Saturday, September 22, 2018

Tri Túc - TT Giác Đẳng

Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya - Chương 6 -  XI. Phẩm Ba Pháp
(VIII) (114) Tri Túc

Bài học giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 11 tháng 9, 2017.

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài kinh hôm nay cũng giống một số các bài kinh vừa qua rất ngắn gọn nhưng chứa đựng những triết lý thâm sâu của cuộc sống. Đây là những gì liên hệ đến đời sống hàng ngày tạo cho chúng ta một cái nhìn nhân sinh quan về cuộc sống, cái nhìn này ảnh hưởng toàn bộ cuộc sống của chúng ta và riêng đối với một vị Tỳ Kheo, một người tu tập điều này lại ảnh hưởng rất lớn, đời sống của chúng ta có thay đổi là dựa trên cái nhìn này. Thật ra, một lãnh vực phiền não sanh khởi rất nhiều đó là sự hưởng dục những nhu yếu của đời sống. 

Trong danh từ của xã hội ngày hôm nay người ta gọi là tiêu thụ. Mình hưởng dục như thế nào để được an lạc không thái quá thì gọi đó là một cách sống phải chăng, và nếu nói cho hoa mỹ đó là một nghệ thuật sống. Không ai trong chúng ta phủ nhận thời đại ngày hôm nay là thời đại chúng ta có rất nhiều. Chúng tôi nhớ hơn 40 năm về trước lúc TT Tuệ Siêu và chúng tôi vào chùa tu một bộ y rất là qúi, lúc bấy giờ vải mắc, thuốc nhuộm cũng mắc, có một bộ y cho đàng hoàng là cả một vấn đề chứ không dễ dàng, lúc đó chúng tôi là sadi và thường khi người lớn mặc y có dư hoặc y cũ cho thì mừng, ngày hôm nay thì có rất nhiều, y áo rất dễ dàng để tìm kiếm. 

Thực phẩm cũng vậy, có một thời gian nào đó chúng ta thường tìm kiếm gì ăn cho bổ, càng có nhiều thức ăn thì càng bổ, bây giờ thì chúng ta đi vào một giai kỳ mới mà ở trong thời gian này mình thấy rõ ràng là một chứng bịnh xảy ra ở nhiều quốc gia là bịnh béo phì, người ta đưa ra những phương pháp để giảm cân. Đó là một hiện tượng của thời đại. Nhưng cho dù những điều đó có tánh cách giai đoạn lúc thiếu thốn lúc dư giả thì có những bí quyết của cuộc sống mang lại sự an lạc cho cuộc sống và tất cả chúng ta đều có thể tìm thấy lợi lạc nếu chúng ta áp dụng.

1 - Pháp không có tri túc - asantuṭṭhitā

Trong bài kinh này Pháp thứ nhất là Đức Thế Tôn dạy cho chúng ta là Pháp không có tri túc.
Không có tri túc nghĩa là không bằng lòng cái mình có. Lấy ví dụ, ngày hôm nay chúng ta đi chơi đâu đó trước khi đi đã chuẩn bị một số thức ăn mang theo và khi chúng ta đến nơi mở ra ăn chúng ta thấy không có vui lắm tại vì nó thiếu món này thiếu món kia, đôi khi chúng ta vừa ăn vừa nói "Phải chi mình có cái này, phải chi mình có cái kia mới ngon."

Thật ra những điều đó mang tánh so đo, mặc dầu bữa ăn không tệ và chúng ta ngồi giữa đường có chừng đó thức ăn nhưng chúng ta vẫn so sánh lúc ở nhà hay lúc ăn ở nhà hàng và sự so sánh này làm cho mình cảm thấy thiếu, làm cảm thấy không được hoan hỉ, thì ngay đó chúng ta nhận ra mặt mũi của sự không tri túc.

Để đối trị lại pháp không tri túc, đơn giản đó là chúng ta tu hành tri túc. Bí quyết của tu hành tri túc là bằng lòng cái mình có. Đầu tiên chúng ta cần ý thức, ý thức rất rõ và ý thức khẳng định nếu để đòi hỏi thì không biết bao nhiêu là đủ. Ví dụ, mình đang kẹt tiền bây giờ có tiền mình giải quyết chuyện đó thì mình sẽ vui, nhưng có tiền rồi mình cũng không vui, phải chi mình dư giả một ít, có dư giả rồi thì mình cũng chưa vui, mình lại muốn giàu lên một chút rồi phải giàu nhiều mình mới vui.

Tôn Giả Ratthapala nói: "Thế giới là khiếm khuyết nô lệ cho tham ái" . Ở đây cũng một cách nói khác của không tri túc là: "bao nhiêu cũng không đủ" cái bao nhiêu cũng không đủ xảy ra nhan nhãn ở trong đời sống, một đứa con được cha mẹ nuông chiều, cha mẹ đầu tắt mặt tối để mua cho con quần áo đẹp, mua máy móc xe cộ nhưng đứa con không bao giờ thấy thoả mãn vẫn tiếp tục thấy mình thua kém bạn bè, thì đó gọi là không đủ. Mình đang đi trên một chuyến hành trình trong cuộc hành trình này cái gì mình có mang theo cũng không tệ nhưng dĩ nhiên không được khá hoàn toàn thì thay vì mình vui với cái gì có mình cứ cảm thấy trong lòng không thoải mái phải chi mình có cái này phải chi mình có cái kia. Và khi mình có ý thức được bao nhiêu thì cũng không đủ, biết đủ thì đủ mà chờ đủ thì không biết chừng nào đủ, như câu nói người xưa "Tri túc tiện túc hà thời túc". 

