Thursday, September 14, 2017

Người sống để mà ăn - TT Giác Đẳng

Chương Năm Pháp
(XIV. Phẩm Vua

(139) Người sống để mà ăn

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 14-3-2017, Minh Hạnh chuyển biên


TT Giác Đẳng: Hôm nay chúng ta học 2 bài kinh 138 và 139, tất cả những ý nghĩa của bài kinh 139 đã bao gồm luôn ý nghĩa của bài kinh 138.

Ý nghĩa ở tại đây, giống như con voi của vua nhưng thiếu đặc tính được huấn luyện đầy đủ và nó chỉ mang tiếng hữu danh vô thực. Tức là voi của vua nhưng chỉ biết ăn và đại tiện chứ thực ra nó không xứng đáng. Giống như một vị Tỳ Kheo nếu trong đời sống tu tập có chiếc y, có danh xưng Tỳ Kheo nhưng không có kham nhẫn, thì đối với một vị Tỳ Kheo như vậy dù không phải là tội lớn để phải bị trục xuất nhưng căn bản mà nói thì vị đó chỉ được danh gọi là Tỳ Kheo hữu danh vô thực chứ không có ý nghĩa lợi lạc gì. 

Điều Đức Phật muốn nói ở tại đây; một người tu tập thật sự phải thấy sự kham nhẫn quan trọng trong đời sống tu tập của chúng ta. 

Sự kham nhẫn đó được hiểu thế nào? 

Trong một cách nói nào đó của kinh điển, đặc biệt A-Tỳ-Đàm và Thiền Quán thì A-Tỳ-Đàm và Thiền Quán gặp nhau ở điểm là đôi khi không cần phải nói về văn học, về lịch sử, về triết lý xa vời mà nói ở đây là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đây là sắc, thinh, khí, vị, xúc, pháp. Tức là 6 giác quan của chúng ta. Đặc biệt đối với ngoại cảnh thì có 5 giác quan là thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và 5 cảnh cái gì mình thấy, cái gì nghe, cái gì mình ngửi, cái gì mình nếm, cái gì mình xúc chạm. Khi nói bố thí A-Tỳ-Đàm nói bố thí sắc, thinh, khí, vị, xúc. 

Khi nói về cuộc sống sự hoạt dụng của các giác quan và ở đây nói sự kham nhẫn thì đặc biệt cũng nói về sự kham nhẫn đối với 5 cảnh ở bên ngoài. Điều thú vị ở tại đây thường mình nói kham nhẫn chỉ nói đến nghịch cảnh tức là cái gì trái ý nghịch lòng, nhưng ở đây, Đức Phật Ngài dùng chữ kham nhẫn là đối với những điều gì lôi cuốn, những gì quyến rủ, cái gì hấp dẫn mà mình giữ vững lòng không bị lôi cuốn thì như vậy gọi là có sự kham nhẫn. Và chúng ta sẽ thấy đôi khi đối với sự khổ mình dễ chịu đựng hơn là cái gì hấp dẫn lôi cuốn mình, về điểm đó đòi hỏi hành giả phải có sự kiên tâm chịu đựng.

Ý nghĩa tổng quát con voi của nhà vua phải là con voi được tinh luyện thuần hóa và phải được huấn luyện để có khả năng thích nghi khả năng chịu đựng. Nếu con voi không có khả năng thích nghi khả năng chịu đựng thì khó có thể ra trận được và nó khó có thể đáp ứng được sự kỳ vọng của nhà vua ,nó không xứng đáng là con voi của nhà vua mặc dầu có thể ban đầu thấy dáng nó đẹp thấy dáng nó khỏe người ta đem về nhưng vì sự huấn luyện không thành công thế nào đó thì con voi đó chỉ còn có cái tên là voi của nhà vua đó gọi là hữu danh vô thực. Để thực sự con voi tinh luyện thì nó phải có khả năng kham nhẫn. 

Trong cuộc sống của người tu tập có thể là một người tu tập mặc chiếc y, có thể là một người tu tập có danh xưng Hoà Thượng, Thượng Toạ, vị Pháp Sư, vị Trụ Trì có danh nghĩa này có danh nghĩa khác nhưng điểm chính của một người tu tập không phải là những danh nghĩa hay hình thức đó, người ta nói "chiếc áo không làm nên thầy tu", nhưng ở đây điều quan trọng đó là sự kham nhẫn. Chúng ta nói một cách chừng mực ngay trong đời sống hiện tại của chúng ta đó là sự chịu đựng sự kham nhẫn. 

Kham nhẫn là gì? 

Trường hợp thứ nhất, Sắc

Một hình ảnh rất rõ ràng; một con voi của nhà vua gọi là một chiến tượng là con voi có khả năng để xông trận và khi con voi xông trận có nhiều thứ nó phải đối diện. Lấy ví dụ như khi ra trận nó thấy ở bên kia dàn binh mã hùng hậu, cờ xí rợp trời ,thấy bên kia la hét nó chỉ mới thấy mà đã bủn rủn thì thật sự nó chưa phải là một con voi được huấn luyện đầy đủ. Một con voi được huấn luyện đầy đủ phải là con voi đối diện những sự áp đảo những gì thấy  nó vẫn tỉnh táo đó là điều quan trọng. Con người chúng ta thường hay bị hù dọa bởi ngoại cảnh ở bên ngoài, sự hù dọa ở đây đặc biệt khi nói về một con voi ra trận thì quả thật rất là nguy hiểm, ngày hôm nay chúng ta thường dùng chiến xa những xe bọc thép để đưa quân đội đi và người tài xế chỉ lái xe bọc thép nhưng ngày xưa  khi binh sĩ ra trận thì những kị binh trông cậy vào tượng binh mã tức là ngựa và voi. Theo những nhà quân sự thời xưa thì con ngựa dễ điều khiển hơn con voi, con voi rất mạnh, con voi cho vị tướng ở vị thế rất cao và chúng ta thấy trong lịch sử hình ảnh bà Trưng bà Triệu cưỡi voi hay Phạm Ngũ Lão cưỡi voi qua đánh nước Lào chẳng hạn, nhưng đại khái con voi nếu không khéo huấn luyện khi ra trận thấy bên địch dàn cờ xí la hét đánh trống đánh chiên mà nó bủn rủn không chịu đi tới thì thật sự trở ngại cho đoàn quân, những con voi như vậy không thể là một chiến tượng. Nói một cách khác, không thể để cái gì mình thấy mà khiến cho mình bủn rủn tay chân mất đi nhuệ khí mà phải có đủ sự lì lợm và đặc tánh lì lợm là đủ sự can đảm đủ khả năng bất chấp trước những đe dọa trước những sự áp đảo ít nhất về phương diện kỹ thuật ở bên ngoài gọi là chiến tranh tâm lý, có nhiều người đụng tới chuyện là bắt đầu bủn rủn tay chân rồi thì thật ra những người đó chưa có khả năng như con voi trận.

Trường hợp thứ hai, Thinh

Trường hợp thứ hai, con voi còn bị áp đảo bởi âm thanh. Ngày xưa khi 2 bên đánh sáp trận ngày đó không dùng súng đạn mà dùng gươm giáo và khi tiến lên đánh sáp trận thì những con voi con ngựa rất là quan trọng và những người tướng hay những người chỉ huy hoặc giả một số kỵ binh ngồi trên voi trên ngựa được lợi thế. Người ta dùng cách để áp đảo là dùng những âm thanh như tù và trống chiên làm ồn để áp đảo tinh thần. Cờ phướn hay binh sĩ đông đảo có thể làm cho con voi sợ nhưng âm thanh cũng làm sự áp đảo và sự áp đảo đó có thể làm cho nhục chí mất đi nhuệ khí. Và âm thanh  đó  tác động rất ghê gớm bởi vì thông thường trong đời có nhiều khi mình gặp những người ăn to nói lớn dao to búa lớn để áp đảo gìống như nạt nộ để áp đảo, nếu mình thiếu kinh nghiệm hay non tay thì sự áp đảo làm cho mình sợ, mới thấy họ áp đảo là thấy run sợ rồi thì cái đó là một cái dở là con voi không có khả năng kham nhẫn đối với âm thanh. Kham nhẫn ở đây chỉ cho khả năng vừa có sự chịu đựng được, vừa có khả năng bất chấp, vừa có khả năng không để cho những thứ đó làm cho mình giao động, làm cho mình bị chi phối, làm cho mình bị bào cùn đối với con voi trận. 

Trường hợp thứ ba, Khí.

Con voi gọi là chiến tượng đặc biệt voi của nhà vua thì ở  những nơi tương đối được chăm sóc sạch sẽ nhưng khi nó ở sạch sẽ quá ra trận người ta dùng những mùi xú uế đôi khi có những mùi làm nó chịu không nổi nó bỏ đi. Trong một số câu chuyện kể về  một số những chiến trận ngày xưa người ta đánh nhau đặc biệt khi đánh bằng tượng binh, bên Ấn Độ người ta xử dụng một số những mùi hôi như nước đái qủi (dung dịch amoniacque) hay một số những mùi hôi con voi không chịu nổi khi ngửi thấy mùi đó nó bỏ chạy. Ngay cả trong thế giới loài vật thì có nhiều mùi lại kị với một số con vật nào đó, thì một con voi trận thật sự đúng nghĩa một con chiến tượng con voi trận phải có khả năng kham nhẫn trước những mùi khó ngửi khó .

Trường hợp thứ tư, Vị

 Người ta có thể bỏ độc vào trong cỏ và đem cỏ đó để ở ngoài chiến trận, con chiến tượng khi ra trận đói thấy cỏ nó ăn và như vậy sẽ bị ngộ độc. Những cỏ được bày ra ở ngoài trận chiến không nên là điều thu hút, một con voi trận giỏi sẽ làm ngơ mấy bó cỏ đó nó không màng đến dù đang đói nó phải ra trận phải có kỷ luật và chỉ ăn khi trở về hậu cứ an toàn và người nài cho ăn, nó không vì đói trong khi ra trận mà ăn bừa bãi những cỏ nước để ở mặt trận vì điều đó là chuyện rất nguy hiểm nếu người ta bỏ độc vào voi ăn vào thì chết, thành ra con voi phải biết làm ngơ những thứ đó. 

Trường hợp thứ năm,  xúc 

 Một chuyện rất quan trọng khi chúng ta nói đến xúc chạm, ở đây chúng ta nói đến xúc giác. Một câu kệ trong kinh Pháp Cú: 

Như voi chiến lâm trận
Hứng chịu bao lằn tên
Ta gánh chịu phỉ báng
Giữa đời lắm đảo điên

Voi thuần, đưa dự hội
Ngựa thuần, được vua cưỡi
Bậc tự hoá, tối thượng
Trước phỉ báng, nhẫn nại

 Như con voi chiến ở ngoài mặt trận phải hứng chịu lằn tên mũi đạn, người tu phải có những sự kham nhẫn trước những đòn thù trước sự tấn công của người khác. Ở đây khả năng chịu đựng tương tựa như con voi trận, không phải vì người ta lấy gươm lấy giáo đâm vào chân, đâm vào nách của nó, đâm vào trong vòi của nó mà nó bỏ chạy, nếu bị người ta lấy gươm lấy giáo đâm mà bỏ chạy thì không còn là con voi trận nữa, một con voi trận là phải chấp nhận, một con voi trận mà được huấn luyện đầy đủ cho dù bị đâm đi nữa  vẫn bước tới vẫn hùng dũng đi tới thì gọi là con voi có kham nhẫn.

