Saturday, September 19, 2015

Hạnh Tu Như Cọp

Hạnh tu như cọp 

TT Giác Đẳng giảng tại chùa Pháp Luân ngày...tháng 12, năm 2012, Song Ánh chuyển biên và biên tập, TT Pháp Nhiên hiệu đính

Lời giới thiệu:

Vào năm 1979, trong một lớp học Phật Pháp tại chùa Kỳ Viên ở quận 3, TP. HCM, lúc bấy giờ giảng viên là một vị sa di trẻ. Sư Giác Đẳng khi ấy mới 16 tuổi, nhưng đã thể hiện được năng khiếu giảng dạy của mình.

Một lần nọ, sư Giác Đẳng nói với chúng tôi về đề tài hạnh tu như cọp, và có hứa sẽ giảng cho chúng tôi nghe bài Pháp này, nhưng chẳng bao lâu sau thì sư đã đi nước ngoài để du học.

Thời gian thấm thoát đã 32 năm trôi qua và cơ duyên được nghe bài Pháp đã đến với chúng tôi. Ngày 14/12/2012, chúng tôi sang Hoa Kỳ để dự lễ kỷ niệm mười năm ngày khánh thành Bảo Tháp tại Thích Ca thiền viện ở tiểu bang California dưới sự bảo lãnh của ngài Hòa thượng Thiền sư Kim Triệu cùng với sự tài trợ vé may bay của các bạn Lệ Trinh, Lý Nhàn, Lệ Lệ (Lý), Tiết Tiểu Minh, Hoa Cúc và gia đình Long Tuyết (Texas).

Trong dịp này, chúng tôi đã đến Houston (Texas) gặp lại Thượng tọa Giác Đẳng và chúng tôi nhân cơ hội này đã thỉnh cầu sư thuyết bài Pháp “Hạnh tu như cọp”. Với chúng tôi đây là bài Pháp vô cùng quý báu vì chúng tôi phải đợi hơn 32 năm. Với thời gian dài như vậy mà chúng tôi đến ngày hôm nay vẫn còn sống để nghe sư thuyết giảng !

Trong thời Pháp, sư Giác Đẳng có cho ghi âm và sao chép ra đĩa CD, nhờ vậy mà chúng tôi có thể nghe lại khi về nhà. Do thiện ý muốn phổ biến bài Pháp có giá trị này nên chúng tôi đã biên tập, đánh máy, photocopy và cho ra đời quyển sách nhỏ với nhan đề “Hạnh tu như cọp”.

Nội dung của bài Pháp đề cập đến bốn đặc tánh của loài cọp (cọp đực). Bốn đặc tánh ấy là:

1- Khả năng sống độc lập (sống một mình)

2- Khả năng cảnh giác rất cao

3- Săn mồi vừa đủ ăn

4- Không biết sợ

Với vị hành giả cũng phải có bốn đức tính như sau:

1. Sống độc cư thanh tịnh

2. Khéo phòng hộ các căn

3. Ăn uống có tiết độ

4. Không biếng nhác, tinh cần ( có tinh thần vô úy)

Chúng con thành kính tri ân sư Giác Đẳng đã từ bi thuyết giảng cho chúng con một bài Pháp vô cùng quan trọng và có giá trị thiết thực cho sự tu tập của hành giả. Chúng con cũng tri ân Sư Pháp Nhiên đã hiệu đính cho quyển sách này.

Mong rằng quyển sách “Hạnh tu như cọp” sẽ là một tài liệu quý báu, là kim chỉ nam giúp cho hành giả thăng tiến trên con đường chấm dứt sanh tử.

Do công đức ấn tông Kinh sách này, chúng con thành tâm hồi hướng và chia phần phước thiện thanh cao này đến ông bà, cha mẹ, thầy tổ, bà con quyến thuộc, bạn hữu và tất cả chúng sanh, cùng toàn thể chư Thiên, toàn thể chư Thiên hộ trì Chánh Pháp. Cầu xin quý vị hoan hỷ nhận phần phước thiện này. Cầu mong quý vị an lạc, thoát khoải cảnh khổ và được an vui lâu dài.

Nguyện cho chúng con sớm thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử.

Sadhu! Sadhu! Sadhu!

Bài Pháp

TT Giác Đẳng: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Bài Pháp hôm nay là một trong những bài Pháp có thể nói rằng rất khó quên trong cuộc đời của chúng tôi. Bài Pháp là một lời hứa mà 32 năm qua vẫn chưa thực hiện được. Ngày đó tôi là một sa di trẻ ở Việt Nam, trước khi rời quê hương ra nước ngoài, tôi hứa là sẽ nói về đề tài hạnh tu như cọp, lúc đó chỉ là một câu nói tình cờ trong lớp học Phật Pháp, nhưng hôm nay thật bất ngờ hữu duyên để có thể thực hiện lời hứa ấy.

Hôm nay hai cô Ánh Hoa, Ánh Nguyệt sang Hoa Kỳ. Cũng lạ, mặc dù trước đây chúng tôi cũng đã vài lần gặp nhau tại Ấn Độ, Thái Lan và Trung Quốc, nhưng chưa bao giờ có dịp để thực hiện điều này vì quả thật do những điều kiện đặc biệt về hòan cảnh, thời gian và và cái nhìn, mà nội dung của bài pháp có thể thay đổi ít nhiều theo từng thời điểm trình bày. Nếu bài Pháp này được nói 32 năm về trước thì một số suy nghĩ trong đó sẽ khác với ngày hôm nay. Hôm nay, nhân dịp hai cô đến chùa và nhắc lại lời tôi đã nói cách đây 32 năm, tôi xin trình bày bài Pháp này để hoàn thành lời hứa cũng như thỏa mãn sự mong đợi của hai vị.

Trong Giáo Pháp, Đức Phật thường dùng chữ thiện xảo, tức là khéo léo. Thiện xảo là khả năng mà chúng ta có thể làm được một điều gì đó theo phương pháp. Thí dụ như người nấu một bữa ăn, người xây dựng một ngôi nhà, nghệ nhân thực hiện một công trình điêu khắc. v.v … Nếu làm đại khái thì nhiều người có thể làm được, nhưng để làm cho tốt, cho được mỹ mãn thì chúng ta phải cần đến phương pháp. Một học giả người Đức, trong bài viết lời tựa cho một quyển sách Vi diệu Pháp đã nói rằng sự khác biệt giữa đạo Phật và các tôn giáo khác là đạo Phật không chỉ ca ngợi những giá trị của thiện pháp mà còn đề cập đến những phương pháp nhằm giúp để thành tựu và chứng đạt những thiện pháp đó.

Một điều mà chúng ta biết là cứu cánh của đạo Phật có thể tóm gọn trong bốn chữ Giác ngộ và Giải thoát. Giác ngộ là thấy được chân tướng của các pháp, và Giải thoát có nghĩa là cắt đứt những dây kiết sử. Đức Phật không chỉ nói đơn giản rằng Giác ngộ và Giải thoát là điều cao quý mà chính Đức Phật và cả chư Phật trong quá khứ đều nói và trình bày mà còn chỉ dẫn hành trình của con đường và phương pháp thực hành để đưa đến Giác Ngộ và Giải thoát. Có một điều mà chúng ta thường ít quan tâm đến đó là trong đạo Phật có một pháp gọi là Pàtimokkha mà chúng ta gọi là Giới bổn. Giới bổn mà ngày nay quý phật tử biết đó là Tỳ khưu và Tỳ khưu ni gới được chư Tăng tụng để nhắc nhở và hành trì. Pàtimokkha được người Trung Hoa dịch là Biệt biệt giải thoát, có nghĩa là những điều này được thực hành thì sẽ đưa đến giải thoát những phiền não.

Pàtimokkha hay Giới bổn đều được các chư Phật dạy để trì tụng chứ không phải riêng gì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy mà thôi.

Các Giới bổn mà Đức Phật dạy về Tỳ kheo và Tỳ kheo ni giới có tính ứng hợp với căn tánh của chúng sanh thời đó. Họ có những sai quấy và Đức Phật chế định theo giới luật. Đó là Giới bổn, điều học. Nhưng Giới bổn mà Đức Phật tự thân hành trì thì rất đơn giản, nó chỉ vỏn vẹn trong bốn điều, và ngài Na Tiên (Nàgasena) đã dùng bốn điều này để giảng giải. Và khi ngài trình bày về điều này ngài đã dùng hình ảnh của một con cọp, một hình ảnh rất gần với đất nước Ấn Độ thời đó để minh họa. Vì vậy, chúng ta nói hạnh tu như cọp thì nghe cũng hơi lạ tai, bởi vì ai cũng nói dữ như cọp chứ không ai nói tu như cọp.

Bây giờ chúng ta nói đến Giới bốn đầu tiên hay nói đến đặc tính thứ nhất của loài cọp. Cọp sống một mình. Quý vị cũng thường nghe nói một rừng không thể có hai con cọp và cọp ở đây chính là con cọp đực. Một con đực sống với nhiều con cọp cái, nhưng trong một lãnh địa thì không có trường hợp hai con cọp đực sống chung với nhau được. Cọp đực phân biệt giang sơn của chúng bằng phân và nước tiểu. Khi một con cọp đực sống nơi nào thì nó dùng phân và nước tiểu để phân ranh, và con cọp này không bao giờ lấn qua ranh phận của con cọp kia. Vì vậy mà người ta nói rằng trong một rừng không thể có hai con cọp. Những nghiên cứu ngày nay cho biết là giang sơn của một con cọp đực thường rộng ít nhất là từ bảy cho đến mười cây số vuông. Con cọp đi lại, sống, săn mồi và nó là chúa sơn lâm trong cái giang sơn riêng biệt của nó.

Ngài Nàgasena dùng hình ảnh này để ví với lối sống của một hành giả- đó là sống độc cư. Tất cả chúng ta, trong sự tu tập, đều phải trải nghiệm một điều mà tất cả những nghệ nhân, những người làm nghệ thuật đều biết: Đó là cho đến khi nào họ thật sự thoát ra được những cái giá trị được thẩm định bởi người khác, bởi xã hội để tự mình nhận chân ra những giá trị đó và dám sống với chúng, sống với chính mình thì đó là một bước ngoặc rất quan trọng trong cuộc đời của họ. Đối với người hành giả cũng vậy. Ví dụ trong đời sống, trong công việc làm hay việc tu tập, mình thường luôn nghĩ rằng ta làm những điều như vậy có ai khen mình không, có được người khác chấp nhận hoặc công nhận hay không, hoặc là những gì mình làm có phù hợp với cái cách mà người khác suy nghĩ hay không. v.v … Điều này trở thành một sự lệ thuộc cố hữu trong cuộc sống, do vậy khi làm việc gì chúng ta cũng phải làm theo những cái giá trị vốn đã được áp đặt, vốn đã có sẵn.

Một hành giả, cho dù sống giữa thị thành hay sống giữa làng mạc, trong rừng sâu đều cần phải có một khả năng độc lập tuyệt đối. Đó là thấy cái này là tham thì phải từ bỏ vì vị ấy nhận thức được rằng tham là một sự ngăn ngại chứ không phải từ bỏ tham vì sợ nếu không bỏ nó thì sẽ bị phật tử chê trách, hay là người này người kia chê trách mình, không đồng ý với mình. Có nghĩa là việc tốt hay xấu hành giả phải tự mình nhận biết điều đó, có như vậy, đó mới là tính cách độc lập. Dĩ nhiên là trong giai đoạn đầu, khó có ai có đủ trình độ để làm được như vậy.

Ở giai đoạn đầu hành giả phải nương vào Kinh điển, lời dạy của thầy tổ hay sự phê phán của xã hội, của gia đình , của bạn bè và những người chung quanh, để phân biệt đúng sai; nhưng đến một lúc nào đó, một hành giả biết sống độc cư- tức là một mình với tự thân, thì vị đó có thể tu tập, có thể thấy các pháp từ cái nhìn hoàn toàn độc lập của chính mình mà không cần dựa vào sự bình phẩm của người khác. Đây là một trong những điều rất khó. Nếu chúng ta hỏi những người làm nghệ thuật thì họ thường dùng hai chữ “thoát thai”. Thoát thai có nghĩa là đến một lúc nào đó mình thật sự trưởng thành và tìm được giá trị do chính mình tự chứng, tự biết chứ không phải dựa vào sự phán xét của người khác. Không phải do người khác nói tốt mà mình nghĩ tốt, mà do tự mình thấy được điều đó là tốt. Mình không cầu chứng từ người khác.

Trong Kinh ghi lại rằng, một lần nọ, Đức Phật hỏi ngài Sariputta có phải ngài hiểu Đức Phật bằng niềm tin không? Ngài Xá-lợi- phất bạch: “ Dạ con không hiểu Đức Phật bằng niềm tin”. Ngài Xá-lợi-phất muốn nói rằng “ Con hiểu Đức Phật bằng trí của con chứ không phải do người ta xưng tán Ngài mà con tin theo”. Phần nhiều trong cuộc sống của chúng ta, phần lớn chúng ta tu tập dựa trên đức tin. Ví dụ một vị thiền sư cho chúng ta những lời dạy hết sức thuyết phục về vô thường, chúng ta nghe và chúng ta đồng ý với vị thiền sư, cho rằng vị ấy nói đúng. Điều đó có nghĩa là chúng ta không thực sự thấy vô thường bằng cái nhìn độc lập. Có thể chúng ta kính trọng vị thầy ấy quá, có thể chúng ta đánh giá quá cao vị thiền sư, và vì vậy vị ấy nói gì mình cũng cho là đúng một trăm phần trăm. Nhưng một hành giả đạt đến khả năng độc cư thì vị ấy phải có khả năng nhận biết về sự vô thường bằng chánh niệm và bằng chính nhận thức của mình.

