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh, đó là cái biết.

Ở đây, Đức Phật Ngài nói trên phương diện rất thường thức ở bên ngoài là biết được lợi ích của người ,biết được lợi ích của mình, biết được lợi ích cả hai, có tri kiến của bậc thượng nhân, có tri kiến xứng đáng của bậc thánh, thì những điều này cho chúng ta thấy điều gì, cho chúng ta thấy một sự việc rất rõ là chính cái biết đó nó nối được rất là nhiều thứ. Thí dụ mình làm chuyện gì mà mình biết việc đó có lợi cho người khác hay có lợi cho mình hay lợi cả hai thì tự cái biết đó nó được chói sáng.

Thì riêng về tâm là một đơn vị rất nhu nhuyến và Đức Phật Ngài nói rằng Ngài chưa thấy có một cái gì trong đời này mà khéo tu tập khéo huấn luyện khéo tôi luyện mà có lợi lạc giống như một tâm được tu tập, Ngài không thấy. 

Nên chi, chúng tôi nói trở lại là tâm biết cảnh và tâm ở đây cái biết cảnh đó là chúng ta hiểu là thức uẩn, thức uẩn có mặt trong tất cả tâm nhưng mà khi nó đi với tâm bất thiện thì nó cũng có thức uẩn, khi chúng ta học A Tỳ Đàm thì chúng ta thấy điều này là rất rõ ràng ./.

Wednesday, June 5, 2013

Phải chăng phiền não là do chúng ta nhìn sự việc một cách nông cạn?

Hỏi: Phải chăng chúng ta phản ứng phiền não là do chúng ta nhìn sự việc một cách nông cạn? 

(Thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 4-6-2013, Minh Hạnh chuyển biên)

 TT Tuệ Quyền trả lời: Quả thật, chúng ta nhìn sự việc một cách nông cạn cho nên mọi phiền não phát sanh đến chúng ta, mọi chuyện đau khổ là do chúng ta có một cái nhìn hơi phiến diện, hơi chấp thủ, hơi bực bội mà nó sinh ra. 

 Đúng như vậy, ít bao giờ chúng ta có sự phản tỉnh nhẹ nhàng, tất cả điều này do tham ái bảo bọc. Thí dụ như, TT Giác Đẳng hỏi Sư Tuệ Quyền có mặt không, mãi không nghe lên tiếng thì tự nhiên nghĩ ông này khó chịu quá tại sao nói mà không trả lời, ông là cái gì. Nếu như là phiến diện thì chúng ta thấy TT sẽ có bực bội nhưng TT biết rằng quả thật đường truyền internet bị trục trặc, hay là nhìn có chiều sâu, không phải chúng ta nói người khác không nghe mà ngay cả người khác nói chúng ta cũng không nghe người ta nói cái gì thì làm sao mà trả lời.

 Một thí dụ thực tế hơn ở trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma này đôi khi qúi Sư yêu cầu các mc giúp điều này điều kia mà tự nhiên gọi mãi mà không ai nghe trả lời. mà quả thực lúc đó họ đâu có nghe chúng ta vì đường truyền internet của chúng ta bị trục trặc, nếu mà qúi sư bực bội nghĩ rằng họ thiếu tôn trọng thì tự nhiên cảm thấy mình bị xúc phạm sinh ra bực bội, là do cái nhìn nông cạn phiến diện của mình chứ mình không nhìn một cách sâu sắc hơn, và thứ hai mình nghĩ rằng  không có mặt ở trước máy  mà không có mặt ở trước máy một người, hai người, ba người, thì chúng ta biện luận ra tại sao không có mặt một người thì không nói mà hai người ba người v.v... Thì quả thật là do đường truyền internet. Và tất cả là do chúng ta suy diễn, nhưng nếu chúng ta suy diễn một cách tích cực nó khác và cách tiêu cực nó khác. 

 Thường thường, chúng ta cảm thấy suy nghĩ một cách tiêu cực là do chúng ta bảo thủ cái ái của mình, nghĩ rằng mình bị xúc phạm mình nói mà người ta không nghe mình nhờ người ta không làm thì tự nhiên chuyện đó làm bực bội sanh lên, tại sao như thế này tại sao như thế kia, mà rồi những người kia không biết tại sao mình cự nự um sùm, làm người đối diện bực bội, thì cả hai đều cảm thấy bị xúc phạm . Do vậy cái nhìn phiến diện của cả hai bên đều quan trọng. 