Nếu con voi không kham nhẫn được những thứ đó thì con voi không xứng đáng được là con voi của vua, con voi xứng đáng của vua là con voi có kham nhẫn được với những gì nó thấy, những gì nó nghe, những gì nó ngửi, những gì liên quan đến nếm hay ăn uống, những gì xúc chạm nó phải có khả năng kham nhẫn. 

Đời sống tu tập của vị Tỳ Kheo, đúng nghĩa vị Tỳ Kheo là phải làm một chiến sĩ ra trận một chiến sĩ được trang bị đầy đủ cụ túc giới, một chiến sĩ  phải chấp nhận để vượt qua những thử thách để làm cái gì cần phải làm mà không để những cái này cái khác chi phối nửa chừng. 

Ở đây bài học này rất lợi lạc cho chúng ta một điều rằng Đức Phật Ngài không nêu lên những cái gì mình thấy, cái gì mình nghe, cái gì mình cái gì mình nếm, cái gì mình xúc chạm mà nó làm trái ý nghịch lòng. Thật ra đau khổ ít có làm cho chúng ta bị lạc lòng bị lạc hướng bị phân tâm như những gì cám dỗ những gì quyến rũ, nhất là cuộc sống ngày hôm nay thì Đức Phật Ngài đặc biệt Ngài dùng chữ kham nhẫn, chúng ta nhớ như vầy là đừng bao giờ nghĩ rằng chữ kham nhẫn nó chỉ đối với những điều khó chịu trái ý nghịch lòng mà kham nhẫn ở đây kể cả những gì khả ái khả ý khả lạc cái gì mà mình cảm thấy bị lôi cuốn vào cuộc bị cuốn hút. 

Kham Nhẫn Đối Với Sắc

Thì ở đây Đức Phật Ngài dạy mình có thể nhìn thấy cảnh sắc tự nhiên, sắc ở đây là sắc khả ái làm tâm mình không định tỉnh được tâm mình bị tán loạn và không kham nhẫn được với sắc. Phải nhìn nhận  ở trong cuộc đời sắc làm cho con người đôi khi dễ đánh đổ những cái giá trị mà mình đang theo đuổi chỉ đơn thuần là mình không có kham nhẫn với nó được.  "Vũ vô kiềm toả năng lưu khách, sắc bất ba đào dị nịch nhân" con người chúng ta có thể là một người rất thành công, con người chúng ta làm rất nhiều việc nhưng trong lúc nhất thời bị chi phối bởi sắc có thể mình không giữ được tâm mình, có thể làm mình chìm đắm.

Và điều đó Đức Phật Ngài dạy ngay trong phần đầu của bài kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật Ngài dạy:
 "không có sắc nào có sức thu hút đối với người nam hơn là sắc của người nữ, không có sắc nào đối với người nữ thu hút hơn là sắc của người nam" . 

Chúng ta cũng phải nói ngoài cái sắc đối với sự thu hút người khác phái hay đối với tình cảm nam nữ nó còn những thứ mà trong đời sống nó làm cho mình cảm thấy chịu không nổi. Ví dụ như ngày hôm nay có những  bộ quần áo quá đẹp, hay một nơi nào đó quá đẹp, hoặc giả ví dụ như có những người họ thích bỏ tiền ra mua chiếc xe tại vì chiếc xe quá đẹp, có thể nói chúng ta sống trong thế giới các công ty các nhà sản xuất những mặt hàng tiêu thụ họ xử dụng đủ thứ kỷ sảo đánh vào tâm lý chúng ta.

Chúng tôi đọc một bài báo nói về những công ty mở những shopping mail nghiêng cứu như thế nào đó bắt mắt khiến cho những người đi trong mail cảm thấy muốn đi hoài không chán, ngày xưa shopping mail chỉ bày hàng ra bán thôi nhưng bây giờ họ có kỹ thuật khiến người mua bị cuốn hút cứ đi hoài không muốn đi ra thì đó cũng là một trong những đặc biệt. Nhưng phải nói con mắt của chúng ta dẫn chúng ta tới rất nhiều cảnh giới khác nhau trong cuộc đời này, qua đôi mắt chúng ta đón nhận rất nhiều thứ từ thế giới bên ngoài, âm thanh cũng vậy nhưng không bằng mắt, các mùi thơm cũng vậy nhưng mà không bằng mắt, vị cũng không bằng mắt, mắt cho chúng ta một thế giới mênh mông rộng lớn muôn màu muôn sắc từ thô cho đến tế từ cách này hay cách khác, 

Thật ra Đức Phật Ngài dạy người tu tập là phải kham nhẫn với sắc. Ngài Ajahn Jayasaro trong quyển sách có một đoạn nói về Ngài Ajahn Cha khi  còn trẻ Ngài biết trong tâm của Ngài dễ bị ái nhiễm bởi người nữ, có một lần Ngài phát nguyện trong 3 tháng nhập hạ không nhìn người nữ, ánh mắt Ngài luôn luôn nhìn xuống, đi khất thực Ngài nhìn xuống và ai cúng dường gì Ngài chỉ giở bát thôi chứ không để ý người đó là nam hay là nữ, đẹp hay xấu, sau 3 tháng an cư Ngài thấy đã ổn định tâm, Ngài ngẩn đầu lên Ngài nhìn vị thí chủ đến cúng, không may ngày hôm đó vị thí chủ là người phụ nữ rất đẹp thì vừa mở mắt ra nhìn thấy giống như bị điện giựt, và lúc đó Ngài mới nhận ra một điều rằng những phiền não như vậy nó chi phối rất nhiều ở trong tâm tư và cuộc sống của mình. 

Cho nên Đức Phật đặc biệt Ngài dạy mình nên kham nhẫn. Kham nhẫn ở đây một lần nữa không phải là với cái gì mình cảm thấy khó chịu với cái gì cuốn hút đôi khi vì một thói quen nào đó trong cuộc đời trước hay vì một lý do gì đó mình gặp một người có khuôn mặt, có mái tóc, có nét mặt mà họ hoàn toàn có đủ sự chinh phục và làm cho tâm hồn của mình tê tái, Đức Phật dạy mình phải vận dụng rất nhiều kham nhẫn đối với việc đó.

Kham Nhẫn Đối với Thinh

Đối với âm thanh cũng vậy, âm thanh có những thứ làm chết người. Ngày hôm nay chúng ta có một nền âm nhạc chưa bao giờ loài người lại có một nền âm nhạc hấp dẫn quyến rủ như thời bây giờ. Không phải từ giọng hát của những ca sĩ rất tài năng mà còn về kỹ thuật thu âm, hòa âm,  ngày xưa người ta chỉ hát tiếng hát thôi còn bây giờ ở trong một tiếng hát được hòa âm phối khí kết hợp làm một bản nhạc mê hồn người. 

Trong kinh điển ghi rất nhiều trường hợp có những vị tu sĩ ở trong rừng, thì thật sự tu trong rừng là một sự kềm chế đôi khi là sự phấn đấu ở sự phấn đấu đó có những giai đoạn gian nan và khô khan, tự nhiên đang tu tập như vậy nghe một cô sơn nữ đi hái hoa hay đi nhặt củi trong rừng ca một điệu hát làm cho vị tỳ kheo đó không chịu nổi và phải hoàn tục. Thì trường hợp như vậy xảy ra không ít trong kinh có ghi lại như trường hợp cháu của Ngài Cakkhupàla chẳng hạn và nhiều trường hợp khác. Nhưng phải nhận rằng sống trong thời đại ngày hôm nay thế giới của âm nhạc, thế giới của âm thanh không phải chỉ màu sắc không mà âm thanh cũng rất dễ sợ. 

Ngay cả Phật Giáo Bắc Truyền trong kinh Kim Cang cũng có câu "Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai" nghĩa là lấy sắc cầu Phật lấy âm thanh cầu Phật thì là tà đạo chứ không thể thấy Như Lai được. Nhưng mà rồi ngày hôm nay phải nhìn nhận ngay cả trong thế giới tu tập thế giới chùa chiền thì kỷ sảo về thanh âm cũng đạt đến mức độ càng ngày người ta càng có nhiều thu hút đối với những cách tụng đọc. Ngày xưa Đức Phật Ngài dạy Chư Tỳ Kheo không nên tụng kinh kéo dài giọng như ca hát, nhưng bây giờ người ta có khuynh hướng ngược lại là làm sao tụng kinh cho thật hấp dẫn tụng kinh thật hay và từ cái hay đó người ta mới phổ biến trên youtube  rồi mới ra dĩa CD, đâu có ai mà phổ biến giọng tụng kinh không hay. Nhưng ở một phương diện nào đó thì nó giúp cho người ta thích đến với đạo giống như có một cô ca sĩ ở Mã Lai phổ nhạc bài Từ Bi Kinh tiếng Phạn và cô hát lên nghe rất hay nhưng có nhiều người nghe bài đó chỉ nghe âm thanh hay mà không hiểu ý nghĩa đó, điều đó là một điều đáng tiếc. Phật Giáo Nguyên Thủy dạy chúng ta là nên có chừng mực, phải coi chừng đôi lúc chúng ta thấy những âm thanh hay quá nó làm chúng ta quên đạo, hay chúng ta quá bận rộn việc trang trí làm sao có bàn Phật thật đẹp, một Phật cảnh rất tuyệt mỹ, ai cũng nghĩ đến cái đẹp của sắc tướng ở bên ngoài và họ không còn hiểu được âm thanh không biết ý nghĩa đằng sau đó.

Kỳ rồi chúng tôi sang Thái Lan rồi qua Miến Điện đi lên Kanchinambury từ bên này ngó sang bên kia có một ngôi chùa Thái, người Thái hay làm tượng Phật lớn nhưng khuôn mặt không đẹp thì có nhiều Phật tử nói với chúng tôi rằng bỏ công ra để làm tượng Phật mà tượng Phật xấu quá họ không muốn làm. Ở Thái Lan đôi khi gặp nhiều pho tượng tự nhiên chúng tôi lại có ý nghĩ ngược lại, chúng tôi nghĩ đôi lúc những tượng Phật lớn người ta làm không đẹp để nhắc cho chúng ta thấy một điều rằng chúng ta đừng quá chấp vào hình tướng ở bên ngoài, mình lạy Phật nghĩ rằng đó là tượng trưng dầu là Phật đẹp hay Phật xấu hay Phật bằng ngỗ, hay bằng ngọc, hay bằng đất, hay bằng ximăng thì chỉ là biểu tượng thôi, đừng đặt quá nặng vào việc đó, đôi khi chúng ta quá chấp vào sắc tướng âm thanh cũng là một điểm rất nguy hiểm.

