Saturday, July 25, 2015

Tăng Chi Bộ - Kinh Làm Bạn Với Thiện - Như Lý Tác Ý và Giác Chi

Tăng Chi Bộ - Làm bạn với thiện - Như Lý Tác Ý và Giác Chi

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 12-7-2015, Minh Hạnh chuyển biên và biên tập
 (Xin lưu ý: Tất cả những bài chuyển biên này chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

TT Giác Đẳng: Hôm nay chúng ta nói đến 2 phần liên quan đến bài học: một là Như Lý Tác Ý, hai là Giác Chi. 

Giác Chi là những chi phần hay những yếu tố để thành tựu tuệ giác. Yếu tố thành tựu tuệ giác ở đây chỉ cho Thất Giác Chi. 

Thất Giác Chi có: - Niệm Giác Chi, Trạch Pháp Giác Chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Ðịnh giác chi, và Xả giác chi. 

Niệm Giác Chi là khả năng tỉnh táo ghi nhận. Thí dụ, khi mình hướng tâm đến một đối tượng ở thân tâm mình như hơi thở, hoặc bước đi, hoặc cảm thọ thì chúng ta có khả năng nhìn thấy rõ: đây là thọ khổ, đây là thọ hỉ, đây là thọ lạc, đây là thọ ưu, đây là thọ xả v.v... Chẳng những hiểu như vậy chúng ta hiểu được là chúng ta ghi nhận cảm thọ này chưa có bây giờ có là sanh. Và nó có rồi bây giờ chấm dứt gọi là diệt. Thì giống hơi thở vào ra, giống như bước đi, giống như những thao tác lớn nhỏ của chúng ta. Khả năng nhận diện và biết rõ là Niệm Giác Chi. 

Trạch Pháp Giác Chi là yếu tố phân biệt không lẫn lộn pháp thiện hay pháp bất thiện, đây là pháp nên thân cận và đây là pháp không nên thân cận .v.v... 

Cần Giác Chi là yếu tố tinh tấn. Sau khi mình có khả năng nhận rõ thế nào là thiện thế nào là bất thiện, thế nào là những pháp nên thân cận và không nên thân cận thì mình nên đặt sự nỗ lực ở chỗ nào. Giống như một người làm vườn biết rõ trong vườn cây của mình cây nào nên để và cây nào không nên để, mình đã biết rõ như vậy thì rất tinh tấn, rất tinh cần để chặt những cây không nên để và rất tinh cần để trồng những cây nên làm cho tăng trưởng. 

Hỉ Giác Tri là trạng thái hân hoan, trạng thái hoan hỉ. Trạng thái hân hoan là một trong lẽ sống an lạc của một hành giả. Hỉ Giác Tri như một người làm không biết mệt vì lý do thấy công việc mình có kết quả, mình vui với công việc gọi là Hỉ Giác Chi. 

Tịnh Giác Chi hay Khinh An Giác Chi là trạng thái nhẹ nhàng, trạng thái không có yếu tố của phiền não, trạng thái an tịnh nhẹ nhàng như một người sống không bị phiền bị lụy . 

Định Giác Chi là khả năng tập trung trên một đối tượng và tập trung lâu. Thí dụ mình ngồi niệm hơi thở, mình có thể ngồi niệm hơi thở rất lâu hướng tâm đến điều gì, tâm mình không phải muốn chạy đầu này chạy đầu kia mà nó có khả năng an trú trên một đề mục là Định Giác Chi, chúng ta thường gọi có sự bền bỉ là Định Giác Chi. 

Xả Giác Chi là một trạng thái tâm điềm đạm, trạng thái tâm quân bình, trạng thái này giống như một người đã thạo việc, đã thuần thục, do thạo việc nên thuần thục, người này không có những chao đảo, mà đạt đến sự điềm đạm.

Bảy yếu tố của tuệ giác là Niệm Giác Chi, Trạch Pháp Giác Chi, Cần Giác Chi, Hỉ Giác Chi, Tịnh Giác Chi hay Khinh An Giác Chi, Định Giác Chi và Xả Giác Chi là những yếu tố để làm cho sanh khởi và tăng trưởng tuệ giác. Nó tương tự như ngày nay tại các quốc gia phát triển người ta so sánh những phát minh về khoa học, những phát minh dẫn đầu, chúng ta thấy quốc gia nào có những phát minh dẫn đầu thì quốc gia đó thường có nền kinh tế rất mạnh. Bởi do những phát minh mới tạo ra những sản phẩm mới. Và cái gọi là phát minh lệ thuộc vào nhiều yếu tố từ trường học cho đến môi trường kinh tế cho đến những công trình nghiên cứu, những yếu tố này dẫn đến những phát minh. Thì tương tự như vậy, hành giả sống có được tuệ giác để nhìn thấu triệt, nhìn xuyên suốt vấn đề phải có những yếu tố và những yếu tố này giúp cho hành giả nhận diện, giúp cho hành giả khởi sanh lên tuệ giác, yếu tố đó gọi là Giác Chi. 

Trong bài kinh này có gợi ý khác quan trọng là những Giác Chi sanh khởi do Như Lý Tác Ý. 

Lấy ví dụ như Niệm Giác Chi hay Trạch Pháp Giác Chi. Như Lý Tác Ý ở đây được hiểu là khả năng nhìn sự việc một cách tích cực hay một cách khôn khéo.

Một thí dụ đơn giản là có nhiều người nói rằng "con không thể ngồi thiền được vì tâm động quá". Khi mình thấy tâm động do đó quyết định tâm động thì không ngồi thiền nữa, đó là cái nhìn không thiết thực. Bởi vì sao vậy? Bởi vì các vị Thiền Sư đều dạy hễ ngồi thiền là tâm phải động mới bắt đầu là vậy, chúng ta là phàm nhân, nhưng chính vì tâm mình động nên cần phải ngồi thiền và khi bắt đầu ngồi thiền mình phải vượt qua một giai đoạn, giai đoạn đó là giai đoạn buồn chán, giai đoạn vật lộn với chính mình, khi vượt qua giai đoạn đó mình mới có thể tiến tới.

Một ví dụ khác, thường thường hành giả tu tập những lúc tâm bị phiền não nhất là hôn trầm thụy miên hay bị buồn ngủ thì mình lấy lý do tâm mình bữa nay không phấn chấn, tâm mình bữa nay không tích cực do vậy mình nghỉ. Nhưng kỳ thật với một người có tu tập hiểu biết thì chính trạng thái tâm tinh tấn hay dã dượt, tâm có định hay không có định đều là đối tượng của chánh niệm. Vấn đề quan trọng không phải mình phải như thế này mới tu tập chánh niệm, phải như thế kia mới tu tập chánh niệm. Mà vấn đề là cái nào cũng là đối tượng của chánh niệm, cái nào cũng là đối tượng để mình ghi nhận. Điều này như vầy là, vị hành giả có khả năng để phát triển chánh niệm ở trong mỗi điều kiện ở trong mọi trạng thái tâm, và vị hành giả không đặt điều kiện mình phải tốt thế này, mình phải an lạc thế kia, mình phải thanh tịnh như thế nọ mới tu tập chánh niệm, tại vì đối tượng của chánh niệm là tất cả, tu tập chánh niệm không đòi hỏi là mình phải tốt như vậy mình mới tu tập chánh niệm, mình không tốt như thế kia mình không tu tập chánh niệm, không phải như vậy, mà tất cả đều là đối tượng của sự tu tập chánh niệm. Cái nhìn đó gọi là cái nhìn Như Lý Tác Ý, cái nhìn tích cực. 

Có lần chúng tôi đọc câu chuyện của Khuất Nguyên. Là một người bất đắc chí, khi ông cố gắng đem tài sức để giúp cho cuộc đời, nhưng ông thấy cuộc đời nhiễu nhương người ta sống tranh danh đoạt lợi, và tiếng nói của một kẻ sĩ ưu thời mẫn thế như ông không có một ảnh hưởng gì xây dựng được. Ông chèo thuyền trên sông Tương định trầm mình tự tử. Lúc đó có một ông lão chèo thuyền đi ngang hỏi Khuất Nguyên: "tại sao ông muốn tự tử?" Ông nói rằng "cả đời đều đục, chỉ mình ta trong, cả đời đều say, chỉ mình ta tỉnh và do vậy ta chọn cái chết". Ông lão nghe nói như vậy tiếp tục bơi thuyền đi và ông lão hát "Sông Tương nước chảy trong veo. Thì ta lội xuống rửa lèo mũ ta. Sông Tương nước đục chảy ra, thì ta lội xuống để mà rửa chân". Nước trong thì rửa lèo rửa mũ tức là mình giặt khăn và rửa cái nón của mình và nước đục thì rửa chân không cớ gì phải giận nước đục nước trong của sông Tương. 

Dĩ nhiên, đó là câu chuyện mang tánh cách giai thoại. Nhưng riêng đối vớì người tu tập Giác Chi thì phải giống như ông lão nói: trời mưa cũng vậy, trời nắng cũng vậy, vui cũng vậy, buồn cũng vậy, tinh tấn hay không tinh tấn, uể oải hay không uể oải, mạnh hay khỏe tất cả đều là đối tượng của chánh niệm, thắp sáng chánh niệm, tại vì chánh niệm nhận thức đây là tâm thiện, đây là tâm bất thiện, đây là tâm có định, đây là tâm không có định, đây là tâm cao qúi, đây là tâm hạ liệt, nó là cái gì đi nữa chỉ ghi nhận thôi và luôn luôn làm công việc của một người đứng ghi nhận chứ không phải một người mặc cả trả giá đôi co hay đòi hỏi việc này việc khác. Chúng ta phải thấy đa số những căng thẳng những phiền hà đến từ thái độ sai lầm của chúng ta. 

Ví dụ, chúng tôi làm trụ trì khi có chuyện rắc rồi phiền hà xảy ra chúng tôi bực bội nói rằng mình làm trụ trì đã mệt rồi còn gặp những chuyện này nữa mình bực bội, đó gọi là không Như Lý Tác Ý. Khi làm trụ trì gặp chuyện khó khăn phiền hà mình nói "đây chính là công việc trụ trì phải làm", làm trụ trì mình giải quyết những khó khăn phiền hà, đó là chuyện tự nhiên, nếu không khó khăn không có phiền hà thì không ai cần vị trụ trì, làm trụ trì là phải đối mặt với những chuyện đó gọi là Như Lý Tác Ý , vai trò của mình phải làm, ngồi đó trách móc cằn nhằn để làm gì , để phiền hà thêm chứ không được gì hết. Ở trong tất cả mọi trường hợp, ngồi xuống giải quyết làm được cái gì cần phải làm, không phải gặp khó khăn mình than thở hay cằn nhằn, than thở với ai và cằn nhằn với ai mà là trách nhiệm của mình. Đó là chúng ta gọi là cái nhìn tích cực. Hay chúng tôi lấy ví dụ những vị có trách nhiệm điều hành công việc trong room, có thể là qúi vị vào làm việc có những lúc thiếu người giúp đỡ hay có những chuyện phiền này hay phiền khác rồi qúi vị nói tại sao có nhiều chuyện phiền như vậy, nhưng công việc của tri chúng là gì? công việc của tri chúng là giải quyết những chuyện đó, công việc của tri chúng là mình có mặt để xử lý những chuyện như vậy, nếu không xử lý những việc như vậy đâu ai cần đến mình . 

Nói chung, một người tu tập Giác Chi người đó rất cần Như Lý Tác Ý để có thể vượt qua những rào cản, để vượt qua những gì mình nghĩ khó khăn. Nói cho cùng là mình tự đặt điều kiện cho mình, điều kiện tôi không thể làm thế này, tôi không thể tu thế kia, không thể tu thế nọ là bởi vì, tại, bị, là lý do này lý do khác. Đối với cái nhìn Như Lý Tác Ý là cái nhìn phải vượt qua điểm đó. 

Có người hỏi Ngài Ajahn Chah là "con bận quá con không có thì giờ để ngồi thiền" Ngài hỏi "có thì giờ để thở không?", người đó trả lời "dạ có", Ngài trả lời "có thì giờ để thở thì có thì giờ ngồi thiền được". Đơn giản như vậy, hễ mình muốn chuyện đó thì mình làm được mà mình không muốn thì không làm được. Chúng tôi lấy ví dụ, bây giờ có nhiều người rất thích sài Ipad, rảnh thì giờ là dùng Ipad, vì thích Ipad. Nhưng nếu họ không thích Ipad thì họ nói không rảnh thì giờ để học cách dùng Ipad vì tôi bận lắm bận việc này việc kia tôi không thể đụng vào Ipad. Nhưng nếu mình thích thì tìm mọi giá, mọi thì giờ, mình sẽ học được, và sẽ làm được. Con người mình là vậy, hễ mình đặt trọng tâm ở đó mình quyết tâm làm việc đó thì mình sẽ làm được, mà mình không thấy được cái lợi lạc của nó thì mình không bao giờ muốn dự vào, mà khi mình quyết tâm làm thì cái gì mình cũng làm được, mình phải hiểu như vậy. 

Chúng tôi có đọc ở câu chuyện Siddhartha của Hermann Hesse trong câu chuyện Tất Đạt với Kiều Lan. Tất Đạt đưa ra hình ảnh một viên sỏi quăng xuống hồ tự nó sẽ tìm tới đáy, đó là bản chất tự nhiên như vậy. Đời sống một vị Samon khi có một ý hướng rõ ràng của mình thì tự mình biết sẽ làm việc gì. Quan trọng là thái độ của chúng ta, sự nhận thức của chúng ta, mình tu mình hiểu việc gì phải làm. Mình phải hiểu những cái ngăn ngại nó đến từ thái độ của mình, từ cái nhìn của mình, tôi phải có cái này tôi mới làm, phải có cái kia tôi mới làm, tôi có thế này mới hạnh phúc, tôi không có cái kia không hạnh phúc, đó là tự mình làm khó mình, tự mình đặt điều kiện với chính mình, tự mình làm hàng rào cho mình. Và pháp Như Lý Tác ý hay là chánh tư niệm giúp cho chúng ta vượt qua những hàng rào đó, ở đây không phải là chuyện đơn giản. 