 Một học giả Tây Phương nói rằng chiến tranh trong đệ nhất, đệ nhị thế chiến, và tới nếu có đệ tam thế chiến hay là những cuộc sung đột trong từng gia đình đều do tâm con người phóng ảnh ra. Đây là nói trên tinh thần Phật Pháp tất cả đều là do tâm con người biến chuyển ra vì cái nhìn mang tính chấp thủ. 

 Nhiều khi, là ông, là bà, là cha mẹ, mình la rày con cháu hay bực bội con cháu vì mình kêu nó không trả lời, quả thật nhiều khi nó cũng không nghe mình gọi mình nói, rồi mình tự động trách cứ và thấy mình bị xúc phạm, mình là cha, là mẹ, là ông bà mà nó không nghe lời mình hay là tôi là sư phụ anh, tôi là thầy anh mà anh không biết tôn trọng. Thì hàng hàng lớp lớp trong cuộc đời này nó đều do cái nhìn phiến diện rồi chúng ta tự gây đau khổ cho chính mình. 

Trong kinh Pháp Cú có câu:
 Nó chưởi tôi, đánh tôi,
 Nhục mạ, cướp của tôi.
 Lòng không niềm oán hận,
 Oan trái sẽ vơi nguôi.

 Nhưng không phải chỉ chừng đó mà mình còn thấy rằng mình tôn trọng cái danh dự cái tư cách sĩ diện của mình, mà tư cách sĩ diện và danh dự của mình chính là do chấp ngã chấp ái tôn tạo nó bảo vệ nó dính mắc và ai đụng tới nó thì liều chết để bảo vệ, cho nên mới có sự xung đột, mới có đao thương, đao trượng, binh khí miệng lưỡi, và các bất thiện pháp sẽ phát sinh ra. 

 Như trong chùa chúng tôi có một chú tiểu, tuy đã lớn tuổi nhưng rất khờ khạo và còn bị nói cà lăm, đã vậy mà còn không tinh tấn tu học. Một hôm, một vị sư trong chùa đề nghị là đuổi chú tiểu đi với lý do là lười biếng thì chúng tôi giải thích là: 

 "Qúi sư nhìn như vậy nhưng tôi nhìn cách khác. Tôi thấy tội nghiệp người ta, phải nói là chúng sinh nghiệp duyên như vậy rồi thì thôi mình yêu cầu người đó quét chánh điện quét sân chùa là được rồi, đó cũng là thiện phước, cũng coi như là hưởng phước Phật, hãy khởi lên từ tâm rồi từ từ dạy họ đọc câu kinh như vậy là được rồi. Sao Sư lại thấy phiền não, tôi là người phải lo chuyện đó mà tôi không thấy phiền não mà Sư lại thấy phiền não là tại vì sư yêu cầu quá lớn, khả năng họ không có, cũng lớn tuổi rồi mà nói cứ cà lăm nói ba bốn chữ mới ráp được một câu thì thật sự tội nghiệp. Thì tại sao mình nhìn mà mình lại phiền não mà sao không nhìn tích cực hơn là tại cái nghiệp cái duyên của chính họ như vậy, nếu chúng ta có cái nhìn đảo ngược hơn thì chúng ta dễ dãi mà chấp nhận họ cho họ cái duyên hưởng phước Phật, mình có thể che chở và gánh vác cho người ta một phần thì đó cũng là cái phước chung".

 Thì sau khi nghe chúng tôi nói vậy thì vị sư đó nói: "Nghe Sư nói vậy con được giải toả chứ trước kia con nhìn chú con không chấp nhận được chút nào, sao người như vậy sao Sư chứa trong chùa". Thì chúng tôi nói nếu người ta tốt người ta đã không ở chùa tại người ta xấu mới ở chùa tu để được tốt.

 Thì tất cả là do cái nhìn của mình phiến diện rồi tự nó làm phiền não mình. Nếu như mình nhìn sâu hơn, nhìn tích cực hơn thì mình sẽ không bị phiền não.