Chúng ta đưa tâm tư mình về với trạng thái vừa lòng thoả mãn, bằng lòng với cái gì đang có, vui với cái gì mình đang có, điều đó cho chúng ta một thứ hạnh phúc gọi là hạnh phúc trong hiện tại. 

Thật ra, nếu nghĩ cho kỹ, một người không tri túc là thường dựa trên hai thái độ một là so sánh với quá khứ, hai là mơ mộng tương lai. Ở trong quá khứ mình đã từng ăn từng mặc như vậy, mình đã ăn những thức ăn rất ngon với đầy đủ gia vị bây giờ ăn thiếu một chút mình cảm thấy không vui, mình không bằng lòng với chuyện đó. Mơ mộng về tương lai là nghĩ rằng mình đi đâu đó có cái này có cái kia thì nhất, đó là về tương lai. Quá khứ và tương lai, một cái đã qua một cái chưa tới nó không phải là thực tại, thực tại là cái gì đang có trước mặt và nếu mình bằng lòng với cái đang có, vui với cái đang có thì chúng ta thực sự là sống với hiện tại. 

Do vậy, một người sống tri túc đôi khi bị hiểu lầm là một người sống cầu an, an phận thủ thường. Khi nói an phận thủ thường thì bị chỉ trích là người không biết phấn đấu. Phấn đấu là một chuyện khác nhưng bí quyết để bằng lòng với cái mình đang có, vui với cái mình đang có, lại là một chuyện khác, hai cái đó khác xa. 

Chúng ta vẫn có thể phấn đấu nhưng nếu chúng ta khéo thì vui với cái mình đang có. Lấy ví dụ là sáng hôm nay chúng tôi đi ra lễ tháp Xá Lợi, trong lòng có hai niềm vui, niềm vui thứ nhất là tối qua bão vào Tampa, Florida. Sáng nay nói chuyện với Sư Trí Tịnh được biết mọi việc ở đó bình yên. Năm nay chúng tôi và Sư Trí Tịnh ở hai nơi giữa hai cơn bão là bão Harvey và bão Irma bão nào cũng lớn nhưng bão đi qua bình yên thì tốt rồi.  Và thứ hai chúng tôi ra tháp vào một ngày đẹp mát mẻ, nhìn lên bảo tháp thấy trong lòng hoan hỉ, thì đó cũng là một niềm an lạc. Nếu mình không ý thức được niềm an lạc đó, không sống với giờ phút an lạc đó mình cứ nghĩ làm việc này được cái kia được cái nọ nghĩ xa xôi thì chuyện mình nghĩ cũng chẳng tội vạ gì nhưng nếu suy nghĩ về tương lai nhiều quá hay mình nhớ tiếc quá khứ nhiều quá mình đánh rơi giờ phút hiện tại thì đúng là sự thiệt thòi. Món ăn có trước mặt không chịu ăn cứ ngồi nhớ hồi trước mình đã ăn những món ăn ngon hay ở trong tương lai mình sẽ tìm thức ăn ngon hơn như vậy, do mình nghĩ quá nhiều về quá khứ hay mình ảo tưởng quá nhiều về tương lai thì mình đánh mất hiện tại, hiện tại là cái gì mình có.

 Đời sống tri túc ngoài ý nghĩa bằng lòng còn ý nghĩa sống trong hiện tại, sự bằng lòng đó dựa trên ý thức rất rõ là muốn bao nhiêu cũng không đủ bao nhiêu cũng không hài lòng, và không bao giờ biết đủ. Cuộc sống con người mình có giàu bao nhiêu cũng không đủ, có danh bao nhiêu cũng không đủ, có tài bao nhiêu cũng không đủ, tại vì bản chất của nó là như vậy. Mình nên thật sự cảm kích cái gì cuộc đời cho mình. 

Chúng ta thấy một ý nghĩa khác từ sự tri túc đó là mình tri túc thì mình biết ơn, không tri túc thì mình sống vô ơn. Một người sống không tri túc cứ nghĩ người ta phải làm cho mình một ơn huệ rất lớn thì mình mới cảm kích nhưng khi mình biết tri túc người ta cho mình một bữa cơm, một ly nước, một nụ cười thân tình, một vài giây phút đầm ấm thì cũng quá đủ để mình cảm kích, và khi mình cảm kích như vậy là mình cũng sống hạnh phúc trong giờ phút đó. Nhiều khi đời sống con người không tri túc người ta có cho mình một bữa ăn ngon đi nữa, cho mình những giây phút thân tình đi nữa thì mình ngồi đó mơ tưởng xa xôi cũng không cảm thấy an lạc phút đó, mình không thể sống kết nối với thực tại sống hiện hữu trong hiện tại, 