Chúng ta nghe những câu chuyện như bà hoàng phi Khema, một người rất thông tuệ nhưng qúi trọng sắc đẹp và không bao giờ muốn đến nghe Đức Phật thuyết pháp. Đức Phật Ngài đã dùng thần thông cho bà thấy hình ảnh của hai cô thiếu nữ từ tuổi trẻ cho đến tuổi già cho đến khi biến thành tử thi. Lúc bấy giờ bà vượt rào cản trở thành một vị tỳ kheo ni. Thật ra không phải bà không có đủ khả năng để nhận thức ra sanh lão bệnh tử nhưng vấn đề bà có những mặc cảm, mặc cảm đối với sự thật, mặc cảm đối với sự việc. Mặc cảm đó khiến cho mình không muốn nhập cuộc, không muốn lên đường, không mở mắt lớn ra để nhìn sự thật đó. Tất cả những người tu tập đều phải ý thức người cản trở mình nhiều đó là bản thân của mình, người khiến mình không tu được, không an lạc được chính là bản thân mình. Và Như Lý Tác Ý là khả năng để chúng ta thấy được điều đó, Như Lý Tác Ý là khả năng để chúng ta vượt qua điều đó. Đặt lại cái nhìn thôi, trời nắng cũng được, mưa cũng được, siêng cũng được, biếng cũng được, vui cũng được, buồn cũng được. Vấn đề không phải nó là cái gì, vấn đề là mình có thắp sáng được chánh niệm nhìn nó hay không, và luôn luôn mình phải tìm cách vượt qua cái nhìn tiêu cực.

Người sống Như lý Tác Ý họ có nhiều điều tốt. Bà Visàkhà cùng người tì nữ đến chùa nghe Đức Phật thuyết pháp, bà giao cho nàng tì nữ giữ áo của bà, trong lúc đó nàng tì nữ cũng mải mê nghe pháp khi về để quên cái áo thì bà dặn trở lại để tìm nếu còn đó thì lấy về, nếu Chư Tăng đã đụng tới rồi thì bà sẽ cúng dường Tam Bảo chiếc áo đó. Khi trở lại biết Tôn Giả Ananda đã cất rồi bà quyết định bán chiếc áo và dùng số tiến bán chiếc áo để xây ngôi chùa về sau này gọi là chùa Đông Phương Tự. Và thay vì trách móc cô tì nữ thì bà Vishaka lại xây chùa xong cám ơn người tì nữ đã tạo cơ hội cho bà làm phước. Thật ra trong hoàn cảnh nào cũng vậy, nhiều khi chúng ta để ý chút xíu chúng ta thấy rằng nó không có tệ giống như chúng ta nghĩ, nó vẫn có yếu tố tích cực. Người ta nói chuyện gì cũng có hai mặt của nó, mặt trái mặt phải và chúng ta muốn nhìn mặt nào là cái nhìn của chúng ta. 

Khi ở gần Ngài Hộ Giác có nhiều lần chúng tôi thấy người Phật tử bị tai nạn xe cộ họ đến nói với Ngài: "Con bị đụng xe nguyên cả cái cản phía sau bị hư xui quá, bạch Ngài" , Ngài nói: "Thật ra mình bị đụng xe mà xe hư còn mình không sao là mừng là rất là may mắn, nếu bị thương tích hay bị gì thì phiền nữa". Thì chúng tôi tin rằng lời Ngài nói không phải là chuyện xã giao mà là thái độ tích cực, chiếc xe đụng rất nặng, chiếc xe bị hư hại mình bình yên thì mình nên hoan hỉ với điều đó. Hay hoặc giả là ở trong cuộc sống của chúng ta có nhiều khi qúi Phật tử đi chùa làm phước có những chuyện phiền, có lý do này lý do khác, người này làm vừa ý người kia làm không vừa ý, nhưng việc mình vẫn cứ làm và nhiều khi làm mệt như vậy mình có công quả thêm thì mình làm đó là thái độ tích cực. 

Chúng tôi luôn tin cái nhìn tích cực hay còn gọi là Như Lý Tác Ý như lời Đức Phật dạy ở đây đó là làm cho những thiện pháp tăng thịnh và làm cho các ác pháp suy giảm. Như Lý Tác Ý giúp cho chúng ta nhìn ở một góc cạnh tốt nhất lợi thế nhất chúng ta gọi là thế thượng phong để nhìn vào vấn đề. Nếu chúng ta muốn thắng được giặc phiền não chúng ta phải chọn cái thế thượng phong, thế thượng phong cho phép những thiện pháp của chúng ta có điều kiện tốt. Mình chưa ra quân mà mình nhìn vấn đề bi quan quá thì thật ra nó làm nản lòng tất cả mọi người. Và đặc biệt trong trường hợp sự tu tập của mình nếu mình cứ nhìn một cách tiêu cực thì sẽ nản. 

Khi chúng tôi làm việc chúng tôi nhận ra một điều ở trên đời này chỉ có hai hạng người, một hạng người có cái nhìn tích cực và hạng người có cái nhìn tiêu cực. Hạng người tích cực thì trong khó khăn nào họ cũng cố gắng nhập cuộc, cố gắng tìm cái gì đó để làm, tìm một đạo lộ để giải quyết sự bế tắc. Người tiêu cực thì lúc nào cũng than vắn thở dài, người tiêu cực lúc nào cũng nản lòng thối trí. Cuộc đời đã khổ rồi gặp họ còn khổ nhiều hơn nữa, chúng tôi gặp nhiều người là cuộc sống đã mệt rồi gặp họ còn mệt thêm nữa, luôn luôn họ muốn chúng tỏ rằng họ thấy được những cái mệt. Nhưng thật ra mình không cần, cái mình cần không phải là mình bươi móc thêm chuyện buồn phiền, cái mà mình cần mình nhìn làm sao tìm ra một ngõ ngách nào đó để khai thông, cái mình cần là làm sao có cái nhìn tích cực nhìn xuyên thấu ./. 

Friday, July 17, 2015

Kinh Mi Tiên Vấn Đạo - Ví dụ về đặc tính của vật thực

Kinh Mi Tiên Vấn Đạo - Ví dụ về đặc tính của vật thực

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 9-3-2014, Minh Hạnh chuyển biên và biên tập
(Xin lưu ý: những bài chuyển biên này chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

TT Giác Đẳng: Câu chuyện về ẩm thực ăn uống là đề tài muôn thuở của chúng ta. Ngày hôm nay khi đề cập đến những đặc tính của vật thực hay thực phẩm chúng ta chỉ nói đến 3 đặc tính mang tánh cách  phổ thông. Khi đề cập đến văn hóa của một quốc gia người ta thường cộng vào phần văn hóa ẩm thực tức là sự ăn uống.

Riêng trong Phật Pháp chữ thực phẩm hay dưỡng tố hay thức ăn là một ở trong những đề tài lớn như chúng ta thường nghe "tất cả chúng sanh tồn tại do vật thực hay do dưỡng tố". Và dĩ nhiên, Phật Pháp đề cập đến dưỡng tố ở trong một hình thức một phạm trù rất rộng, ví dụ: 

- Cơm bánh nuôi dưỡng thân thì cơm bánh là thực phẩm.

- Xúc thực là sự gặp gỡ giữa căn cảnh và thức thì chúng ta có thể hiểu cảnh thường nuôi dưỡng tâm.

- Thức thực, chúng ta nói tâm nuôi dưỡng sự sống 

- Và sau cùng là tư niệm thực chúng ta nói đến hành vi tạo tác hay chủ tâm tạo tác nuôi dưỡng sự luân hồi. 

Nói một cách khác, một nguyên lý đạo Phật dạy tất cả mọi thứ tồn tại trong cuộc đời đều phải có chất liệu gìn giữ cho nó tồn tại. Đơn giản, chúng ta cắt một nhánh hoa cắm vào trong bình nếu không cho nước một thứ dinh dưỡng rất cần cho cây thì hoa đó khi cắm vào trong bình khô sẽ rất mau tàn chỉ một buổi đã héo rồi.

Ở đây, dĩ nhiên thực phẩm trong thí dụ này đề cập đến một loại gọi là đoàn thực tức thực phẩm ăn để sống như cơm, như bánh. Thì rõ ràng người cũng vậy vật cũng vậy, tất cả những thành phần, những động vật, phải có ăn cách này hoặc cách khác. Riêng về con người chúng ta mỗi quốc gia có một loại thực phẩm riêng, người Ấn Độ ăn cà ri nhiều, người Nhật Bản ăn những thực phẩm tươi nhiều, người Trung Hoa ăn dầu nhiều, người Tây Phương ăn thịt nhiều v.v... Nhưng những lúc chúng ta nhịn đói, những lúc chúng ta không ăn chúng ta thấy cơ thể bị ảnh hưởng rất nhiều. 

Cách đây hai năm chúng tôi bị bệnh tiểu đường, và khi bắt đầu bị bịnh tiểu đường chúng tôi thường phải cẩn thận lúc nào cũng phải có thứ gì đó để trong trường hợp đói mình ăn không để cho lượng đường xuống quá thấp. Về điều này đôi khi ăn thực phẩm vào mình cảm nhận ngay ảnh hưởng của thực phẩm đối với cơ thể như thế nào. Những người không bị tiểu đường có thì ăn cho vui không có thì thôi. Nhưng với người tiểu đường đôi khi một viên kẹo cũng làm cho chúng ta khác biệt, có khi thiếu chất ngọt con người héo úa, đói lả người, rồi có chất ngọt vào mình khác đi lúc đó mình thấy thân của mình như một thứ cây, thân mình như một nhánh hoa cần nước để tồn tại không có nước thì héo úa. 

Do vậy, Đức Phật Ngài dạy thực phẩm có đặc tính nâng đỡ làm cho cơ thể được tồn tại làm cho sự sống của chúng sanh được tồn tại. 

Chúng tôi thấy hầu hết trong những phim tài liệu về động vật, những con vật sống trong rừng, sống trên không, hay sống trong nước tất cả khi đề cập đến cuộc sống người ta thường đề cập đến thực phẩm, loài đó ăn gì và làm sao để săn mồi, làm sao để tìm thức ăn, và khi nó ăn xong thì đặc tính gì chúng ta tìm thấy ở loài đó.

1. Thì ở đây trong thí dụ đầu tiên: 

"Tâu đại vương, giống như vật thực là sự nâng đỡ cho tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên là sự nâng đỡ về Đạo Lộ cho tất cả chúng sanh". 

Về điểm này, có chiêm nghiệm có tu tập chúng ta mới thấy. Riêng về bản thân của chúng tôi có thật sự cảm nhận một cách sâu sắc từ những bậc Thầy Tổ từ những vị tu tập, đôi khi chúng tôi nói chuyện với một số anh em huynh đệ nhất những vị thân thiết, chúng tôi thường tâm sự chính nhờ từ nhỏ đến lớn được sống gần những bậc Thầy Tổ như Ngài Tịnh Sự, HT Minh Châu, Sư Trưởng, sau này ra nước ngoài ở gần Ngài Taungpulu, Ngài Ajahn Chah, Ngài Ananda Maitri, hay những người cư sĩ như cô Bảy Vĩnh Phúc chẳng hạn. Chính những vị đó đã cho chúng tôi thấy một người học, một người tu, một người sống với Phật Pháp ảnh hưởng mình đến mức độ nào. Và khi chúng tôi sống tại chùa Pháp Luân một người ảnh hưởng đến chúng tôi rất nhiều, đó là Ngài HT Hộ Giác, có lẽ những ngày giờ cuối đời của Ngài ảnh hưởng với chúng tôi hơn bao giờ hết. Một điều chúng tôi nhận thấy ở Ngài đó là sự trầm tỉnh nhẹ nhàng khi nhìn thấy cái chết, Ngài vận dụng Phật Pháp, Ngài vận dụng tri kiến của mình. Thật ra khi chúng ta sống gần những vị như vậy, khi chúng ta tận mắt mục kích những vị như vậy rõ ràng chúng ta được nâng đỡ bởi những vị đó, và lúc đó chúng ta mới thấy chính sự tu tập của những vị đó cho chúng ta rất nhiều. 

Có một lần chúng tôi nói chuyện với một vị Sư người Hoa Kỳ, vị Sư đó kể cho chúng tôi nghe về kinh nghiệm khi  học ở American University đã gặp được một số học giả rất giỏi Phật Pháp nhưng họ chỉ là những nhà khảo cứu, họ giỏi tiếng Phạn, giỏi lý thuyết nhưng không mang lại cho vị này một sự tinh tấn. Khi vị này đi về các quốc gia Phật giáo gặp những người sống với Phật Pháp mới bắt đầu tìm thấy được chất liệu cho đời sống tâm linh của mình. 

Và do vậy, ở trong đời sống hàng ngày của chúng ta, thí dụ như qúi Phật tử mỗi ngày vào rơom để nghe pháp, chư vị Giảng Sư, những người Phật tử làm công quả. Nói chung tất cả chúng ta đang sinh hoạt ở đây, chúng ta cố gắng làm một điều là gặp gỡ các bậc thiện trí, góp phần vào pháp thí thể hiện sự tinh tấn của mình, sự hoan hỉ của mình đối với Phật Pháp, và mình đóng góp vào sự duy trì Phật Pháp, tất cả điều đó có ảnh hưởng chứ không phải không có ảnh hưởng, và qúi vị cũng thấy rằng nhờ nỗ lực đó  trong suốt mười mấy năm qua chúng ta đã duy trì chương trình Phật Pháp hàng ngày. Dĩ nhiên là do kỹ thuật, nhưng hơn hết và sau hết đó là tấm lòng, đó là sự thể hiện của tất cả chúng ta. Ít có Phật tử nào vào rơom nghe pháp mà biết rằng bản thân của chúng tôi, chúng tôi rất ít khi liên lạc với qúi Phật tử làm việc trong ban điều hành, đôi khi chúng tôi gặp qúi vị đó giống như những vị gặp vậy, vào đây là gặp nhau, tất cả mọi người làm việc từ Chư Tăng cho đến Phật tử làm việc trong tinh thần tự hoan hỉ, tự dấn thân, tự tài bồi công đức  không có một cái gì gọi là quyền lợi, không có cái gì ràng buộc, chúng tôi vẫn thích như vậy, chúng tôi vẫn hoan hỉ như vậy, và chúng tôi thấy điều đó có ý nghĩa khi chúng ta có thể duy trì sự tu tập lâu dài, cho dù là học, cho dù là tu, cho dù là sinh hoạt. 