Trong Kinh Đại Niệm Xứ có một câu mà nhiều hành giả không để ý “ Vị ấy quán thân trên thân, không nương dựa bất cứ việc gì ở đời”, nghĩa là vị ấy ở trong tư thế hoàn toàn độc lập, thấy và biết như vậy. Thật ra, kinh nghiệm sống độc cư và kinh nghiệm nhận thức độc lập , hai thái độ đó đi liền lạc với nhau, nghĩa là một người có kinh nghiệm nhận thức độc lập thì vị ấy có khả năng sống độc cư. Còn một người có khả năng sống độc cư thật sự thì người ấy phải là người có khả năng nhận thức sự việc một cách độc lập. Đến mức độ đó chúng ta mới tạm gọi là có sự trưởng thành trong đời sống. Lấy ví dụ khi chúng ta còn nhỏ, những điều đúng, sai, phải, quấy mà cha mẹ giáo dục chúng ta thì rất tốt, vì mỗi chúng ta được khuôn đúc , được nuôi dưỡng trong các giá trị căn bản ấy. Tuy nhiên khi chúng ta lớn lên mà chúng ta làm gì cũng luôn tuân theo cái khuôn thước của cha mẹ chúng ta đề ra, cái này là đúng, cái kia là sai thì chúng ta không thể được coi là trưởng thành. Một người trưởng thành thật sự là một người một ngày nào đó nhận chân ra giá trị đúng, sai, phải, quấy là do tự mình hiểu biết chứ không phải vì cha mẹ tôi nói như vậy là đúng, ông bà tôi nói như vậy là đúng. Tuy nhiên khi mình còn nhỏ thì chúng ta cần những lời dạy dỗ ấy.

Do vậy, pháp đầu tiên của hành giả là giống như loài cọp, chúng sống một mình ở trong rừng, và do sống một mình trong rừng nên chúng phải có thái độ hoàn toàn độc lập, không sống theo bầy, theo đàn như một số các loài động vật khác. Có những động vật chúng sống quây quần theo bầy đàn, thí dụ như loài trâu rừng, bầy nai. v.v.. Nếu bầy của chúng chạy về hướng đông thì chúng sẽ chạy về hướng đông. Chúng chạy về hướng đông là do một con nào đó trong bầy chạy về hướng đó và rồi cả nguyên đàn chạy theo. Nhưng loài cọp thì không như vậy. Con cọp đực luôn luôn hành xử độc lập, từng con một ở trên từng lãnh địa một. Vậy, cái bản lãnh quan trọng nhất của hành giả là bản lãnh sống độc lập.

Có nhiều người không hiểu rõ đạo Phật, họ nói rằng đạo Phật sùng bái chủ nghĩa độc thân. Thật ra đạo Phật không lên án việc có gia đình cũng như lên án cuộc sống cộng đồng. Đạo Phật cũng có cộng đồng Tăng chúng, có bạn song hành như một vị thiện hữu. Tuy nhiên, đạo Phật rất chú trọng về khả năng độc lập trong cách nhìn của mình, bởi vì đến một lúc nào đó, đến một thời điểm nào đó thì hành trình của hành giả sẽ là con đường độc đạo, chỉ một người đi, và chỉ có tự thân một người đó biết nó mà thôi, chứ không thể có hai hoặc ba người được. Nói một cách khác, cha mẹ ta dạy ta như thế nào, thiện hữu dạy chúng ta như thế nào, những lời dạy của các vị thiền sư như thế nào, nó chỉ làm kim chỉ nam trong một giới hạn, một chừng mực nào đó; và khi chúng ta thực sự ra khơi, mỗi người phải tự xác chứng lấy mình chứ không phải thông qua cái giá trị do người khác đem đặt để cho mình. Đó là đặc điểm đầu tiên khi chúng ta nói về đặc điểm đầu tiên của loài cọp, và đạo Phật nói là “ sống độc cư thanh tịnh” là nói đến ý nghĩa độc lập này.

Tiếp theo đặc tánh thứ hai của loài cọp là có một tính cách khác hơn nhiều so với các loài vật khác vì nó là một động vật sống nhờ vào sự đi săn.

Cọp là một mãnh thú và các mãnh thú khác hơn những loài thú thường ở chỗ khả năng cảnh giác của chúng rất cao. Cọp là loài tấn công, do đó cọp và sư tử -khả năng cảnh giác của chúng- cao hơn những con vật khác. Những loài vật khác khi ngủ là ngủ vùi, hoặc ngay khi chúng đang chơi đùa thoải mái chúng cũng luôn ở trong tư thế dễ dàng bị tấn công. Nhưng những loài mãnh thú thì khác, thí dụ sư tử và cọp luôn luôn ở trong tư thế tấn công của một loài có cảnh giác. Tương tự như một hành giả có chánh niệm và tỉnh giác, họ biết rằng các phiền não có thể tấn công bất kỳ lúc nào, các ma chướng có thể đến với họ bất kỳ lúc nào, vì vậy họ không giải đãi, xem thường hay mất cảnh giác.

Đức Phật dạy phòng hộ các căn là Ngài muốn nói đến việc chúng ta thường có một nhận thức liên quan đến tự ngã, đây là một nhận thức gây ra phiền não. Ví dụ như có ai đãi mình món ăn ngon, luôn có cái Tôi xen trong đó “Tôi được ăn ngon”. Hay khi mình phải chịu cái cảnh lạnh lẽo thì ngoài cái cảm giác lạnh lẽo mình còn gói ghém một khái niệm “Tôi” trong đó “Tôi lạnh”. Hoặc khi chúng ta đi tham quan một cảnh đẹp thì không phải chỉ đơn thuần là để thỏa mãn con mắt mà còn để thỏa mãn cái tôi “Tôi đã thấy như vậy”.

Đối với các hành giả tu tập nhiếp hộ các căn hành giả sẽ thấy phiền não này sanh khởi từ mắt có nghĩa là nó đến từ mắt chứ không liên hệ gì đến cái Tôi, cái Ta hết. Phiền não đến từ tai, từ lưỡi, từ mũi, từ thân, từ ý cũng tương tự như vậy. Nói một cách khác, điều đó có nghĩa là hành giả có một khái niệm rất rõ ràng, chuyện nào ra chuyện đó. Chuyện của mắt thì ra chuyện của mắt, chuyện của tai thì ra chuyện của tai, chuyện của mũi thì ra chuyện của mũi, chuyện của lưỡi thì ra chuyện của lưỡi. v.v …. không có Tôi hay Ta xen trong đó. Vị hành giả chỉ thấy đơn giản vậy thôi, thấy riêng từng phần.

Nói đến chuyện tu tập thì hành giả phải có khả năng phân biệt được đâu là các cảm thọ khổ, lạc, ưu, xả và các cảm thọ đó đến từ đâu. Nếu nó đến từ xúc thì đó là từ nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc hoặc ý xúc ? Chữ xúc ở đây có nghĩa sự gặp gỡ giữa căn cảnh và thức. Và vị ấy hiểu rằng cảm thọ này đến từ mắt, từ tai, từ lưỡi, từ thân hoặc từ ý. Chỉ đơn giản vậy thôi. Vị ấy không thấy có khái niệm “Tôi, Ta” trong cảm thọ đó.Ví dụ cách đây một giờ đồng hồ, hành giả được ăn một bữa rất ngon, vị ấy biết khi thực phẩm ngon ấy chạm với lưỡi thì lưỡi hưởng thụ một cách thích thú, một cách hạnh phúc, lưỡi cảm thấy rất ngon. Và bây giờ không còn ăn nữa thì cảm giác ấy đã diệt đi, tức là vị ấy thấy sự sanh và diệt. Nếu hành giả không phòng hộ các căn thì hành giả ấy lại nghĩ rằng: Hôm nay “Tôi” có phước. “Tôi” được ăn một bữa thiệt ngon. “Tôi” thật là hạnh phúc vì được đãi một bữa ăn thiệt ngon mà nhiều người khác không có, chỉ có “Tôi” mới được ăn. Hoặc cảm thấy “Tôi” quan trọng như thế này thế kia khi được đãi ăn một bữa như vậy.

Tuy nhiên đối với một hành giả tu tập thì chuyện nào ra chuyện đó. Hễ nó sanh thì biết nó sanh, nó diệt thì biết nó diệt. Nói một cách khác là không để cho sự việc sanh khởi liên hệ đến bản ngã. Khả năng phòng hộ các căn này được hiểu và được xem như là thiện xảo của hành giả để có thể phân biệt ra ái đến từ thọ, thọ đến từ xúc, xúc đến từ sáu căn và sáu cảnh. Đó là cách vắn tắt chúng ta nói về sự tu tập phòng hộ các căn. Về điểm này thì các thiền sư dạy về Tứ niệm xứ chi li hơn, chúng ta không đào sâu nhưng điều quan trọng là chúng ta phải phân biệt được danh và sắc. Danh và sắc đối với một hành giả tu tập thì chúng trực tiếp liên hệ đến sáu căn, ví dụ cái gì mình nghe, cái gì mình thấy, mình ngửi, mình nếm, xúc chạm , cái đó gọi là sắc. Cái cảm thọ do sự xúc chạm, gặp gỡ giữa căn và cảnh , cái phản ứng thích hay không thích với sự xúc chạm, gặp gỡ đó gọi là danh. Như vậy chúng ta thấy rằng cái mà chúng ta gọi là tôi hay ta này đây thực ra chỉ là tâm và thân hay danh và sắc tương tác với nhau mà vận hành vậy thôi. Khi chúng ta thấy được mấu chốt của sự tác động qua lại giữa thân và tâm hay danh và sắc đó, chúng ta sẽ thấy rằng mọi sự đến và đi là các phản ứng do thân và tâm tác động qua lại vào nhau chứ không có một cái gọi là ngã tính ở trong đó, khi hiểu ra được như vậy thì mọi sự chúng ta cứ để tự nhiên, nó đến thì cho nó đến, nó đi thì để cho nó đi.

Chúng ta luôn vướng vào cái tự ngã hay là ngã tính. Ví dụ chúng ta nghe Paris là kinh đô của ánh sáng và ao ước được một lần đến đó. Có dịp chúng ta đặt chân đến Paris, chúng ta thấy được dòng sông Seine, tháp Effel, khi về nhà điều đó lại trưởng dưỡng thành một niềm hãnh diện, mang đến cái tự ngã: “Tôi” cũng là một người đặc biệt, “Tôi” có được may mắn đến tham quan tháp Effel, tự cảm thấy “Tôi” là người quan trọng… Hành giả hành tập là để loại bỏ cái cảm giác về một cái tự ngã này. Cái cảm giác của hành giả chỉ là cái gì đến thì để cho nó đến, cái gì đi thì để cho nó đi, chỉ đơn thuần ghi nhận hay biết, khi nó đi rồi thì mình trả mọi sự về với sự tĩnh lặng. Ngài Ajahn Chah dùng một thí dụ đơn giản để mô tả việc này đó là tâm của hành giả nó phải giống như một cái hồ nước ở giữa rừng, khi những con thú đến uống và mặt hồ khuấy động, đó là điều tự nhiên. Khi những con thú uống nước xong thì mặt hồ trở lại phẳng lặng, chứ không phải những con thú đã đi rồi mà mặt hồ cứ tiếp tục giao động hoài. Khả năng này tiếng Anh gọi là “let go”, tức là chúng ta để cho nó đi. Cái gì nó đến thì nó đến, cái gì nó đi thì để cho nó đi. Tuy vậy, việc này không hề đơn giản. Tại sao vậy? Trong cuộc sống của chúng ta, những gì chúng ta thực sự tiếp xúc, thực sự đối diện thì không nhiều, nhưng bám níu, vướng mắc của chúng ta với chúng thì lại lâu dài. Ví dụ ai đó nói với mình một câu rất nặng, câu nói nặng đó chúng ta có khi nghe chưa tới 30 giây nữa nhưng chúng ta phiền não cả … ba tháng. Cái phiền não vài ba tháng đó là do chúng ta để cái nghe đó liên hệ tới tự ngã của mình. Nếu chúng ta không để cho nó liên hệ đến tự ngã thì việc nó đến, nó đi giống như mặt hồ, chao động nhưng rồi sẽ tĩnh lặng, phẳng lặng trở lại.

Nói tóm lại, hành giả phải phòng hộ các căn như thế này: Hành giả hiểu thọ là duyên của xúc, xúc là do duyên của sáu căn, do vậy, hành giả không nghĩ rằng đây là của Ta, đây là Tự Ngã của ta. Hành giả cũng có khả năng phân chuyện nào ra chuyện đó, hiện tại là hiện tại, cái gì đã qua rồi là qua rồi, sắc là sắc, danh là danh, chứ không thấy rằng, hiện tại và quá khứ, danh và sắc kết cấu với nhau thành một thứ để cho mình phải bám níu. Tại vì sao? Bởi vì một khi hành giả nhìn thấy được sự vận hành của các căn, cảnh và thức một cách tinh tường, chính xác như thế, hành giả sẽ có khả năng buông bỏ, bởi cuộc sống là một sự nối tiếp liên tục của các căn, cảnh và thức. Nói tóm lại, nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc sanh thọ. Nhãn xúc sanh thọ, mình hiểu. Tỷ thức sanh thọ, mình cũng hiểu… Ngài Sariputta dạy rằng nếu chúng ta nghe những điều phỉ báng, nếu chúng ta biết rằng đó chỉ là một sự tiếp xúc giữa căn và cảnh thì chúng ta có thể kham nhẫn được. Điểm này là một đặc tánh giải thích tại sao hành giả khi hành thiền cần phải phân biệt cho rõ danh và sắc. Cái giá trị của sắc là cái mình thấy, mình nghe, mình ngửi, mình nếm và đụng chạm. Yếu tố đó chỉ có giá trị trong một thoáng và không nên để cho nó kéo dài. Khi chúng ta nghe, thấy, ngửi, nếm, đụng chạm thì chỉ nên đơn thuần ghi nhận chúng sanh khởi, đừng dính mắc với chúng để cho chúng trở thành những vấn đề chi phối mình sau khi chúng đã qua đi. Như vậy gọi là khéo nhiếp hộ các căn.