 Kham nhẫn với Khí. 

Trong chuyện Kiều có câu "hương gây mùi nhớ", mùi hương cũng có những tác động rất lớn trong việc chi phối nội tâm của chúng ta. Đôi khi nó tạo ra nhiều nhục cảm như là nước hoa hay hoặc giả đôi khi nó nhẹ nhàng giống như mùi hương của trầm hay mùi hương của hoa. Một lần chúng tôi sang thăm Hawaii, những người Phật tử đưa đi thăm một vườn hoa xứ, trong đời chúng tôi chưa bao giờ thấy vườn hoa xứ rộng hơn 35 hecta trồng đủ loại hoa xứ, đi sâu vào trong rừng hoa mùi hoa nhẹ nhàng và thơm. Thì phải nhìn nhận một điều là tùy theo mỗi cá nhân có người tham đắm về sắc, có người tham đắm về âm thanh, có người tham đắm mùi hương, có người tham đắm về ăn uống về vị giác của mình, có nhiều người tham đắm về xúc chạm. Nhưng ở đây Đức Phật Ngài dạy mùi hương cũng có thể là cạm bẫy.  Người ta đã bỏ ra hàng trăm triệu hàng trăm tỷ vào kỹ nghệ nước hoa, mỗi lần chúng tôi lên máy bay thấy những xe họ bán đồ miễn thuế đẩy ngang thì phần lớn là những chai nước hoa và người mua cũng nhiều. Nó cho chúng ta thấy rằng mùi hương cũng đóng vai trò rất lớn. 
Chúng ta có âm nhạc, chúng ta có cảnh thinh, chúng ta có những màu sắc những hình thức đẹp như quần áo thời trang, và chúng ta cũng có mùi hương. 

 kham nhẫn với vị giác.

Điều thứ tư là những gì liên quan đến vị giác hay là cảnh vị. Vị giác là cái biết của lưỡi, và cảnh vị là cái gì được vị giác biết. Chuyện này chúng ta không cần nói nhiều vì thế giới ăn uống bây giờ rất tinh vi, không phải người ta ăn chỉ những thứ ăn mặn đắng chua cay là đủ mà đôi khi ăn thức ăn của Pháp, thức ăn của Tàu, thức ăn của Nhật, thức ăn Thái Lan và họ ăn đủ cách. Những thức uống như trà cafe hay rượu những thức ăn như những món ăn càng ngày càng ngon miệng càng vừa miệng càng tinh vi làm ham ăn mê ngủ, ham ăn nó trở thành một thói tật muôn thuở của loài người. 

Chúng tôi một lần đi đầu đà với một vị Sư người Hòa Lan, Sư tâm sự với chúng tôi một điểm là không biết tại sao Sư là người Hòa Lan lại thích ăn thức ăn Thái Lan, thức ăn Thái Lan dọn cái gì cũng thấy ngon kể cả sầu riêng. Vị đó nói với chúng tôi  vị đó có lời phát nguyện là nếu trong khi ăn không có chánh niệm thì vị đó sẽ tự phạt mình bằng cách là không ăn đồ ngọt, bên Thái Lan sau bữa cơm chính họ dâng thực phẩm như trái cây bánh ngọt. Thì một bữa Sư để nguyên nắp bát thức ăn ngọt người ta cúng dường  để trước mặt, ăn cơm xong vị đó ngó tôi cười và nói: "Sư Jotika bữa nay tôi phải phạt mình không được ăn đồ ngọt tại vì lúc tôi ăn món chính nó ngon quá và bị thất niệm". Nghe vậy chúng tôi rất thương hình ảnh đó là vì ở bên Thái Lan Chư Tăng ăn một ngày đúng một bữa, các chùa buổi sáng điểm tâm sớm và buổi trưa là bữa chính rồi sau bữa chính thì không ăn gì cho tới ngày hôm sau, và khi bình thường mình muốn ăn gì thì ăn thì thật sự thực phẩm đó không ảnh hưởng mình nhiều nhưng mà một ngày ăn một bữa thì chúng tôi phải nói là rất gay go. Qúi Phật tử nào mất khẩu vị tức là mất khả năng ăn thì qúi vị chỉ cần nhịn ăn thôi hay một ngày chỉ ăn một bữa thì khi ăn thấy ngon vì đang đói cơ thể mình thiếu lúc đó ăn rất ngon. Và Phật tử cúng dường thực phẩm bên Thái Lan nhiều thực phẩm ngon nên ăn vào dễ sanh phiền não tham đắm nên phải rất là kham nhẫn. 

Kham Nhẫn Đối Với Xúc

Chúng ta đừng nói chỉ có cảnh sắc hay chỉ có sắc tướng mới làm hấp dẫn, đừng nói chỉ có âm thanh hay những cảnh vị tức là cái mặn ngọt chua cay những thức ăn thức uống trong đời sống nó lôi cuốn thu hút chúng ta rất nhiều và Đức Phật Ngài cũng dạy về thân cảm xúc đôi khi nó dễ chịu nó làm cho mình dính mắc thì ở đó nó cũng làm cho mình bị lạc hướng.

Kết luận

Ở đây Đức Phật Ngài dùng hình ảnh của con voi và hình ảnh của vị Tỳ Kheo. Ngài dạy con voi kham nhẫn được gọi là con voi trận một chiến tượng khi nó ra trận nó không bị hình ảnh bên địch đông đảo cờ phướng dương cao làm cho nó bủn rủn nản chí, hay kham nhẫn với âm thanh la hét, tiếng trống trận, tiếng thổi tù và, phèn la chập chõa mà làm nó rủn chí hay  người ta dùng những mùi xú uế mà làm cho nó khó chịu nó nản chí, hay bó cỏ nước uống để cho bị mắc bẫy nó tham đắm hoặc giả gươm giáo đâm vào thân nó kham nhẫn được. Thì hình ảnh đa phần là những gì có tánh cách  đe dọa trái ý nghịch lòng nhưng riêng về vị tỳ kheo thì Đức Phật Ngài dạy  mang tánh ngược lại là kham nhẫn đối với sắc, thinh, khí, vị, xúc là sự kham nhẫn đối với những gì gọi là khả ái mắt thấy, cái gì khả ái khả ý tai nghe, cái gì khả ái khả ý mũi ngửi, khả ái khả ý của lưỡi nếm, khả ái khả ý của thân cảm xúc. 

Giá trị của đời sống tu hành, bản lãnh của đời sống tu, và thực chất của đời sống tu sĩ nằm ở sự kham nhẫn đối với sắc, thinh, khí, vị, xúc. Nếu chúng ta hiểu được chừng đó thì chúng ta hiểu được yếu lý của thiền định. Ví dụ, cả ngày nhịn không ăn tới bữa ăn mình ăn thấy ngon và cảm thấy tham đắm thì ở trong trường thiền dạy là mình nên ăn chậm lại và ăn có quán tưởng. 

Quán tưởng mình thọ thực không phải là vì đam mê, mình thọ thực không phải để vui đùa, mình thọ thực không phải để làm đẹp, không phải để tráng kiện mà thọ thực để duy trì thọ mạng, để ngăn ngừa bệnh tật, ngăn ngừa cảm thọ chưa sanh, không làm cho cảm thọ khổ chưa sanh lại phát sanh, và sống đời phạm hạnh không có lỗi lầm thì đó là pháp quán tưởng. Không phải dễ dàng phải kham nhẫn với nó. 

Chúng tôi nhắc lại về khái niệm kham nhẫn, chúng ta thường nghĩ đến cái gì nó khó chịu mình phải kham nhẫn, nhưng thật ra sự kham nhẫn ở đây chúng ta  kể cả những cái gì  quyến rủ cuốn hút mình điều đó coi vậy mà dễ sợ hơn. 

Hồi hồi nhỏ chúng tôi nghe ông ngoại kể chuyện xưa là có ông thần gió, ông thần mưa, ông thần sấm, ông thần chớp, còn gọi là lôi phong điển vũ tập hợp lại với nhau nói chuyện phiếm, mấy ông làm cuộc thách thức: Bấy giờ ở trên cây có con khỉ đang đu trên cây làm sao cho nó rớt xuống đất. Thì ông thần sấm thần chớp nói chuyện đó dễ quá, ông làm sấm sét ầm ĩ, nhưng càng sợ thì con khỉ bám càng chặt, đến ông thần gió thổi gió ào ào thì con khỉ lại bám càng chặt hơn không rớt xuống. Tới ông thần mưa là ông thần sau cùng, ông nghĩ ra một cách là với con khỉ mà mình làm tới tấp thì nó càng sợ càng bám chặt nó sẽ không rớt xuống, ông mới nghĩ tới việc làm cho mưa chầm chậm chầm chậm, con khỉ lúc bấy giờ coi thường trời mưa nhưng mưa xuống thì khí hậu lạnh làm nó co ro và ngay lúc nó co ro ông thần mưa làm cơn giông nhẹ thế là nó rớt xuống. Đối với đời sống con người đôi khi trời xập, đôi khi bão tố phong ba, đôi khi người ta làm khổ mình, người ta nghi kị, mình người ta bôi nhọ mình, những chuyện đó không đáng sợ mà cái đáng sợ là cái êm ái ru ngủ, có những cái êm ái ru ngủ rất nhẹ nhàng và mình khinh địch làm cho mình chểnh mãng làm cho mình lạc hướng và lúc đó chỉ cần thổi cái nhẹ là mình rớt xuống, thành ra mình phải rất cẩn thận về việc đó.

 Tựa đề bài kinh hôm nay "Người sống để mà ăn" nghĩa là con voi mang tiếng là con voi của vua nhưng nó chỉ biết ăn và biết đại tiện gọi là hữu danh vô thực không có đáng gì là con voi của nhà vua. Một vị tỳ kheo không có kham nhẫn với sắc, thinh, khí, vị, xúc thì vị đó chưa gọi là người có tu, người có tu là biết kham nhẫn với sắc, thinh, khí, vị, xúc. Một người không có kham nhẫn thì không xứng đáng với 5 chữ:

1. Āhuneyyo  là xứng đáng để thọ nhận tặng phẩm.
2. Pāhuneyyo là xứng đáng nhận thịnh tình hay là thương mến.
 3. Dakkhineyyo là xứng đáng để cúng dường. 
4. Añjalikaraneyyo là xứng đáng để chấp tay kính lễ.
 5. Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa là phước điền vô thượng.

Cho đến khi nào vị tỳ kheo thật sự có kham nhẫn đối với sắc, thinh, khí, vị, xúc thì vị đó gọi là có tu là vị xứng đáng 5 chữ đó.