Một người tu tập đôi khi chúng ta cũng nên biết chính sự tu tập của mình là một trợ duyên, là sự hổ trợ cho cuộc đời. Nói một cách khác, không có sự tu tập, không có sự nỗ lực học Phật Pháp thật ra cuộc sống nhiều khi vô nghĩa. Chúng tôi gặp một người Phật tử, anh là một người rất thành công, ra trường với bằng kỹ sư, làm cho công ty Exxon của Hoa Kỳ, một công ty lớn, cho đến một ngày anh đi chùa tham dự một khóa tu rồi anh tâm sự với chúng tôi suốt 17 năm anh sống tại Mỹ, là một người sinh viên tốt nghiệp, rồi là một kỹ sư đi làm cho một hãng lớn, anh mang theo một giấc mơ của người Hoa Kỳ, đó là từ bàn tay trắng tạo nên sự nghiệp, và anh có thành công, có quyền, có chức, có lương cao. Nhưng rồi một ngày anh nhìn lại thấy ở chung quanh chỉ là những người tranh danh đoạt lợi và đến lúc nào đó anh ngồi xuống với những người tu tập anh thấy ở đây cho mình ý nghĩa khác của đời sống. 

Bởi vậy, cuộc sống nâng đỡ chúng sanh giống như vật thực có đặc tính là chất liệu để duy trì sự hiện hữu chúng sanh trong đời này thì sự tu tập của chúng ta cũng vậy. 

Chúng tôi kể chuyện này qúi vị nghe rất lạ và có dịp thì chúng tôi cũng sẽ giới thiệu cuốn phim này cho nhiều người xem, một đoạn phim tài liệu của đài BBC nói về con voi đã tạo ra mưa đã tạo ra thời tiết ảnh hưởng như thế nào. Nếu chúng tôi nói điều này với qúi vị trong rơom có lẽ qúi vị nhìn chúng tôi cảm thấy lạ lắm. Loài người làm mưa làm gió cũng còn khả dĩ được, con voi làm gì có thể ảnh hưởng tới thời tiết? 

Nhưng đó là kết luận của rất nhiều nhà nghiên cứu. Lý do rất đơn giản như vầy, nếu chúng ta học về mưa chúng ta biết chính những khu rừng miền nhiệt đới gọi là rainforest là một lồng hấp để tạo ra mây, để tạo ra mưa và chính rừng đã ảnh hưởng đến thời tiết rất nhiều. Chúng ta quan niệm biển bốc hơi thành mây, mây xuống thành mưa nhưng thật ra trong hệ thống tuần hoàn thì rừng rainforest đóng một vai trò rất quan trọng về việc chi phối thời tiết. Những khu rừng nhiệt đới từ Nam Mỹ như rừng mưa Amzon sang những khu rừng bạc ngàn Đông Nam Á chi phối hệ thống thời tiết. Nhưng bây giờ qúi vị hỏi: Chuyện đó liên hệ đến loài voi điều gì? Thì thưa, có một sự việc, loài voi là một sinh vật rất đặc biệt khi sống ở trong rừng nó ăn lá ăn trái. Những nhà nghiên cứu cho chúng ta biết hầu như trái gì voi cũng ăn, lá gì voi cũng ăn và khi ăn thật sự nó không nhai kỹ, chúng ta tạm gọi là trẹo trạo nuốt trọng, và khi nuốt trọng những trái này đi qua đường ruột qua bộ phận tiêu hóa thì còn nguyên vẹn. Điều này là điều tại sao. Bây giờ nếu qúi vị nghe có loại cafe phân voi, ngày xưa chúng ta nghe có loại cafe phân chồn bây giờ có cafe con voi. Thì con voi ăn những trái này và những trái này đi qua đường tiêu hóa đi ra hạt giống vẫn còn nguyên vẹn và cộng với phân của con voi nó đã tạo thành một điều kiện để khiến cho những cây những trái này mọc ở nhiều nơi khác nhau. Thì con voi qua vấn đề ăn uống và bài tiết nó giống như một người làm rừng một người trồng rừng. Người ta nói ở những khu rừng nào loài voi bị tiêu diệt nhiều cây mọc không đều không tốt như những khu rừng loài voi tự do đi lại. 

Và do vậy cách ăn uống của voi, cách bài tiết của voi ảnh hưởng đến rừng và rừng ảnh hưởng đến thời tiết. Như vậy, nói sinh hoạt của voi ảnh hưởng đến mưa, đến nắng, ảnh hưởng thời tiết mình nghe lạ, nhưng thật sự đâu đó liên hệ với nhau. 

Thí dụ đó một lần nữa gợi cho chúng ta là ở trong cuộc sống có những ảnh hưởng rất lớn chúng ta không ngờ được. Hành giả tu tập nên hiểu nếu mình tu mình làm tốt việc đó thật sự mang lại chất liệu tích cực cho những người chung quanh mình. Riêng bản thân của chúng tôi cảm nhận điều đó rất sâu sắc từ những bậc Thầy Tổ từ những bậc cư sĩ thiện trí những vị đó chúng tôi được biết đi qua trong cuộc đời, nhờ các vị đó đã cho chúng tôi những chất liệu sống rất quan trọng. 

Do vậy ý nghĩa đầu tiên của vật thực là đặc tính của vật thực nâng đỡ tạo nên chất liệu tồn tại cho chúng sanh, người tu tập cũng nên làm một suối nguồn của an lạc của trí tuệ cho chúng sanh muôn loài. 

2. Trong ý nghĩa thứ hai chúng ta đề cập đến vật thực:

"Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực làm tăng trưởng sức mạnh của chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên tăng trưởng sự phát triển của phước báu." 

Đôi khi chúng ta không thể nói được thế nào là lực, thế nào là sức, nhưng có những ngày chúng ta rất mạnh chúng ta nhấc một món đồ lên rất dễ dàng, những lúc chúng ta mệt hay những lúc đang đói khi nhấc một vật lên cảm thấy nặng nề. Nó có một thứ gọi là cái lực cái sức của chúng ta và rõ ràng cái sức lực đến từ thực phẩm, thực phẩm ăn đúng lành mạnh cho chúng ta sức khỏe. Ví dụ người ăn trái cây nhiều có vitamin C thì chính sinh tố trái cây làm chúng ta dẻo dai làm cho chúng ta lâu mệt khi làm việc. Chúng ta cần nhiều chất như chất sắt, chất đạm v.v... để duy trì sức khỏe. Nói chung tất cả sinh tố đều có vai trò duy trì sức khỏe làm cho chúng ta mạnh khỏe, cái khỏe cái mạnh đó là giá trị đặc thù về vật chất. 

Người tu tập và người hiểu đạo biết trên phương diện tinh thần có một thứ khác gọi là phước. Cái phước lạ lắm, phước làm cho chúng ta hanh thông, phước làm cho chúng ta sáng suốt, phước làm cho chúng ta can đảm. Những người thiếu phước lúc nào cũng thiếu lòng tin cũng sợ hãi, những người thiếu phước trong cuộc sống không hanh thông, những người thiếu phước không có lòng tự tin nhất là khi đi vào đám đông, những người thiếu phước cảm thấy mình yêu đưối. Phước rất đặc biệt. 

Tại các quốc gia Phật Giáo là mỗi lần người ta gặp khó khăn, từ một em học sinh sắp đến kỳ thi hay người vợ đang có chuyện lo cho chồng cho gia đình, hay một thương gia làm ăn buôn bán, khi người ta thấy có khó khăn thì những người Phật tử này làm phước bằng cách đơn giản nhất là buổi sáng mua gì đó để bát cúng dường bát Chư Tăng, khá hơn nữa đi chùa làm phước, khá hơn nữa tổ chức đại lễ Tăng Y. Hoặc giả không làm phước vật chất được thì vào chùa tu Bát Quan Trai, tham dự một khoá thiền, hoặc lắng nghe một thời pháp. 

Trong 10 thiện sự tạo ra hạnh phúc, tạo phước báu là bố thí, trì giới, tham thiền, cung kính, phục vụ, thính pháp, thuyết pháp, hồi hướng phước, phước tùy, hỉ phước và cải thiện tri kiến chẳng hạn. Những điều đó là những nguồn sanh phước, người ta biết rất rõ. Khi chúng tôi thấy những người Phật tử làm như vậy chúng tôi thấy ảnh hưởng tinh thần họ rất lớn, họ làm phước xong tâm họ mạnh mẽ, làm phước xong tâm họ tự tin, và họ làm phước xong họ hoan hỉ. 

Khi chúng tôi nhìn những người đó chúng tôi rất thương cho Phật tử VN. Phật tử VN chúng ta tuy rằng mình tự hào có một nền Phật giáo cả hằng 2 thiên niên kỷ, nhưng qúi vị thấy có đôi khi gặp khó khăn chúng ta chỉ đến chùa thắp nhang cầu nguyện, chúng ta chỉ biết cầu phước mà chúng ta không biết tạo phước. Hay hoặc giả khi chúng ta gặp khó khăn chúng ta tin vào thầy bói thầy phong thủy, rời cái này đổi cái kia hơn là làm phước. Đôi khi có một vài nhà sư chạy theo thời cũng học phong thủy và cũng chỉ bày cho Phật tử đổi phong thủy thế này đổi phong thủy thế kia, chúng tôi nói ở đây không phải chúng tôi chỉ trích những vị đó nhưng chúng tôi cảm nhận rằng những vị đó đang làm một việc không đẹp đối với Phật Pháp.

Đúng ra là người Phật tử khi gặp khó khăn mình không cần nghĩ đến việc rời đổi phong thủy mà mình tạo phước. Có nhiều cách tạo thí dụ như ngoài chuyện bố thí mình có thể tu tập thiền, niệm tâm từ, chúng ta mong cho tất cả chúng sanh trước mặt được an lành, sau lưng được an lành, bên tay phải được an lành, bên tay trái được an lành, ở phương trên an lành, phương dưới an lành, tâm từ là một nguồn suối phước rất lớn. Hay hoặc giả thọ Tam qui, khi ngồi không có việc gì làm mình mình tụng bài Tam Quy:

Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi - Con xin quy y Phật 

Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi - Con quy y Pháp 

Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi - Con quy y Tăng 

Hoặc giả hành Tứ Niệm Xứ, hành thiền ngồi nhìn vào hơi thở ra hơi thở vào. Có nhiều cách tạo phước. Càng gặp khó khăn thì mình nên tạo phước. Nói về điều này đôi khi người ta không tin. Chúng ta tánh quen xin xỏ, thí dụ như gặp khó khăn chúng ta muốn tìm đến một ngôi chùa hay tìm đến miếu đền nào đó thắp cây nhang cầu nguyện. Đôi khi chúng tôi thấy về điểm đó chúng ta không rõ ràng, chúng ta không nhìn vào nhân quả, mình có thể làm phước được tại sao không làm, tại sao mình không làm phước để mình tạo sức mạnh tinh thần. Đôi khi người Phật tử làm những chuyện họ nghĩ là có phước nhưng thật sự không có phước. 

Ở đây hôm nay chúng tôi nói qúi vị đừng buồn, có nhiều Phật tử mong mỏi điều gì đó nguyện "xin cho con được cái đó con nguyện cạo đầu", họ nghĩ chuyện cạo đầu là chuyện đáp lễ cho thần thánh, nhưng thật sự chuyện đó chỉ là giới cấm thủ thôi. Chúng tôi nói ở đây là mình nói mình cạo đầu nhưng thay vì mình nguyện như vậy thì mình giữ một ngày Bát Quan Trai, hay mình ngồi thiền hay niệm tâm từ hay đọc Tam Quy, hoặc giả mình tạo phước, đơn giản thôi mình tạo phước. Người học Phật biết đạo thì ở trong mọi trường hợp tạo phước đó là điều quan trọng đối với chúng ta, chính chuyện tạo phước làm cho chúng ta lấy lại được niềm tin, chính chuyện tạo phước làm cho chúng ta được thanh thản trong lòng, chính chuyện tạo phước làm chúng ta hoan hỉ, và chỉ lòng tự tin, chỉ với sự hoan hỉ chúng ta đi tới. 

Do vậy ở trong ý nghĩa thứ hai: vật thực cho chúng sanh sức mạnh thì người tu tập làm sao quan niệm rằng chính sự tu tập đó mình tạo ra phước cho mình và cho những người chung quanh mình. 

Có một câu Phật ngôn rất thú vị, đó là liên hệ đến vừa là thí dụ ở đây và vừa là nghĩa bóng và nghĩa đen nữa: Đức Phật dạy: 

"Ai bố thí vật thực là cho sức mạnh" 

Những người hay bố thí vật thực người đó được những pháp: sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh. Bốn pháp thù diệu đó, ở các quốc gia Phật Giáo người Phật tử ưa thích cúng dường thực phẩm và làm như vậy lòng được hoan hỉ. 

Chúng ta cũng hiểu một điều mình sống khỏe là do mình có chế độ dinh dưỡng tốt, mình sống khỏe là do mình biết gìn giữ. Nhưng kỳ thật còn có một thứ nữa là mình sống khỏe là nhờ nhiều phước báu, mình có phước thì mình có nhiều thứ, mình phải tin vào điều đó.

Do vậy, điều thứ hai hành giả nên biết đặc tính của vật thực là cho sức mạnh thì đặc tính của người tu tập là phải tạo phước lành.

3. Ý nghĩa thứ ba chúng ta đề cập đến vật thực:

 "Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực là được mong mỏi đối với tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên được mong mỏi bởi tất cả thế gian". 

Đặc tính thứ ba của vật thực hay thực phẩm đó là, thực phẩm là cái gì ưa thích của chúng sanh trong đời. Con người sanh ra ở đời nói đến ăn là một lạc thú. Người Ấn Độ, người Trung Hoa, người Việt Nam, người Thái Lan, người Pháp, người Đức mỗi người có cách ăn uống riêng. Nhưng ở văn hóa nào cũng vậy, người ta rất thích thực phẩm, tại thực phẩm không phải chỉ nuôi mạng chúng ta mà thực phẩm còn cho chúng ta cái lạc thú của ăn uống. Thì ở đây nói là mình tu tập làm sao mà chính sự tu tập của mình mang lại sự ưa thích sự hoan hỉ cho người khác. 

Có những tôn giáo người ta càng tu thì càng làm phiền người khác, có những tôn giáo người ta càng thực hành thì càng làm khổ người khác. Nhưng nếu người Phật tử thực hành đúng lời Đức Phật dạy là mình sống vô hại đối với những chúng sanh khác, mình sống mang lại an lạc cho chúng sanh khác, mình sống với sự thanh tịnh, mình sống với sự bất hại, tất cả những điều đó đều mang lại niềm vui cho người khác, người tu đúng nghĩa thì người đó được sự hoan hỉ, nếu chúng ta thực sự tu tập đúng nghĩa thì được sự hoan hỉ.