Cái gì rất là khó hiểu ở trong Phật Pháp khi đề cập đến tri túc hay đời sống trong hiện tại, người không tri túc thì khó mà cảm kích, khó cảm kích thì khó mà biết ơn, bởi vì khi mình biết ơn người nào thì thật sự mình phải nhìn ra cái giá trị người đó họ làm gì cho mình. Chúng tôi lấy ví dụ là có những người Phật tử không phải máu mủ ruột thịt gì khi mình đến thăm nhà qúi vị đó qúi vị cho một bữa cơm với tất cả thân tình. Có những người rất là bận rộn họ bỏ thì giờ đến chùa để nấu bữa cơm cho Chư Tăng, không cần biết bữa cơm đó nhiều hay ít, ngon hay dở, món mặn hay món lạt nhưng điều quan trọng là nếu họ đã làm cho mình như vậy mà mình không đủ khả năng để cảm kích thì thật sự mình khó chìu chuộng, thật sự mình rất khó nuôi, và thật sự điều mình thiếu sự cảm kích gọi là vô ơn. 

Thì như vậy đời sống tri túc ảnh hưởng chúng ta rất nhiều phương diện chứ không đơn giản là mình vui hay không vui với hiện tại, sống trong hiện tại nó cũng là một biểu thị của hạnh tri túc. Biết cảm kích cái mình đã có, biết ơn với người cho mình cũng là tri túc. Và đặc biệt là mình nên biết một lý lẽ căn bản của Phật Pháp là tâm mình luôn luôn sống với khát ái (tanha) và nếu không khéo mình quên đi rằng mình cho nó bao nhiêu chiều nó bao nhiêu cũng không đủ. Nói một cách khác, trong cái nhìn của người tu Phật thì tâm mình giống một đứa con nít nó đòi hoài, những đứa con nít đòi mình cho mà nó không mãn nguyện, mình cho cái này nó đòi cái khác. Thành ra khi mình vào sự tu tập một ý thức rất quan trọng trong cuộc sống là tâm của mình, sự đòi hỏi của mình, mình đòi hỏi bao nhiêu cũng không đủ.

  Chúng tôi hồi đến chùa Wat Pah Nanachat thấy một tấm bản ghi dòng chữ của Ngài Ajahn Sumedho đóng trên con đường đi: "individual desires it is not a problem - những ham muốn cá nhân nó không phải là vấn đề", ý muốn nói con người mình luôn luôn tạo ra nhiều vấn đề những vấn đề đó từ sự đòi hỏi ham muốn cá nhân, một khi bắt đầu vào cuộc tu tập thì mình phải coi ham muốn là một chứng bịnh chứ không phải là vấn đề giải quyết. Một đứa con hư mình phải nhìn thẳng vào mặt nó nói "như vậy là đủ rồi" chứ không chìu chuộng nó, mình cứ chìu chuộng nó hoài thì nó không bao giờ hết tại nó là như vậy, bản chất của nó là không bao giờ mình làm cái gì cho nó thoả mãn hết, thì tâm của mình cũng vậy. 

Thậm chí Đức Phật Ngài dạy: "dù cho mưa bạc mưa vàng cũng không làm cho lòng tham được thỏa mãn". Mình ngồi đó như vua Chuyển Luân Vương hay là người có phước vỗ tay vàng rơi xuống mình cũng không hạnh phúc được nếu tâm mình đòi hỏi hoài, đời sống của mình có biết bao nhiêu thứ, lòng tử tế cuộc đời dành cho mình, đời sống mình cơm ăn áo mặc và nhiều thứ nhưng không có gì làm cho mình bằng lòng thì thật sự mình phải thấy rằng đó là vấn đề của mình, đó là việc của mình phải giải quyết, đó là nội tâm của mình chứ không phải mình chạy đi chỗ này chỗ kia tìm cái này cái khác. Điều quan trọng khi tu hành tri túc là mình thấy được không biết bao nhiêu là đủ. 

2. Không tỉnh thức.- asampajaññaṃ.

Không tỉnh thức - asampajaññaṃ được ví dụ như lúc đang lái xe mình lo nói điện thoại, hoặc text message hay uống rượu bị say, trong khi đang xử dụng xe chạy với tốc độ nhanh đòi hỏi mình phải tỉnh táo biết vận tốc trên đường cho bao nhiêu, chỗ nào cần phải giảm tốc độ, ngó chừng trước mặt sau lưng chung quanh mình có xe hay không. Ai lái xe cũng hiểu một điều là thiếu sự tỉnh táo, thiếu sự cảnh giác, thiếu sự nhận biết rõ ràng cái gì xảy ra chung quanh mình thì điều đó tạo nên nguy hiểm. Một người say rượu lái xe đến ngã tư đèn xanh đèn đỏ vì say rượu nên không chú ý đèn đỏ họ sẽ vượt qua và tạo ra tai nạn. Điều đó cũng tương tự với một người lái xe đến đèn xanh đèn đỏ lo text message cũng sẽ gây ra tai nạn. Tiểu bang Texas  đã bắt đầu áp dụng luật phạt rất nặng những người đang lái xe mà text massage. Ngày nay text massage là một cách liên hệ giao lưu với mọi người, chúng ta nhớ một điều chúng ta có thể chờ đợi được, nhưng nếu chuyện gấp quá thì hãy tấp vào ven đường mà text massage chứ đừng vừa chạy vừa text.