 Bài kinh này cũng như nhiều bài kinh khác Đức Phật Ngài lưu ý chúng ta về sự tu tập qua đó Đức Phật Ngài luôn luôn nhắc chúng ta một điểm là chúng ta phải tôi luyện phải được thuần hóa do sự tôi luyện chúng ta mới có bản lãnh. Con người sanh ra đời làm chuyện gì cũng phải có bản lãnh, có khả năng, và khả năng đó không phải trên trời rớt xuống mà khả năng đó là do mình tu tập, một ở trong khả năng đó rất quan trọng cho một người tu tập đó là kham nhẫn. Và kham nhẫn ở tại đây không phải là kham nhẫn đối với nghịch cảnh mà kham nhẫn đối với điều làm cho mình trệch hướng, làm cho mình đánh mất đi mục tiêu đang theo đuổi và cái làm cho mình đánh mất mục tiêu nhiều đó là sắc, thinh, khí, vị, xúc, khả hỉ, khả ái, khả ý ./.

Thursday, August 17, 2017

Lợi ích của việc tụng đọc kệ ngôn Phật - TT Tuệ Siêu

Thảo luận: Lợi ích của việc tụng đọc kệ ngôn Phật như thế nào? 

Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 15-7-2017

Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu: Tụng đọc Phật ngôn một cách rộng rãi như đã được nghe như đã được học thông suốt, thì ở đây chúng ta nên hiểu không phải chúng ta tụng như tụng kinh Paritta để tạo uy lực, mà sự tụng đọc ở đây là sự ôn nhuần kinh điển, có những bài kinh hay những câu Phật ngôn đọc qua rồi mình hiểu và nhớ từng câu từng lời nhưng nếu mình không tụng đọc thì một thời gian sau sẽ quên chi pháp đó, nhưng nếu chịu khó tụng đọc ít nhất một câu Phật ngôn học thuộc lòng mình phải tụng đọc khoảng chừng một tháng hoặc hai tháng để nhớ rồi thì không quên câu Phật ngôn đó.

Một vị Tỳ Kheo tụng Phật ngôn có 4 điều lợi:

1. Điều lợi thứ nhất, lợi cho bản thân mình khi những gì mình đã học đã biết mà mình tụng đọc thường xuyên điều đó giúp cho mình nhớ. Đương nhiên ở đây khi chúng ta tụng phải hiểu thì mới tốt. Chúng tôi cũng thường khuyến khích các vị học Pali bởi vì Phật ngôn Pali hay và chính xác, còn chúng ta học kinh nghĩa dịch thì bây giờ chúng ta tụng theo bản dịch của vị nào đây, vị này tụng văn này vị kia tụng văn kia tụng để cho có thời kinh thì được nhưng mà để gọi là tụng để thắm nhuần Phật Pháp thì chúng ta cứ tụng ngay trong chánh kinh Pali nhưng chúng ta phải hiểu ngữ nghĩa Pali. 

Có những bài kệ Pháp Cú chúng tôi thuyết pháp cách đây 10 năm, vào năm 2007 trong dịp tang lễ của cô Bảy Vĩnh Phúc một vị đại tín nữ đệ tử của Ngài Tịnh Sự, lễ tang tại chùa Siêu Lý quận 6. Chúng tôi nhớ hôm đó chúng tôi từ Vĩnh Long đi lên để viếng tang cùng với Chư Tăng lúc đó Phật tử cũng đông và ban tổ chức thỉnh chúng tôi thuyết một bài pháp. Chúng tôi đã thuyết bài kệ làm đề tài thường quán. 

Pariji.n.namida.m ruupa.m rogani.d.dha.m pabha'ngura.m
Bhijjati puutisandeho mara.nanta.m hi jiivita.m. 

Sắc này bị suy già, Ổ tật bịnh, mỏng manh,
Nhóm bất tịnh, đổ vỡ, Chết chấm dứt mạng sống!

Khi chúng tôi đọc và coi tại đó rồi thuộc lòng và thuyết, thuyết xong sợ quên nên khi về chùa sáng lên tụng kinh trước khi hành thiền bởi vì câu đó chỉ có mình chúng tôi đọc nên chúng tôi ngồi nhẩm trong tâm vậy mà trôi qua 10 năm chúng tôi còn nhớ như in không quên. Những bài kệ Pháp Cú chúng tôi nhớ nhiều là do nhờ tụng đọc thường xuyên.

Do vậy lợi ích thứ nhất là khi chúng ta tụng đọc pháp thường xuyên sẽ giúp chúng ta có trí nhớ.

2 - Điều lợi thứ hai, khi đọc qua một lần chúng ta hiểu chỉ đến chừng đó nhưng nếu chúng ta cứ tụng đọc hoài, cứ mỗi ngày chúng ta thấm một khía cạnh, một ý nghĩa nhiều ngày như vậy thì câu Phật ngôn đó chúng ta hiểu rộng rãi do nhờ sự tụng đọc nhiều.

3 - Điều lợi ích thứ ba, có những hạng Chư Thiên nhất là Chư Thiên hộ pháp có niềm tin nơi Tam Bảo nghe vị Tỳ Kheo tụng đọc Phật ngôn Pali khi đi ngang họ dừng lại nghe. Vào thời Đức Phật cũng vậy, chẳng hạn những vị  thánh cư sĩ Hatthaka hay Citta đêm nào cũng đọc tụng Phật ngôn những điều đã được nghe và các vị Chư Thiên rất hoan hỉ để được nghe, khi Chư Thiên có sự hoan hỉ như vậy họ sẽ hộ trì cho người tụng đọc.

4 - Lợi ích thứ tư, khi đọc tụng Phật ngôn chúng ta thuộc lòng nó trở thành thường cận y duyên và trong tương lai nếu chúng ta gặp một vị Phật trong tương lai  Đức Thế Tôn ấy biết được sở hành của mình trong quá khứ quen với Pháp như vậy thì Ngài thuyết lại câu đó nghe xong chứng quả. Trong kinh ghi vào thời Đức Phật Kassapa có 500 vị Tỳ kheo tu thiền với đề mục là quán các hành là vô thường cho nên trong hiện tại 500 vị ấy tái sanh trở lại và cùng là một hội chúng khi các vị đó đến viếng thăm Đức Phật Gotama Ngài biết rõ những vị này có duyên quán về pháp vô thường cho nên Ngài thuyết câu 

Sabbe sankhara anicca'ti; yada pannaya passati, atha nibbindati dukkhe, esa maggo vissuddhiya.

khi nào có trí tuệ thấy rõ,  các hành là vô thường,  sẽ yểm ly sự khổ,  là con đường đưa đến thanh tịnh tức là đưa đến Niết-bàn

Nghe xong bài kệ 500 vị Tỳ Kheo chứng quả Alahan. 

Có những vị khác trong đời qúa khứ đã quen đã nhớ về pháp khổ dukkha nên hiện tại Đức Phật Ngài cũng đọc bài kệ y như vậy nhưng chỉ thay đổi sabbe sankhara dukkhati . Và vị đó có duyên nên chứng đạo quả.

Cho nên khi chúng ta đọc tụng nhiều:

- Ngoài 2 lợi ích cho mình một  là không quên chi pháp, không quên Phật ngôn,  lợi ích thứ hai cho mình là càng tụng đọc chúng ta càng thấm thía với nghĩa lý cao siêu.

- Hai chi pháp phần sau hai lợi ích là Chư Thiên nghe qua hoan hỉ, và bản thân mình nêú ngay trong hiện tại chưa có duyên đắc được đạo quả thì cũng sẽ là nhân duyên cho kiếp tương lai. 

Đó là ý nghĩa chúng tôi xin được chia sẻ cho câu thảo luận này./.

Thursday, August 3, 2017

Nhân duyên - TT Giác Đẳng

(IX) (39) Nhân Duyên - Tăng Chi Bộ - Phẩm Chư Thiên 

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 3 tháng 7, 2017.

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài kinh hôm nay Đức Phật Ngài nói rộng về gốc rễ của nhiều vấn đề.
Trong kinh Pháp Cú hai câu đầu tiên của Phẩm Song Yếu: 

Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm làm chủ, tâm tạo tác,
Nếu với tâm ô nhiễm
 Nói năng hay hành động
Khổ não sẽ theo ta, 
Như xe theo chân con vật kéo

câu 2:

Tâm dẫn đầu các Pháp
Tâm làm chủ, tâm tạo tác
Nếu với tâm thanh tịnh
Nói năng hay hành động
Hạnh phúc sẽ theo ta 
Như bóng, không rời hình.

Bằng 2 câu Pháp Cú này và với bài kinh hôm nay Đức Phật Ngài cho chúng ta biết có 6 yếu tố nội tại ở trong đời sống của chúng ta là 6 nhân: nhân tham, nhân sân, nhân si, nhân vô tham, nhân vô sân, nhân vô si. 

Sáu nhân này có ý nghĩa trong kinh Phật là:

- Tham là cái gì dính mắc chấp thủ, vô tham là cái gì được ví dụ giống như lá sen đối với nước nó không có dính mắc, 

- Sân là trạng thái nóng nảy hủy diệt, vô sân là trạng thái mát mẻ hoà diệu, khi mình nói vô sân là dùng tâm từ. 

- Si là trạng thái mê mờ, vô si là trạng thái sáng suốt. 

Thì căn bản là ở trong hiện tượng của tâm và đặc biệt trong phần tâm lý học Phật giáo rất khác với nhiều ngành học của thế gian đặc biệt ở Trung Hoa và ở Âu Châu. Ví dụ trong nền văn hóa Trung Hoa một người có thù cha tìm cách trả thù thì hành động thù cha phải trả là hành động được ca ngợi mặc dù trong sự trả thù đó có sự sân hận. Thì như vậy giữa cái gọi là phương tiện và cứu cánh người ta có thể trộn lẫn nhau nhưng trong đạo Phật quan trọng không phải là mục đích đạt được hay là cứu cánh mà trong đạo Phật nhấn mạnh đến yếu tố sâu kín trong nội tâm của mình, mình làm việc đó bằng tâm gì. 

- Và tham chỉ sanh ra tham, tham không thể sanh ra vô tham. 

- Sân chi sanh ra sân không thể sanh ra vô sân.

- Si chỉ sanh ra si không thể sanh ra vô si. 

- Và ngược lại vô tham thì sanh ra tham,

-  Vô sân sanh ra sân, 

-  Vô si sanh ra si.

Ở đây, chúng ta có dịp thấy cái nhìn của Phật Pháp, tức là qua lời dạy của Đức Phật điều quan trọng không phải cuối cùng cứu cánh là gì mà điều quan trọng là ngay trong giờ phút hiện tại khi mình làm thì nội tâm mình là gì. 

Và rõ ràng từ tâm tham sân si tạo ra nghiệp và nghiệp dẫn đến sanh thú tương ứng. Vì vậy chúng ta có thể hiểu qua câu kinh 

"Tâm dẫn đầu các pháp,
 Tâm làm chủ tâm tạo tác."

"Tâm dẫn đầu các pháp"  cho chúng ta thấy đối với tất cả những hiện tượng nhân quả, những hiện tượng vui khổ, những sở hành, những hành động được thể hiện đều bắt đầu từ tâm. Và đây là cái nhìn tương đối khác biệt giữa đạo Phật với quan niệm thường thức bên ngoài. 