Với một người tu tập thì khả năng cảnh giác phải cao, phải hiểu rằng sáu căn là những cửa ngõ để cho địch tấn công. Nếu mình là một vị tướng giữ thành thì phải hiểu cái thành của mình có sáu cửa và nếu phiền não có tấn công thì chúng cũng chỉ tấn công vào sáu cửa đó thôi và như vậy mình phải thường xuyên cảnh giác.

Đặc điểm của loài cọp và các loài mãnh thú khác là chuyên về săn mồi và tấn công vì vậy chúng cũng có khả năng đề phòng sự tấn công rất cao. Người ta nói “suy bụng ta ra bụng người” , con vật đó thường tấn công những con vật thiếu cảnh giác vì vậy chính bản thân nó phải rất cảnh giác.

Đặc tánh thứ ba của loài cọp và cũng là của một số loài mãnh thú khác là chỉ săn mồi vừa đủ ăn. Nó không giết con nai này để ăn rồi giết con nai kia để chơi, tức là nó biết đi săn ở mức độ vừa phải. Nó không giống con người. Con người chúng ta khi ăn thường ham hố, có khi ăn quá độ hoặc quá no. Đời sống của mình đã đủ rồi nhưng vẫn đi tìm, tích lũy chất chứa thêm, nhưng với loài cọp thì khác. Điều này nhiều người không nghĩ đến nhưng thật ra loài vật chúng hơn loài người. Loài người của chúng ta có khi không ăn cũng giết, không ăn cũng thu thập để dành, nhưng loài vật thì không như vậy.

Trong Pàtimokkha, lời dạy của chư Phật là phải tiết độ trong ăn uống, có nghĩa là một hành giả phải biết ăn vừa với nhu cầu của mình, nếu mình không biết dừng lại có nghĩa là chưa có bản lãnh. Trong tất cả các dục lạc thì sắc đẹp, tiếng hay v.v… thì hành giả tránh được, nhưng riêng cái ăn thì không thể vì đó là nhu cầu. Khi hành giả ăn hoặc uống, Đức Phật dạy ăn và uống phải có tiết độ. Ở đây hàm ý là ăn vừa đủ no, cái thách thức lớn nhất là đồ ăn có ngon đến đâu cũng đừng ăn quá no, cho dù là ngon miệng đến mấy đi nữa cũng không có tình trạng ăn quên thôi. Thực ra, đối với một người bình thường thì cái chuyện ăn quên thôi đó cũng là chuyện bình thường, không có gì tội lỗi, nhưng với một hành giả, việc ăn quên thôi sẽ là một chuyện lớn. Vì sao vậy? Vì cái nghị lực của mình có hay không là nằm ở đó. Ví dụ một người bị bệnh tiểu đường, bác sĩ cho biết rằng không nên ăn nhiều cho dẫu là những món ăn không có nhiều đường vì khi mình ăn quá no thì cơ thể vẫn không thể hấp thu kịp, nó sẽ đẩy lượng đường vào trong máu. Do đó, nguyên tắc của người tiểu đường là phải ăn nhiều bữa nhưng không được ăn no. Vì vậy, người bị tiểu đường nếu được dọn một bữa ăn rất ngon nhưng ăn đến một mức độ nào đó thì phải tự biết ngừng lại. Khả năng tiết chế để không ăn nữa là một sự thách thức. Tương tự, đối với hành giả thì việc tiết chế trong ăn uống cũng nói lên nghị lực của vị ấy trong sự tu tập. Có những lúc chúng ta thọ đầu đà hay tham dự các khóa thiền, cả ngày chỉ ăn một bữa chính, bữa ăn đó đôi khi rất ngon miệng vì vậy đến lúc chúng ta bảo mình phải ngừng ăn thì thật là không phải chuyện dễ. Dường như ai cũng muốn ăn cho thỏa mãn, người ta gọi là mãn khẩu, và nếu mình ăn không cho nó mãn khẩu thì mình thấy có chút gì tiếc nuối. Nhưng hành giả phải có khả năng thấy rằng đã ăn vừa đủ no thì phải biết ngưng lại.

Chúng tôi có vài lần nói về sự khác biệt giữa văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ trong việc ăn uống. Người Trung Hoa nói rằng ăn thì phải ăn cho hết, nếu ăn còn dư là có tội vì vậy khi ăn thì phải rán ăn cho hết thức ăn. Nhưng người Ấn Độ thì khác, đặc biệt trong văn hóa Phật giáo là không rán ăn mà chỉ ăn với mức độ vừa phải, nếu ăn không hết thì đổ cho chim, cho các loài vật khác ăn. Nếu cố ăn cho no, cho mãn khẩu, ăn cho phình bụng thì đó là điều không tốt. Trong Luật, Đức Phật dạy, khi ăn còn năm miếng nữa là no thì nên dừng lại, nói cách khác là ăn còn hơi lưng lững thì phải biết dừng lại. Sự tiết chế đó sẽ giúp hành giả kiểm soát được vấn đề ăn uống của mình. Về điểm này, những loài mãnh thú như cọp, sư tử – chúng ta không biết sức khỏe của chúng thực sự như thế nào- nhưng chúng có đặc tánh chung là không dành giựt quá độ như một số loài khác. Theo các nhà nghiên cứu thì các loài dã can, kên kên hay chạy theo những loài mãnh hổ này, bởi vì khi cọp hay sư tử giết một con vật để ăn, chúng chỉ ăn đủ no là bỏ đi, chứ không vì thấy các con vật khác đến rồi ráng dành phần, ráng ăn cho no. Đó là đặc tánh của con cọp. Đối với hành giả, khi nói đến ăn uống trong sự tiết độ thì cũng giống như loài cọp vậy, có nghĩa là ăn vừa với nhu cầu bản thân, ăn vừa phải chứ không ăn quá no, hay vì mãn khẩu mà ăn. Sự tiết độ này tạo cho hành giả nghị lực, và đây là một điều rất quan trọng.

Đặc tánh thứ tư mà ngài Na Tiên đề cập là cọp không biết khiếp sợ, cá tánh của nó là không biết sợ. Cọp là mãnh thú, đôi khi người ta gọi nó là chúa sơn lâm, đôi khi người ta gọi nó là mãnh hổ.

Nó có một thái độ rất rõ ràng đối với các con thú khác. Tương tự như vậy, hành giải được xem là không biết sợ trước những phiền não của mình, phải có sự hiểu biết đạt đến tinh thần vô úy. Về điểm này, trong Kinh điển gọi là tinh cần, không biếng nhác. Sự tinh cần trong đạo Phật nói đến thái độ rõ ràng trước cái nào là thiện, cái nào là bất thiện. Một người có thái độ không phân biệt giữa thiện và bất thiện, hay gọi là lấp lửng, thì gọi là không tinh cần. Thiện là thấy cái nào đúng thì quyết tâm làm, điều nào là bất thiện, sai trái thì quyết tâm từ bỏ chứ không hững hờ, lấp lửng, phải có thái độ rõ ràng. Chính thái độ rõ ràng như vậy sẽ giúp cho hành giả không nhọc nhằn trong việc tu tập và giúp cho hành giả vượt qua những cạm bẫy, trong đạo Phật gọi đó là không giải đãi, bởi vì hành giả thấy thiện và bất thiện rất rõ ràng. Ví dụ, thông thường một người mà thiếu kinh nghiệm thì người ấy không thể phân biệt được cái gì là lợi hay bất lợi, và do không phân biệt được điều này, người ấy sẽ không có thái độ dứt khoát giữa điều lợi ích nên làm và điều không lợi ích, phù phiếm không nên làm. Nhưng một khi người ấy đã có sự phân biệt thì người ấy có thái độ của người có kinh nghiệm, cái đó trong đạo Phật gọi là tinh tấn hay tứ chánh cần. Đó là thận cần, trừ cần, tu cần, bảo cần, nghĩa là người đó biết ngăn ngừa, biết diệt trừ ác pháp và biết làm cho thiện pháp sanh khởi, biết bảo dưỡng thiện pháp. Nếu hành giả còn lấp lửng, không có thái độ rõ ràng, dứt khoát giữa thiện và bất thiện tức là hành giả không có đủ tinh thần vô úy.

Tại sao dáng đi của con cọp, sư tử lại hùng dũng, đẹp hơn những sinh vật khác? Đó là vì nó có đủ sức mạnh nội tại, nói đơn giản là vậy. Một hành giả trong sự tu tập phải có một thái độ rõ ràng, mạnh mẽ với bản thân mình. Việc này đôi khi không dễ dàng cho chúng ta, bởi vì trong cuộc sống, trong xã hội ngày nay, hầu như mọi thứ đều xây dựng trên một tinh thần hòa hoãn. Ở đây không phải chúng ta muốn nói đến sự cực đoan mà muốn nói đến một thái độ dứt khoát. Không những có thái độ dứt khoát rõ ràng mà chúng ta còn biết mình phải làm gì với điều đó. Đây là đặc tánh của con cọp và là đặc tánh của một hành giả.

Nói đến bốn điều này như nhắc nhở chúng ta nhớ lại lời của Đức Phật dạy là sống độc cư một mình, khéo phòng hộ các căn, ăn uống có tiết độ, không biếng nhác tinh cần. Đó thực ra là giới bổn của chư Phật, chư Phật ngày xưa dạy điều đó. Từ tinh thần độc lập của một người sống độc cư đến tinh thần phòng hộ không để cho các căn, cảnh liên hệ đến tự ngã, cho đến cái nghị lực biết tiết chế vừa phải trong nhu cầu, tiết độ trong ăn uống và sau cùng là một thái độ rõ ràng với thiện pháp và bất thiện pháp hay biếng nhác, không tinh cần. Không biếng nhác, tinh cần là sống một cách rõ ràng, chúng ta có thể hiểu rằng đó là một cái thế của một chiếc ghế có bốn chân, nó giúp hành giả có sự thăng bằng, vững vàng và tiến tới.

Vì vậy, khi nói về hạnh tu như cọp, ngài Nàgasena (Na Tiên) hàm ý nói đến một điều là sự thuần tánh của con vật, nghĩa là nó sanh ra như vậy, bản năng nó như vậy và cái thái độ nó như vậy. Hành giả tu tập đến một lúc nào đó cũng phải có những đặc tánh đó khi đương đầu với phiền não.

Khi nói về hạnh tu như cọp, ở đây chúng ta nên nói thêm là trong mỗi nền văn hóa có một cái nhìn khác nhau. Thí dụ con dơi trong xã hội Tây phương tượng trưng cho loài ma quỷ, nhưng con dơi trong văn hóa Trung Hoa được cho là phúc, tượng trưng cho phước. Con ngỗng trong văn hóa Tây phương tượng trưng cho sự lãng mạn nhưng con ngỗng trời trong đạo Phật lại tượng trưng cho sự giải thoát. Đức Phật đưa ra hình ảnh ngỗng trời rời ao. Trong nền văn hóa Trung Hoa, Việt Nam nói đến ong, bướm hút mật thì tượng trưng cho sự không đàng hoàng của người đàn ông, nhưng ong hút mật trong Kinh điển đạo Phật là hình hảnh tự lợi và lợi tha của vị Tỳ kheo trì bình khất thực:

“Như ong đến với hoa

Không hại sắc và hương

Che chở hoa, lấy nhụy

Bậc Thánh đi vào làng”

Kinh Pháp cú 49

Tương tự, trong nền văn hóa của chúng ta, phần đông chúng ta đều sợ cọp nhất là những người sống trong làng mạc xa vắng. Chúng ta thường nói dữ như cọp để ám chỉ một người bản tánh hung dữ.

Tuy nhiên trong xã hội Ấn Độ thì cọp là loài mãnh thú rất thường thấy, và ngài Nàgasena nhân đó mới nói lên những đặc tánh, có thể nói là rất nổi bật của loài cọp, để giúp chúng ta liên tưởng đến những pháp tu mà Đức Phật gọi là những thiện xảo của một hành giả trên đường tu tập.

Mỗi người rồi một ngày nào đó cũng phải ra đi, phải đối diện với cái chết. Hôm nay, nhân nói đến điều này, tôi muốn nhắc lại thời điểm mà Hòa thượng Hộ Giác nằm trên giường bệnh. Hình ảnh một người trong giây phút cuối cùng của cuộc đời mà bên cạnh mình bao quanh là chư tăng, phật tử, những người rất thương mến mình là một cảnh hiếm thấy. Tuy nhiên hình ảnh này cũng cho chúng ta thấy sự vô hộ, vô chủ của cuộc sống. Cho dù lúc đó bao quanh ngài là bao nhiêu người thương, bao nhiêu người thân thì ngài vẫn phải ra đi một mình, ngài phải đối diện với cái chết một mình và ngài phải tự cứu lấy chính mình, những người khác nhiều lắm là tụng cho ngài một câu Kinh, đọc một vài đoạn Kinh Tứ Niệm Xứ hay là những lời cầu phước cho ngài, nhưng hơn ai hết, chính ngài, ngài phải tự ra đi.

Con người thường hay nghĩ rằng mình sẽ được sự hỗ trợ của người thân, chăm sóc của xã hội trong giây phút cuối đời, nhưng Đức Phật rất nhiều lần nói với chúng ta rằng trong cuộc hành trình sanh tử luân hồi thì mỗi người chúng ta , ngay cả hai chị em sinh đôi, hai người đã gắn bó với nhau suốt cả cuộc đời, dù vậy khi đi qua nhịp cầu sinh tử thì ai cũng phải đi một mình. Đó là độc lộ trường thiên tức là con đường dài mà mỗi người phải đi một mình. Đừng bao giờ nghĩ rằng người này sẽ nâng đỡ cho người kia, người kia sẽ nâng đỡ cho người nọ. Tại sao trong dòng lịch sử của loài người, con người hay thờ phượng Thượng đế, con người hay sùng bái các đấng thiêng liêng cao cả? Tại vì con người rất sợ đi một mình, con người muốn có một đấng thiêng liêng nào đó giúp ta đi qua những nhịp cầu đó. Nhưng cái khác biệt lớn nhất của đạo Phật với các tôn giáo khác đó là đức Phật dạy rằng “ các đấng Như Lai chỉ là bậc Đạo Sư, các con phải tự nỗ lực”. Điều này có nghĩa rằng Đức Phật, Ngài sẽ không nắm tay chúng ta, không đem kiệu đến để rước chúng ta, trái lại Đức Phật dạy rằng những gì Như Lai cần làm cho các con, Như Lai đã làm rồi, tức là những lời dạy của Ngài, chúng ta phải biết dùng những lời dạy của Ngài để mà trang bị cho hành trang lên đường.