Ở đây cho chúng ta thấy lái xe thì đòi hỏi sự tỉnh táo, đang lái xe mà lo làm chuyện khác mình không tỉnh táo rất dễ gây nguy hiểm. Chuyện đó tương tự trong đời sống của chúng ta. Ở trong cuộc sống của chúng ta chỉ thiếu tỉnh táo một chút thôi là mình không biết nhân không biết quả, không biết người không biết ta, không biết thời nào để làm gì cho thích hợp với đám đông đó ra sao, không biết chừng mực độ lượng thì chúng ta sẽ rơi vào nhiều vấn đề, mình nói nhiều quá một cách không cần thiết, mình nói nặng lời sau này mình phải hối hận, mình làm nhiều việc là do cái mình không tỉnh táo. 

Đối với Phật Pháp, sampajaññaṃ là sự tỉnh táo thường đi với sati là chánh niệm, chánh niệm là đem sự chú ý trở về với giờ phút hiện tại tức là không nghĩ vẩn vơ, đầu óc nghĩ vẩn vơ là bịnh muôn thuở của chúng sanh trong đời này, tất cả chúng ta đều bị như vậy, chúng ta thường bị chi phối bởi việc này và việc khác nhưng chúng ta quên rằng cho dù có nhiều việc phải lo, có nhiều việc phải nghĩ, nhưng đem sự chú ý trở về với giây phút này ở đây và bây giờ luôn luôn cho chúng ta phần thưởng rất lớn là có được sự tỉnh táo. 

Một người lính gác ở lô cốt không có tỉnh táo giặc dễ vào thành, một kỹ sư đang điều khiển toa xe lửa không tỉnh táo thì nguyên con tàu xảy ra tai nạn, một người tài xế lái xe không tỉnh táo thì đại họa đang chờ. Nhưng đời sống chúng ta không tỉnh táo thì chúng ta tạo ra rất nhiều sở hành bất thiện. 

Thật ra, người ta hay nói nhiều về bí quyết của cuộc sống nhưng bí quyết lớn nhất Đức Phật dạy chúng ta là đem sự chú ý trở về lại với giây phút hiện tại và do sự chú ý gọi là chánh niệm thì chúng ta có được tỉnh giác là biết rõ, biết rõ mình đang làm gì, biết rõ mình đang nói gì, biết rõ mình đang suy nghĩ gì, đời sống của một vị xuất gia hay một vị tu tập hay bất cứ hành giả nào mà quá bận rộn lo việc này việc kia quên đi sự tỉnh giác trong đời sống hiện tại thì Đức Phật Ngài không tán thán, điều Đức Phật Ngài thật sự tán thán là một người sống có tỉnh táo có tỉnh giác, và Ngài thường dạy rằng chánh niệm tỉnh giác là một ở trong những pháp có rất nhiều tác dụng có rất nhiều lợi lạc cho chúng ta. 

Khi Đức Phật còn tại thế và cho đến mãi về sau này trong nền văn hóa của Phật Giáo điểm quan trọng vẫn là làm thế nào tâm tư của chúng ta không có vì lý do này hay vì lý do khác mà thiếu đi sự tỉnh táo, thiếu đi sự tỉnh giác đối với hiện tại, đối với thân và tâm của mình, đối với sở hành tức là thân khẩu ý và đối với những gì chúng ta đang theo đuổi đang hướng tâm, tại vì sao vậy, tại vì cả những thứ đó nếu thiếu tỉnh táo nó đều dễ dàng gây ra họa  giống như người lái xe không tỉnh táo. Ở bên Mỹ người ta khuyên mình cho dù mình gấp đi nữa nhưng đừng lái ẩu lái nhanh tại vì lái ẩu bị cảnh sát chận lại sẽ làm chuyến đi của mình chậm hơn, khi buồn ngủ thì người ta cũng khuyên mình nên ghé vào chỗ nào đó như cây xăng hay rest area chợp mắt mươi phút lấy lại sự tỉnh táo để tiếp tục lái, những lời khuyên đó là những lời khuyên rất tốt luôn luôn giúp chúng ta thấy rằng phải lấy lại sự tỉnh táo, có được sự tỉnh táo chúng ta đi tiếp.

Hồi xưa khi chúng tôi về với Ngài HT Hộ Giác, mỗi khi chúng tôi gặp khó khăn Ngài hay nhắc là bỏ thì giờ nhiều để tụng kinh, bỏ thì giờ nhiều giữ tâm cho bình tỉnh lại, gặp những khó khăn mà tâm không bình tỉnh làm đời sống bị hỗn loạn thì có vấn đề là mình chuốt lấy cái họa trước. Đó là kinh nghiệm sống cả đời, kinh nghiệm đó rất là quan trọng, ở trong bất cứ hoàn cảnh nào thuận cũng như nghịch tâm của mình phải giữ tỉnh táo thì tương đối đỡ khổ, mình đỡ tạo ra tai họa, còn mình không tỉnh táo thì mình cứ lao đầu đi theo cơn lốc và mình đi đâu về đâu mình không biết được. 