Thường thức bên ngoài đề cập đến cứu cánh, đề cập đến mục đích sau cùng, nhưng cứu cánh và mục đích sau cùng rất mơ hồ và thậm chí nhiều khi chúng ta hiểu sai đi.

 Lấy ví dụ, nếu tâm phiền não thì chỉ có thể sanh ra phiền não mà phiền não chỉ tạo nghiệp bất thiện và nghiệp bất thiện chỉ dẫn đến khổ, nó không có con đường khác hơn, đơn giản như vậy. 

Trong lúc đó người đời quan niệm đồng ý tâm phiền não như trong ngôn ngữ của người Tây Phương nói có hai thứ chiến tranh là unjust war và just war - cuộc chiến tranh phi nghĩa và cuộc chiến tranh chánh nghĩa. Nhưng với Phật Pháp thì vấn đề không phải là nhìn vào chuyện hữu lý hay phi lý qua kết quả cuối cùng mà nhìn vào nội tâm của chúng ta trong lúc chúng ta đang tạo nghiệp. Đây là vấn đề không dễ dàng. 

Thì đối với tất cả chúng ta để có thể cảm nhận được trạng thái đó chúng ta cần nhìn nó một chút ở trong lúc đó tâm chúng ta có đủ sự thanh thản, đủ sự bình đạm hay lúc đó tâm của chúng ta bị cột trói, bị nóng nảy, bị giao động. Đây là điểm rất khác biệt. 

- Và chúng ta cũng thấy được một điều rằng không thể nào tham tạo ra vô tham. 
- Ngược lại không thể nào vô tham tạo ra tham. 

Và nếu tham không thể tạo ra vô tham thì tham cũng không thể tạo ra nghiệp thiện. Rồi nghiệp do tham cũng không thể đi vào con đường thiện, đơn giản như vậy,

 Trong trường hợp thiện tâm cũng vậy, nếu thiện tâm đã là thiện thì không thể tạo ra bất thiện. Và một hành động do thiện nghiệp do thiện tâm thì không thể dẫn đến cảnh giới bất hạnh được. 

Ở đây không phải đơn thuần là chúng ta nhìn vấn đề trên phương diện lý luận mà đó là chúng ta nhìn với một cái nhìn sát thực tại, sát với đời sống hàng ngày mà trọng tâm chiều sâu vẫn là nội tâm của chính mình. 

Chúng tôi nhớ hồi xưa làm việc với Ngài HT Hộ Giác, khi xảy ra những chuyện lời qua tiếng lại vì sự bất đồng, Ngài nói mình phải coi trong tâm mình khi làm việc đó không phải là vì mình mong muốn cái gì cho riêng mình. Nếu mình mong muốn địa vị hay chức quyền hay cái gì cho riêng mình thì điều đó là điều đáng sợ. 

Thật ra đôi khi chúng ta cần coi gốc của vấn đề. Gốc của vấn đề như trong kinh Pháp Cú trong phẩm Song Yếu cũng là phẩm khởi đầu kinh Pháp Cú. Nhiều lúc Đức Phật dạy vật lý có những hiện tượng là cái này không tương ứng với cái kia giống như nước và lửa không tương ứng với nhau được, như dầu với nước khó trộn với nhau được vì bản chất nó khác. Những cái thiện và cái bất thiện thì cũng khó trộn với nhau được do vậy ở đây trong bài học này Đức Phật Ngài nói về tác động mà chúng ta gọi là Domino, hay nói cách khác là tác động giây truyền từ khởi điểm này dẫn đến mức điểm sau cùng, tâm như vậy thì sẽ tác động những hiện tượng tâm lý khác mang bản chất tương tự và những tác động tâm lý sẽ tạo ra hành động tương ứng và do cái nghiệp đã tạo ra quả tương ứng và quả tương ứng tạo ra cảnh giới tái sanh của tương ứng. 

Về điểm này, khi đọc Túc Sanh Truyện những giai thoại Đức Phật Ngài kể về những đệ tử của Ngài có những người rất tốt nhưng họ gặp hiểm nạn ở trong đời sống hiện tại và Đức Phật Ngài cho biết nhân trong quá khứ như vậy thì quả là như vậy nó là sự tương ứng chứ không phải vì hiện tại tốt mà không được quả tốt rồi mình phiền trách. Chúng ta thấy rõ ràng trong nhân quả rất công bằng. Nhân sinh quan của người Phật tử đối với đời sống này phải nói một điều là mình nhìn thấy những người chung quanh mình đẹp, xấu, giàu, nghèo, may mắn hay không may mắn tất cả đều là một sự công bằng của nghiệp quả. Và không phải chỉ có nghiệp quả mà còn là một sự tương ứng giữa tâm và nghiệp, và trong tâm còn có gốc rễ của các nhân của 6 cội rễ là tham, sân, si, vô tham, vô sân, vô si.

Sáu cội rễ này: 

Cội rễ đầu tiên là sự dính mắc.

 Chúng ta có thể tìm thấy qua ví dụ, tại  Mã Lai hay Thái Lan người ta muốn bắt khỉ họ có cách bắt đơn giản là họ dùng một trái dừa tương đối hơi nặng khóet một lỗ bằng tay của con khỉ có thể thọc vô và trong đó họ để bắp rang có mùi thơm. Con khỉ thò tay không vô thì lọt nhưng khi bàn tay nó nắm số bắp rang thì nó không rút tay ra được tại vì nắm tay lớn hơn cái lỗ, người ta rượt nó chuyện đơn giản là nếu nó buông tay ra bỏ bắp rang thì nó rút tay ra bỏ trái dừa lại và nó có khả năng thoát thân nhưng có một điều rất kỳ lạ là con khỉ là một loài vật rất tinh quái nhưng trong trường hợp đó thì nó quá thích bắp rang nên nó nắm tay lại không buông ra và cuối cùng thì nó vừa chạy và lôi theo trái dừa và nó bị những người săn bắt rất dễ dàng. Đó là một thí dụ về tham. Một thí dụ khác, tại Mỹ người ta bắt chuột họ dùng một cái bẫy trét nhựa dính ở đó khi con chuột lọt vào trong đó ăn ban đầu một cái chân rồi thò một cái chân khác rồi luôn 4 cái chân và cái miệng chuột dính vào rồi cuối cùng nó chết ở trong đó và người ta bắt được con chuột.

 Ở đây cho chúng ta bài học là trạng thái tham là sự dính mắc không chịu buông ra giống như con khỉ thọc tay vào trái dừa mà không buông ra được.

Cột rễ thứ hai là trạng thái sân

Trạng thái sân ở trong kinh diễn tả là sự cuồng nộ nóng nảy muốn hủy diệt muốn thiêu đốt cái gì mình không thích, nó giống như lửa rừng khi lửa rừng cháy lên nó thiêu đốt tất cả những gì xung quanh, cây xanh cũng bị thiêu đốt. Và trong lúc cơn giận nổi lên thì chúng ta có thể dùng một thí dụ như lửa rừng cháy bất cứ thứ gì. Chúng tôi có đọc bài báo nói về một người, người này cái gì cũng tốt hết nhưng anh hay nổi giận và trong nhà sống chung với bà má vợ tạo cho anh một số sự bực bội, trong sở làm thì bị căng thẳng vì công việc và anh trở về trong lúc tranh cãi xảy ra anh đánh vợ, con thấy mẹ bị đánh thì khóc anh đánh con, rồi vợ con khóc thì anh đập đồ đạc trong nhà đến khi cảnh sát đến can thiệp trở về anh tỉnh táo lại một chút, anh nói rằng thật sự lúc đó anh không kiểm soát được tại vì quá giận. Đó là một thí dụ khi mình giận mình có thể đập rất nhiều thứ, đứa con hay bà vợ có tội gì hay những đồ đạt trong nhà cũng không có tội gì nhưng vì cơn giận nổi lên thì anh có thể đập đổ tất cả.

Cột rễ thứ ba là trạng thái si.

Chúng ta nói đến tâm si là một trạng thái mê mờ tại vì lúc đó chúng ta bị giao động hay ngờ vực, trạng thái không tỉnh táo thay vì chuyện đó mình thấy được thông suốt thì mình lại không thông suốt.

 Thì trong ba trạng thái tham sân và si thì si là trạng thái có mặt ở trong cả tham và sân. Bản chất của si là khiến cho mình trông gà hóa cuốc nhìn cái này tưởng cái kia và mình không nhận rõ được sự việc, chính vì vậy nó là cái gốc của nhiều vấn đề ở trong đời sống của mình.

Trong 3 trạng thái đối lập lại là vô tham, vô sân, vô si:

Cột rễ thứ tư là trạng thái vô tham. 

Trạng thái vô tham là một trạng thái rất khó diễn tả mặc dầu chúng ta có ví dụ lá sen đối với nước. Nhân vật Thiện Hữu trong tác phẩm "Câu chuyện giòng sông", cho chúng ta bài học khi ngồi bên bờ sông nhìn thấy những vật trôi qua trước mắt có đến và có đi, khi nó đến nó đi thì nó cuộn chảy theo giòng tự nhiên của nó mình không xua đuổi khi nó đến và mình cũng không thể níu lại khi nó đi và rõ ràng bất cứ sự nắm níu nào khi nó đi đều làm cho chúng ta khổ nhưng để cho nó tuông chảy tự nhiên trước mắt mình thì tâm mình nhẹ nhàng hơn, giống như mình đi một cuộc hành trình dài ở trong cuộc hành trình đó phong cảnh rất đẹp cho dù xấu thì mình cũng không bực bội, cho dù nó đẹp thì không phải mình ở lại nằm ở một chỗ hay mình ở lại chỗ đó mình ngưng cuộc hành trình của mình. Thì ở trong cuộc sống này thỉnh thoảng có một vài thứ khiến cho chúng ta bị vướng mắc. Trạng thái vô tham là cho chúng ta vượt khỏi sự vướng mắc. Trong Vi Diệu Pháp ví dụ lá sen đối với nước.

Cột rễ thứ năm là trạng thái vô sân.

 Trạng thái vô sân là một trạng thái từ hoà mát mẻ, sự từ hoà mát mẻ này được hiểu như tâm từ, ví dụ mình đi ra ngoài bến tàu hay ra phi trường mình gặp rất nhiều người chung quanh, có đẹp, có xấu, có già, có trẻ, có người chủng tộc này, có người quốc tịch kia, ngôn ngữ khác nhau nhưng trong lòng mình có sự ghét bỏ ví dụ như mình không thích người da đen, không thích người Trung Hoa, không thích người này không thích người kia thì tâm mình tự nhiên bực bội. Những khi mình sống nghĩ đến mọi người bằng cái nhìn thân thiện cuộc sống nó là như vậy mọi người có sự khác biệt như vậy, khác biệt về màu da về ngoại tộc về ngoại hình về đủ thứ thì tâm mình tương đối mát mẻ hơn và như vậy mình ở trong trạng thái hoà dịu, sự hòa dịu thân thiện mát mẻ đó được gọi là vô sân.