Khi chúng ta đọc lên bốn điều sống độc cư một mình, khéo phòng hộ các căn, ăn uống có tiết độ, không biếng nhác tinh cần trong giới bổn, ở đây là nói xuyên qua bốn đặc tánh của loài cọp, chúng ta phải hiểu rằng tự mình phải trang bị, tự mình phải có bản lãnh và tự mình phải chấp nhận. Chúng sẽ đối diện với cái chết vậy chúng ta phải chuẩn bị như thế nào trong cuộc hành trình đó.

Chúng tôi xin nhắc lại một điều, có thể nói là không bao giờ quên được. Vào ngày thứ sáu đầu tháng mưới hai (01/12), ngài Hòa thượng Hộ Giác được đưa vào bệnh viện. Sau khi chụp hình phổi, ngài nằm trong phòng dành cho người lớn tuổi để chờ kết quả. Ngài nằm trên giường để chờ bác sĩ khám bệnh, chúng tôi đứng bên cạnh và cầm tay ngài, thấy da của ngài bị thâm đen do dấu của các ống chích lấy máu. Chúng tôi nhắc lại hình ảnh của ngài Ànanda xúc động khi nhìn thấy da của Đức Thế Tôn nhăn nheo do lớn tuổi, ngài Ananda nhớ lại trước đây Đức Phật có ba mươi hai tướng trượng phu. Chúng tôi nhắc lại hình ảnh này thực sự chúng tôi không có ý muốn ví hòa thượng với Đức Phật nhưng chúng tôi liên tưởng đến thời Hòa thượng còn trẻ, ngài là một người nổi tiếng về phúc tướng, nhưng giờ đây da ngài nhăn, có những suy thoái như vậy. Khi chúng tôi nhắc lại hình ảnh này, ngài Hòa thượng Hộ Giác nói rằng: Đức Phật dạy

“Người nay như lá úa,

Diêm chúa đang chực chờ,

Hành trình không quán trọ,

Dặm trường thiếu tư lương”

và sau đó ngài đã đọc câu Phạn ngữ của bài kệ đó và nói rằng đọc bài Kệ này mới cảm thấy thấm thía.

Thực ra con đường của ngài cũng là con đường đi của tất cả chúng ta, tất cả chúng ta không thể tránh được cuộc hành trình đó.

Nhưng phải nói rằng chặng cuối của cuộc hành trình của ngài Hòa thượng là tương đối đẹp vì ngài còn tỉnh táo, còn nhớ lời Đức Phật dạy, vì ngài còn đủ kham nhẫn và chấp nhận ra đi một mình. Nhưng nếu ở đoạn cuối cuộc đời mà ngài nghĩ rằng đau quá phải rên la, trong lúc này mình phải cần đến người này, cần đến người kia, tại sao người này không thương mình, tại sao người kia không lo cho mình… Và như vậy là ngài chưa chấp nhận sự vô thường. Tất cả chúng ta đều phải đối diện với điều đó một mình và lúc đó thì danh lợi, hơn thua, được mất trong đời chẳng còn ý nghĩa gì hết. Giây phút đó chỉ có mỗi một mình ta đối diện với cái chết và chúng ta thực sự sống với chính mình, lúc đó chúng ta cần một cái tinh thần độc lập hơn bao giờ hết. Tinh thần độc lập đó, đôi khi trong Kinh điển gọi là khả năng của một người biết sống một mình, và biết sống một mình không phải là chuyện dễ.

Hôm nay nhân dịp hai cô Ánh Hoa, Ánh Nguyệt sang Hoa Kỳ và đến chùa Pháp Luân đây, tôi xin được nói vài lời như để hoàn tất một điều mà chúng tôi đã hứa hơn 32 năm trước là sẽ nói về hạnh tu như cọp.

Cầu mong cho chúng ta, tất cả những Phật tử ở trong hoàn cảnh nào cũng nhớ rằng Đức Phật đã cho chúng ta rất nhiều và không những Đức Phật đã cho ta rất nhiều mà nếu chúng ta khéo, chúng ta còn hưởng được cả một gia tài rất lớn do Ngài để lại. Ít nhất qua lời của Ngài dạy, chúng ta biết suy nghĩ, biết làm thế nào để an tâm, tĩnh trí. Nếu nghĩ được như vậy thì cuộc sống- cho dù chúng ta ở đâu, cho dù là sống một mình- chúng ta vẫn cảm thấy nó đẹp và đầy đủ chứ không nghèo khổ, thiếu thốn. Dù ở trong hoàn cảnh nào, chúng ta cũng cảm thấy ấm áp là bởi mình được hưởng một gia tài rất lớn, đó là Giáo Pháp của Đức Phật.

Biên tập: Song Ánh

Hiệu đính: Tỳ kheo Pháp Nhiên

Theo: Thiền Viện Phước Sơn

Thursday, August 27, 2015

Bài giảng của TT Giác Đẳng trong Đại Học Hè 2015

(Xin lưu ý: Tất cả những bài chuyển biên chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

Đề tài: Khi mình gặp chuyện khó khăn,, bị những phiền não, buồn phiền, căng thẳng, đau khổ, tủi thân v.v... chúng ta nên làm gì? đặc biệt trong trường hợp cá nhân của chúng tôi. 

Bài giảng trong lớp Tu Học Đại Học Hè 2015 tại chùa Pháp Luân, Minh Hạnh chuyển biên 

TT Giác Đẳng: Qua những biến động liên quan đến nội tình Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất dẫn đến việc chúng tôi xin từ chức Quyền Chủ Tịch Điều Hành. Trong mấy hôm nay chúng tôi nhận được nhiều cuộc gọi điện thoại của qúi Phật tử hầu hết là những người lo và quan tâm đến chúng tôi, hỏi han an ủi và ủng hộ tinh thần chúng tôi ở trong những lúc khó khăn này.

 Có một điều, và có một số người hỏi chúng tôi khi mình gặp chuyện khó khăn,, bị những phiền não, buồn phiền, căng thẳng, đau khổ, tủi thân v.v... chúng ta nên làm gì? đặc biệt trong trường hợp cá nhân của chúng tôi. Chúng tôi nhân buổi sinh hoạt hôm nay chia sẻ với qúi Phật tử một vài điều về điểm này.

Nói chung, bản thân chúng tôi một vị tu sĩ thì ở trong bất cứ hoàn cảnh nào mà khó khăn chúng tôi thường dùng Phật Pháp để làm giảm thiểu hoặc hóa giải những phiền lụy ở trong lòng mình. 

Chúng ta nói đến 2 phương diện: Phương diện cảm xúc, phương diện lý trí.

1- Phương diện cảm xúc.

Phương diện cảm xúc là một phương diện trong Phật Pháp chúng ta rất ít khi để ý, có nhiều Phật tử nghĩ Phật Pháp nặng về lý trí không nặng về cảm xúc, và cảm xúc không có chỗ đứng nhiều trong việc thực hành trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Nhưng kỳ thực,  nếu chúng ta nhìn về một phương diện nào đó thì Pháp cũng có đề cập những phương cách thực hành trong lúc khó khăn để chúng ta tìm sự bình tỉnh an ổn tinh thần trên phương diện cảm xúc. 

Ngài Ajahn Jayasaro nói phương pháp niệm như niệm Phật, niệm pháp, niệm thí, niệm giới, niệm về Chư Thiên nặng sự an ủi về cảm xúc hơn. 

Chúng tôi nhớ Ngài Ajhan Sumedho là một vị Tăng người Mỹ kể lại kinh nghiệm của Ngài khi ở trong rừng sâu, ở một mình, gặp thú dữ hay trong hoàn cảnh Ngài sang Anh quốc hoằng pháp gặp khó khăn Ngài thường dùng câu:

Buddham saranam gacchami, 
Dhammam saranam gacchami, 
Sangham saranam gacchami 

Nghĩa là: 

Con nương tựa với Phật, 
Con nương tựa với Pháp,
Con nương tựa với Tăng. 

Người VN chúng ta hay thường dịch là: Con qui y Phật, con quy y Pháp, con quy y Tăng. Thì giống như mình từ một người xa lạ trở về quy y tức là mình hồi đầu quy ngưỡng theo Phật. Nhưng thật ra trong câu tiếng Phạn không có nghĩa như vậy, trong tiếng Phạn nghĩa là mình nương tựa Phật, nương tựa Pháp, nương tựa Tăng và trong hoàn cảnh nào mình cũng nương tựa được.

Ngài nói khi Ngài đọc câu đó Ngài cảm thấy mình vững lòng. 

Niệm Chư Thiên. Có nhiều người nghĩ đến tu tập, thí dụ hôm nay mình đi chùa nghe Pháp, tụng kinh, hay làm phước xong mình hồi hướng phước đến Chư Thiên. Và trong lúc khó khăn thì mình cầu Chư Thiên gia hộ mình. Đó cũng là một cách cho mình cảm xúc được quân bình.

Chúng ta niệm thí, niệm giới, niệm sự chết cũng là cách để mình quân bình cảm xúc. 

Niệm thí. Cách này chúng tôi thấy Ngài HT Hộ Giác Ngài áp dụng. Ví dụ như khi mình giận người nào đó, hay người nào đó đối xử xấu với mình thường mình gặp người đó mình không muốn nhìn mặt, không muốn nói chuyện với người đó. Nhưng chúng tôi thấy rất nhiều lần có những vị Thầy công kích đả kích Ngài Hộ Giác, khi họ đến chùa Ngài lấy gói trà ngon nhất pha để đãi vị đó. Nhiều khi chúng tôi nghĩ Thầy đó nói mình như vậy sao mà Ngài lại hậu ý, trà ngon mang về từ Đài Loan mắc tiền Ngài đem ra pha đãi họ uống. Nhưng Ngài Hộ Giác Ngài có bí quyết để gìn giữ đời sống Ngài an lạc là khi mình cho người ta cái gì thì cho cái tốt nhất dù người đó là kẻ thù của mình  thì ít nhất trong lòng mình dễ chịu hơn là mình thắc mắc mình chửi  với họ. Thành ra khi nào qúi vị có giận ai thì cứ thử theo cách của Ngài. Mình tử tế với người đó một chút, cho người ta ăn ngon hay mời một ly cafe ngon, ly trà ngon, cái gì ngon cho người ta. Ở trong sự ban bố ban tặng của mình cũng làm cho mình dễ chịu hơn. Nhưng chúng tôi nói là chuyện đó không bảo đảm, phải là người có bản lãnh lắm mới có thể làm được.

Niệm sự chết. Cách này Ngài Hộ Giác Ngài cũng chỉ chúng tôi một cách rất hay. Ngài nói: bình thường mình không qúi con mắt của mình, nhưng bây giờ tình cờ mình bị chuyện gì đó làm mù mắt thì lúc bị mù mắt mình nghĩ tất cả các tai nạn khác trên thế gian này không có quan trọng, đặng danh mất danh, đặng lợi mất lợi, làm sao cứu được con mắt chứ con mắt mình đui rồi khổ quá. Nhưng lúc mình có con mắt  mình không thấy con mắt quan trọng nhưng giả xử như chúng ta bị đui mắt rồi không đọc báo được, không nhìn mặt người thân được, không vào internet được, không lái xe được thì lúc đó mình nói rằng ở trên đời cái gì mình cũng đánh đổi được miễn sao có con mắt sáng thôi. Thì Ngài dạy rằng mình nên nghĩ đến chuyện tệ hơn. 

Chúng tôi có quen với một Phật tử, vị này hưởng được tài sản thừa kế của ông cha bà mẹ ở VN, có căn nhà ở Sàigòn chết để lại cho 3 đứa con. Trước khi gia sản  để lại thì 3 người rất thương nhau, ở VN buôn bán rồi lâu lâu qua Mỹ thăm và người bên Mỹ thì về VN thăm. Cho đến khi vì chuyện chia căn nhà đó anh em không nhìn mặt nhau và hầu như trở nên kẻ thù của nhau. Ông ở Mỹ có tiền, ông bỏ ra số tiền rất lớn để kiện tụng với đứa em ở VN. Khi ông kiện tụng ông thắng kiện thì khoản 3 tuần lễ sau ông về Mỹ. Rồi trong người ông có triệu chứng gì đó và đi Bác sĩ thì phát hiện ra ông bị ung thư gan. Chúng tôi được mời đến để tụng kinh. Tại vì trước khi chuyện xảy ra bịnh ung thư gan ông vẫn thường kể cho chúng tôi về mấy người em ở VN dành  gia tài. Khi chúng tôi đến ngồi nói chuyện với ông và thật sự khi gặp ông đã muộn rồi, bụng ông cứng lên, đang làm chemotherapy để trị ung thư gan. Lúc đó chúng tôi hỏi ông một câu là: "Bây giờ ông đang bịnh mà nghĩ chuyện tài sản kiện tụng ở VN hơn thua có ý nghĩa gì không?" Thì ông nói với chúng tôi: "Con nói thiệt với Sư bây giờ có cho vàng cũng không có ý nghĩa gì". Chúng tôi gặp anh thì hai ngày sau anh mất. 

Niệm sự chết nó ảnh hưởng chúng ta rất quan trọng trong đời sống, khi mình nghĩ đến cái chết rồi thì mình không đặt nặng những chuyện hơn thua những chuyện lợi danh được mất trong đời sống.

Thì những pháp như niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm Chư Thiên chúng tôi tin rằng  có tánh cách về cảm xúc.