Lúc chúng tôi sang ở với Ngài Ajahn Jayasaro, chúng tôi nhớ Ngài dùng chữ drifting nghĩa là trôi dạt, cái tâm trôi dạt là tâm không có tỉnh thức là nó đi theo sự đẩy đưa của cuộc sống, cuộc sống kéo mình về bên này kéo mình về bên kia làm mình trôi dạt. Ngài nói rằng một người tu tập mà để tâm mình trôi dạt thì trước nhất đó là một sự thất bại vì không tự chủ được không có chủ kiến được và đặc biệt không có sự tỉnh thức, không có sự tỉnh táo. Không có sự tỉnh thức bởi vì mình trôi dạt thì như vậy mình đánh hỏng tất cả từ bữa ăn của đàn tín, từ nỗ lực mình vào trong trường thiền tu, thành ra mình phải thắp sáng khả năng tỉnh thức. Chúng tôi nghĩ đó là những lời dạy rất là lợi lạc ở trong đời sống.

3. Pháp thứ ba ở đây chúng ta nói về đa dục và thiểu dục - .mahicchatā.

Đa dục và thiểu dục ở đây được hiểu là coi chừng ý muốn của mình, tâm của chúng ta thường muốn nhiều, muốn cái tốt nhất và muốn được phần mình. Thí dụ, đời sống con người mình có yêu cầu rất cao, ăn phải như vậy, ở phải như vậy, sinh hoạt phải như vậy, muốn cái gì thì muốn cái tốt nhất, muốn cái gì cũng muốn nhiều nhất. Thì những cái nhất đó thật ra nó là ý niệm mang tánh cách là tương đối, vì ở trên đời này không có cái gì gọi là nhất. Nhưng bởi vì yêu cầu cao quá, đòi hỏi nhiều quá làm cho đời sống chúng ta rộn ràng, làm đời sống mình phiền những người chung quanh mình. Mình sống với người nào mà họ luôn luôn có quá nhiều đòi hỏi, quá nhiều yêu sách thì nó hơi làm nóng nảy, ở gần người đó là sự bất hạnh, bởi vì người đó tự làm khổ họ và làm khổ những người chung quanh. Vì vậy một trong những thái độ sống Đức Phật dạy là chấp nhận cái tương đối đừng đòi hỏi nhiều quá đừng biến đời sống mình thành gánh nặng cho mình và gánh nặng cho người khác. Ở trong chúng ta thì thấy rất rõ ràng, cái gì mình có mình đều phải trả giá cho nó, mình có càng nhiều thì mình càng khổ vì nếu mình trả giá không đầy đủ mình không có được điều đó. 

Cái muốn được nó lại dẫn chúng ta đến một thái cực khác, đó là luôn luôn đuổi bắt và không bao giờ ngừng kiếm, cuộc sống tốt là chúng ta làm lành làm hòa với bản thân của mình nếu mà mình sống muốn quá nhiều, đòi hỏi quá nhiều thì có nghĩa là mình đặt điều kiện khó khăn với chính mình, phải có chừng đó thì mình mới hạnh phúc, phải có nhiều như vậy mình mới vui, phải đạt đến mức độ đó thì mình mới thỏa mãn thì chúng ta chưa làm khổ người khác chúng ta đã làm khổ mình, nụ cười của chúng ta sẽ không trọn vẹn, mình đi ngủ trong sự trằn trọc và đời sống lúc nào cũng tất bật. Thiểu dục là một nghệ thuật sống chúng ta đôi khi từ bỏ nó tại vì chúng ta quen sống với những yêu cầu rất cao muốn rất nhiều, nhưng bí quyết chính của đời sống là bất toại.

Một ví dụ chúng ta dễ tìm thấy là ngày Bát Quan Trai Giới, thật ra Bát Quan Trai Giới có khác với Ngũ Giới là Bát Quan Trai Giới là tiết chế sự ham muốn của các giác quan, dù là thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, thị giác xúc giác. 
Thị giác là mình không xem múa hát, 
Thính giác là mình không nghe âm nhạc,
 Khưú giác là mình không xử dụng nước hoa dầu thơm,
 Vị giác là mình không ăn phi thời,
 Xúc giác là mình không tiếp xúc nhục dục hay là không nằm ngồi chỗ cao sang. 

Khi mình giảm bớt những thứ đó thì có một thứ hạnh phúc mà mình không bao giờ biết, đó là hạnh phúc thiểu dục. Chúng ta thường nghĩ mình hưởng càng nhiều thì mình càng hạnh phúc, nhưng thật ra khi có tu tập Bát Quan Trai hay có đời sống nhẹ nhàng rồi thì mới thấy ở trong cái nhẹ nhàng đó quả thật cho mình hạnh phúc, mình thử dành cho bản thân của mình có những giờ phút sống trong một căn phòng trống trải có những giờ phút sống trong không gian yên tĩnh, sống cho mình những giờ phút đi bộ chầm chậm ở trên con đường trong công viên hay trong rừng, những lúc đó mình thật sự rất đơn giản chỉ chú vào bước đi không ồn ào không nặng về sắc thinh khí vị xúc, mà trong cái đơn giản, ở trong cái tịch mịch, ở trong cái an tịnh đó, tâm của mình không bị chi phối nhiều, không bị phiền não nhiều, không bị áp lực bởi đòi hỏi nhiều thì lúc đó mình mới thấy an lạc, đây là hạnh phúc của sự thiểu dục.