Chúng tôi đã đi và đã nhìn thấy nhiều vị những vị có đức tu đều mang lại sự an lạc cho người khác. Lấy một điều bây giờ nghĩ đến chúng tôi vẫn còn rất hoan hỉ đó là tánh kham nhẫn của Ngài HT Hộ Giác, chuyện nào hoan hỉ thì Ngài nói, chuyện nào không hoan hỉ thì Ngài nói một lời nhẹ nhàng và sau đó thường Ngài nín thinh, cho đến lúc Ngài sắp ra đi cũng vậy. Bây giờ ngồi nghĩ đến chúng tôi vẫn còn cảm thấy Ngài cho chúng tôi rất nhiều với đức kham nhẫn của Ngài. 

Và như vậy, đời sống tu tập tu tập đúng nghĩa thì đó là nơi hoan hỉ của Chư Thiên và nhân loại, là nơi mong mỏi của Chư Thiên và nhân loại 

Bài học về thực phẩm là bài học lớn, hồi nãy chúng tôi nói ở trong kinh Phật nói đến thực phẩm hay là dinh dưỡng "tất cả chúng sanh tồn tại do vật thực do dinh dưỡng" là một đề tài lớn, và thực phẩm trong đời sống hàng ngày cũng là một đề tài lớn. 

Với tất cả chúng ta thì 3 điều này rất dễ hiểu: 

- Thực phẩm đem lại chất liệu cho chúng sanh tồn tại - người tu tập đời sống tu tập là đời sống mang lại lợi ích cho đời. 

- Thực phẩm mang lại sức mạnh cho chúng sanh - thì sự tu tập mang lại phước lành trong cuộc sống 

- và thực phẩm là đối tượng ưa thích mong mỏi của chúng sanh - thì người tu tập đúng nghĩa cũng phải là sự mong mỏi ưa thích của cuộc đời. 

Những ý nghĩa này rất giản dị, giản dị đến nỗi chúng ta không cần nói nhiều nữa nhưng nó cho chúng ta bài học lớn và chúng ta mong là những ý nghĩa đó sẽ được chúng ta ghi tâm khắc cốt. Cuộc sống đó làm cho chúng ta có ý nghĩa cho mình và cho những người chung quanh. 

Thì với bài học này chúng tôi xin được cầu mong một vài điều:

- 1. Điều thứ nhất là mong cho tất cả qúi Phật tử đặc biệt là những vị hằng tâm hằng sản thường cúng dường thực phẩm tứ sự cho Chư Tăng, mong cho tất cả qúi vị trong lúc luân hồi từ thân này đến thân giải thoát không bao giờ đói khổ, là người sanh ra có 4 pháp là sống lâu, dung sắc thù thắng, an vui, sức mạnh. 

- 2. Và chúng ta cũng mong rằng tất cả những phước báu mà chúng ta làm dù là tài thí hay pháp thí, ở đây thì chúng ta chủ yếu là pháp thí nhưng qúi Phật tử cũng đóng góp tài thí nhiều bằng cách này hay cách khác chúng ta hồi hướng cho những nạn nhân mới đây như những nạn nhân trên chiếc máy bay Malaysia MH 370, chúng ta không biết họ sống chết ra sao nhưng chúng ta cầu nguyện cho họ được phước báu. 

- 3. Và sau cùng chúng ta hãy nguyện hãy mong rằng tất cả những gì chúng ta đã tạo xin là một chất liệu tốt, chất liệu lành mạnh, một chất liệu bền bỉ cho cuộc sống nội tâm của chúng ta để chúng ta không sống trở nên vô nghĩa trở nên vô vị và trở nên vô vọng, mà tất cả chúng ta sống có ý nghĩa có mưu cầu an lạc cho mình và cho những người chung quanh mình.

Với bài học hôm nay tất cả chúng ta sẽ có được 3 đặc tính là mang lại lợi lạc cho đời, mang lại phước báu cho đời, và là nơi mong mỏi của Chư Thiên và nhân loại. 

xin được dứt lời ở tại đây./.

Monday, June 22, 2015

Kinh Phúng Tụng - Năm Căn

Kinh Phúng Tụng - Năm Căn

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 10-1-2013, Minh Hạnh chuyển biên và biên tập

(Xin lưu ý: những bài chuyển biên này chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

TT Giác Đẳng: Chữ "Căn" có nghĩa cội rễ, cái gốc, hay sự chủ đạo. Chữ "Căn" còn có tánh cách pháp gốc, pháp chủ đạo, nền tảng hay pháp có khả năng ảnh hưởng những pháp khác liên hệ. Chữ "Căn" chúng ta nói rất nhiều, thí dụ như trong đề tài Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ, chúng ta cũng có đề tài là Ngũ Căn, hay  3 Căn Bất Thiện, 3 Căn Thiện. 

Nói tóm lại, một người học Phật phải chuyên tâm nhiều về những từ dịch ở trong tiếng Phạn, chúng ta có những chữ khác biệt như  chữ "Mula", chữ "Indriya" hay  chữ "Hetu". Trong lúc đó bản chữ Hán hay chữ VN dịch là "căn" hay "quyền" v.v... Có một vài chữ cùng âm, qúi vị Phật tử thỉnh thoảng sẽ nghe rất khác biệt về ý nghĩa nhưng âm giống nhau. Về điểm này đôi khi làm người mới vào thế giới Phật học cảm thấy bối rối không ít. 

Hôm nay chúng ta nói về ngũ căn ở tại đây. Ngũ căn này được hiểu như 5 pháp từ đó có một ảnh hưởng lớn rộng đến đời sống của chúng ta. Và 5 pháp tại đây được đề cập là mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân. Chính từ mắt, tai, mũi, lưỡi và thân tạo ra 5 thức chúng ta gọi thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng, hay nói một cách khác là thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác. Chính 5 căn này, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tạo cho chúng ta một thế giới muôn hình muôn mặt. Là một người sống, một người tu tập, một người học Phật chúng ta không thể không biết về những ảnh hưởng xâu xa của 5 căn này đối với cuộc sống của chúng ta.

Chúng tôi nói ở tại đây về 3 phương diện:

-1. Phương diện thứ nhất:

 Đối với phương diện thường thức ở bên ngoài như chúng ta thấy 5 căn này chính là 5 giác quan cho chúng ta sự tiếp xúc giữa nội giới và ngoại giới. 

Nói đến ngoại giới, chúng ta nói ngoại cảnh, ngoại hình, hay ngoại vật. Nói gì đi nữa, thường thường chúng ta đề cập đến cái gì mình thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng. Ví dụ, một người thích đi chơi, một người thích ăn uống, một người thích nghe nhạc, nếu chúng ta quá ưa chuộng những thứ đó và những thứ đó trở thành một phần vô cùng quan trọng, như vậy chúng ta lệ thuộc ngoại cảnh nhiều.

Giữa thế gới ở bên trong và thế giới ở bên ngoài có sự khác biệt rất lớn. Ở thế giới bên trong chúng ta không cần phải đòi hỏi cực nhọc nhiều. Ví dụ, một người thường hay làm thơ, một người thường viết văn, người học Phật pháp, chuyện đó chỉ cần suy tư nhiều. Thậm chí, những văn sĩ có tài chỉ cần một tờ giấy và một cây bút chì đủ cho người đó có thể sáng tác, suy luận rất lớn, là người đó sống nặng về nội tâm. Nhưng, nếu một người thích sắc tướng, âm thanh, mùi hương, thích món ngon vật lạ, thích cảm xúc khoái lạc êm ái những thứ đó đòi hỏi lớn chuyện hơn nhiều. 

Thành ra thế giới của 5 giác quan thường là thế giới của ngoại cảnh nhiều hơn là thế giới nội tại. 

Và đối với người bình thường chúng ta cũng thấy có 2 sự phân biệt làm cho con người khác ở đây. Đôi khi chúng ta khó định nghĩa nhưng kỳ thật cái gọi là vật chất theo trong Phật Pháp chúng ta thấy rõ ràng người nào chuộng về 5 thức sắc, thinh, khí, vị, xúc tức là 5 đối tượng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân quá chuộng chúng ta hiểu là người quá chuộng về vật chất. Lấy một ví dụ, mình nói mình ăn ngon mà mình đòi hỏi phải sơn hào, hải vị, kỳ trân, vị thảo, những thứ lạ lùng về hình thức, lạ lùng mùi hương, lạ lùng về cảnh vị chúng ta ăn mới cảm thấy rằng ngon, người như vậy được xem như quá nặng về vật chất. Một người không nặng về vật chất thì một bữa ăn đơn giản vừa đủ no người đó cũng cảm thấy an lạc được, không nhất thiết phải đòi hỏi quá nhiều. Và cái quá nhiều quá đủ thứ không nhất thiết làm cho chúng ta an lạc.

 Như vậy, đối với người trần gian các "căn" có sự phân biệt lớn giữa vật chất và tâm thức, vật chất và đời sống nội tâm, một người quá nghiên về sắc, thinh, khí, vị, xúc được xem như người thiên nặng về vật chất.

Căn thứ nhất: Mắt, thị giác

 Rồi chúng ta muốn nói đến đối với người thường thức ở bên ngoài mỗi một giác quan là một thế giới và thế giới đó tạo ra một lãnh vực văn hóa. Ví dụ, chúng ta nói về thế giới của cảnh sắc hay đối tượng của mắt. Nếu chúng ta với đôi mắt chỉ để thấy đường đi tiến bước, hoặc giả cần mắt để đọc sách. Nhưng đôi khi thấy cảnh sắc mà đối tượng của mắt trở thành một thế giới rất ư quan trọng. Thí dụ, có những người rất thích hội họa tranh vẽ nó là một ảnh hưởng liên quan đến thị giác và nó là cả một khung trời, là một chân trời mới đối với chúng ta thì nó có những thứ tương đối hơi nhẹ nhàng, ví dụ như mình thích một loại màu nào đó, có người thích màu tím, có người thích màu xanh, hay hoặc giả chúng ta thích một trường phái hội hoạ nào đó, có người thích tranh thủy mạc, có người thích tranh Picasso, có những người thích những pho tượng v.v... cái đó nó cũng liên quan đến mắt.

Dĩ nhiên, có một thứ cũng khiến người ta điên đảo không ít đó là sắc dục, tức sự ham mê về thanh sắc. Ví dụ trong cuộc đời có những người ưa chuộng một kiểu mái tóc nào đó, một đường nét của khuôn mặt nào đó, một, nụ cười một ánh mắt nào đó, thì những thứ đó đôi khi đến với chúng ta thường qua con mắt. Tại sao ngày nay người ta có những tiêu chuẩn về một người đẹp như thế nào, là phải có chiều cao chừng đó hay phải có kích thước như vậy, như vậy v.v... đều liên quan đến mắt. Thành ra trong thế giới chúng ta gọi cảnh sắc, thế giới của mắt, đối tượng của mắt nó muôn màu muôn vẻ. 

Căn thứ hai: Tai, thính giác

Chúng ta nói đến cảnh thinh, nói đến tai. Chúng ta thấy nếu tai để nghe như chúng tôi nói qúi vị nghe ở đây cái nghe đó rất nhẹ nhàng, cái nghe đó không có chuyện gì hết nhưng đôi khi chúng ta lại dính mắc vào thứ có tánh cách chuyên biệt hơn. Ví dụ có người thích nghe nhạc và việc nghe nhạc của họ càng nghe trình độ thẩm âm của họ càng tinh tế hơn, như họ thích nghe một loại nhạc nào đó, có người thích nghe nhạc Jazz, có người thích nghe nhạc Pop, có người thích nghe nhạc kích động hay nhạc cổ điển. Đôi khi có người thích điệu nhạc của nhạc sĩ nào đó hay giọng hát của ca sĩ nào đó và nó trở thành một thứ gì không thể thiếu trong đời sống của họ. Hay có người sống không thể không có âm nhạc chẳng hạn. Khi nhìn thấy điều đó chúng ta hiểu đơn thuần không phải tai chỉ có nghe không mà qua đó nó là cả một thế giới để thưởng thức, và khi người ta càng đi sâu càng tinh tế vào đó cảnh thinh trở nên càng tế nhị và đòi hỏi càng cao.

 Khi nói đến mắt chúng ta nói đến hội họa chúng ta nói đến thanh sắc là những thứ con người dính mắc nhiều. Thinh cũng vậy, âm nhạc hay kể cả một giọng nói của một người khác phái cũng làm người ta ảnh hưởng rất nhiều. Ngày xưa chúng tôi biết có không ít trường hợp những người họ thương một người khác chưa từng gặp mặt chỉ nghe giọng nói trong paltalk nhưng họ thương là thương âm thanh. Như chúng ta nghe câu chuyện một bi kịch của Trương Chi Mỵ Nương. Mỵ Nương thật sự bị cuốn hút bởi tiếng sáo của Trương Chi và nghĩ rằng mình đã thương Trương Chi nhưng khi gặp Trương Chi thì một trời yêu thương sụp đổ tại vì Trương Chi xấu quá không thể nào xứng hợp với Mỵ Nương được, nhưng quả thật tiếng sáo của Trương Chi có sức hút hấp dẫn mãnh liệt. Và có nhiều người trong cuộc đời này họ thương một người nào đó tại vì giọng ca tiếng hát hay giọng nói người đó hơn thương con người đó thật sự. Thì chúng ta thấy âm thanh ảnh hưởng chúng ta nhiều. Và hễ nói âm thanh chúng ta phải nói tai.

Căn thứ ba:  Mũi,  khứu giác

Chúng ta nói đến mũi, hay chúng ta nói đến khứu giác, nói đến ngửi. Cũng giống như hai căn đầu nhãn căn nhĩ căn, hay mắt và tai, mũi cũng mở ra một thế giới lớn rộng, thế giới đó một thế giới của mùi hương. Nhẹ nhàng thì khi mình ăn mình thích mùi hương nào đó. 

Chúng tôi gặp một số Chư Tăng VN qua Mỹ cũng có nhiều điều cũng hoan hỉ nhưng có một điều qúi Ngài nói chúng tôi cũng phải nhìn nhận, qúi Ngài nói rau thơm ở bên Mỹ không thơm. Qúi vị nào qua Mỹ rồi thì sẽ cảm nhận được ở VN rau răm mùi cay nồng hơn rau răm ở Mỹ, hoặc ngò gai thì gai bén hơn và thơm hơn ở Mỹ nhiều phải cầm lá ngò gai nhai trong miệng một chút mới cảm có chút mùi ngò gai thôi. Rau thơm bên này thật sự không thơm như ở các xứ nhiệt đới. 