Cột rễ thứ sáu là trạng thái vô si

Trạng thái sau cùng vô si là trạng thái sáng suốt.  Ví dụ như có những ngày đọc một trang sách học một biết mười  và những lúc không sáng suốt mình đọc một trang sách hai ba lần cũng khó tìm ra được những điều gì. Hay ở trong cảnh ngộ giống nhau nhưng có nhiều khi nhận thức sáng suốt khác nhau, như trong sự giáo dục của con người lấy ví dụ môi trường của trường học, ở trong pháp hội và như rơom Phật Pháp Buddhadhamma này chẳng hạn mình đọc những lời Phật dạy, mình nghe, mình suy nghĩ, mình hiểu, mình dùng trí phân biệt lúc đó mình sống bằng tâm vô si trạng thái vô si.

Đối với một người sống với trạng thái tâm vô sân vô si được lợi điểm một là họ không dính mắc, hai là họ không phẫn nộ và điều thứ ba không mê mệt. Và sự buông xả sự an hoà mát mẻ, sự sáng suốt là tố chất của thiện

 Ở đây Đức Phật Ngài giảng cho chúng ta 3 điều còn lại là 3 tác động giây truyền: 

- Nhân bất thiện chỉ sanh ra tâm bất thiện, nhân bất thiện không thể nào sanh ra tâm thiện được. 

- Nói cách khác, không bao giờ có trường hợp tâm sân mà tạo ra tâm từ. 

- Ngược lại không bao giờ có trường hợp vô sân mà tạo ra sự phẫn nộ, hay tâm vô sân mà tạo ra tương ứng là tâm phẫn nộ.

-  Nhân bất thiện là chất liệu của tâm bất thiện.

- Nhân thiện chất liệu của tâm thiện, tâm thiện được thể hiện là hành động thiện

- Và tâm bất thiện được thể hiện bằng hành động bất thiện, hành động bất thiện thì quả tương xứng quả khổ cảnh giới tương xứng là cảnh khổ, và bối cảnh Đức Phật đề cập đến ở đây là địa ngục ngã qủi Atula bàn sanh. 

 - Tâm thiện được thể hiện bằng hành động thiện thì quả tương xứng là cảnh thiện ở đây là cảnh người, cảnh trời, mọi thứ có cảnh tương xứng như vậy.

Nên chi về điểm này là điểm rất rõ ràng và chúng ta cũng thấy được một điểm là thay vì người ta nói cứu cánh là biện minh cho phương tiện tức là điểm đến sau cùng của mình nó có thể bào chữa cho tất cả nó có thể tạo ra lý lẽ thuyết phục. 

Nhưng kỳ thực thì Đức Phật Ngài dạy chúng ta nên nhìn vào tâm trong cái tâm đó xem cội rễ của mình là tâm đó dựa trên tham sân si hay là vô tham vô sân vô si. Và để nhìn vào tâm của mình ngay địa điểm phát xuất ngay điểm ban đầu điểm khởi phát không phải là đơn giản mỗi chúng ta đều phải có đủ bình tỉnh để nhận diện ra sự việc này.

Vì vậy phương thức để giải quyết vấn đề nhìn vấn đề trong đời sống của Phật Pháp tương đối rất khác với nhiều trường hợp chúng ta có thể nghĩ xa nghĩ rất mong lung là trong cái nghĩ xa đó mình nghĩ là mình có viễn kiến mình hiểu nhiều nhưng sự thật chỉ đưa đẩy mình không biết về đâu.  Nhiều khi nó chỉ là chuyện đổ dầu thêm vào lửa. Chúng tôi thấy thông thường ở trong cộng đồng người Việt mình có nhiều tranh cãi lời qua tiếng lại như trên internet chẳng hạn, trong email, hay trên các diễn đàn họ cảm tưởng như người ta nghĩ rằng cuối cùng rồi người ta sẽ đạt đến một điểm đó là chiến thắng điểm lẽ phải nhưng kỳ thật chúng tôi chưa bao giờ thấy ai cãi nhau trên internet mà chiến thắng, người ta chỉ tiếp tục nói những điều rất xấu rất tệ hại, rồi từ tệ hại dẫn đến tệ hại. Chưa có điều tệ hại nào nó dẫn đến điều tốt đẹp. Do vậy đối với phàm nhân chúng ta thì điểm đến đó rất là mơ hồ nhưng chúng ta lại chạy theo nó, Đức Phật Ngài khuyên chúng ta nhìn vào trạng thái nội tâm. 

Đó là lý do tại sao ngày hôm nay rất nhiều nhà tâm lý học nêu lên giá trị của thiền Minh Sát hay là Thiền Tứ Niệm Xứ, tại vì thiền Tứ Niệm Xứ nhìn thấy gốc rễ ban đầu hơn là đi tìm sự suy luận là cái kết quả của sự việc hay đời sau kiếp sau. Đức Phật Ngài có dạy yếu tố mà chúng ta gọi là tác động giây truyền hay hiện tượng Domino cái này ảnh hưởng cái kia ảnh hưởng cái nọ và vì vậy một người ở trong đời sống hiện tại tâm được an lạc thì kiếp sau tương đối tốt có thể an lạc. Tôn giả Mahànàma là một hoàng thân giòng họ Thích Ca đã từng đến gặp Đức Phật với sự băng khuăn và trong sự băng khuăn đó đã được và Đức Phật giải toả bằng cách là an lập người đó vào trong niềm tin. Phải nhìn vào chỗ đó nắm được mấu chốt đó thì chúng ta mới vững lòng đi tới. Và thưa qúi vị chúng tôi chia sẻ vài lời về ý nghĩa bài kinh như vậy./.

Saturday, July 15, 2017

Tâm Triền Phược - TT Giác Đẳng

(VI) (206) Tâm Triền Phược - Kinh Tăng Chi Bộ -  XXI. Phẩm Kimbila 

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 4-5-2017

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài kinh hôm nay nói về  năm tâm triền phược,  5 sự trói buột này khiến chúng ta không thể đi tới, nó trói buột mình lại và vì sự trói buột đó làm mình không đi tới được tức là mình không vận dụng được tiềm năng của mình. Có một bí mật muôn thuở trong kiếp nhân sinh nếu so về tài trí về sức khỏe thì giữa người này và người khác đôi khi rất khó để thấy được tại sao người này hơn người kia nhất là về tư chất thông minh về tài năng, nhưng nhìn vào những thành tựu nhất là sự thành tựu về con đường tu tập thì có sự chênh lệch rất lớn. 

Trong đời sống có câu nói: "Người ta làm được thì mình làm được", chuyện đó đúng, nhưng mình cũng phải nói thêm cũng tài đó sức đó trí năng đó nhưng mình bị trói buột thì mình không thể đi xa không thể đào sâu được, nhưng nếu chúng ta thong dong thì có thể đi được rất xa. Cái chìa khóa của sự tiến bộ, chìa khóa của khả năng đi tới chính là mình có cắt đứt được những sợi dây cột trói mình không?  

Làm việc trong một tổ chức hay theo đuổi một kế hoạch gì đôi khi vấn đề không phải là mình không đủ sức không đủ khả năng, mà mình không đi tới được tại vì mình bị bó tay bị cột lại và mình phải thấy được cái cột đó như thế nào. 

Một người xuất gia, một người hành giả vào trường thiền để hành thiền, ở tuổi thanh xuân còn trẻ sức khỏe còn nhiều thế nhưng tại sao lại dậm chân một chỗ không đi đến được?

 Đức Phật Ngài dạy một người tu tập muốn đi tới thì tâm phải hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, và tinh tấn. Nhưng tại sao mình không hướng tới những điều đó được là bởi vì do tham ái, do khát ái nên sinh nhiệt não. Lấy ví dụ, có những lần chúng tôi đi xa với một số Phật tử từ thành phố này sang thành phố kia, chuyện lên xe khởi hành để lên đường rất nhanh rất gọn rất thoải mái nhưng nhiều lúc bị cản trở bởi vì một người trong phái đoàn họ có lý do để trì hoãn ở lại thành phố đó vì họ chờ đợi một gói quà từ đâu gửi về, hoặc muốn gặp một người nào đó hay họ lưu luyến muốn ở lâu hơn, thì người muốn ở lại lâu họ câu giờ càng chậm lại càng tốt và đó là lý do khiến cho cả phái đoàn bị phiền toái là tại sao mình cứ chờ đợi hoài mình không lên đường được.

 Một hành giả tu tập phải để ý đến khuynh hướng, mình hướng về cái gì đó hay mình muốn dậm chân tại chỗ. Mình muốn nắm níu cái đang có hay mình muốn đi tới, điều đó chỉ là đường tơ kẽ tóc. Một người cũng đi kinh hành cũng ngồi thiền, cũng tụng kinh, cuộc sống ở trong thiền viện người hành giả nhìn bên ngoài thì mình không có thể phân biệt được là người đó đang đi về hướng nào nhưng chính bản thân của vị hành giả đó phải thấy được hai hướng một là nỗ lực tinh tấn đi tới, hai là muốn dậm chân một chỗ.

 Ví dụ như vào trong trường thiền có những ngày tháng yên tĩnh cây cao bóng mát am thất tĩnh mịch thoải mái. Có lần chúng tôi cùng Sư Minh Tấn đến thăm trường thiền Bhavana Society ở tiểu bang West Viginia của Ngài Gunaratana, nơi mà chúng tôi đã hai lần cách nay mấy mươi năm có lần ở 6 tháng có lần ở 3 tháng, thì phải nhận là người Mỹ có cách xây cất trường thiền rất dễ thương với những am thất hết sức yên tĩnh và chung quanh là cây cối, chúng tôi nhớ có năm chúng tôi ở vào mùa thu phong cảnh rất đẹp, cảnh mùa xuân cũng vậy. Nhiều người Phật tử Việt Nam đến tu thiền trong lúc đi hành thiền vị Thiền Sư nhắc nhở : "Ở đây không phải là chỗ để hưởng thụ giờ phút êm đềm mà chúng ta phải tinh tấn bởi vì nếu không tinh tấn mà chỉ hưởng thụ những giờ phút êm đềm đó thì chúng ta bị trì trệ". Thì ở đây mấu chốt của vấn đề là tâm của chúng ta có hướng về nỗ lực có hướng về sự tinh tấn hay không? hay bỗng dưng nó có những lý do thầm kín chúng ta cảm thấy mãn nguyện cảm thấy thích thú và muốn dừng lại tại đó.

 Ở đây Đức Phật đưa lên 5 điều ràng buột:

1- Ràng buột thứ nhất là đối với cái dục.