Điều này là một bí quyết sống hầu hết ngay cả tôn giáo người ta thường dạy chúng ta phải muốn nhiều nhưng riêng trong Phật Pháp Đức Phật Ngài dạy rất rõ là muốn nhiều chỉ làm khổ bản thân, và đời sống thiểu dục đời sống đơn giản đời sống an tịnh lại cho mình hưởng hương vị dễ có dễ tìm. Ở trong truyền thống phạm hạnh ngày xưa thời Đức Phật còn tại thế cũng như thời khi Ngài còn là Bồ Tát nhiều đời nhiều kiếp một hạnh mình thường thấy đó là hạnh Nekkhamma là xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình, sống đời sống nhẹ nhàng, sống đời sống tri túc thiểu dục, bởi vì đời sống thiểu dục đó khiến cho con người mình dễ nuôi. Tương tự như qúi Phật tử nào đó có một người cháu ở xa đến nhà qúi vị muốn nuôi cho đi học nhưng đứa cháu này nhiều nhu cầu quá nuôi không nổi, nhưng nếu nó  đơn giản không đòi hỏi mình sẽ cảm thấy thoải mái. Con người mình sống mà làm gánh nặng cho người khác thì điều đó không thoải mái lắm, cái thoải mái nhất của con người mình là trong cái giản dị mình làm được, trong cái đơn giản mình sống cho vui và mình có thì giờ để không làm gánh nặng cho  người khác.

Thì như vậy ba pháp này ba pháp mà Đức Phật dạy chúng ta là:

-  không có tri túc, không có tỉnh giác, đa dục đem lại cho chúng ta nhiều phiền phức cho mình và cho những người chung quanh mình.

-  Nhưng ngược lại đời sống chi túc đời sống tỉnh giác và đời sống thiểu dục cho chúng ta một sự an lạc và cho chúng ta nắm được thực tại đưa tâm tư trở về giờ phút này thay vì tưởng tiếc quá khứ và mơ mộng quá nhiều về tương lai./.

Thursday, August 30, 2018

Lợi ích của tu thiền tâm từ - TT Giác Đẳng

Thảo luận: Lợi ích của tu thiền tâm từ

Câu thảo luận trong ngày 1-8-2018. Kinh Tăng Chi Bộ - Mười Một Pháp - Phẩm Tùy Niệm - Bài (V) (16) 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Đôi khi qúi vị nghe Chư Tăng nhất là Chư Tăng Nam Tông giảng tu tập thiền tâm Từ Bi Hỉ Xả là 4 pháp dẫn đến đắc thiền nhưng không dẫn đến đắc chứng đạo quả giải thoát. Tuy vậy chúng tôi cũng xin thưa một điểm rằng trả lời điều đó là tính cách rất chuyên môn và trực tiếp nhưng trên phương diện tu tập thì tu tâm từ vẫn là một pháp quan trọng dẫn đến giác ngộ giải thoát. 

Trên cơ sở tu tập của một vị Bồ Tát dẫn đến giác ngộ giải thoát dựa trên tâm từ tâm bi là tinh thần ban vui cứu khổ, dựa trên sự cảm nhận đau khổ và hạnh phúc của chúng sanh thì vị này huân tu ba la mật và cuối cùng dẫn đến giác ngộ giải thoát. 

Trong 37 pháp Trợ Bồ Đề không nói đến tâm từ, nhưng trong hành trình tu tập thì tâm từ tâm bi đều bắt buộc cần có. 

Lợi lạc đầu tiên của tâm từ là chúng ta vượt thoát những tư duy về sân, những tư duy về hại, sân và hại nằm trong tà tư duy. Ở trong chánh tư duy, thường một người có được chánh tư duy là do tu tập tâm từ và tâm bi. 

Nói một cách khác, trong cuộc sống hàng ngày nếu chúng ta luôn hơn thua, có những thù hận dù sự thù hận đó mạnh trong quan niệm về chủng tộc, hoặc giả những đụng chạm cá nhân trong đời sống hàng ngày ảnh hưởng chúng ta nhiều, nhưng khi đi sâu vào thế giới tu tập hành giả ngồi xuống tu tập thiền mà còn có một tư duy nghĩ đến bực bội khó chịu thù hận chúng sanh nào thì quả là khó tu tập. Thì ở đó tâm từ tâm bi đặc biệt rất đáng quan tâm.