Điều đó cũng cho chúng ta thấy mặc dầu khi mình ăn chỉ nghĩ đến vị giác nhưng chính mùi thơm tạo cho chúng ta sự đậm đà tạo cho chúng ta vị ngon của thực phẩm, đặc biệt người VN chúng ta xử dụng hương liệu mùi thơm rất nhiều. Có người hạp với cà ri, có người rất sợ mùi cà ri, trong chúng ta có người thích mùi thìa là có người không quen mùi thìa là chẳng hạn, 

 Nói chung, không phải chỉ có mắt mới quan trọng, tai mới quan trọng mà mũi cũng quan trọng. Nếu chúng ta biết về thị trường tiêu thụ nước hoa trên thế giới chúng ta mới hiểu thị trường đó là một thị trường khổng lồ, người ta không nói đến hàng triệu Mỹ kim một năm mà người ta nói hàng tỉ Mỹ kim một năm, và không phải nói hàng tỉ mà mấy mươi tỉ một năm, và việc xử dụng nước hoa đã trở thành một kỹ nghệ lớn chứ không nhỏ. Điều đó một lần nữa chứng minh cho chúng ta thấy trong 5 giác quan không phải giác quan nào thật sự có chất mê hoặc ảnh hưởng chi phối con người, mà ở trong 5 căn liên hệ đến 5 giác quan liên hệ đến 5 cảnh, cái nào cũng ảnh hưởng lớn đến chúng ta. 

Đây là điều chúng ta cần phải xác nhận. Nếu chúng ta nói về tranh ảnh đối với mắt. Chúng ta nói về âm nhạc đối với tai. Chúng ta nói về kỹ nghệ nước hoa đối với mũi. 

Căn thứ ba: Lưỡi, vị giác

Riêng đối với vị, chúng ta cũng thấy có bao nhiêu thứ và điển hình là thực phẩm. Thực phẩm ảnh hưởng chúng ta rất lớn, nhất là chúng ta quen với một số thực phẩm nào đó. Đi đâu có một bữa ăn ngon thường thường chúng ta nhớ nhiều và bữa ăn ngon đó là bữa ăn thích hợp với chúng ta về nhiều thứ. 

Một vài vị nói với chúng tôi khi bị bịnh tiểu đường hay khi bị áp huyết cao cố gắng kiên cử cảm thấy chết một phần ba cuộc đời. Chuyện đó chúng tôi có thể cảm thông được. Bởi vì khi mình bị hai bệnh này, cái ngọt mình phải giảm, cái mặn mình phải giảm, và thức ăn mình ăn nhạt nhẽo hơn, thời gian đầu đôi khi cảm thấy mất mát nhiều. 

Ẩm thực là một nghệ thuật quan trọng trong nền văn minh của nhân loại, và riêng về ẩm thực sự cầu kỳ tinh tế của nó như thế nào đã cho chúng ta hiểu tại sao lưỡi, tại sao vị giác có khả năng chiếm hữu chúng ta lớn như vậy.

Thời xa xưa người ta rất trọng những hương liệu, đặc biệt những hương liệu để nấu ăn, gia vị như gừng, quế hay những hương liệu khác cho thực phẩm. Và có thời gian những hương liệu những gia vị nấu ăn họ trao đổi bằng cách người ta cân một bên là hương liệu một bên là tơ lụa hay vàng để đổi lấy, tại vì có những thứ đó làm cho thực phẩm của chúng ta khác biệt đi nhiều. Tại Hoa Kỳ có vài ba nhà hàng đặt tên là "Lemon grass". Lemon grass nghĩa là cây xả gia vị người VN xử dụng rất nhiều trong các món ăn, nhiều người cảm thấy những món ăn VN bỏ xả vào có sức mê hoặc lạ lùng, và người ta lấy tên xả đặt cho quán ăn chúng ta thấy rằng những người bếp hay chủ nhà hàng họ khai thác được một lãnh vực hạp với rất nhiều người kể cả rất nhiều người ngoại quốc.

Thì khi chúng ta nói đến lưỡi, nói đến vị giác, chúng ta nói đến cảnh vị  chúng ta không thể phủ nhận một điều ăn uống là cả một lãnh vực lớn quan trọng chi phối chúng ta rất nhiều.

Căn thứ năm: thân, xúc giác

Sau cùng, chúng ta nói về thân, nói về xúc giác, nói về cảnh xúc, nói đến cái gì xúc chạm. Ví dụ nằm nệm êm, mền ấm hay ngồi trong một chỗ dễ chịu, như đi xe, đi máy bay chỗ ngồi của mình êm hay không êm ảnh hưởng đường dài nhiều. Người Tây Phương nghĩ rằng ở trong living room hay trong phòng khách nơi tiếp bạn bè ngồi nói chuyện lâu để thoái mái người ta cần những bộ salon. Hồi xa xưa ở miền quê ông bà chúng ta có bộ phản ngồi trên đó hoặc ngồi ghế đẩu đó là nhà ông ngoại ông chúng tôi ngày xưa,và ghế salon ngày xưa không ai dùng, bây giờ ghế salon càng lúc càng ảnh hưởng càng lan rộng bởi vì ngồi trên phản không êm, ngồi trên ghế đẩu không thoải mái, ngồi trên salon người mình thư thản hơn nhiều. Do vậy, người ta tạo ra một kỹ nghệ lớn cố gắng để làm sao cho thân được thoải mái. 

Rồi không phải chỉ như vậy, mà những thứ  như quần áo cũng ảnh hưởng đến xúc giác của chúng ta, cái gì tiếp xúc với thân cảm giác dễ chịu thoải mái càng ngày người ta càng chủ trương quần áo may mặc không phải chỉ đẹp mà còn thoải mái, nghĩa là mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát, khi nó xúc chạm vào trong người cảm thấy dễ chịu hơn, và những mặt hàng ngày xưa có thời người ta cảm thấy bình thường như coton chẳng hạn bây giờ loại vải coton được người ta ưa chuộng vì nó cho chúng ta cảm giác dễ chịu. 

Nói cách khác, xúc giác có vai trò lớn. Chúng ta nói đến thế giới của lục dục, sự liên hệ thể xác với người khác phái cũng là một ở trong cao điểm của cái gọi là thể xác.

Nói chung, dù là mắt, tai, mũi,  lưỡi,  thân, dù chúng ta nói thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác, dù chúng ta nói sắc, thinh, khí, vị, xúc, 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đóng một vai trò rất lớn, đó là chúng ta nói phương diện thường thức ở bên ngoài.

-2. Phương diện thứ hai:

Trên phương diện Phật học, trong A Tỳ Đàm 5 thức gọi ngũ song thức đóng một vai trò mở cho chúng ta một cánh cửa thế giới ở bên ngoài. Và 5 thức này mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý gồm có cái thuộc về quả tốt hay quả không tốt. Thí dụ mắt nhìn cảnh đẹp mình gọi là quả thiện, mắt thấy những quả không đẹp "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng" thì cái đó gọi là cảnh do quả bất thiện. Do vậy cũng bằng mắt nhưng có cái hưởng cảnh sắc tốt, có cái bị thấy những chuyện không hay thì nó trở thành một cặp chúng ta gọi  song. Ngũ song thức ở đây là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.

Chính ra khi chúng ta đi vào giáo lý của Đức Phật vào buổi sơ thời Đức Phật đặc biệt đề cập đến việc thu thúc 6 căn hay thu thúc lục căn, và riêng trong tạng Diệu Pháp A Tỳ Đàm hay khi con người được trình bày theo 6 căn, 6 cảnh, 6 thức, nói một cách khác là 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới thì chúng ta hiểu được, riêng về các căn đóng một vài trò rất ư đặc biệt ở trong thế giới Phật học, chẳng những vậy khi chúng ta đề cập đến A Tỳ Đàm nói về các thức thường thường như sáu thức, bên Duy Thức học chia tám thức v.v. thì 5 thức đầu nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân vẫn được nhắc đến như những thành tố rõ ràng, những thành tố quan trọng của cuộc sống. Tại vì sao vậy? Tại vì thế giới của chúng ta hay sự sống của mỗi người đều dựa trên các giác quan và chính 5 giác quan này là 5 giác quan chi phối chúng ta từ bên ngoài rất nhiều.

Chúng ta đã nói phương diện thường thức và phương diện pháp học. Bây giờ chúng ta nói phương diện thứ ba:

- 3.Phương diện tu tập của một hành giả.

Với một người bình thường nhiều khi mình thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng mình chỉ thấy mình được hưởng mùi này hay mình phải chịu mùi kia, hay mình nghe được âm thanh này hay mình phải bị nghe âm thanh kia. 

Riêng với hành giả một người tu tập có 3 pháp liên hệ đến 6 căn này.

1. Pháp thứ nhất.

Đạo Phật gọi là thu thúc hay phòng hộ 6 căn. Phiền não từ đó khởi sanh ra do đó chúng ta phải phòng hộ. Đôi khi Đức Phật Ngài gọi những thứ đó là những vết thương. tại sao là những vết thương? Vết thương đụng đến thì đau, chảy máu. 

Cũng vậy:

Hành giả hiểu tại vì có mắt nên chúng ta có lụy về sắc.

Tại vì có tai nên chúng ta lụy về âm thanh.

Có mũi chúng ta lụy về mùi hương.

Có lưỡi nên chúng ta lụy về vị.

Và có thân nên chúng ta lụy về cảm xúc. 

Và ở đâu dễ dàng cho chúng ta bị tấn công, dễ dàng tạo cho chúng ta hệ lụy, dễ dàng tạo cho chúng ta những phiền não thì ở đó mình hiểu giống như một vết thương, mình hiểu như vậy mình giảm thiểu nó đi chứ mình có đặt quá nặng. 

Đó là phương diện thứ nhất của một hành giả tu tập khi chúng ta nói về thu thúc 6 căn.

2. Pháp thứ hai. 

Pháp thứ hai khi chúng ta nói về 6 căn rất hay, đó là, chúng ta nói về tính vô ngã của đời sống. Vô ngã ở tại đây mình hiểu cuộc sống vốn dĩ kết hợp của nhiều nhân nhiều duyên. Có những nhân, có những duyên mình kiểm soát được, có những nhân duyên mình không kiểm soát được. Một câu đơn giản chúng tôi vừa nhắc, ví dụ như trong câu "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng". Thì có những điều trông thấy mà đau đớn lòng điều đó cho chúng ta thấy có những cái mình không muốn thấy mình phải thấy, có những thứ mình không muốn nghe mình phải nghe, có những thứ mình không muốn ngửi mình phải ngửi, không muốn nếm mình phải nếm, không muốn xúc chạm mình phải xúc chạm. Thì cái phải đó cho chúng ta thấy sự bất lực, thấy sự vô chủ vô quyền của mỗi chúng ta.

Thì hễ có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân chúng ta có thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng. Nhưng không có điều gì để bảo đảm được cái gì mình thấy, cái gì mình nghe, cái gì mình ngửi, cái gì mình nếm, cái gì mình xúc chạm hoàn toàn được như ý của mình hết. Một trăm năm kiếp người và nếu chúng ta nghĩ trong đời sống hàng ngày được nghe 50 điều thoải mái dễ chịu và 50 điều không thoải mái không dễ chịu kể ra chúng ta cũng có phước lắm rồi, kể ra chúng ta có phước. Nhưng, thường thường chúng không thể có phước như vậy, cái thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng không phải là chuyện đơn giản mà chúng ta có thể quyết định được, nó còn yếu tố ngoại giới nữa.

Lấy ví dụ, khi Ngài HT Hộ Giác Ngài nằm xuống trong tang lễ của Ngài, lễ cung tin kim quan gọi theo thế tục là lễ di quan thì trời mưa rất lớn, rồi đến giờ để cung tiễn kim quan đưa đến nơi hỏa táng mưa tạnh, và rất nhiều người hoan hỉ, nhưng trong sự hoan hỉ đó chúng ta cũng thấy có một yếu tính của sự vô ngã. Tại vì sao? Vì mưa nắng chúng ta không kiểm soát được, chúng ta có thể lo được chương trình, chúng ta có lễ lo được diễn văn, chúng ta có thể lo về trang trí v.v... Nhưng khi chúng ta bước ra bên ngoài trời mưa hay nắng nói theo ngôn ngữ VN chuyện đó hên xui, chuyện đó nếu chung ta may mắn trời không mưa còn chúng ta không may mắn trời mưa thì ngay điều đó quyết định cho chúng ta thấy lý vô ngã.

Hoặc giả, nhiều khi mình nghĩ đến một bữa ăn một bữa tiệc nào đó phải ngon nhưng đến lúc ăn thì không vừa miệng. Thì cái chuyện ăn để cho ngon cũng là vô ngã. Vì sao vậy? Trừ khi chúng ta là vua thôi chứ không phải ngày nào cũng có người nấu cho chúng ta những món ăn ngon, món ăn thịnh soạn, những món ăn đặc biệt, cũng đôi khi chúng ta ăn những món ăn đặc biệt nhưng thường thường chúng ta ăn cái gì quen thuộc thôi. Thì ở đó một lần nữa cho chúng ta thấy cái lý của sự vô ngã. 

Hiểu về sự vô ngã chúng ta sẽ thấm thía vô cùng khi chúng ta học về 12 xứ, 18 giới. Tại vì sao vậy? Là tại vì mình có mắt, có tai, có mũi, có lưỡi, có thân, nhưng riêng đối với 5 cảnh là sắc, thinh, khí, vị, xúc không có cái gì bảo đảm cả, cái gì mình thấy, cái gì mình nghe, cái gì mình ngửi, cái gì mình nếm, cái gì mình xúc chạm đều thuận theo ý mình hết, bởi vì mình không sai xử được nó phải như thế này đừng như thế kia, nên chúng ta gọi nó là vô ngã.

3. Pháp thứ ba 

Và một pháp thứ ba liên quan đến hành giả tu tập pháp này chúng tôi muốn nói hành giả có thể quán sát về bản thân qua sự hoạt động của 5 căn. 

Thí dụ như đây là mắt, đây là cảnh sắc, khi con mắt và cảnh sắc gặp nhau thức sanh khởi. 

Và khi con mắt, cảnh sắc và tâm thức là nhãn thức sanh khởi cùng lúc chúng ta gọi là xúc. 

Tức là một sự gặp gỡ giữa 3 yếu tố căn cảnh và thức thì xúc đó không nằm yên nó sanh ra thọ là hoặc khổ, hoặc ưu, hoặc hỉ, hoặc lạc. 