2 - Phương diện lý trí.

Bây giờ chúng ta nói về phương diện lý trí. Phương diện cảm xúc là chúng ta nói cái vui, cái buồn, cái khổ, cái phẫn nộ của chúng ta. Bây giờ chúng ta nói về phương diện lý trí tức là mình có một chút sáng suốt mình ngồi suy niệm, mình có chút bình tỉnh mình suy niệm. Và dĩ nhiên là chúng ta suy niệm về những lời Phật dạy. 

Trước nhất, chúng tôi  chia sẻ về một câu kinh Đức Phật. Một lần Đức Phật Ngài ở thành Vương Xá Ngài ngồi với Chư Tỳ Kheo, vào khoản 11 giờ khuya, chúng tôi đoán vậy là cũng hơi khuya một chút, thì có tiếng tru của con giả can. Giả can là tiếng Hán, trong tiếng Việt chúng ta dịch là chó rừng, ngày xưa chó rừng nhiều lắm, bây giờ chúng ta tạm gọi là chó hoang. Thì tiếng tru của nó đau khổ lắm. Đức Phật Ngài đang ngồi đó nghe tiếng chó tru Ngài hỏi chư Tỳ Kheo:

"Này chư Tỳ kheo, các Thầy có nghe tiếng con giả can tru trong đêm trường không?"

Các vị Tỳ Kheo chắp tay: "Bạch Đức Thế Tôn con có nghe'. 

 Đức Phật lại hỏi: "Các Thầy có biết tại sao con giả can tru không? Đó là một con giả can già trên người có ghẻ, và trên người có ghẻ trời ban đêm lạnh làm nó nhức nhối chua xót, tại vì nó nằm không yên ngủ không yên thì nó mới tru lên như vậy". 

Và Đức Phật dạy: "Này Chư Tỳ Kheo, một người sống bị danh lợi chi phối, đặng danh mất danh, đặng lợi mất lợi, đêm trường thao thức trằn trọc khổ đau thì giống như con chó bị ghẻ đó".

Qúi vị nghe đau khổ phải không? Thật sự đời sống chúng ta đôi khi cũng trải qua như vậy, giống như con chó ban đêm bị đau khổ vì nhức nhối. 

Điểm đặc biệt trong Phật Pháp trên phương diện lý trí không phải bao giờ cũng áp dụng được, nhưng ở trong mọi hoàn cảnh thay vì mình nhìn chuyện đó như thế này như thế kia theo quan niệm của mình thì mình nên nhìn vào chính bản tâm của mình, mình khổ như thế nào. Thật sự mình thấy cái khổ mà Đức Phật Ngài nói khổ giống như con chó ghẻ ban đêm bị đau thì không ai trong chúng ta muốn điều đó, mình không muốn mình bị như vậy. Và có nhiều khi điểm tốt nhất là mình nên nhả nó ra, mình nên buông nó ra, tại vì giữ cái khổ để làm gì, mình thấy con chó ban đêm nó tru tréo nó đâu có hạnh phúc gì đâu. Thật ra cái khổ chính do ở mình. 

Thành ra, ở trong cách sống của người Phật tử, ở trong cách tu đó là trong mọi hoàn cảnh mình nên nhìn vào nội tại của mình để xem mức độ mình phiền não, mức độ mình khổ đau ra sao. Nó là một bài học rất lớn, nó là cái gì đó  cho chúng ta. Đạo Phật gọi là "Chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc" tức là những lúc đó chúng ta cảm thấy mình mạnh mẽ lắm, mình  có quan niệm thế này, quan niệm thế kia, nhưng sau đó rồi chỉ là chuyện một cơn mê một sự u mê mà thôi. 

Hồi trước chúng tôi có thời gian làm việc cho bên cảnh sát Houston, họ nhờ chúng tôi trong vai trò vị tu sĩ đi thăm một số người tù VN phạm pháp, chúng tôi đi 3,4 lần, thì chúng tôi gặp những em thanh thiếu niên, thật tội nghiệp, các em đi chơi đi khiêu vũ rồi trong lúc dành giựt bạn trai bạn gái rồi nổi giận muốn tỏ ra là mình mạnh, mình hay, ra xe lấy súng lấydao đánh nhau, bây giờ ở tù thì lúc mình làm chuyện đó mình nghĩ là mình hay mình giỏi nhưng lúc mình ở tù thì thấy sao lúc đó mình dại quá. Tại ở trong đời sống đạo Phật Đức Phật Ngài dạy là sự chuyển mê khai ngộ, là ở trong lúc xảy ra chuyện mình phải bình tỉnh mình thấy chuyện đó không phải giống như mình nghĩ, mà nó là hệ quả rất là lớn và cái hệ quả đó dẫn bao tang thương, mà lúc đó mình nghĩ mình anh hùng hay lúc đó mình nghĩ thế này thế kia nhưng thật sự không phải vậy. 

 Đức Phật Ngài có dạy chúng ta hai câu trong kinh Pháp Cú phẩm Yamaka-Song Yếu : 

"Những người tranh chấp, không hiểu biết là mình  sẽ bị tiêu diệt. Ai hiểu được điều này, thì tất cả sự tranh chấp sẽ lắng dịu.  Người khác không hiểu biết, ở đây ta bị hại, ai hiểu được điều này tranh luận tự nhiên tiêu" 

Hai bên chửi nhau, hai bên tranh dành nhau, mình tưởng đâu là mình ngon, mình thắng người bại nhưng ruốt cuộc cả hai đều kéo nhau vào chỗ diệt, chúng ta thấy rất nhiều, nhiều thứ trong đời sống này. 

 Đức Phật Ngài có dạy một câu nghe thì không có đẹp nhưng nếu chúng ta nghiệm lại thì rất đẹp, kinh Pháp Cú như vầy là

Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi 
Ai ôm hiềm hận ấy,
Hận thù không thể nguôi.

Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi 
Không ôm hiềm hận ấy,
Hận thù sẽ tự nguôi.

 Thật sự câu này không đơn giản là một câu nói bình thường của Đức Phật mà câu đó Đức Phật Ngài dạy chúng ta chưa có hiểu được bản chất của sự luân hồi, bản chất của kiếp sống này. Và bởi vì chúng ta không hiểu được bản chất đó do vậy mình sống bằng quan niệm nhân ngã bỉ thử là mình với người. Và khi cái nhân ngã bỉ thử tôi với người khác như vậy điều đó nó chất chồng bao nhiêu phiền lụy. Để vượt khỏi nhân ngã bỉ thử này thì cái nhìn của chúng ta phải thoáng hơn và nó phải đại quang hơn chứ không thể nào nhìn khi mình gặp chuyện gì phiền mình nói là ông đó hại tôi, ông đó chửi tôi, ông ấy xấu, ông ấy thế này thế kia, mình nghĩ chuyện đó mà mình vượt qua, không có.

Thì làm sao để chúng ta vượt qua cái nhìn đó, làm sao chúng ta vượt qua cái nhìn mà người ta đánh người ta mắng? Để chúng ta có một cái nhìn đại quang một cái nhìn chung của đời sống Đức Phật Ngài khuyên chúng ta nên nhìn với bản chất của đời sống. 

Chúng tôi lấy thí dụ, nếu chúng tôi gặp những phiền lụy, chúng ta nghĩ người kia họ xấu với mình, người kia có ác ý với mình, muốn hại mình và người kia họ làm xấu, cái nhìn mình với người như vậy ở trong cách nói người ta gọi là nhân ngã bỉ thử, mình và người. 

Nhưng bây giờ mình thử nhìn bằng cách này. Trong Trung Bộ Kinh Đức Phật Ngài hỏi:

"Này chư Tỳ Kheo, thế nào là bản chất nguy hiểm của các dục?"

Đức Phật Ngài tự hỏi và Ngài trả lời bằng cách đon giản: 

"Này các Tỳ Kheo, do các dục nên cha tranh chấp với con, con tranh chấp với cha, anh tranh chấp với em, em tranh chấp với anh, vợ với chồng, chồng với vợ tranh chấp với nhau và cả thế giới này đi vào chỗ điên đảo cùng cực". 

Thì khi chúng ta nói đến cái nhìn vượt lên sự bình thường, Đức Phật nói bản chất nó như vậy, ở trong chỗ nào danh lợi chức quyền thế này thế kia thì nó luôn luôn hứa hẹn sự cấu xé, sự đánh nhau, sự dành giựt, nó là bản chất tự nhiên của nó.

Có một vị Alahán khi vị Thầy dùng cán quạt làm chảy máu con mắt của Ngài và vị Thầy xin lỗi, thì vị Alahán nói rằng: 

"Thưa Sư Phụ, đây không phải lỗi của Sư Phụ, không phải lỗi của con, mà là lỗi của sự luân hồi". 

Câu nói rất là ý vị, mình phải nhìn vấn đề, không thể nào trong những chuyện đó mà nó không có hụt hẵn, không có trục trặc, không có lời qua tiếng lại, bản chất nó là như vậy. Khi chúng ta có cái nhìn đại quang như vậy thì chúng ta sẽ vượt lên trên cái gọi là nhân ngã bỉ thử: nó mắng tôi, nó đánh tôi, nó chửi tôi, nó cướp tôi. Nếu chúng ta vượt lên trên nó thì ít nhất chúng ta làm tắt đi sự hận thù trong lòng. Nhưng chuyện đó không phải là chuyện dễ.

Ngày xưa khi còn ở trại tị nạn, chúng tôi tình cờ đọc một bài viết của một vị linh mục. Khi chúng tôi ở trại tị nạn với tình trạng khan hiếm báo nên báo nào đem đến cũng đọc, đọc ngấu nghiến. Lúc đó chúng tôi đọc một bài báo trên tờ Dân Chúa,  ở trong đó vị linh mục viết gửi cho 2 tín đồ mới cưới nhau. Vị linh mục viết rằng: 

"Thật ra khi bắt đầu cuộc hôn nhân xây dựng tình yêu ai cũng nghĩ rất là đẹp và có cái ngọt ngào, một hương vị tất cả mọi người tha thiết, đều mong đợi, nhưng 2 con nên nhớ  ở trên căn bản cuộc sống  nó luôn luôn chứa đầy những vui, khổ, hay, dở, tốt và xấu,  2 con phải chuẩn bị cho tất cả những thứ đó chứ không thể nghĩ mình chỉ chờ có một thứ mà thôi". 

Chúng tôi nghĩ đó là lời viết rất hay. Ở trong đời sống chúng ta tại sao chúng ta tức, tại sao chúng ta bực? Là tại vì sự kỳ vọng chúng ta chỉ có một chiều thôi, mọi việc phải tốt. Qúi vị đi chùa, qúi vị đâu mong ai làm phiền mình, đúng không, qúi vị đi chùa là mong tất cả mọi người rất là lịch sự, rất là hiền hoà, rất là dễ thương, nhưng mình đi chùa gặp người không lịch sự mình đâu muốn ở lại "ủa sao chùa kỳ vậy!" Nhưng thật sự không phải vậy. Cuộc sống dầu trong chùa ngoài chợ hay ở đâu cũng có mặt này hay mặt khác, có cái này có cái kia. Nhưng chúng ta không chịu đưa cái nhìn vượt lên trên điều đó để chấp nhận  hình ảnh chung. 

Bởi vậy hồi nãy chúng tôi nói là Đức Phật dạy: "Này các Tỳ Kheo, thế nào là nguy hiểm các dục? Nguy hiểm các dục là cha tranh chấp với con, con tranh chấp với cha, anh với em, em tranh chấp với anh, vợ với chồng, chồng với vợ". Tại vì sao vậy? Tại bản chất nó là như vậy. Ba anh em rất thương cha thuơng mẹ nhưng đến khi để tài sản lại ba anh em kéo nhau ra tòa và không nhìn mặt nhau, chuyện đó là chuyện rất bình thường của đời sống và Đức Phật Ngài nói đó là bản chất của đời sống. Nếu chúng ta nghiệm được điều đó, chúng ta thấy được điều đó thì chúng ta sẽ có thể vận dụng lý trí của mình. Nhưng không phải lúc nào cũng có thể vận dụng lý trí của mình được.

3.- Và điều thứ ba. 

Chúng tôi nghĩ trong sự đối diện hay đương đầu với những khổ đau phiền muộn của cuộc sống mỗi người nên vận dụng nội lực của mình để thấy được chuyện vui hay khổ, căn bản là do mình. Đừng đổ thừa  người khác. Nếu mình tiếp tục đổ thừa người khác thì mình sẽ toàn trách móc. Qúi vị thấy mình trách móc người ta từ ngày này qua ngày khác nhưng rồi cũng không đi đến đâu hết. Các vị Thiền Sư thường nói  mỗi khi mình bị khổ, thí dụ ai nói chuyện gì làm cho mình bực mình thì mình nhớ rằng tại vì mình không khéo tu, đơn giản như vậy. Trời mưa cái nhà bị dột, mình ngồi trách ông trời làm mưa, không nên, mà tại cái nhà không khéo lợp. qúi vị đồng ý không, qúi vị ngồi trách ông trời làm mưa. Cũng vậy khi mình khổ là do mình không khéo tu. Cái nhà không khéo lợp mà cái nhà không khéo lợp thì mình lợp cái nhà lại, chúng tôi nghĩ có lý hơn là ngồi trách móc người khác.

4. - Và một điều sau cùng chúng tôi xin thưa với qúi Phật tử. 

Bà Dorathy Carnegie có chia sẻ một chuyện, hồi nhỏ chúng tôi có đọc cuốn sách tên là "Luyện tinh thần" do bà Dorathy Carnegie và cụ Hiến Lê dịch: "Nên nghĩ đến điều tệ hại nhất, khi sự việc xảy đến mình hãy nghĩ điều tệ hại nhất  ở mức độ nào, và khi mình đón nhận sự tệ hại nhất thì mình sẽ không có lo lắng buồn phiền nữa. 