 Cũng như, chúng ta thương người nào, ghét người nào, chúng ta không thể bảo mọi người đều thương hay ghét như mình. Cái ghét cái thương đều tùy duyên của mình. 

 Cũng vậy, mọi việc trong cuộc đời này không như ý mình, nếu chúng ta biết đánh giá, biết suy nghĩ  tại sao người ta làm khó khăn mình, mình đau khổ là do nghiệp của mình đã tạo chứ không tự nhiên ai đó chọc phá mình hay đánh mình. Trên tinh thần Phật pháp thì không có tự nhiên họ chưởi mình, không có tự nhiên họ đánh mình, cũng không phải tự nhiên mà viên đạn lạc đến mình vô cớ mà mình lại hoạ vào thân, mà đều là có cái duyên, tại sao không là người khác mà là mình. Còn nếu như mình được cái may mắn thì mình vừa lòng còn nếu như mình bị cái điều không tốt đẹp, cái xấu hay tai nạn đến mình như mình cảm thấy bực bội thì cái bực bội đó cũng chính sanh lên cái tâm phẩn uất trong lòng mình. Nếu chúng ta có sự suy xét kỹ thì đây là do cái nhân duyên phần của mình, do ác nghiệp, do thiện nghiệp của mình, suy nghĩ như vậy thì mọi việc nó khác. 

Và cuộc đời này chúng ta không bao giờ đòi hỏi người khác như ta được và cũng không đòi hỏi ta như người khác được. Tất cả là có cái nghiệp riêng và nghiệp riêng đó chính là họ đi theo cái nghiệp của họ, đi theo nghiệp cảm, đi theo sở hành của chính họ. 

 Chúng ta nghĩ một cách đơn giản như vậy thì phiền não sẽ không có mặt và chúng ta không cảm thấy rằng đó là một điều mà nó mang đau khổ cho chính ta. Và trong cuộc đời này ai mà sanh ra mà có giống nhau bao giờ, tất cả đều khác nhau bởi vì do nghiệp khác nhau, do tâm khác nhau, cho nên nghiệp cũng khác nhau, và nghiệp khác nhau thì hành tướng và sở tánh cũng khác nhau, hình thức bên ngoài cả bên nhau cũng khác nhau./.           

Tuesday, June 4, 2013

Như thế nào để một người Phật tử có niềm tin nhưng không rơi vào cuồng tín?

Hỏi: Một người Phật tử nên như thế nào để có thể an trú trong pháp, hoan hỉ trong pháp, suy tư pháp, thường niệm tưởng pháp, nhưng không rơi vào thái độ cuồng tín?

(Thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)
TT Tuệ Siêu trả lời: Ở đây, trong vấn đề này thì chúng tôi sẽ khuyên các Phật tử, trong việc chúng ta hoan hỷ an trú trong pháp, hành trì theo pháp mà chúng ta tránh được sự cực đoan, hay là tránh được cuồng tín, thì xin gợi ý ba điểm.
Thứ nhất, chúng ta phải hiểu thế nào là sống theo pháp. 
Điểm thứ hai là chúng ta phải chuẩn bị cho mình một trạng thái tâm lý, nhìn sự vật ở đời với tâm ly tham và nhàm chán, thật sự chúng ta không bị dính mắc, không bị thần tượng một cái gì đó, thậm trí đối với Đức Phật, chúng ta cũng không nên có sự dính mắc quá đáng, chúng ta không nên thần tượng một cách quá đáng mà chúng ta dùng trí tuệ để chúng ta suy tư về đức tánh của Ngài.
Điểm thứ ba, khi người Phật tử chúng ta thực hành theo pháp, nhắm đến mục đích giải thoát.  Chúng ta biết rõ chính tự mình mới là vị cứu tinh của mình, tự mình mới giúp mình thoát khỏi sự khổ đau luân hồi này, chúng ta không nương tựa bất cứ một tha lực nào khác.
Thường thường một người cuồng tín là người họ dựa vào một đối tượng siêu nhiên, và đối tượng đó họ khất phục một cách vô điều kiện, và với niềm tin họ đặt nơi đối tượng đó, họ tùy thuộc đối tượng đó, họ không cần dùng trí để suy tư, và chính họ cũng không biết gì về thực trạng của cuộc đời này, chính vì vậy cho nên họ mới rơi vào tình trạng gọi là cuồng tín.
Người Phật tử chúng ta thì khác, khi chúng ta hiểu về giáo pháp, chúng ta phải dùng trí tuệ  khách quan. Chúng ta tin nơi Đức Phật, chúng ta cũng phải dùng trí tuệ khách quan, chúng ta nhắm đến mục đích tu tập, mục đích giải thoát là chúng ta cũng phải dùng vào trí tuệ khách quan, có như vậy thì đời sống của chúng ta trong việc tu tập mới thấy giá trị của giáo pháp, đồng thời chúng ta có thể ngăn ngừa được trạng thái cuồng tín.
Có ba khuynh hướng tu tập, tức là một người nặng về đức tin, người này nếu như không khéo tu tập, coi chừng rơi vào tình trạng cuồng tín, mặc dù có khuynh hướng tinh tấn, họ cũng có thể đi đến sự tu tập sự thực hành thái quá bất cập.
Còn một người nặng về trí tuệ nếu như họ không phối hợp với niềm tin và tinh tấn, thì chính họ đã sanh khởi sự hoài nghi như tự họ phản bác lại lời dạy của Đức Phật, trong khi với trí tuệ của kẻ phàm phu, họ càng suy xét, nhưng vì họ không có niềm tin cho nên họ không hiểu về giáo lý bằng sự thán phục, do đó họ rơi vào tình trạng hoài nghi. 
Như vậy với ba khuynh hướng tu tập này chúng ta phải thận trọng: nếu mình là một người nặng về đức tin thì phải bổ khuyết về đức tính chuyên cần tinh tấn, cố gắng bất thối chuyển, nếu như chúng ta là người nặng về đức tin thì chúng ta phải có trí tuệ, mới có thể dàn xếp được, mới có thể củng cố được và chuyển hướng niềm tin của chúng ta đi vào nẻo chánh, đó là thứ nhất.
Người nặng về tinh tấn, trong sự tinh tấn tu tập, sự tinh tấn đó là một sự cần thiết, nhưng vì không có niềm tin nơi đức Phật cho nên chúng ta có sự tinh tấn nỗ lực quá đáng, cái gì chúng ta cũng thực hành, cái gì chúng ta cũng đeo đuổi, cái gì chúng ta cũng thọ trì mà chúng ta không có được niềm tin vững chắc, không có được trí tuệ để phân tích, thì như vậy nó cũng sẽ tai hại cho chúng ta. 
Còn nếu chúng ta nặng về trí tuệ, chúng ta phải bổ khuyết về niềm tin và sự tinh tấn, trong trường hợp này mới có thể giúp cho chúng ta có được sự tiến hóa, để chúng ta có được sự an trú trong pháp, hoan hỷ trong pháp mà chúng ta không bị tình trạng gọi là cuồng tín.
Ở đây, một điều mà chúng tôi cũng xin nhắc nhở với quí vị là đối với thiện pháp, sự khéo tác ý, là nhân, là duyên để phát sanh lên thiện pháp, phát sanh lên chánh kiến, và một người có thiện pháp, một người với chánh kiến thì người này sẽ không bao giờ khởi lên cuồng tín được.
Bởi vì cuồng tín ở đây nó có khuynh hướng thiên về tà kiến, khi một người có sự khéo tác ý, là nhân, là duyên phát sanh lên chánh kiến, thì như vậy người này sẽ không cuồng tín được. Do đó ở đây Phật tử chúng ta cần biết rõ như vậy, cho nên sự tu tập của chúng ta an trú trong pháp, chúng ta phải có niềm tin an lập trên trí tuệ đối với chánh pháp, phải biết rõ về đức Phật bằng trí tuệ và chúng ta phải tự quyết định sự giải thoát, sự tu tập của mình mà chúng ta không cầu cạnh một tha lực nào khác, đó là điều chúng ta cần thiết để chúng ta vừa an trú trong pháp, mà chúng ta cũng vừa tránh khỏi tình trạng gọi là cuồng tín./.