Thọ đó mới sanh ra ái, ái ở đây là ưa thích và ái sanh ra thủ.

Thì với hành giả tu tập lâu ngày chúng ta thấy có một tác động giây truyền, cái này có mặt ảnh hưởng cái kia, cái kia ảnh hưởng cái nọ rồi  ảnh hưởng đó là một cái gì đối với hành giả rất ư quan trọng trong sự tu tập của mình. Lấy ví dụ như mình tu thiền quán một lúc  mình thấy cái vui, cái buồn, cái mình thích, hay không thích, thật ra chỉ là một sự chi phối không hơn không kém. 

Nếu chúng ta học rõ về sự hoạt động của các căn, rồi chúng ta học rõ về khả năng chi phối là vô chừng của các căn đối với sự vui buồn đối với tâm thức, và nếu chúng ta học rõ và chúng ta có thể theo dõi kỹ về những cái chợt đến, chợt đi, chợt ẩn, chợt hiện của các căn thì lúc bấy giờ chúng ta thấy cuộc sống chỉ là một sự tác động liên hồi như những đợt sóng của đại dương trùng trùng cái này nó xô đẩy nhau đi về biển đời vô tận. Những đợt sóng đó tạo ra một hình ảnh của một mặt biển không phẳng lặng của ảnh hưởng nhiều sóng nhiều gió. Nhiều khi chúng ta phải nhìn cuộc đời như vậy để chúng ta thấy trong cuộc sống này thực tại nó vốn chứa đựng nhiều phương diện và nó không có đơn thuần chỉ có một góc cạnh như chúng ta thấy. Hễ mình nhìn thấy được điều này ít nhất qua đó chúng ta thấy được yếu tính đạo Phật dạy là Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. Vô Thường, Khổ, Vô Ngã thấy được rõ ràng qua sự hoạt động của 5 căn này. 

Bây giờ chúng tôi tóm tắt lại trong bài học ngày hôm nay:

Trước nhất chúng tôi nói về 5 căn, 5 căn này là 5 cửa sổ cho chúng ta thấy có sự tiếp xúc giữa nội tại và ngoại giới. Nội tại và ngoại giới chính là yếu tố tạo cho chúng ta chủ quan hay khách quan. Ví dụ, mình là người VN lưỡi mình quen ăn nước mắm thì mình thấy nước mắm là thơm nhưng với người khác không quen thì nước mắm là hôi. Mình là người VN không quen với mùi của phô mai đôi khi nhìn thấy phô mai mình không thích nhưng có những người Tây Phương họ thích mùi phô mai họ thấy thoải mái. Thì như vậy là sự chủ quan và khách quan hết.

Rồi cũng qua 5 căn này chúng ta có sự liên hệ giữa vật chất và nội tâm, khi con mắt thấy sắc thì sắc rõ ràng là vật chất nhưng từ sự tiếp xúc đó nó chuyển hóa trở thành một quan niệm thì quan niệm đó chúng ta gọi quan niệm nội tâm. Như vậy nó đóng vai trò bắt nhịp cầu. Lấy ví dụ, cũng màu sắc đó nhưng nếu một họa sĩ tài hoa kết hợp trở thành một bức tranh và chúng ta là người thưởng thức hội họa ở một trình độ tương đối khác thì đường nét đó màu sắc đó tạo cho chúng ta bao nhiêu sự suy nghĩ về cuộc sống, về chiến tranh, về hòa bình, về tình yêu, tuổi trẻ về những khái niệm này khái niệm khác. 

Chúng ta nói về chủ quan, về khách quan, nói về vật chất, nói về nội tâm, chúng ta nói về nội giới, nói về ngoại giới đó là chúng ta nhìn vào các căn chúng ta hiểu những khái niệm như vậy. Nhưng 3 phương diện chúng tôi đề cập đến ở tại đây. 

Phương diện đầu tiên là phương diện thường thức. 

Thì từ các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân chúng ta hiểu nó sản sinh ra một nền văn hóa vĩ đại một nền văn hóa muôn màu muôn mặt. 

Chúng ta nói về tai hay chúng ta nói về thính giác thì chúng ta cũng nói đến một nền văn hóa lớn, ví dụ như âm nhạc. 

Hay chúng ta nói về mắt chúng ta nói về hội họa.

Chúng ta nói về mũi chúng ta nói về hương liệu chúng ta nói về nước hoa.

Chúng ta nói về lưỡi chúng ta nói về ẩm thực.

Chúng ta nói về thân là nói về xúc thì chúng ta nói về giường chiếu, nói về quần áo, chúng ta nói về nhục dục. 

Nói chung lại, những chuyện đó không phải chỉ có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, mà nó rất là lớn chuyện, lớn chuyện nghĩa là nó đã tạo cho chúng ta không biết bao nhiêu những phó sản, bao nhiêu những hệ lụy, bao nhiêu ảnh hưởng, nó tạo thành một thế giới muôn màu muôn sắc, những thế giới có bao nhiêu thứ khiến cho chúng ta bị choáng ngợp, chúng ta cảm thấy chới với bởi vì sự chi phối của nó quá mạnh.

Rồi trên phương diện Phật học.

Qúi Phật tử sẽ thấy, chúng ta học Phật học nói nhiều về 5 căn này, như ngũ song thức ở trong A Tỳ Đàm hay Phật học đề cập đến 6 thức thì 5 thức đầu nói 5 thức liên hệ đến mắt, tai, mũi, lưỡi, thân rất nhiều.

Nhưng trên phương diện hành giả tu tập tức pháp hành thì điều này rất quan trọng. Hồi nãy chúng tôi có trình bày thu thúc lục căn nói thu thúc 6 căn thì cũng liên hệ đến các căn này, hay chúng ta nói về sự quán tưởng Giáo Lý Duyên Khởi; danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, nó cũng liên hệ đến những điều này. Hoặc giả chúng ta đề cập đến một vị hành thiền  vị đó quán tưởng bản thân qua sự hoạt động của 5 căn. 

Chúng tôi nói tóm lại một điều như vầy. Khi chúng ta học Phật Pháp có những lãnh vực mình đừng tưởng hiểu rồi nó yên tại đó, mình hiểu rồi cứ để mặc nó. Thật ra những pháp đó liên hệ với những pháp khác.

Nếu một người học Phật thấy được 5 căn nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân và chúng ta nhìn từ nhiều góc cạnh khác nhau thì điều đó làm cho chúng ta trở nên nhạy bén hơn, dễ hiểu hơn, dễ lãnh hội hơn khi chúng ta đề cập đến những pháp khác. 

Ví dụ Giáo Lý Vô Ngã trình bày nhiều cách. Nhưng Giáo Lý Vô Ngã có thể trình bày như vầy; con mắt tiếp xúc với cảnh sắc nhãn thức sanh khởi, và nó sanh ra thọ khi nói con mắt tiếp xúc cảnh sắc. Ví dụ mình có con mắt cũng chưa chắc mình làm chủ hoàn toàn con mắt. Tại vì sao? Tại vì con mắt có khi nó sáng, có khi nó mờ, có khi nó bị bịnh chúng ta không làm chủ được con mắt. 

Với cảnh sắc chúng ta hoàn toàn không làm chủ được, một cảnh bên ngoài rất đẹp của một ngày đẹp trời nắng, cảnh bên ngoài rất ảm đạm của một ngày trời mưa, một cảnh ở bên ngoài rất hữu tình như hồ rộng núi cao, một cảnh ở bên ngoài rất  nản như một đống rác v.v... nó đều không nằm ở trong sự kiểm soát của chúng ta.

Rồi con mắt khi nó tiếp xúc với cảnh sắc, rồi thị giác sanh khởi và cảm thọ hoặc vui hoặc buồn, hoặc không vui không buồn, mình không kiểm soát được. 

Nhiều lúc, đối với mình rất khó hiểu, tại sao cũng bữa ăn đó có nhiều khi chúng ta hờ hững, tại sao cũng bữa ăn đôi khi chúng ta cảm thấy không có thích thú. Thì một người tu tập thấy chuyện đó chúng ta học được cái lý VôThường, Khổ và VôNgã qua sự hoạt động của các căn các cảnh các thức./.

Wednesday, June 10, 2015

Kinh Phúng Tụng - Năm điều lợi ích của một người có giới trì giới

Kinh Phúng Tụng - Năm điều lợi ích của một người có giới trì giới

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 3-1-2013, Minh Hạnh chuyển biên

(Xin lưu ý: những bài chuyển biên này chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

TT Giác Đẳng: Trước nhất, nói về chữ giới trong đời sống được hiểu là những nguyên tắc của những hành xử liên quan đến thân, khẩu, ý của chúng ta. Những nguyên tắc này cho chúng ta biết một lằn danh cái gì nên làm và cái gì không nên làm. 

Nói trên ngôn ngữ Phật Pháp người giữ giới là người sống có giới, ngôn ngữ ngoài đời là người sống có nguyên tắc.

Dĩ nhiên, giới có nhiều loại, nó không thuộc về giới cấm thủ, có nhiều loại là ác giới hay tà giới không phải giới luật Đức Phật ban hành. Thí  dụ như Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới, Sadi Giới, Tỳ Kheo Giới, Tỳ Kheo Ni Giới v.v... là những giới Đức Phật Ngài dạy cho người Phật tử thực hành.

Những nguyên tắc ngoài đời người ta hay đặt để một vài trường hợp; Thí dụ người ta nói mình sống phải sống đàng hoàng tức là không nói chuyện không nói có , chuyện có nói không, điều này cũng là một thứ nguyên tắc. Hay hoặc giả một người hứa làm chuyện gì đó thì chắc chắn họ phải tuân thủ, phải làm tuân giữ lời mình hứa, cũng là một số nguyên tắc.

 Đức Phật Ngài định nghĩa giới như một chủ tâm để tránh không làm điều gì đó cho dù ở những hoàn cảnh khó khăn. Lấy ví dụ, chúng ta không thích nói lời chia rẽ thì cho dù hoàn cảnh có bực bội khó chịu đến đâu, hay chúng ta có ghét người nào đến đâu chúng ta cũng không nói lời ly gián người đó với một người khác, đó gọi là nguyên tắc trong đời sống. Những nguyên tắc này tạo thành những xã hội văn minh, tạo thành những cá nhân và những cá nhân này được xem như sống đàng hoàng.

Đức Phật Ngài cho chúng ta biết không phải những nguyên tắc đó đơn giản chỉ tạo ra một xã hội trật tự nó còn ảnh hưởng nhiều đến nội tâm chúng ta. Nói một cách khác, nếu một người sống tùy tiện chuyện gì làm cũng được miễn người ta không thấy, người ta không biết thì mình làm gì cũng được, đó là người không có giới. Nhưng có những người sống tin có những việc mình nhất định trong hoàn cảnh nào cũng không làm, và đặc biệt nếu điều đó là điều kết hợp với Ngũ Giới hay Thập Thiện thì điều đó trở thành một thứ giới ở trong đạo Phật.

Chúng tôi lấy ví dụ trường hợp sát sanh. Một người Phật tử hiểu đạo ở trong mọi hoàn cảnh không bao giờ muốn sát hại sinh vật ngay cả khi ăn thực phẩm nào không phải là con vật còn sống, nó có sẵn thì họ ăn, còn con vật nào sống mà biểu đem giết rồi nấu cho họ thì họ từ chối. Giả xử như đi chợ, người ta nói con vật còn sống làm sẽ ngon nhưng mình là người Phật tử thì mình biết những con vật sống đó là những con vật có thức tánh mình ăn sẽ phạm tội sát sanh thì người Phật tử dứt khoát là không mua, nếu cần phải mua thì mua con vật nào đã chết rồi. Đó nó cũng là một thứ nguyên tắc ở trong cuộc sống và điều đó ảnh hưởng sâu xa đến đời sống nội tại của chúng ta. Một người trưởng thành không có được những nguyên tắc này chúng ta thường có vấn đề là chúng ta không biết lằn ranh nào phải dừng lại.

 Trong những xã hội tiến bộ con người thường có những hạn chế nhất định trong cuộc sống của mình, những hạn chế này không phải mất đi tự do, những hạn chế này tạo nên trật tự của đời sống mình tuân thủ, mình sống với những nguyên tắc đó, thì điều đó chứng tỏ mình có trưởng thành. Một người sống đụng đâu xâu đó, cái gì sống cũng được, làm sao sống cũng được thì thường họ tạo nên nhiều phiền phức cho họ và cho những người chung quanh. Chúng ta lấy ví dụ, mình ở gần một người hay táy máy, họ đọc email của mình, hay họ mở thư của mình, hoặc giả người đó hay lấy đi những thứ không phải của họ thì tự nhiên mình sống gần người đó mình phải cẩn thận, vì người đó không cho mình sự an lạc. Nhưng mình sống với một người có nguyên tắc rõ ràng, chuyện nào ra chuyện đó, rất tôn trọng sự riêng tư của người khác, không bao giờ đụng đến những thứ người ta không cho phép, mình biết người đó thật sự sống như vậy thì mình cảm thấy thoải mái dễ chịu. Nó là một cống hiến nói lên sự an hoà. Mình chơi với một người bạn mình biết người kín miệng không đem chuyện chỗ này nói chuyện chỗ kia, không đem lửa ngoài vào trong nhà, không đem lửa ở trong nhà ra bên ngoài thì mình cảm thấy mình không cần giữ kẽ. Nhưng nếu người nào có tính thài lai chuyện gì họ cũng đem nói đầu trên xóm dưới thật sự mình ở gần người đó đôi khi mình phải nên cân nhắc phải cẩn thận .

Chính nguyên tắc sống làm cho cuộc sống có trật tự đâu vào đó. Người Trung Hoa ngày xưa họ nói "cha làm tròn bổn phận của cha, con làm tròn bổn phận của con", điều đó như mơ hồ nhưng cũng nói đến một thứ trật tự người nào thì biết việc của mình không đi xa khỏi ranh giới. Cuộc sống của chúng ta lớn lên càng rộng lớn, chúng ta đi nhiều, giao tiếp nhiều, sống trong nhiều trường hợp nhưng nếu chúng ta sống ở trong một thế giới to lớn và chúng ta không có nguyên tắc giống như chiếc thuyền đi trên biển không có định hướng. 