Một người có thể bị ru ngủ có thể bị dậm chân một chỗ, họ bị cột trói và sợi giây cột trói này vô hình bản thân mình không biết không hay, cái cột trói này là cột trói đối với các dục. Các dục ở đây là những gì khả ái khả ý, những điều mình cảm thấy vừa lòng. Có người  thích vườn hoa đầy hương thơm hay hoặc giả có nhiều người thích thú ở một nơi nào đó tại vì tìm thấy được một nụ cười rất thân thiện rất dễ mến của người nào đó, có người thích đất trời mênh mông, cảnh trí hùng vĩ của núi rừng. Mới nghĩ một thoáng thì những điều đó hoàn toàn vô hại nhưng thật tế mà nói với một hành giả ở đây Đức Phật đề cập đến những cột trói này Ngài đề cập đến những vị tu tập nhiều hơn là những vị không tu tập. 

Một vị tu tập mà tâm hướng về những điều khả ái khả ý thì vị đó không bao giờ muốn nỗ lực muốn cố gắng hơn. Trường hợp đó Đức Phật gọi là rơi vào trong lợi dưỡng. Và đó là bịnh của nhiều người tu tập, chúng ta gọi là căn bịnh của nhà giàu. Chúng tôi đã đến thăm viếng nhiều thiền viện ở Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn chưa có thời đại nào mà các thiền viện được xây dựng với những tiện nghi tối đa, dĩ nhiên không phải là ăn chơi hưởng thụ nhưng nhiều tiện nghi thoải mái về mọi thứ cái thoải mái đó cho mình một cảm giác thích thú để ở, thích thú để nương náu. Nhưng vấn đề không nằm ở chỗ là làm cho mình thích thú hay không mà chính vì sự thích thú đó khiến cho mình đánh mấy đi sự tinh tấn muốn đi tới muốn vượt thoát. Đây là ràng buột thứ nhất.

2 - Sự ràng buột thứ hai là sự ràng buột về thân. 

Thân là một phần của ngã tính, thân là phần gì rõ nét hơn là tâm. Có thể một người mang một tâm nhiều phiền não mà người đó chưa bao giờ nhận dạng được tâm của mình như thế nào nhưng một người có ái luyến về thân thì người đó rõ ràng thấy chiều cao mình như vậy, mặt mũi mình như vậy, diện mạo mình như vậy, sự trẻ trung của mình như vậy, mình được hãnh diện là mình đẹp, mình có chiều cao, mình có thế này mình có thế kia. Thậm chí có nhiều người bỏ nhiều thì giờ để trao chuốt màu da của mình. Thật ra chăm sóc về sức khỏe của mình là tốt, làm sao cho mình khỏe khoắn. Bình thường một người chăm sóc sức khỏe, chăm sóc thân mình thì cũng không phải là vấn đề lớn nhưng nếu một người tu tập mà quá nặng về thân của mình thì sẽ là vấn đề. 

Một lần Tôn Giả Lahầula lúc đó là một thanh niên mới lớn đi khất thực với Đức Phật. Tôn Giả đi phía sau nhìn Đức Thế Tôn đi trước uy nghiêm rất đẹp và Tôn Giả tự nghĩ với chính mình rằng Đức Thế Tôn bậc đạo sư của mình là cha của mình có thân tướng hảo quang minh ai cũng nói rằng mình mang nhiều nét giống Đức Thế Tôn về chiều cao về đường nét, như vậy mình trở nên tự cảm thấy hoan hỉ. Đức Thế Tôn đang đi khất thực Ngài đọc được tâm tư đó Ngài dừng lại và nhắc nhở Tôn Giả Lahầula là phải thường xuyên quán xét đây không phải là ta, không phải của ta, không phải tự ngã của ta. 

Chúng ta thấy một người biết chăm lo cho mình dường như vô hại hơn là đi gây phiền phức cho người khác, nhưng với một hành giả tu tập mà không có đủ chánh niệm để thấy rằng mình quá trau chuốc lo lắng nhiều cho thân mình thì quả thật là vấn đề khiến chúng ta không có khuynh hướng đi tới, không có khuynh hướng nỗ lực cho đời sống tinh thần. 

3 - Điều thứ ba là sự tham luyến đối với cảnh sắc.

Sắc ở đây đôi khi là các dạng thể, những điều này đặc biệt khi Phật Giáo tồn tại ở trong một nền văn hóa lâu đời thì chúng ta thấy những dạng thể mang màu sắc văn hóa một cách nhất định, nó trở nên đậm nét và nó trở nên một nhu cầu lớn. Những quốc gia Phật Giáo mà càng giàu có thì những thứ này lại trở thành những điều kiện cột trói chúng ta hơn bao giờ hết. Vị nào đã từng đi sang Nhật thì hiểu được định nghĩa của người Nhật về thế nào là một thiền thất, thế nào là một bàn Phật, thế nào là một tọa cụ, thế nào là cái gáo để múc nước, thế nào là cái lò để nấu trà, thế nào là cái bàn để viết thư pháp, tất cả những điều đó đều được trau chuốt được qui định rõ ràng và nó tạo thành những cái gì rất là cố định, nó có một qui tắt rõ ràng là ảnh hưởng theo văn hóa như vậy mới là đẹp, như vậy mới là thích hợp, như vậy là điều bắt buột phải tuân thủ, đã trở thành những thứ rào cản trở thành sợ giây trói buột. 

Trong một lần chúng tôi sang Thái Lan tu đầu đà đi với chúng tôi có Sư Sona người Canada đến tu ở chùa của Ngài Ajahn Cha. không biết vì vô tình hay là vì sự đưa đẩy sao đó chúng tôi nhận được một cái bình bát với chân bình bát đan bằng mây đã cũ bị rách và đã được vá lại. Thường thì các vị Sư sống tại các chùa trong thành phố chân bình bát của họ bằng loại stainless steel còn các vị Sư tại chùa của Ngài Ajahn Cha thuộc về Lâm Tăng nên dùng chân bình bát đan bằng mây nhìn rất đẹp và khéo. Và tại chùa không ai được giữ tiền, khi cần gì thì vị trưởng kho cung cấp hoặc xin với Thầy Cả.

Khoảng chừng 2, 3 tháng sau, một lần chúng tôi đang ngồi ở trên sala có một vị Sư không biết người xứ nào xin hoàn tục trả y bát lại cho vị trưởng kho, chúng tôi ngồi gần Ngài Cả tình cờ thấy ở trong số các vật dụng trả lại có cái chân bát đan bằng mây còn mới và đẹp và chúng tôi thấy thay vì để vị thủ kho đem về cất thì chúng tôi nói với Ngài Cả:

 - "Con có cái bình bát nó bị hư một phần con muốn đổi cái bình bát này xin Ngài hoan hỉ cho phép". 

Và Ngài Cả hoan hỉ nói: "Sư lấy đi." 

Và Ngài quay sang nói với vị thủ kho giao chân bát cho chúng tôi. Chúng tôi đem về cốc rồi quay trở lại hoàn trả lại cái chân bát cũ thì Ngài Cả còn ngồi đó và Ngài Cả nhìn tôi nói một điều:

- "Sư Jotika, thật ra nếu Sư lấy chân bát mới thì sài nó tốt nhưng nó có một cách để cho tâm mình được an lạc để tu tập thì Sư cứ sài cái cũ bởi vì cái cũ vẫn còn sài được mình sài cái cũ thì ít dính mắc hơn là sài cái mới." 

Thưa qúi vị, chúng tôi vừa đổi được cái chân bình bát mới mà chúng tôi rất thích và thật ra thì mỗi lần đi đâu cái chân bình bát cũ bị vá vì bị hư một chút thì chúng tôi cũng không vui bỗng nhiên mà nghe Ngài nhắc như vậy chúng tôi đứng lại suy nghĩ rồi chắp tay đảnh lễ Ngài nói rằng: 

- "Dạ phải

Ngài cười, và chúng tôi nói với Sư thủ kho chờ chúng tôi một chút rồi chúng tôi trở về đổi lại lấy cái chân bình bát mới đem trả lại và lấy chân bình bát cũ. Khoản chừng 1 năm rưỡi sau đó chúng tôi tình cờ đi trai tăng ở kalasin Ngài Cả ngồi bên kế chúng tôi và Ngài nhìn thấy chân bình bát cũ thì Ngài cười và hỏi:

- "Sư vẫn còn sài cái này sao?"

Chúng tôi trả lới: " Con sài cái này con thích vì Ngài nhắc con nên con sài tới bây giờ". 

Thì ngay cả khi đi đầu đà mình bỏ tất cả cho dù những vật dụng sài vừa ý như vậy, đẹp như vậy, nhưng cái đó nó trở thành cột trói. Điều đó không phải nghĩ đến nhà cao cửa rộng, nghĩ đến chùa chiền to tát, có những thứ đơn giản mà nó vẫn là sự cột trói tại vì tâm con người là như vậy, cho dù chỉ là cái chân bình bát cũ thật ra nó không tệ sài rất được nó chỉ vá lại hơi khác một chút thôi nhưng mình cũng không thấy hài lòng mình thấy rõ ràng nó bị vá lại và mình muốn có một cái chỉnh chu tức là đâu ra đó nhưng như vậy mình nặng về cái đó quá, mình phải mặc y màu như vậy, mình phải mang bình bát màu như vậy v.v... thì những điều đó trở thành những khuôn sáo mà những khuôn sáo đó trở nên ràng buộc đối với một hành giả tu tập và điều đó không ai nhắc cho mình được nếu không phải là những bậc thầy, không phải là những bậc thiện trí có thể nhắc mình được như vậy. 

4. Điều ràng buộc thứ tư là ăn uống.

Sự ràng buộc thứ tư Đức Phật dạy đó là sự hưởng thụ ăn uống, ăn cho no, ăn cho ngon, ăn cho nhiều, nghỉ ngơi, ngủ nghỉ thường những điều đó làm một khuynh hướng hưởng thụ đời sống tu tập, không phải là lớn chuyện, biết là mình sống ở trong chùa không còn gì hết chỉ còn mỗi cái ăn cái ngủ thôi thì thật sự nó không phải lớn chuyện nếu so với thế gian. Nhưng người ưa thích ăn ngủ nhiều quá không tinh tấn nỗ lực, do mình không tinh tấn nỗ lực mình bị dậm chân một chỗ, và giả xử cuộc đời mình vào chùa không làm gì hết chỉ lo ăn ngủ thì thật uổng kiếp người nhưng phải nhớ rằng đó là sợi giây ràng buộc rất lớn. Đức Phật Ngài dùng một cái cộng trừ là:

-  "Ăn cho đến thỏa thuê cho đến bụng chứa đầy, thì cuộc sống là thiên về khoái lạc sàng tọa". 

Đúng ra câu này là khoái lạc về ngủ nghỉ về nằm, giống như mình nằm nghỉ trưa là ngủ nghỉ với hôn trầm thụy miên. Những thứ khoái lạc của ăn ngủ là một sự ràng buộc. Đôi khi có những thứ tầm thường cũng cột trói chúng ta không khác gì những thứ lớn lao, chúng ta nên lưu ý. 