Chúng tôi tin rằng một trong những bí quyết của cuộc sống Đức Phật Ngài dạy cho chúng ta đó là chuẩn bị tinh thần. Sự chuẩn bị tinh thần nào tốt nhất, ví dụ Đức Phật Ngài dạy chúng ta 5 pháp quán: 

Phật xưa rằng kiếp nhân sinh
Những điều khổ lụy chẳng dành riêng ai
Xuân xanh rồi cũng tàn phai
Thời hoa mộng tựa sương mai đầu cành

Không có ai trẻ mãi mà không già, nếu may mắn mình sống thì chắc  chắn tuổi già sẽ đến và khi tuổi già đến thì có nhiều thứ khác nó không có ý nghĩa nữa, những chuyện như là danh lợi không còn quan trọng nữa, rồi: 

Tấm thân tứ đại hợp thành
Ốm đau tật bệnh thường tình xưa nay

Lúc nãy chúng tôi thưa với qúi vị, bình thường còn khỏe mình còn hơn thua mình còn nói mình thế này thế kia nhưng mà lỡ mình khám phá mình bị ung thư hoặc bịnh này bịnh kia rồi thì tất cả cái khác trở thành vô nghĩa.

 Dù cho thọ mạng ngắn dài
Cổ kim nào kẻ thoát tay tử thần

Khi mình sắp chết rồi thì những thứ khác trở thành vô nghĩa, nhưng phải nói như vầy khi nói về cái chết.

Người thân ly biệt người thân
Trăm năm bao lượt khó ngăn lệ nhòa

Cái khổ sanh ly tử biệt nó lớn hơn bất cứ chuyện gì khác. Ở trong đời chúng tôi mỗi lần cha mất, mẹ mất và chúng tôi cũng tin rằng qúi Phật tử mỗi lần chia tay với những người thân của mình. Có nhiều khi mình chia tay đau nhứt là mình không biết làm cái gì. Chúng tôi cũng phải thú nhận với qúi Phật tử một điều rằng khi Ngài Hộ Giác còn sống chúng tôi không để ý cho đến bây giờ thỉnh thoảng chúng tôi lái xe ở đây lên đường 59 đi ngang bệnh viện Southwest Memorial Hospital tự nhiên chúng tôi nghĩ đến Ngài, chúng tôi vẫn nghe trong lòng có cái gì đó, không biết giờ này Ngài ở đâu, làm gì, Ngài đang có mặt ở trong đời mình bao nhiêu năm bây giờ tự nhiên Ngài tan biến không còn nữa. Nhưng trong đời sống mình phải chia cách với người thân mình, không thể sống gần người thân mình mãi mãi. Và Đức Phật cũng dạy quán là 

Mỗi người riêng nghiệp thiểu đa
Rừng mê bể khổ phải qua một mình

Cho dù mình có nắm níu nhau như thế nào, mình làm chuyện gì đi nữa, mình phải nhớ rằng chuẩn bị vali để đi một mình, hình ảnh tây balo không biết sao nhưng tất cả chúng ta dầu là có người thân có người này người kia mình phải đi một mình, phải chuẩn bị hành trang ra đi, chúng ta phải đi một mình bởi vì Đức Phật Ngài nói là:

Một khi thần chết hiện về
 Nào ai có thể chở che cho mình 
Thân nhân dẫu có chí tình, 
Ngậm ngùi chỉ biết đứng nhìn khóc thôi.

Người thân có thương cách mấy cũng chỉ đứng nhìn khóc thôi. Khi chúng ta  nhìn những điều đó thì tâm của chúng ta nhẹ nhàng.

Nếu mà chúng tôi nói điều này mà qúi Phật tử có thể chia sẻ được thì chúng tôi rất là vui, đó là, thực sự Phật Pháp là phương thuốc nhiệm màu nếu chúng ta áp dụng trong đời sống, phương thuốc đó cho chúng ta rất là nhiều ở trong cuộc sống này và điều quan trọng là mình có xử dụng được hay không, Đức Phật để lại cho chúng ta một di sản rất lớn, di sản vô giá. 

Chúng tôi nhắc một câu sau cùng ở trong Tăng Chi Bộ Kinh để kết thúc bài học hôm nay và dĩ nhiên câu kinh này nó có giá trị có thấm thía hay không là tùy mỗi người, có thể bây giờ chúng ta không thấy giá trị, Đức Phật Ngài dạy trong Tăng Chi Bộ Kinh như vầy: 

"Này các Tỳ Kheo, sự mất mát này là sự mất mát nhỏ nhoi  đó là sự mất mát danh, sự mất mát lợi, sự mất mát người thân. Này các Tỳ Kheo, sự mất mát này là sự mất mát lớn lao đó là sự mất mát của trí tuệ". 

Đức Phật Ngài dạy: Sự mất mát trí tuệ là sự mất mát lớn lao, và sự mất mát của danh của lợi của người thân đôi khi mình thấy nó  lớn chứ thật ra nó không lớn. Ở trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta để tâm chúng ta u mê mất đi trí tuệ thật sự điều đó còn nguy hơn những mất mát khác. Có thể chúng ta không tin lời Đức Phật dạy, tại vì mình nghĩ rằng cái chức vụ nó lớn, mình nghĩ quyền lợi nó lớn, mình nghĩ rằng người thân nó lớn. Nhưng Đức Phật Ngài nói rằng: Này Chư Tỳ Kheo, sự mất mát này là sự mất mát nhỏ nhoi, đó là mất mát danh, mất mát lợi, mất mát người thân so với sự mất mát của trí tuệ, này các Tỳ Kheo, sự mất mát của trí tuệ là sự mất mát to lớn"./. 

Thursday, August 20, 2015

Kinh Phật Tự Thuyết - Kinh Etaputtaka

(Xin lưu ý: Tất cả những bài chuyển biên chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

Kinh Phật Tự Thuyết - Kinh Etaputtaka

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 18-1-2015, Minh Hạnh chuyển biên và biên tập.

TT Giác Đẳng: Có những bài học trong kinh chúng ta cần  sự vận dụng kiến thức rát nhiều, cũng có những bài học mới nói qua chúng ta đã có thể hiểu. Nhưng giữa cái hiểu của chữ nghĩa và cái hiểu để thay đổi đời sống chúng ta mới xem chừng như gang tấc nhưng cách xa rất nhiều. 

Chúng ta hãy nhìn những người sống trong cuộc đời này kể cả bản thân của chính mình luôn luôn khao khát có được người thân, thân đến đỗi như núm ruột của mình thì mới chịu. Dĩ nhiên, chúng ta đi tìm nhiều quan hệ trong cuộc đời này, nào là bạn bè, nào là những người cộng sự. Chư Tăng thì tìm sự thân mến của Phật tử, Phật tử tìm sự thân mến của Chư Tăng. Chúng ta tạo nhiều quan hệ gắng bó thân thiết, có được như vậy mình cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa.

Hầu như tất cả chúng ta đều có quan niệm giống nhau, mình cu ki một mình, mình cô đơn một mình thì buồn thì bạc phước, và mình càng có đông người thân càng vui càng hạnh phúc. Chúng ta cũng biết rằng có nhiều người muốn có con nhỏ nhưng không phải là con của người khác mà là con của mình sanh ra năm đứa ba đứa. Những cặp vợ chồng son sống với nhau muốn có con để muốn có cái gì đó thật sự có ý nghĩa cuộc đời này.

Sự thật là như vậy. Sự thật chúng ta muốn tạo ra những núm ruột, chúng ta muốn tạo ra sợi giây thân ái trong quan niệm của chúng ta sợi giây đó là sợi giây càng bền chặt càng gắng liền bất khả phân thì chuyện đó tốt.

Trong kinh Đức Phật Ngài dạy chỉ có thiên tai, chiến tranh bệnh tật mới có thể phân chia được tình thương thiêng liêng giữa con và mẹ. Và trong nhiều đoạn kinh khác Đức Phật Ngài gợi nhắc cho chúng ta thấy sợi giây thương yêu đã cột kết chúng sanh trong cuộc đời này, nhưng nó không phải chỉ cột mà nó còn cho chúng ta một cảm nhận rằng có được những thứ đó làm cho cuộc sống ngọt ngào, làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên ấm áp trở nên hạnh phúc. Thật sự, chúng ta chỉ nhìn thấy một chiều chỉ thấy một khía cạnh. Như trong trường hợp một nam cư sĩ sống gần bên Đức Phật đi chùa thường và được nhiều dịp nghe pháp  khi đứa con yêu qúi độc nhất của mình bị mạng chung bị chết sự sầu muộn đã hiện lộ ra thấy rõ, thậm chí dù được gặp Đức Phật.

Chúng ta nói một cách rất bình tỉnh, nếu như trong đời gặp được Đức Phật ngồi trước Ngài đảnh lễ Ngài đó là điềm hoan hỉ vô hạn. Chúng ta nhìn một người thiện nam, một người có đức tin Tam Bảo giờ đây ngồi trước Đức Phật trong lòng vẫn xót xa, vẫn thương nhớ, vẫn đau khổ về sự mất mát đứa con thân yêu của mình. Điều này rất bình thường không cần phải chuyện xưa, chuyện hôm nay chúng ta cũng thấy như vậy . Chúng tôi đã có dịp gặp nhiều Phật tử những người rất có đạo tâm, rất có thiện chí, công quả ở chùa, phục vụ cộng đồng nhưng đối với cảnh sanh ly tử biệt của người thân trong gia đình thì hầu như tê tái mất hoàn toàn khả năng sống bình thường như câu chuyện trong bài kinh này.

Bài kinh này rất giản dị, qua bài kinh chúng ta có thể nhìn thấy ý nghĩa của Phật Pháp. Đức Phật Ngài không có huyền hoặc, Ngài không nói chuyện vượt ngoài cuộc sống bình thường. Thí dụ Ngài nói về sự Khổ hay Khổ Diệu Đế, ở trong những khổ Đức Phật Ngài đề cập đến đó là thương phải xa, điều tiếp theo là ghét phải gần. Chuyện thương phải xa là một trong 5 tâm niệm Đức Phật dạy chúng ta nên thường nghĩ đến:

- Ai sống ở đời cũng có lúc già không thể trẻ hoài.
- Ai sống ở đời cũng có lúc bệnh chứ không phải mạnh khỏe hoài. 
- Ai sống ở đời cũng có lúc chết chứ không phải sống hoài.
- Ai sống ở đời cũng phải chịu sự sanh ly tử biệt chia cách với người thân, không thể vui sum vầy hoài.
- Và ai sống ở đời cũng có nghiệp riêng của mình. 

Những sự thật này rất đơn giản, rất hiển nhiên, không cần phải nói một cách triết lý cầu kỳ để chúng ta hiểu nhưng đem vào lòng để thấm thía để sống với những điều đó từng ngày, nhiều lúc chúng ta từ chối.

Đời sống của chúng ta ít khi chịu xây đắp, tu tập, bồi đắp một khả năng để sống với trí tuệ, sống với ánh sáng Đức Phật soi sáng cho chúng ta. Chúng ta thường sống bằng thói quen nhiều đời gọi là bản năng đi truy cầu trong mong mỏi tạo thêm những quan hệ. Những quan hệ này không biết mang lại cho chúng ta có bao nhiêu niềm vui nhưng khổ thì vô cùng.

Ngày hôm qua chúng tôi lên Dallas có vài công việc Phật sự nơi đó. Chư Tăng ghé vào một nhà Phật tử, người này rất thương Chư Tăng, ở trong nhà có 3 người con, những đứa bé ngoan dể thương. Nhưng chúng tôi có thể nhìn thấy được sự cực khổ của hai vợ chồng để lo cho 3 đứa con, cả 2 vợ chồng đều có công việc làm để lo, rồi lo việc Phật sự, lo việc cộng đồng, rồi 3 đứa con, đôi lúc phải nhờ đến bà nội giúp đỡ. Mình không cần nói nhiều, mình nhìn thấy đó là gánh nặng rõ ràng. Và dĩ nhiên, không thể phủ nhận được đối với bình thường cuộc sống có con cái như vậy người đời cảm thấy rất vui rất hạnh phúc, nhưng chỉ đơn giản chuyện sáng lo điểm tâm cho mấy đứa con, lo điểm tâm cho Chư Tăng thấy cũng là sự vất vả mà hai vợ chồng gánh vác. Ở đây, chúng ta không có nói sự đúng sai phải quấy, không cần tríết lý, thì con mình nuôi, lớn lên nó có cuộc sống riêng của nó nhưng những năm dài vất vả âu lo chưa kể những việc khổ, chưa kể có những cái đau mà không có bút mực nào nói hết.

Chúng ta là vậy, thân phận của con người là vậy. Mình mong có rất nhiều và mình khổ rất nhiều về những thứ đó, đó là hệ lụy của luân hồi. Không có thì khổ vì không có, mà có cũng khổ vì có. Không phải chỉ qúi vị người Phật tử là khổ vậy đâu, chúng tôi đi tu thời bây giờ rất qúi trọng một điều người tu sĩ phải có chùa to chùa lớn, có Phật tử đông, phải có đàn tín thế này thế kia, thậm chí phải có địa vị này chức vụ kia. Nhưng để làm gì? Nói nghe thì rất bi đát, nhưng thật sự niềm hãnh diện nào đó mình không biết nhưng khổ thì nhiều. Không biết chúng ta có làm chuyện lớn gì nhưng chúng ta làm lớn chuyện thì nhiều. Cái khổ nhỏ không muốn lại muốn khổ lớn. Và đời sống của chúng ta thường là chúng ta tạo cho mình những gánh rất nặng mà đối với Đức Phật thì cái khổ đó là cái khổ hiển nhiên, rất là hiển nhiên của cuộc sống. Nếu chúng ta đọc kỹ lại thời Đức Phật còn tại thế bản thân của Đức Phật, bản thân của Chư Tăng những đệ tử Phật các Ngài sống rất đơn giản đi chỗ này sang chỗ khác, thủ đắc rất ít, có rất ít. Ngày hôm nay người ta có khuynh hướng ngược lại là chúng ta mong có nhiều, có lớn chuyện để làm gì? Để mà khổ, đơn giản như vậy

Những trói trăn những hệ lụy của kiếp nhân sinh nó vô cùng. Có thể chờ cho đến khi nào bản thân của chúng ta thay đổi cái nhìn của mình, đặc biệt lúc chúng ta tu tập, từng trạng thái từng cảm thọ sanh và diệt, hết diệt rồi sanh, sanh rồi diệt tiếp nối lẫn nhau như nước chảy qua cầu, như một giòng nước thiên thu bất tận, lúc đó chúng ta mới thấy rằng: thật ra chúng ta làm chủ rất ít. 