Cuộc sống tùy tiện đạo Phật gọi là cuộc sống phóng túng. Cuộc sống phóng túng là cuộc sống không có mục đích, cuộc sống không có nguyên tắc. Nguyên tắc đi chung với mục đích, chúng tôi lấy ví dụ bây giờ chúng ta sinh hoạt trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma, chúng ta vào đây để học Phật Pháp không phải khi chúng ta học Phật Pháp chúng ta nói huyên thuyên chuyện gì cũng nói, có những chuyện thích hợp những chuyện không thích hợp, ví dụ ngày hôm nay chúng tôi vào đây bàn với qúi Phật tử những đề tài không phải Phật Pháp thì điều đó không thích hợp. Như vậy cuộc sống có cái gì rõ ràng và nếu chúng ta tuân thủ những cái rõ ràng đó là chúng ta sống có nguyên tắc và càng sống có nguyên tắc đời sống của chúng ta càng có lòng tự tin.

Về điều này chúng ta ít khi nào nghĩ ảnh hưởng lớn đến đời sống mà đôi lúc chúng ta xem nó là những sợ giây ràng buột. Trong một văn hóa không có thuần chất Phật Pháp người ta hay sợ giữ giới tại vì người ta thấy giới làm cho mình lúng túng chỗ này cảm thấy phiền toái chỗ kia. Nhưng nếu chúng ta để ý kỹ ở trong một nhóm, trong cộng đồng nào những thành viên trong đó có biết tuân thủ những nguyên tắc nhất định thì đời sống sẽ an lạc. Mình đi chung trong một phái đoàn, trong một nhóm người mình biết có một người nào đó có tính ăn cắp vặt thì thật sự rất phiền, hay mình biết người nào trong nhóm họ hay nói xấu người khác mình cũng rất phiền, hay có một người nào đó sống không đàng hoàng trong đời sống mình cũng rất phiền. Nếu chúng ta những người cùng hành trình với nhau trên một con thuyền cho dù ở trong hoàn cảnh này, hoàn cảnh khác, cùng nhau tu tập, cùng nhau sống dưới mái chùa, cùng nhau đi trong một đoàn hành hương, cùng nhau làm một đề án gì đó những người đồng sự sống chung với mình những người đó sống tùy tiện quá không có nguyên tắc thì sẽ loạn.

Tại sao từ ngàn xưa người ta vẽ ra những lằn ranh, thí dụ, thế nào là một người có gia đình, thế nào là người độc thân, thế nào là một quan hệ bất chánh, thế nào là một quan hệ có khả dĩ chấp nhận được trong xã hội? Tại vì khi một xã hội quan hệ của con người loạn quá thì tự nhiên gây ra nhiều phiền não, rất nhiều phiền não lớn chứ không phải nhỏ giữa người này và người khác. 

 Thì ở đây, Đức Phật Ngài nói đến một lãnh vực một khía cạnh khác liên quan đến giới ảnh hưởng đến cá nhân như thế nào. Hồi nãy giờ chúng ta bàn ảnh hưởng đến xã hội, ảnh hưởng đến cộng đồng, ảnh hưởng đến những người sống chung với mình, nhưng Đức Phật Ngài cũng khẳng định một người sống có nguyên tắc và hiểu những nguyên tắc của mình dầu nguyên tắc đó là 5 giới, 8 giới, Sadi giới, Tỳ kheo giới, Tỳ kheo ni giới thì những nguyên tắc đó làm cho người đó có được những lợi lạc những kết quả ở nội tâm.

Về điều này chúng ta đã nghe Chư Tăng nói đến nhưng hôm nay chúng tôi nhắc lại một số: 

- 1. Điều lợi ích thứ  nhất. Nhờ giữ giới mình giữ được tài sản.

Ví dụ nhờ giữ giới mình giữ được tài sản, một khi giới hạnh bị hỏng chúng ta rất dễ bị tổn thất. Điều này có lẽ dễ hiểu nhất ở trong thí dụ người ta nói mình có tiền mình sài có chừng mực sẽ không dẩn đến chỗ phá sản, nhưng nếu mình vung tay quá trán sẽ dẫn đến chỗ khánh kiệt. Chúng ta sống ở quốc gia giàu về vật chất chuyện đó cũng như vậy, thí dụ như phương tiện của chúng ta chỉ có chừng đó chúng ta sài nhiều hơn phương tiện mình có thì mình có vấn đề, còn chưa nói đến chuyện mình làm những điều sai trái cái giá mình trả những điều sai trái đó là mình không gìn giữ được tài sản. Ở trong những xã hội pháp trị có một điều rất rõ ràng là bảo vệ tánh mạng và tài sản, nhưng nếu muốn bảo vệ tài sản con người thì những người sống trong xứ đó phải tuân thủ những nguyên tắc hợp pháp, ví dụ như đóng thuế cho đủ, hoặc giả không làm những điều phi pháp, hoặc giả có những điều họ được làm có những điều không nên làm họ tuân thủ cho đủ thì họ gìn giữ được tài sản của họ, còn trong một xã hội pháp trị không ổn định thì tánh mạng không bảo đảm, tài sản không bảo đảm. 

Tại Hoa Kỳ chúng tôi biết có nhiều trường hợp hai vợ chồng qua đây trong thời trẻ cùng nhau xây dựng sự nghiệp, mở những cơ sở thương mại làm ăn buôn bán tới tuổi 50, 60 giàu có, nhưng sau nhiều năm vợ chồng làm việc vất vả tạo nên một tài sản đáng kể thì người chồng đi về VN coi công việc có vợ nhỏ hay có bồ bịch bên đó, người vợ ở đây buồn đi casino bài bạc, chỉ trong thời gian rất ngắn đi đến chỗ phá sản là tại vì cuộc sống của họ đã đi lệch nguyên tắc. Nguyên tắc của họ rất rõ, nếu mình muốn giàu có đừng để tiền bạc chảy ra những chỗ không đáng, nhưng một khi tiền bạc dùng vào chỗ trụy lạc như về VN kiếm vợ nhỏ hay đi vào casino chơi bài bạc không sớm thì muộn cũng bị phá sản, và chuyện đó xảy ra không phải một gia đình mà rất nhiều gia đình ở tại Hoa Kỳ.

 Thì ở đó cho chúng ta thấy trong những trường hợp như vậy một người phải có đủ tỉnh táo để đủ nhận ra nếu mình không tuân giữ một số nguyên tắc nhất định thì công lao mình đem đổ sông đổ biển, những gì mình tích tập bao nhiêu năm do công sức mồ hôi nước mắt bây giờ nó đi dễ dàng lắm. Đôi khi một người đi làm lương công nhật để dành tiền cả năm như vậy mới tích lũy vài ba chục ngàn đi casino đánh bài đứng trong một canh bạc tốn cả trăm ngàn rồi dẫn đến chỗ phá sản. 

Nói chung, nếu đời sống của chúng ta có trật tự có nguyên tắc thì cái gì mình làm được mình giữ được. Nhưng nếu đời sống chúng ta buông thả quá đi đến chỗ không đáng đi thì chuyện thất thoát, chuyện phá sản, chuyện khánh tận là chuyện rất dễ dàng xảy ra. Do vậy Đức Phật Ngài dạy một người giữ giới người đó có khả năng gìn giữ tài sản của họ.

Ngày hôm nay tại Hoa Kỳ người ta cũng nói rằng những công ty làm ăn khá họ đều có những luật gọi là "play by the rules, play by the book" có nghĩa những nguyên tắc nhất định ở trong sự quản trị và nhờ kỷ luật đó người ta có thể gìn giữ được sản nghiệp của công ty, còn nếu nguyên tắc đó không được tôn trọng thì dẫn đến chỗ phá sản là chuyện bình thường.

- 2. Điều lợi ích thứ hai, nói về một người giữ được giới hạnh có được danh thơm tiếng tốt. 

Chúng tôi nghĩ như vầy, có nhiều việc chúng ta nghĩ nó rất nhỏ không đáng kể nhưng thật sự ảnh hưởng rất lớn. Một lần sang bên Úc cách đây một năm chúng tôi ngồi nói chuyện với một số Phật tử trong một gia đình ở Sydney, các vị nói với chúng tôi; khi các vị vào sinh hoạt trong Internet các vị thấy có 2 thành phần của Tăng Ni: một thành phần vào trong Internet paltalk hay vào nơi nào khác sinh hoạt là vì ưa chuộng Phật Pháp mà vào sinh hoạt hay vì muốn cống hiến nên vào sinh hoạt. Nhưng có những vị đi vào sinh hoạt chỉ với mục đích để liên lạc đầu này đầu kia và để kêu gọi tiền bạc. Ban đầu chúng tôi nghe các vị nói vậy chúng tôi cũng đồng ý là có như vậy. Nhưng khi các vị kể cho chúng tôi một vài Chư Tăng vào internet sinh hoạt chỉ dùng để làm phương tiện liên lạc đầu này đầu kia kêu gọi tiền bạc thì lúc đó chúng tôi hơi chạnh lòng một chút, bởi vì chúng tôi cũng biết những vị đó, những vị đó cũng có khả năng nhưng các vị đó đã dùng phương tiện paltalk để phá hủy đi niềm tin của Phật tử và đã làm chuyện không đáng mà làm cho mình mất đẹp. Và cũng may mắn cho chúng ta là có rất nhiều vị trong nhiều năm tháng của cuộc sống những vị này chỉ một lòng làm việc cống hiến và những vị đó khi làm việc cống hiến không nghĩ mình vào internet để liên hệ đầu này đầu kia để được điều này được điều kia. Khi chúng tôi nghe những người Phật tử nói như vậy chúng tôi hiểu ngay một chuyện trong đời sống là có những khi người ta hy sinh một cách không đáng những điều không nên hy sinh. Nói đến điều này chúng tôi nhớ có câu nói: "Cầm lòng bán cái vàng đi, để mua những cái nhiều khi không vàng". Người ta đem vàng đi bán để lấy tiền nhiều khi lấy tiền đó để mua những cái không đáng gì so với số vàng đã có. Thì mỗi con người trong cuộc sống có một số những nguyên tắc nhất định và những nguyên tắc này làm đẹp cho bản thân, làm đẹp cho đạo, làm đẹp cho đời, nhưng nếu người đó không có đủ lòng tự trọng mà nghĩ rằng mình chỉ dùng những phương tiện này để cho mục đích này mục đích kia mang tánh cách vụ lợi hay vị ngã thì đúng là "cầm lòng bán cái vàng đi, để mua những cái nhiều khi không vàng". 

- 3. Điều lợi ích thứ ba của quả phúc đó là lòng tự tin. 

Lòng tự tin, chúng ta sống ở trong một tổ chức, hay giữa đám đông hay giữa hội chúng. Chúng ta để ý kỹ sẽ thấy những người hay nói chuyện đàm tiếu, đem chuyện chỗ này nói chuyện chỗ kia chẳng hạn, khi họ đivào trong đám đông dễ bị người khác nghĩ quấy về họ và họ dễ mất tự tin. 

Điều này là kinh nghiệm của chúng tôi. Trong những buổi hội họp, những buổi hội thảo, những buổi gặp gỡ làm việc từ giáo hội cho đến những tổ chức địa phương, hay trong một cộng đồng, trong nhóm, những người nào sống có giá trị riêng của mình, có nguyên tắc riêng của mình thì họ đến đi một cách rất tự tại. Nhưng người nào sống đụng đâu sâu đó, sống tùy tiện, sống thế nào cũng được thì họ không có tự tại. Ngay cả khi nói năng thì những người sống họ có giá trị riêng của họ thì khi họ nói chúng ta hiểu lời họ nói chắc nịch, lời nói của họ có nặng ký. Nhưng những người sống tùy tiện, ở trong cuộc sống họ không có nguyên tắc gì hết thì thật sự lời nói họ không có giá trị, vì lý do rất đơn giản là trong lòng của họ không có đủ tự tin. Nên trong trường hợp này nó ảnh hưởng tâm lý rất nhiều.

Ngài Thiền Sư Ajahn Liem ở Thái Lan có nói: Một vị Tỳ Kheo sống an lạc giữa Tăng chúng là vị đó không có điều gì để tự trách về bản thân của mình, nhưng một người làm những điều xấu tự bản thân của mình thì cho dù ngồi giữa Tăng chúng người đó không được an lạc. Về điều này chúng ta phải nói nó ảnh hưởng đến tinh thần mình rất lớn.

Chúng tôi nhớ trong những ngày cuối cùng của Ngài HT Hộ Giác trước khi Ngài ra đi nhiều Chư Tăng và nhiều Phật tử đến thăm viếng bên giường của Ngài. Chúng tôi có thể cảm nhận một cách sâu sắc rằng Ngài đã đối xử với tất cả bằng trọn vẹn tấm lòng của Ngài, Ngài không đối xử xấu với một ai thành ra lúc họ đến với Ngài, Ngài cảm thấy rất tự tại. Giả xử trong đời sống mình có điều gì sai quấy xử xấu với người nào mà trong những giờ phút cuối cùng của đời mình họ đến thì thật sự mình cảm thấy áy náy, có khi mình phải xin lỗi, có khi mình cảm thấy không thoải mái. Nhưng bởi vì trong cuộc sống của Ngài rất chan hoà rất tốt với tất cả mọi người, Ngài đem cái tình đối với mọi người do vậy khi người ta đến Ngài cảm thấy thanh thản không có gì vướng bận. Đó cũng là một nguyên tắc trong đời sống của mình, nguyên tắc sống là mình sống vô hại, sống với lòng từ.

- 4. Điều lợi ích thứ tư. Đó là khi đối diện với cái chết không mê loạn.

Nói đến tâm tự tại ổn định khi đối diện với cái chết thì có lẽ riêng đối với bản thân của chúng tôi trong thời gian hơn một tháng qua chúng tôi học được rất nhiều điều về điểm này. Khi Ngài HT Hộ Giác ra đi Chư Tăng và Phật tử nhắc nhiều về những điều kỳ lạ ở trong cuộc sống của Ngài, ở trong tang lễ của Ngài, ví dụ như thời tiết, thí dụ như phần di cốt của Ngài v.v... Nhưng riêng đối với cá nhân chúng tôi một điều chúng tôi thật sự cảm nhận và cảm nhận một cách hết sức thấm thía đó là sự thanh thản của Ngài khi đối diện với cái chết. Chúng tôi đọc trong kinh, Đức Phật Ngài dạy  hầu hết chúng sanh ở đời đều run rảy trước tử thần, hay nói một cách khác đều kinh hoàng trước cái chết. Nhưng cho đến bây giờ khi Ngài ra đi rồi chúng tôi có thể nói một điều những giây phút cuối cùng cuộc đời của Ngài cho thấy Ngài đã thật sự rất thanh thản điềm tỉnh trước cái chết. 