Chúng tôi có được dịp tiếp xúc với một số các Thiền Sư, chúng tôi thấy có một quy luật mà tất cả các vị Thiền Sư mặc dù các vị dạy riêng về Thiền Tứ Niệm Xứ, đó là những người tu tập nên thường tu tập tâm từ để mình nhẹ nhàng. Mình phải nhận một điều là quan hệ xã hội phức tạp ảnh hưởng chúng ta rất nhiều, chúng ta phải có khả năng vận dụng tâm xả tức là mình phải quên đi và mình có thể tha thứ được bởi vì phải nhìn nhận một điều rằng ngoài tâm xả để tha thứ thì mình không có làm gì khác được nhất là tập trung vào sự tu tập. 

Thật ra thì có một lý do chúng ta nên tu tập tâm từ, ở đây, trong 11 lợi ích của việc tu tâm từ đó là sự an lạc thanh thản của nội tâm. Người có quan niệm thù ghét họ không bao giờ có được cái nhìn khách quan tại vì sự thù ghét của họ làm họ bực bội. Đồng thời do không có quan niệm thù ghét bực bội tâm mình được an lành mát mẻ. Ngay cả khi mình ngồi vào nghe pháp như chúng ta đang nghe pháp ở đây nếu ai có tâm đang thù ghét cũng không thể lãnh hội được pháp đừng nói chi đến việc mình ngồi thiền. 

 Chúng tôi có dịp được tiếp xúc với các Ngài Thiền Sư Ngài Mahasi, Ngài Mahathera, Ngài U Silananda, nói chung là các vị đều nhắc nhở chúng ta nên tu tập tâm từ hàng ngày bên cạnh tu tập niệm về hơi thở như các pháp quán khác. Trong khi tu tập thiền thì chỉ cần một chút bực bội khó chịu hay oán thù hay ám ảnh thì mình không thể có an lạc được.

Có ba điều một người tu tập cần lưu ý:

1. Thứ nhất là người tu tập đối với mọi người nên có tâm từ thì dù hoàn cảnh nào tâm cũng an lạc.
2. Thứ hai, người tu tập chú ý niệm hơi thở để nâng cao niệm và định
3. Thứ ba là quán khổ, vô ngã, vô thường, 

Ba nền tảng đó rất quan trọng. Khi mình ngồi xuống tu thiền nếu có những lấn cấn với những người chung quanh thì mình hãy mong cho mọi người được an lạc, và mình áp chặc vào hơi thở của mình để tăng cường khả năng niệm và định, đồng thời mình quán tưởng sanh diệt và quán tưởng vô thường, quán tưởng sự trống rỗng của các pháp khổ, vô thường và vô ngã.

Trong kinh Girimānanda Đức Phật dạy một vị tu tập quán tưởng từ bỏ để giải thoát thì tâm từ bỏ đó ra khỏi dục tư duy, sân tư duy, và hại tư duy. Và từ bỏ sân tư duy và hại tư duy thì tâm nằm trong tâm từ.

Muốn hiểu trạng thái lòng từ thì chúng ta nên hiểu trạng thái của sự thân thiện, sự thân thiện là mình đối xử tốt với mọi người nhưng không để mình dính mắc như sự dính mắc ái dục giữa nam và nữ, được như vậy rất là qúi rất an lạc

Chúng tôi lấy một ví dụ, có một người mà mình rất có thiện cảm rất qúi người đó, do mình qúi người đó mình muốn người đó có chỗ ngồi tốt, có một ly nước, có một cảm giác rất dễ chịu khi có mặt ở trong nhà chúng ta, thì tâm thân thiện tương đương với tâm từ, nó chỉ khác một điều là mình làm thế nào đó không đi xa hơn. Trạng thái tâm tử tế thân thiện thường là chúng ta đặc biệt dành cho người mình có thiện cảm, chỉ dành cho người đó thôi những người không thiện cảm thì mình không có thân thiện không có tâm trạng đối xử như vậy, nhưng khả năng hiển lộ tâm từ ra bên ngoài là sự quan tâm của chúng ta đối với những người khác vừa phải thôi, vừa phải nghĩa là mình không phải là làm nô lệ cho người khác. Cái khổ của chúng ta trong cuộc sống mình thương ai thì mình rất thương, mà ghét bỏ ai thì rất ghét thậm tệ, nhưng ở đây tâm từ là một trạng thái mong cho mọi người được an lạc không có nghĩa là mình thương nhưng ít nhất tâm của chúng ta là tâm thân thiện, mình không để cho bị chi phối bởi cái chúng ta gọi là hận thù. Thì sự thân thiện trạng thái gần nhất của tâm từ là chúng ta thân thiện với người mình có cảm tình, thân thiện với người mình không có cảm tình, thân thiện với bậc cao nhân, với các chúng hữu hình và vô hình.