Bởi vậy, nếu chúng ta hiểu được lối sống của một người tu không phải là được khéo tổ chức không phải là có đời sống đâu ra đó, đời sống ngày hôm nay đôi khi đa số các vị thiền sinh tu tập họ hay nghĩ đến sự hướng dẫn của các vị Thiền Sư và các vị Thiền Sư thường tạo ra một trung tâm thiền một đạo tràng để tu tập và trong đạo tràng đó tổ chức như thế này tổ chức thế kia nhiều lúc những thứ này cũng là sự dính mắc cho một người tu tập.

Thời Đức Thế Tôn còn tại thế một vị tu sĩ đi khất thực thật ra không biết là khi mình bước chân ra khỏi chùa để đi khất thực mình sẽ có cái gì để ăn,  người Phật tử đặt vào trong bình bát mình trở về mình cũng không biết có cái gì để ăn, về mở ra rồi có bao nhiêu ăn bấy nhiêu. Chỗ ở cũng vậy  vì cái bất định của đời sống nó khiến cho chúng ta phải gia cố đời sống nội tâm nhiều hơn, tại vì nếu đời sống nội tâm không được mạnh mẽ thì chúng ta không chịu đựng được với những trở lực từ bên ngoài. Vì vậy chúng ta nhớ một điều rằng cái gì mà nó ru ngủ chúng ta thì cái đó nó thường là sự cột trói của mình, nó ru ngủ chúng ta, nó mơn trớn chúng ta, nó làm cho chúng ta có cảm giác dễ chịu thoải mái thì nó sẽ khiến cho chúng ta không có khả năng để đối diện với sự thật, đối diện với cái vô định và không chịu tinh tấn đi tới. 

Ở Việt Nam, người ta nói rằng người miền Trung phấn đấu hơn người miền Nam, chuyện đó đúng, tại vì sao, tại vì thời tiết khắc nghiệt, bão lụt hàng năm khiến người dân miền Trung bắt buột phải phấn đấu phải dự trữ thực phẩm đề phòng những lúc tối lửa tắt đèn, người dân miền Nam thì sống ở giữa sông ngòi bữa nào đói lắm mà có chút gạo nấu cơm rồi ra phía sau hái rau bắt ốc bắt cá cũng nhiều do vậy đôi khi lại không có phấn đấu vì họ an phận với điều đó. Sự an phận với vật chất không có hại bằng sự an phận với đời sống tinh thần, khi đời sống tinh thần của chúng ta mà mình thoả mãn hài lòng thì thường mình dậm chân một chỗ.

5. Điều ràng buột thứ năm là sự mong muốn sanh thiên.

Điều sau cùng Đức Phật Ngài lưu ý tất cả chúng ta về sự suy nghĩ sanh thiên. 

Đây là một trong những nhược điểm lớn của người Phật tử nói chung và người tu Phật nói riêng là chính giáo lý nghiệp báo giáo lý về luân hồi làm một số chúng ta nghĩ đến sau khi chết, và một người mà nghĩ đến sau khi chết không ai nghĩ đến chuyện đắc đạo chứng quả, không ai nghĩ đến chuyện chứng đạt Niết Bàn, người mà thật sự muốn chứng đắt Niết Bàn là người hướng tâm vào hiện tại. Nhưng người mà không khéo thì hay nghĩ đến được sanh vào một cảnh giới nào đó thật sự an ổn thật sự hạnh phúc.  Ngay cả một số vị tu tập nghĩ mong kiếp sau được sanh về cõi trời Đâu Xuất ở đó mình sống rất an lạc, sống nghe pháp, sống bằng pháp hỉ, gặp Đức Di Lạc ra đời, mình sống ở đó rồi đắt đạo chứng quả Niết-bàn. Ý tưởng đó thật sự nó không có hại gì hết, nó cũng đúng vậy, nhưng những ý nghĩ đó nó rất là mơn trớn, nó rất là ru ngủ, nó khiến chúng ta đánh mất đi nỗ lực trong hiện tại. 

Điều Đức Phật Ngài dạy: "Pháp nào khiến chúng ta tinh tấn đó là pháp của Đức Phật, và pháp nào khiến chúng ta đánh mất đi sự tinh tấn nỗ lực thì đó không phải là pháp của Đức Phật". 

Nói một cách đơn giản, nếu chúng ta hiểu lời dạy của Đức Phật thì ở trong giờ phút hiện tại này cho dù cuộc sống chung quanh có đẹp có dễ chịu có thoải mái có cái ý tưởng nào đó làm cho chúng ta cảm thấy thích thú về đời sau điều đó không quan trọng, mà quan trọng là mình có tinh tấn có nỗ lực hay không. 

Tinh tấn nỗ lực ở đây là học pháp và hành pháp, tinh tấn nỗ lực ở đây là tận dụng được thời giờ, tinh tấn nỗ lực ở đây là đối với cái sanh diệt của cuộc sống, tinh tấn nỗ lực ở đây là mình cố gắng làm cái gì cần thiết phải làm chớ có ngồi yên đó như là mình bằng lòng với cái gì mình có, vừa lòng với ý nghĩ của mình, và yếu tính đó rất quan trọng.

Chúng ta nhớ Đức Phật dạy những pháp nào đưa chúng ta hướng về tinh tấn, hướng về nỗ lực đó là pháp của Phật và pháp nào khiến chúng ta không tinh tấn thì pháp đó không phải là pháp của Phật, thì ở đây những cạm bẫy  trong sự tu tập này nó là những cột trói mà khiến chúng ta bị dậm chân khiến cho chúng ta bỏ rơi nỗ lực và điều này trừ khi ở gần một vị Thầy có kinh nghiệm và có lòng từ bi nhắc nhở chúng ta, trong đời sống bình thường ít có ai nhắc chúng ta, thấy một người mặc y là mình hoan hỉ rồi, thấy một người ở trong trường thiền mình hoan hỉ rồi, thấy một người biết tụng kinh đã hoan hỉ rồi, những cái đó nó chỉ mới là hình thức ở bên ngoài, căn bản của đời sống nội tại là chúng ta có chịu khó và chúng ta thật sự phấn đấu hay không. 

Tất cả những nền văn minh của con người đều cho chúng ta bài học rất quan trọng là một khi chúng ta sung sướng và thường thường chúng ta bị ru ngủ,  khi bị ru ngủ chúng ta sẽ đi vào chỗ thối thất. Hoa Kỳ thật sự là quốc gia tiến bộ đi tới với cái nhìn rộng thì cũng phải nói rằng đã trải qua những thời kỳ khó khăn từ những khủng hoảng kinh tế của thập niên 30 và trước đó là Đệ Nhất Thế Chiến sau đó là Đệ Nhị Thế Chiến rồi đến Chiến Tranh Lạnh và bây giờ khi Hoa Kỳ trở thành một cường quốc  không có một cường quốc nào có thể so sánh được thì tinh thần của họ bắt đầu đi xuống không còn thấy chuyện làm sao để ủng hộ lý tưởng dân chủ hoà bình trên thế giới là một cái ưu tiên của người Hoa Kỳ nữa, họ thấy chủ nghĩa quốc gia khiến cho họ nên gìn giữ hàng rào để giảm bớt di dân. họ cảm thấy làm sao cho người Hoa Kỳ lo cho chính bản thân họ được, không cần lo nước khác, thì dần dà họ sẽ rơi vào số phận của nhiều đế quốc đi xuống trong quá khứ cũng đã từng gặp như vậy. Mình phấn đấu rất nhiều, ngày nào mình còn phấn đấu còn nỗ lực còn đi lên, lúc nào mình đến cao điểm không nỗ lực không phấn đấu nữa thì mình bắt đầu đi xuống và cái giá của sự đi xuống đó là sự tàn lụi của các đế chế, của các vương quốc, của các triều đại. Vì vậy đôi khi trong đời sống này sự khó khăn không là gì đáng sợ như là cái gì gọi là khả ái, khả ý, nhẹ nhàng, êm ái, ru ngủ, mơn trớn đời sống của mình.

Đức Phật Ngài dạy có 5 sự cột trói:

- Sự cột trói của dục, 
- Sự cột trói ái luyến thuộc về thân
- Sự dính mắc về sắc
- Sự dính mắc về ngủ nghỉ
- Và sự dính mắc về thiên giới hay là sự sanh duyên đời sau sanh về kiếp này kiếp khác về cõi trời được tốt được đẹp hơn.

Những ý tưởng đó thường là cái gì ru ngủ khiến chúng ta không nỗ lực. Nỗ lực ở đây là tinh tấn, chánh niệm với giờ phút hiện tại. Ở đây Đức Phật Ngài nói câu rất dài tạo thành một mệnh đề đôi khi chúng ta cảm thấy Đức Phật Ngài nói nhiều quá nhưng thật sự rất quan trọng: 

- "Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với cái dục, không phải không tham ái, không phải không dục cầu, không phải không ái luyến, không phải không khao khát, không phải không nhiệt não, không phải không khát ái. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào đối với cái dục, không phải không tham ái... không phải không khát ái, tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là một trạng thái trói buột thứ nhất."

Đoạn này bản dịch tiếng Việt hơi lủng củng, vì chúng tôi đang giảng nên không sửa lại được. 

Như đoạn đầu: thí dụ như đối với các dục mà không phải là không từ bỏ, không phải là không có tầm cầu, không phải là không có dính mắc, không phải là không khao khát, không phải tâm nhiệt não (phiền não), thì điều đó sẽ khiến cho vị đó không hướng về nỗ lực, về chuyên cần, kiên trì, tinh tấn thì tự nhiên nó là một sợi giây vô hình sợ giây đó nó cột chúng ta lại nó khiến chúng ta không đi tới.

Do vậy chúng ta trở lại với một vấn đề muôn thuở là con người chúng ta vốn có nhiều tiềm lực muốn làm nhiều việc kể cả việc tu tập nhưng sở dĩ chúng ta không làm được là tại vì chúng ta bị cột tay cột chân, cái gì cột tay cột chân làm chúng ta không đi tới được không đi xa được không làm được cái gì khác hơn là bởi vì chính sự dính mắc, dính mắc vào các dục, dính mắc vào thân, dính mắc vào sắc, dính mắc vào hưởng thụ ngủ nghỉ, dính mắc vào sự sanh thiên chẳng hạn. 

Và những sự dính mắc này khiến chúng ta bỏ rơi gánh nặng viễn ly không nỗ lực không tinh tấn nữa, một khi không nỗ lực chúng ta không đi xa hơn nữa mặc dầu tiềm lực thì có, nó là một bài học rất thấm thía quan trọng nếu chúng ta suy nghĩ về những điều này liên hệ đến đời sống tu tập của mỗi người, mong rằng có nhiều nghị lực để cắt đứt những sợi giây trói buột và luôn luôn làm được một việc mà các vị Thiền Sư thường nhắc chúng ta là tiếp tục phấn đấu, tiếp tục nỗ lực, tiếp tục lên đường, tiếp tục hành trình cho dù trời mưa hay nắng, cho dù thuận hay nghịch, cho dù vui hay buồn tiếp tục và tiếp tục. Đó là điều các vị Thiền Sư luôn luôn nhắc chúng ta ./.