Chúng tôi từ Úc về 3 tuần lễ trước khi Ngài ra đi lúc bấy giờ Ngài dùng cơm không được chỉ uống nước, chúng tôi thỉnh Ngài đi bệnh viện nhưng Ngài không đi, Ngài nói với chúng tôi: "kỳ này Sư sẽ không qua khỏi". Và rồi ngày thứ Sáu đầu tháng 12 chúng tôi thấy không nên để như vậy, nhờ một người y tá ở clinic nơi Ngài lọc thận để thưa với Ngài là Ngài cần oxy và Ngài phải vào bệnh viện thì Ngài cũng miễn cưỡng nhận lời. Ngài ở bệnh viện tới ngày thứ Hai sau khi chúng tôi bàn với các bác sĩ được biết việc chữa trị không còn thích hợp với Ngài nữa, chúng tôi muốn rước Ngài về chùa để Ngài ra đi, chúng tôi vào thưa với Ngài: " bệnh viện cho biết việc chữa trị không còn tốt cho Ngài nữa thành ra chúng con quyết định rước Ngài về chùa để Ngài ra đi ở chùa". Ngài một cách rất bình thản, Ngài gật đầu, Ngài nói: "Như vậy là phải".

Ngài về chùa, trước đây mỗi ngày Ngài đều phải dùng thuốc bây giờ Ngài không dùng thuốc nữa, và một tuần Ngài phải lọc thận 3 lần bây giờ không lọc thận nữa, điều đó có nghĩa cái chết gần kề. Không phải một mình chúng tôi ở với Ngài mà rất đông Chư Tăng và Phật tử vây chung quanh Ngài. Ngài biết cái chết sắp đến nhưng Ngài rất điềm tỉnh, một hình Phật treo thấp trước giường bệnh Ngài dặn treo cao lên, bởi vì sau đó Ngài cho biết treo thấp giống như chân mình hướng về Phật không tốt. Chư Tăng đến Ngài dặn lo chỗ ở lo cơm cho Chư Tăng. Qúi Phật tử ở xa về đảnh lễ Ngài, Ngài nhớ Ngài hỏi thăm những người trong gia đình, Ngài đang đối diện với cái chết nó có thể đến từ bất cứ khoản khắc nào nhưng lần đầu tiên chúng tôi tận mắt mục kích một người có thể nhìn cái chết đến một cách bình thản như vậy, rất ư bình thản.

 Hơn 2 năm qua trước khi Ngài ra đi, Ngài thường nói về kinh Girimànanda. Có một điều lạ về cuộc sống của Ngài là khi Ngài còn khỏe Ngài thường chú trọng về pháp học hơn pháp hành, và Ngài cũng chú trọng về phương pháp niệm Phật nhiều hơn những pháp khác nhưng 2 năm cuối cùng thì Ngài thường niệm về thể trược, niệm về thân bất tịnh. Chúng tôi cũng không hiểu tại sao nhưng chúng tôi biết Ngài thường tụng kinh Girimànanda và thường ngồi tụng một mình. Mỗi khi đến hầu chuyện với Ngài thì Ngài thường nói về thân bất tịnh. Chúng tôi hiểu rằng Ngài đang chuẩn bị một cái gì đó cho chính Ngài và sự chuẩn bị đó có kết quả.
Chúng tôi hoàn toàn tin Ngài đã chuẩn bị rất tốt cho hành trình của mình. Nhưng chuyện đó không có dễ dàng. Đối với Ngài Hộ Giác khi Ngài nằm ở trên giường bệnh chúng tôi có thể cảm nhận được sự nhẫn của Ngài đối với cái đau của cơ thể. Khi nói chuyện với Ngài thì Ngài trả lời, nhưng bình thường Ngài nhắm mắt kham nhẫn không rên rỉ không than thở. Lúc đó chúng tôi mới thấy cuộc tu có ý nghĩa, thật sự phải nói sự tu tập có ý nghĩa. 

Tất cả chúng ta khi đối diện với cái chết đều có sự sợ hãi và thường có những liệu toan không biết cái này rồi sẽ ra sao, cái kia ra sao, lúc đó chúng ta nhớ nhiều thứ nhưng không có thứ nào đáng nhớ cho bằng hơi thở của mình, cho bằng cảm thọ của mình, và cho bằng Phật Pháp hết. Nhưng chúng ta thường nhớ những thứ khác.  Tâm của chúng ta phải đủ mạnh, trí của chúng ta phải đủ sáng suốt để chúng ta không nhớ điều này và điều khác. Được như vầy nhờ những nguyên tắc trong đời sống của chúng ta và những nguyên tắc đó phải rõ ràng. 

Trong cuộc sống của Ngài HT Hộ Giác có một điều chúng tôi chia sẻ với qúi vị là Ngài có một bản lãnh khó có ai có thể có được, đó là Ngài rất thoải mái để nói chuyện một cách hoà ái với những người từng chống đối Ngài từng nói xấu Ngài. Đôi khi chúng tôi hỏi Ngài làm thể nào mình có thể đối diện với những người họ ghét mình họ chống đối mình một cách thoải mái như vậy? Ngài dạy là:

 "Mình hãy ban bố, hãy cho, hãy chia sẻ với người đó, khi mình cho ai một cái gì dầu một tách trà, hay một bữa cơm, hay một nụ cười thì mình không có phiền không có giận người đó nhiều".

Cách này cũng có một điểm, nếu mình giận một ai đó mình không làm gì hết thì cái giận sẽ còn hoài,và thay vào đó mình đãi người đó một bữa ăn cho ngon hay tặng cho người đó một món quà gì đó, mình tặng cho người đó một món quà đồng thời cũng có nghĩa là mình xoá đi niệm bất thiện trong lòng mình.

Ngày xưa ở chùa có một người Phật tử, anh này rất giỏi về công việc làm dàn đồng, làm dàn xe hơi, chùa nhờ anh sơn sửa những tượng Phật, anh làm rất tốt. Nhưng anh có tật đánh vợ đánh con, vợ con ở không được ra bên ngoài, anh lên xin Ngài HT Hộ Giác nói làm sao để vợ con trở về nhưng vợ con không trở về anh lại thù Ngài Hộ Giác và thù Chư Tăng, khi anh thù như vậy anh nói nhiều chuyện rất tệ hại. Nhưng lâu lâu Ngài nhìn những tượng Phật Ngài vẫn nhắc đến công quả của người đó, của người đã từng làm mặc dầu người đó đã từng mạ lỵ Ngài bằng cách này cách khác.

Chúng tôi nghĩ, khả năng có thể nhớ cái tốt của người mà không nghĩ đến cái xấu của người cũng là một thứ nguyên tắc của đời sống, nguyên tắc đó giúp chúng ta có một thái độ tỉnh táo cái nào là cái nên làm, cái nào nên nghỉ, và như vậy trả cho chúng ta về sự bình an.

 Một người sống không có những nguyên tắc như vậy rất dễ sợ và đến lúc lâm chung chúng ta thường rối loạn tâm tư của mình. Về điểm này tương tự như chúng ta học rồi đi thi. Chúng tôi biết có những người học rất giỏi nhưng họ bị chứng bịnh đến giờ thi họ bị một áp lực rất lớn và do áp lực này họ trở lên bối rối và quên bài, mặc dù bình thường họ rất giỏi do vậy nhiều khi người ta nói "học tài thi mạng" chúng tôi không biết rõ nhưng chúng tôi biết đôi khi vào giờ chót chúng ta do bị áp lực nhiều chúng ta làm hỏng đi công trình học của mình. Đôi lúc cả đời chúng ta huân tập rất nhiều công đức nhưng giờ phút cuối cùng khi đối diện với cái chết nghĩ đến những người thân đã bỏ lại, nghĩ đến bao nhiêu tài sản vốn liếng chúng ta bỏ lại, nghĩ đến những vật qúi chúng ta có bây giờ chúng ta không làm chủ được, lúc đó có vấn đề.

 Vì vậy để khả dĩ có thể có được trạng thái thanh thản trước khi ra đi có lẽ không có điều gì tốt hơn trong cuộc sống của chúng ta nên tạo một số thói quen, đạo Phật gọi là thường nghiệp, thói quen đó là thói quen tốt. Có Phật tử nói với chúng tôi ban đầu vào trong rơom nghe pháp bởi vì buồn muốn nghe pháp, nghe lâu ngày tự nhiên tới giờ không vào nghe pháp thấy thiếu, như vậy đã trở thành thói quen tới giờ đó cho dù vị giảng sư nào, đề tài nào đi nữa cũng vào nghe được vì thành thói quen, thói quen đó là thường nghiệp tốt. Chúng tôi thật ra có đôi lúc bận việc mà duy trì rơom thật sự cũng vất vả nhưng nghĩ đến lợi lạc cho Chư Tăng và Phật tử chúng tôi nghĩ  dù thế nào mình cũng phải cố gắng. Và chúng tôi tin rằng những thường nghiệp chúng ta lập đi lập lại mỗi ngày ở trong trường hợp này Đức Phật đặc biệt Ngài nói đến trì giới nó sẽ tạo cho chúng ta những thói quen tốt không chừng những thói quen đó giúp ích cho chúng ta rất nhiều ở trong những lúc chúng ta cần đến năng lực của thường nghiệp, năng lực của nguyên tắc năng lực của lòng tự tin. 

- 5. Điều sau cùng Đức Phật Ngài dạy lợi lạc của một người trì giới đó là sau khi thân hoại mạng chung sanh về cõi an lạc.

Người Phật tử VN của chúng ta ảnh hưởng màu sắc tôn giáo đôi khi chúng ta chỉ nói đến niệm Phật khi chết sẽ sanh về cõi Phật. Thật ra còn có nhiều thứ chúng ta cần phải để ý. Một nguyên tắc chung, cái gì nhẹ nhàng cái đó đi lên và cái gì nặng nề cái đó chìm xuống. Không nhất thiết chỉ có niệm Phật về cõi Phật mới là cứu cánh của chúng ta. Chúng ta còn phải nghĩ đến làm thế nào ở trong giây phút cuối cùng chúng ta có thể ra đi không có sự dính mắc. Làm sao những giây phút cuối cùng chúng ta có thể ra đi tâm không sân, không hận. Làm thế nào những giây phút cuối cùng ra đi chúng ta đủ sự tỉnh táo để có thể nhìn vào hơi thở của mình, nhìn vào cảm thọ của mình, những điều đó có lợi cho chúng ta nhiều, có lợi hơn những thứ khác.

Vì vậy, nếu chúng ta tin vào điều đó chúng ta chỉ lấy một tiêu chí đơn giản đó là ở trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta sẵn sàng khởi hành, sẵn sàng lên đường với một tâm tư thật sự nhẹ nhàng. Tâm tư nhẹ nhàng đó phải là tâm tư không dính mắc, tâm tư nhẹ nhàng đó phải là tâm tư không oan kết, tâm tư nhẹ nhàng đó phải là tâm tư thanh thản.

Nói không dính mắc là nếu bây giờ chúng ta còn tỉnh táo bình thường và chúng ta tâm niệm rằng rồi ai cũng phải ra đi, tất cả cái gì mình có mình đều bỏ lại cuộc đời này, nặng lòng cho lắm rồi nó cũng phải bỏ lại thôi. Và đặc biệt khi nghĩ đến cái chết của những người thân của mình mình thường quán tưởng như vầy thì giúp ích cho chúng ta nhẹ nhàng. 

Và ở trong giây phút này khi chúng ta còn khoẻ khi chúng ta chưa kề cận cái chết nếu có giận ai thì cứ giận nhưng đừng oan trái, đừng oan kết, đừng có cột với người đó. Chúng ta thường nói những câu chúng ta nghĩ rằng câu đó nói lên một sự khẳng định để chúng ta không bực bội. Thí dụ như mình nói rằng mình vĩnh viễn không bao giờ chơi với người nào, hay là không bao giờ muốn thấy một người nào, hay là mình nhất định không đội trời chung với người đó. Lâu lâu chúng tôi nhận những email hay những lời nói chửi qua chửi lại của nhóm người này nhóm người kia đôi khi chúng tôi cảm nhận một điều rất ít người thấy được hệ quả của sự oan kết, sống trong cuộc đời oan kết để làm gì, mình cột giây oan kết để mình kéo nhau vào chỗ đoạ lạc thôi, bây giờ mình cùng đi đường mình đi mình đâu muốn lấy cái giây xích cột chân mình vào chân người khác để làm cái gì. Nếu mình sống trong cuộc đời mà buổi sáng thức dậy buồi tối đi ngủ mình cứ nghĩ oan trái người này oan trái người kia thì đời sống mình khổ quá. Thành ra khi mình hiểu được   "cái gì nhẹ thì bay lên cái gì nặng chìm xuống" thì mình sẽ không thích oan trái với ai hết, tại oan trái rồi cũng vậy. Có bao giờ chúng ta thấy một người cột oan trái với người khác mà người đó an lạc, chúng tôi chưa thấy, chúng tôi không biết là qúi Phật tử có thấy ai sống giận hờn oan trái người khác mà an lạc, không có, điều đó trở lên vô nghĩa thành ra chúng ta phải để tâm của chúng ta cho thật nhẹ nhàng không oan kết. 

Và điều này nữa, đừng để tâm của chúng ta bị mê muội, bị mê muội là cái gì đó không biết rõ, một điều làm cho tâm chúng ta thắp sáng nhất đó là mình biết rõ mình đang thở vô đang thở ra, mình nghĩ rằng mình biết chuyện thiên hạ rất nhiều nhưng nó không quan trọng, vào giờ phút này mình biết mình đang thở vô hay đang thở ra, tâm mình phải biết rõ ràng mới được trong sáng.

Tâm mình không dính mắc, đạo Phật gọi là vô tham,

Tâm của mình không oan kết, nó là ở trạng thái vô sân,

Tâm của mình rõ ràng, là trạng thái vô si,

Mình ra đi khỏi cuộc đời này với tâm vô tham, vô sân, vô si, thì được  gọi là nhẹ nhàng. Nếu mình ra đi trong cuộc đời này mà với vướng bận với oan kết với tâm mê muội thì tâm không nhẹ nhàng, thì "cái gì nhẹ nhàng thì đi lên thôi". 

Đó là vài điều chúng tôi muốn chia sẻ với qúi Phật tử đề tài ngày hôm nay nói về 5 điều lợi lạc của một người có giới trì giới ./.