Nhìn vào hơi thở của mình, hơi thở thì có hơi thở ra hơi thở vô, nhìn vào những cảm thọ sanh khởi, không có rồi có, có rồi biến mất nằm ở trong giòng chảy liên tục thiên thu bất tận và ở đó chúng ta mới thấy rằng tất cả những sự chấp thủ của chúng ta thật sự chỉ là ảo giác.

Chúng tôi sinh ra ở miền Tây. Miền Tây là vùng của sông nước, và đặc biệt những con sông có rất nhiều lục bình rau mát. Có một lần chúng tôi xem một đoạn phim tài liệu về Cần Thơ, nhìn giòng sông Hậu Giang có bao nhiêu là lục bình trôi lửng lơ, cả một thời thơ ấu hiện về, coi đoạn phim đó chúng tôi nhớ cuộc sống của mình cũng hiện hữu giống như giòng sông, giòng thủy lưu cuộn chảy không biết bao nhiêu nước ra biển, và chúng ta thấy rất nhiều rau mát nhiều lục bình chảy qua chân cầu mỗi ngày. Một thế giới hiện tượng xảy ra như vậy, không biết cái gì là của ai, thuộc về ai, nhưng chắc chắn rằng mọi thứ đến và đi, mọi thứ hiện hữu theo dòng cuộn chảy, và chúng ta ngồi đó mà cười mà khóc với nó và chấp thủ với nó và khổ vì nó.

Chúng tôi nhớ hồi nhỏ lúc đi học ở Vạn Hạnh với TT Tuệ Siêu, lúc bấy giờ huynh đệ hai anh em ở chùa Từ Quang, Gò Vấp. Lần đó chúng tôi gặp Pháp Sư Thông Kham được mời đến nói chuyện ở chùa Từ Quang, chúng tôi nhớ Pháp Sư Thông Kham câu nói rất ý vị, đó là, mình có 5 uẩn đã khổ rồi, mình mong thêm 5 uẩn nữa, khổ nữa, mong 5 uẩn nữa, khổ nữa,và mình cứ mong thêm, mong thêm và mong thêm, mình nghĩ được chứ thật sự khổ chất chồng. Đó là cái nhìn về cuộc sống bình thường. 

Có hai điều trong cuộc sống chúng ta là sanh ly tử biệt, sống mà phải ngăn cách, chết lại bị mất nhau. Không ai tránh khỏi sự sanh ly tử biệt đó.

Đọc những câu chuyện hay suy ngẫm mọi việc, đặc biệt như những bài kinh Đức Phật ghi lại ở tại đây. Thật ra chúng ta thấy trong cái nhìn của bậc Giác Ngộ, không phải nhìn về triết lý hay có chuyện nhồi nặn về ngôn từ trong cuộc sống này, những gì Ngài nói là một hình ảnh rất rõ nét, rất thực tế về cuộc sống, có những cái đáng yêu đáng qúi cột chặt và chi phối chúng ta. Chư Thiên cũng vậy loài người cũng vậy bị nhiều phiền lụy khổ đau khi cái chết hoặc mình chết hoặc người thân của mình chết, Đức Phật Ngài không nhìn điều đó như một sự não lòng để than dài thở vắn, Ngài nhìn điều đó Ngài khuyên chúng ta tinh tấn tu tập, tại vì nếu chúng ta không khéo tu không khéo suy tư thì từ cái khổ nó khổ nhiều thêm, khổ bất tận. Và Ngài cũng dạy cái mồi của ác ma khó vượt qua, cái khổ đó thật sự khó vượt qua. 

Ngày hôm qua chúng tôi gặp một gia đình Phật tử có mấy người con, một người đã tốt nghiệp và trở thành vị đại tá trong quân đội Hoa Kỳ tạo niềm hãnh diện lớn cho gia đình. Ở Mỹ trong lễ gắng lon lên chức trong quân đội người gắng lon là người cha hay người mẹ hay người vợ. Thì bà mẹ đến gắng lon cho con trai mình lên đại tá rất là hãnh diện về chuyện này. Và cũng trong gia đình đó lại có một người con khác, người con này không được may mắn như người anh của mình, làm ăn thất bại rồi vợ buồn xin ly dị. Chúng tôi có thể đọc được cái vui của cặp vợ chồng đó, cái buồn của cặp vợ chồng đó, khi có một đứa con được thành đạt thì rất là vui và nói về đứa con mới bị khánh tận vợ bỏ thì cặp đó rất là buồn. Thì bây giờ mình mới thấy cuộc sống không nằm ở trong một cung bậc mà nó nằm trong nhiều cung bậc. Nhưng phải nhận rằng Đức Phật dạy cuộc sống vui ít khổ nhiều và nguy hiểm nhiều hơn, không biết cái vui mình được bao nhiêu mà khổ rất nhiều, nhiều, nhiều lắm. Chúng ta có trăm ngàn nỗi khổ của cuộc sống,cái khổ của sanh hữu, nhưng chúng ta thật sự rất khó, rất khó để thấy điều này, rất khó để buông xả, để cho cái gì đi. Và cảm nhận được điều đó chúng ta mới thấy niềm tin mạnh mẽ vào pháp hành.

Pháp hành ở đây là pháp tu Tứ Niệm Xứ. Nếu chúng ta có thể nhìn thân và tâm này, cảm nhận được cái này sanh rồi diệt, rồi tiếp nối sanh diệt và trong sanh diệt đó chúng ta có thể nhận được nó có bản chất riêng có tự tánh riêng, "không phải là ta", "không phải là của ta", "không phải tự ngã của ta", càng thấy rõ như vậy chúng ta càng thấy bình tâm hơn thấy an lạc hơn. Còn cái gì đó mình nghĩ là "ta" là "của ta", "tự ngã của ta" thì thật sự mình khổ nhiều hơn. Ở đây rất rõ, Đức Phật Ngài không dạy chúng ta phải suy tư bằng triết lý, mà đơn giản là mở mắt nhìn vào sự thật, chấp nhận sự thật, ở trong sự thật đó cho chúng ta biết về những sự việc có thể xảy ra trong cuộc sống này đến đi sanh diệt, và chúng ta thử nhận thức, thử tìm xem ở trong cái đó mình làm chủ được bao nhiêu, mình làm được gì hay mình chỉ khổ thôi.

Bài học ngày hôm nay cũng như  rất nhiều bài kinh khác đôi khi cho chúng ta có cảm tưởng như Đức Phật đưa ra một thứ triết lý sống gì đó, nhưng thật sự ở đây không có triết lý sống.

Ở đây bài kệ này có đủ Tứ Đế: Khổ, Nhân Sanh Khổ, Sự Diệt Khổ và Con Đường Đưa Đến Sự Diệt Khổ.
- Khổ ở đây là sự đau khổ héo mòn, bị thần chết nhiếp phục.
- Nhân Sanh Khổ ở đây là chấp vào những khả ái, khả hỉ, khả lạc.
- Sự Diệt Khổ là người đó đã đoạn tận gốc của khổ.
- Con Đường Dẫn Đến Sự Diệt Khổ là hành trình đoạn tận ái chấp, vượt qua mồi nhử của ác ma. 

Nhưng trong bài kệ này Đức Thế Tôn không nói một cách quy mô lớn lao Tứ Diệu Đế. Ngài chỉ từ một câu chuyện nói lên lời cảm khái. Ở trong lời cảm khái này Đức Phật Ngài không nói triết lý hay nhuộm thế gian một màu. Đơn giản Đức Phật Ngài chỉ rõ cho chúng ta thấy cuộc sống là như vậy, khổ đau là như vậy, nhân sanh khổ là như vậy, sự diệt khổ là như vậy, con đường dẫn đến sự diệt khổ là như vậy.

Thật ra với một người sống với Phật pháp thường lâu ngày chúng ta sẽ đồng ý với nhau là có nhiều sự khổ, rất nhiều sự khổ do cái nhìn sai, chấp sai, sự chấp thủ cái không đáng chấp thủ mà ra, đa phần là vậy. Tại vì chấp thủ thì chúng ta khổ. Nếu chúng ta có thể soi sáng chính mình bằng những sự thật hiển nhiên chấp nhận sự thật đó và ý thức rõ điều đó xảy ra ở trong cuộc sống thì chúng ta sẽ bớt khổ rất nhiều và lúc đó chúng ta mới hiểu câu là tại sao Phật Pháp chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc. 

Trước khi nói đến "ly khổ đắc lạc" phải có "chuyển mê khai ngộ". 

Tại vì sao vậy? 

Những cái mê, những cái chấp sai, hiểu quấy trong đời sống làm cho chúng ta khổ. Bây giờ trước khi đạt đến hạnh phúc, trước khi ly khổ đắc lạc chúng ta phải chuyển mê khai ngộ. Danh từ chúng ta thường gọi ở ngoài là có Giác Ngộ  thì mới giải thoát được. Có trải qua những chuyện như ông nam cư sĩ này rồi từ đó chúng ta thắp sáng ánh sáng trí tuệ của mình thì chúng ta mới hiểu thế nào là "Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền" 

Bởi vì sao vậy? 

Ai có thể thấy đúng như sự thật, chấp nhận sự thật và không cưỡng cầu với sự thật thì người đó thật sự an lạc.

 Đó cũng là một cái gì rất đẹp ở trong cuộc sống hàng ngày nếu chúng ta sống với một tâm tư thanh thản, với một tâm tư ít nặng lòng. Chúng ta có thể hình dung được một vị cư sĩ có đức tin mạnh mẽ, thường đi chùa nghe pháp, duyên lành nhiều như vậy thường đảnh lễ cúng dường Đức Phật và cơ hội tu tập nhiều như vậy, thường được nghe pháp từ chính Đức Phật giảng thế mà có những lần ngồi trước mặt Đức Phật trong lòng không nghĩ đến Phật, không nghĩ đến pháp, chỉ nghĩ đến đứa con yêu qúi đã mất rồi. Chúng ta không có gì để trách cứ hay chỉ trích người đó. Chúng ta cũng vậy thôi. Có chuyện gì phải trách cứ người đó. Nhưng đó là một sự thật, sự thật cho chúng ta thấy rằng đôi khi chúng ta hữu phước, hữu duyên, hữu hạnh tới đâu mà bị che mất những hữu duyên đó, mà chỉ nghĩ đến "tôi" đến "của tôi" và sầu khổ về chuyện đó. Ở trong cuộc đời này không phải là chuyện chúng tôi phê phán ai, chúng tôi không nói ai đúng ai sai, ai hay ai dở, chúng tôi nói sự thật nó là như vậy. Sự thật là một người trải qua cảnh sanh ly tử biệt, sự thật là một người chịu khổ nhiều về sanh ly tử biệt, và sự thật về một người bị khổ như vậy không còn nghĩ, không còn thấy, không còn biết nhiều về chuyện khác, chỉ nghĩ về chuyện khổ của mình thôi. Bao nhiêu lần trong chúng ta phải bận lòng quá nhiều với sự mất mát của người thân và trong sự mất mát đó chúng ta không thấy được sự thật, chúng ta tiếp tục bị dập vùi bị cuốn theo nỗi đau khổ.

Có một Phật tử hỏi một câu với Ngài Mahashi:

 "Tất cả pháp sanh ra do duyên, và mình biết danh sắc do thức, thức do hành, hành do vô minh. Như vậy trước vô minh là gì, cái gì tạo nên vô minh?". 

Ngài Mahashi nói rằng ở trong kinh dạy rất rõ là giáo lý Duyên Khởi là một vòng tròn. Như chúng ta biết vô minh duyên cho hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử sầu bi khổ ưu não, toàn bộ ngũ uẩn tập khởi. Nhưng Ngài nói có một đầu mối nữa đó là lão tử sầu bi khổ ưu não là thức ăn của vô minh, là duyên của vô minh.

Chúng ta nghiệm trong bài học này, đúng là sầu bi khổ ưu não. Chúng ta thường nghe nói sầu bi khổ ưu ai là duyên của vô minh. Tại sao duyên của vô minh? Một vị thiện nam có nhiều đức tin và thường nghe pháp bây giờ có đứa con chết nên khổ quá, ngồi trước mặt Đức Phật bậc Thiên Nhân Chi Đạo Sư, bậc Đại Giác, bậc Đại Bi, Đại Trí mà trong lòng mình khổ, cái khổ đó khiến cho hình ảnh của Đức Phật không giống như mọi ngày, khiến cho giáo pháp của Đức Phật không giống như mọi ngày, tâm chúng ta chỉ khổ thôi. Thì sầu bi khổ ưu ai là nhân của vô minh là vậy. Chúng ta càng vô minh thì càng khổ, mà càng khổ thì càng vô minh, đời sống có cái chuyện lạ lùng như vậy. Chúng ta thiếu chánh trí chúng ta khổ, mà càng khổ nó càng che mờ chúng ta càng thiếu chánh trí. Giống như mình lái xe đi lạc đường và càng lạc đường thì chúng ta càng bối rối và càng bối rối thì càng lạc đường. 

Tất cả chúng ta đang có mặt ở trong pháp hội lớp Phật Pháp ngày hôm nay, chúng tôi mong rằng tất cả chúng ta đang có những giờ phút rất thanh thản, chúng tôi hi vọng và chúng tôi cũng mong tất cả Chư Tăng và Phật tử ở trong giờ phút này không ai đang khổ vì cảnh sanh ly tử biệt. Nếu chúng tôi không biết thì qúi vị tha thứ cho. 

Nhưng trong lúc chúng ta chưa gặp cảnh sanh ly tử biệt chúng ta hãy đem vào lòng pháp quán Đức Phật dạy là sống hàng ngày thì nên tâm niệm mình sẽ phải chia cách người thân của mình. Đó là một điều hiển nhiên, không phải chờ thân nhân đi trên chuyến máy bay rồi máy bay bị rớt như chiếc máy bay Asia vừa rồi chúng ta mới khóc, không phải chờ đến khi có thiên tai, có chiến tranh, có này có kia chúng ta mới khóc. Và cái khổ là điều chắc chắn.

"Đi chung một chuyến tàu đời, 
Mỗi sân ga lại có người xuống lên, 
Có khi mình xuống đầu tiên, 
Có khi nửa chuyến ngại ngùng chia tay,
 Đâu ai đi hết đường dài, 
Từ ga đông đến ga đoài còn nhau". 

Cuộc sống chúng ta chênh lệch, đến với cuộc đời này, người đến trước kẻ đến sau, ra đi, kẻ đi trước người đi sau. Trong cái chênh lệch đó không đến một lần không đi một lần tạo nên những cảnh não lòng phải chia tay. Nhiều khi người ta nói "người đi không khổ người ở thì khổ", nhưng cũng có người nói "người đi cũng khổ mà người ở cũng khổ". Nói cách nào đi nữa thì cũng có nhiều cái khổ.

 Chúng ta đừng quên tâm niệm của Đức Phật dạy nên nhớ đã có sống thì phải có sự phân ly, chia lìa với người thân của mình không sớm thì muộn không chóng thì chầy, người ta không bỏ mình thì mình cũng bỏ người ta, mình không thể giữ mãi, mình không thể giữ hoài, không thể nắm níu hoài, đời sống là như vậy.

Thậm chí một người rất hiểu đạo khi đứa con mình chết đã nói một câu:

"Con tôi lúc đến không mời, ra đi cũng chẳng một lời tiễn đưa, khổ vui duyên nghiệp sẵn chừa, khóc than vô ích người đưa khổ sầu." 

"Lúc đến không mời lúc đi không tiễn" đó là sự thật của cuộc sống. Hiểu được điều đó chúng ta cũng cảm thấy nhẹ nhàng với nhau. Thí dụ như trong đời sống hàng ngày đôi khi có một số quí Phật tử  buồn tại sao cũng đi chùa, cũng hộ pháp, cũng làm việc lâu mà thấy giữa Phật tử với Chư Tăng không có quan hệ thân thiết mật thiết. Chúng tôi thưa thật tình mà nói  quan hệ bình thường giữa một nhà Sư hướng dẫn Phật Pháp và người Phật tử nghe pháp ít khổ hơn, nó nhẹ nhàng hơn. Tất cả những quan hệ gắng bó mật thiết nào chúng ta nhớ rằng nó có vị ngọt của nó nhưng nó cũng có cái nguy hiểm của nó, cái nguy hiểm của nó là khổ. Giống như một cặp vợ chồng son trong sự thương yêu mình nên có con để tạo thành một mái ấm gia đình hoàn chỉnh để rồi vợ chồng có sợi giây thiêng liêng ràng buột nhau v.v... và v.v... Chúng ta chỉ nghĩ một chiều thôi và chúng ta không thấy được cái khổ mà nó mang lại. 

Bà Viskha một đệ tử của Đức Phật một lần đến chùa gặp Đức Phật với khuôn mặt rất khổ sầu. Đức Phật hỏi tại sao, bà thưa:

"Bạch Đức Thế Tôn, con có một người cháu rất thân yêu vừa mới bạo bệnh qua đời".

Đức Phật chỉ hỏi một câu là "Này Viskha, con có muốn nhiều con nhiều cháu không?"

Bà là vị Thánh Tu Đà Hườn, bà bạch với Đức Thế Tôn: "Con rất thương con cháu, thậm chí có con cháu nhiều như dân trong thành Xá Vệ con cũng cảm thấy hoan hỉ". 

Đức Phật nhắc: "Cũng may Visakha chỉ có một số con cháu thôi, nếu con cháu đông bằng thành Xá vệ thì ngày nào cũng phải khóc, vì trong thành Xá vệ ngày nào cũng có người chết. 

Có người ở trong thành phố Houston chúng tôi biết họ sống cả đời chuộng về xã giao hay đi giao thiệp đó đây, ai mời cũng đi, ai làm thân thì cũng gắng bó. Có lúc người đó than với chúng tôi rằng "khổ quá, quen nhiều tuần nào cũng đi đám cưới, tuần nào người ta cũng mời đi sinh nhật, mời riết rồi khổ quá, mà cho mỗi chỗ 50, 30 thấy cũng là gánh nặng rồi". Tự nhiên nó là như vậy thôi. Đời sống chúng ta không phải mình có nhiều là hạnh phúc. Nhiều khi mình mong có chức vụ này, có địa vị kia, có này có khác nhưng mình thử hỏi xem có cái đó nó làm chúng ta vui bao nhiêu, hãnh diện bao nhiêu, mà cái nhọc nhằng cái khổ nó có bao nhiêu. 

Thật ra Đức Phật Ngài không dạy cầu kỳ khó hiểu, Ngài dạy chúng ta những điều rất thực rất hiển nhiên của cuộc sống. Điều quan trọng là chúng ta nghe những điều đó bằng con mắt trí tuệ hay không, chúng ta có thể suy tư những điều đó để có thể thấy hay không.

Có một lần chúng tôi đọc một bài viết ghi lại lời giảng dạy của Ngài Ajahn Chah, Ngài thuyết pháp Ngài có một cách nói vui khó ai bắt chước được giống Ngài. Ngài diễn tả về con gà, một người nhà nông nuôi con gà, cho con gà ăn, rồi con gà quấn quít tung tăng chung quanh người nhà nông đó. Đến một ngày người nhà nông đó cột chân con gà đem ra chợ bán. Rồi có người mua đem con gà về cắt cổ làm thịt. Nhưng khi con gà sống nó không hiểu được thân phận của nó, nó vẫn tung tăng, nó không biết gì thân phận của nó là người ta nuôi nó không phải là vì thương, mà người ta nuôi nó để cho nó lớn rồi bán đi và người mua về để làm thịt. Nhưng, Ngài dạy rằng: "Thật ra đó là thân phận của tất cả chúng ta". Đối với thần chết, thân phận của chúng ta giống như con gà ăn thóc thì bươi và hí hửng tung tăng. Nhưng chúng ta không biết đến cái chết. Chúng ta không biết ý nghĩa gì về cuộc sống, chúng ta rất là hí hửng và hân hoan khi có được cái này có được cái kia, chúng ta không thấy được cái khổ của nó.

Bởi vậy, con đường Đức Phật dạy: chúng ta đó là hãy tập im lặng nhìn vào thân và nhìn vào tâm và nhìn vào hơi thở, hơi thở vào hơi thở ra, nhìn vào cảm thọ của mình, cảm thọ đến cảm thọ đi, nhìn vào tất cả 5 uẩn dù là sắc, thọ, tưởng, hành, thức nó có biến thiên nó có thay đổi. 

Năm uẩn là thường hay là vô thường, biết 5 uẩn là vô thường. 

Cái gì vô thường là khổ hay vui, biết là khổ.

Cái gì vô thường là khổ với sự sanh diệt theo lẽ thường thì có nên cho điều đó là "ta" hay là "của ta", "tự ngã của ta" chăng. Không nên.

Cho nên sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn nào dù trong đời quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, thù thắng, gần hoặc xa, các uẩn ấy chỉ là uẩn thôi, và nên nhận thức bằng chánh trí đúng theo thực tướng như vậy nó không phải là "ta" không phải là "của ta" hay "tự ngã" của ta. 

Bậc Thanh Văn được nghe và thấy như thế rồi thì sanh tâm yểm ly đối với các pháp, nơi nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham tâm được giải thoát, khi tâm được giải thoát vị ấy chứng đắc tuệ giải thoát, vị ấy biết rõ sanh đã tận phạm hạnh đã thành những gì nên làm đã làm và không còn tái sanh nữa .

Một đoạn kinh trong kinh Vô Ngã Tướng. Bài kinh đó chúng tôi thường tụng trong các đám tang. Tụng thì có tụng thôi nhưng có rất nhiều người trong tang quyến vừa tụng vừa khóc. Khóc vì thương cha, thương mẹ, thương con, thương anh chị em, thương người thân ra đi. Tụng là bởi vì lời ghi trong kinh chúng ta vừa tụng kinh về một sự thật và chúng ta cũng vừa khổ về một điều là không chấp nhận sự thật. Lúc nào đó qúi Phật tử nhìn thấy một người đang khóc, nước mắt đang chảy, giọng đọc nghẹn ngào mà tụng kinh Vô Ngã Tướng thì qúi vị nghe cuộc sống là cái gì rất là khổ. Mình không biết nói sao, tâm đó, trí đó, nhận thức đó, sống giữa  lằn vĩ tuyến bên này và bên kia, một bên thì sầu muộn và một bên là ánh sáng của minh triết. Ánh sáng của minh triết có khả năng soi rọi đến đâu chúng ta không biết nhưng chúng ta biết chúng ta từng đọc những bài kinh như vậy, và đọc trong nước mắt . 

Đức Phật không dạy chúng ta sống huyền hoặc xa xôi, Đức Phật Ngài dạy chúng ta nên sống với sự thật ở trên thân tâm của mình, sanh là như vậy, diệt là như vậy. Và nếu chúng ta có đủ công tâm, đủ tỉnh táo, đủ khách quan để nhìn vào sự thật thì chúng ta bớt khổ, đơn giản vậy thôi, và chúng ta càng chấp sai càng hiểu sai thì chúng ta càng khổ, chỉ đơn giản là vậy. 

Trở lại câu chuyện hôm nay, có thể là bài kinh rất ngắn, và có thể là một ý nghĩa tất cả chúng ta đều nói "chuyện đó dễ quá ai cũng hiểu rồi", và cũng có thể chúng ta nói sự thật đó rất bình thường có chuyện gì mà Đức Phật Ngài phải nói lên một câu Vô Vấn Tự Thuyết như vậy. Nhưng kỳ thực đó là một ý nghĩa lớn, rất lớn, một điều cần được thâm nhập được đem vào lòng, đó là sự thực hiển nhiên và ở đó cũng cho chúng ta thấy cái oái oăm của cuộc sống là nó rõ như vậy mà chúng ta không thấy, nó cần thiết sự nhận thức như vậy mà chúng ta thường từ chối không chịu nhìn nhận, và chúng ta bị vấp ngã, bị vướng vấp, bị khổ đau nhiều như vậy chúng ta vẫn chưa tỉnh. 

Bài kinh này không biết chúng ta có đọc có tụng thành một trang kinh mỗi ngày để chúng ta có hiểu không. Chúng ta nhớ Đức Phật dạy chúng ta nên thường quán 5 pháp, 5 pháp này không có chuyện gì khó hiểu hết, đơn giản thôi:

- không ai trẻ mãi không già, 

- không ai khỏe mạnh hoài không bệnh,

- không ai sống hoài không chết,

- không ai không chịu cảnh khổ sanh ly tử biệt chia cách với người thân của mình

- và không ai không có nghiệp riêng của mình.

Kinh NĂM PHÁP QUÁN

Phật xưa rằng kiếp nhân sinh
Lắm điều khổ lụy chẳng dành riêng ai
Xuân xanh rồi cũng tàn phai
Thời hoa mộng tựa sương mai đầu cành
Tấm thân tứ đại hiệp thành
Ốm đau tật bệnh thường tình xưa nay
Dù cho thọ mạng ngắn dài
Cổ kim nào kẻ thoát tay tử thần
Người thân ly biệt người thân
Trăm năm bao lượt khó ngăn lệ nhòa
Mỗi người riêng nghiệp thiểu đa
Rừng mê bể khổ phải qua một mình
Tử sinh nối tiếp tử sinh
Trầm luân khởi tự vô minh cội nguồn
Trí nhân hiểu lẽ vô thường
Tinh cần tu tập thẳng đường vô sanh. 

 Những pháp quán đó nhiều khi chúng ta không muốn quán, chúng ta không muốn nghĩ, thậm chí chúng ta không muốn nhắc tới, nhưng rồi sự thật nó là như vậy, nếu chúng ta thường thấy, nếu chúng ta thường tâm niệm, thường suy ngẫm thì khi chúng ta đối diện với cái chết chúng ta đỡ khổ hơn, khi chúng ta phải trải qua chúng ta đỡ khổ hơn. 

Và đôi khi chúng ta phải nhắc với chính mình rằng đời sống mình xa đà, đời sống mình khổ là tại vì mình quên lời Đức Phật dạy, tại vì mình không chấp nhận sự thật, và tại vì mình không chịu nhìn vào sự thật. Nếu mình nhìn vào bằng con mắt trí tuệ, bằng sự thanh thản và bằng sự khách quan thì chúng ta thấy Đức Phật đúng là bậc Giác Ngộ, lời dạy của Ngài đúng là Phương Lương Dược và cái trí tuệ mới là sự nghiệp to lớn. 

Hiểu được điều này chúng ta mới hiểu tại sao Đức Phật dạy:

"Này Chư Tỳ Kheo, cái mất mát này là nhỏ bé, là mất mát của danh, mất mát của lợi, mất mát của người thân. Cái mất mát lớn đó là mất mát của trí tuệ".

Không phải lời dạy của Đức Phật chúng ta dễ thấm thía. Chỉ những khi chúng ta tâm niệm được điều Đức Phật dạy ở tại đây, " đúng là sự mất mát của trí tuệ là sự mất mát lớn", sự mất mát đó làm chúng ta khổ rất nhiều, mình tưởng sự mất mát khác là lớn chứ lớn cái mất mát của trí tuệ mới là sự mất mát lớn. 

Đó là vài điều chúng tôi muốn chia sẻ với qúi Phật tử./.