 Chúng tôi nhớ mấy năm về trước, có lần chúng tôi đang ngồi với HT Hộ Giác thì có một người cách đó chừng 5 sáu tháng họ ra một cuốn nói về Ngài Hộ Giác rất nặng, nhưng về sau này không biết vì lý do gì đó người này bị sa cơ và đã đến gặp Ngài thì khi vị đó đến chùa điều đầu tiên chúng tôi thấy là Ngài pha trà ngon mời vị đó uống và Ngài ngồi lắng nghe rồi Ngài có vài lời khuyên thì vị đó rất cảm kích, khi người đó đi rồi, chúng tôi thưa: 

- "Con thấy Ngài làm một điều mà nếu là một người họ có những oan trái với mình mà mình nói chuyện thì đã đủ tử tế lắm còn ở đây Ngài có thể ngồi lắng nghe và pha tách trà rất ngon mời uống" 

 Ngài cười, Ngài nói với chúng tôi:

- "Đôi khi mình tử tế bằng tâm từ với người khác không vì người đó mà vì để tâm mình được an lạc"

Chúng tôi nghĩ bài học đó là bài học rất lớn, mình tử tế với những người hận thù, mình tử tế với những người ghét bỏ mình như vậy việc đầu tiên là để tâm mình được an lạc hơn là mình ngồi đó nghe tới nghe lui những chuyện phiền não để rồi mình oan trái với họ để tâm mình bị phiền não.

Thì ở đây chúng ta đọc lại trong 11 lợi ích của lòng từ được tu tập sung mãn, những lợi ích đó đều là chất lượng của an lạc của giải thoát trong đời sống. Và nếu chúng ta chịu nghe lời Đức Phật dạy nó đến từ trong thái độ sống hàng ngày và chúng ta ghi nhận một điều rằng mình trốn tất cả mọi người để vào rừng sâu sống một mình và ngay cả mình vào rừng sâu sống một mình thì mình cũng tiếp xúc với chúng sanh này chúng sanh khác. Thậm trí là ở trong đời sống hàng ngày của chúng ta dù chúng ta liên đới với chúng sanh khác và trong sự liên đới đó nó chỉ có một điều làm chúng ta an lạc là do tâm từ. Tâm từ là một sự thân thiện, mình nuôi dưỡng tâm từ thì tâm được an lạc rất nhiều./.

Thursday, August 23, 2018

Phải chăng tu tập tâm từ sung mãn có thể dẫn đến chứng đắc giải thoát?

Thảo luận. Phải chăng tu tập tâm từ sung mãn có thể dẫn đến cả ba trạng thái: an lạc trong đời sống hằng ngày, chứng đắc thiền (sau khi chết sanh về cõi phạm thiên), chứng đắc giải thoát (Niết bàn)? 

Câu thảo luận trong ngày 1-8-2018. Kinh Tăng Chi Bộ - Mười Một Pháp - Phẩm Tùy Niệm - Bài (V) (16) 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu: Trong Vi Diệu Pháp đề cập tu tập Tứ Vô Lượng Tâm và trong Visuddhimagga - Thanh Tịnh Đạo cũng có đề cập đến tu tập tâm từ là đề mục thiền dẫn đến chứng đắc thiền thôi chứ không chứng đắc quả giải thoát Niết-bàn được.

 Ở đây, khi chúng tôi nói tu tập tâm từ đạt đến tâm giải thoát rồi đạt đến thiền chứ không phải đạt đến tuệ giải thoát. Còn trường hợp bài kinh hôm nay từ tâm giải thoát được tu tập đạt được mười một lợi ích (anisaṁsā - lợi lạc), thì lợi ích thứ 11 ở trong bài kinh này Đức Phật Ngài nói rằng:

 -"nếu chưa thể nhập thượng pháp (A-la-hán quả); được sanh lên Phạm thiên giới " 

Nói như vậy làm chúng ta hiểu nhầm là tu tâm từ đắc được quả Alahán còn nếu chưa đắc Alahán thì đắc cõi Phạm Thiên. 

Thật ra, câu này phải hiểu: nếu vị tu tâm từ ngay trong hiện tại vị đó kiếp chót để đắc Alahán thì ngay lúc đầu vị đó có tu tập tâm từ đắc chứng thiền định, hễ đắc Alahán thì ngay sau khi đắc Alahán vị đó không còn sự tái sanh về cõi Phạm Thiên.

Ngay trong kiếp chót đắc Alahán kể như là không có sanh về cõi Phạm Thiên dầu cho vị đó có chứng được thiền bằng đề mục từ tâm đi nữa thì khi đắc Alahán rồi thì mãnh lực của thiền tâm từ mà sanh về cõi Phạm Thiên thì chỗ đó chấm dứt sự tái sanh. Cho nên, nói rằng nếu chưa thể nhập Alahán quả thì người tu tâm từ và đắc chứng thiền sanh lên Phạm Thiên giới thì cái chỗ này là Đức Phật Ngài muốn giới hạn rằng vị Alahán vị đó cũng có tâm từ và tâm từ đến cái mức tuyệt đỉnh thì như đối với vị Alahán thì không có cái anisaṁsā - lợi lạc, không có kết quả sanh về cõi Phạm Thiên bởi vì vị đó đã sau đời sống này không còn đời sống khác. Cho nên, ở trong trường hợp này chúng ta chưa thấy chỗ nào mà nói tu tâm từ mà đắc chứng giải thoát Niết-bàn.

Trong 30 đề mục tu thiền trong đó có tứ vô lượng tâm là từ bi hỉ xả là tu chứng thiền và đạt đến trạng thái tâm giải thoát, đạt đến quả chứng là tâm giải thoát, là ám chỉ cho thiền đáo đại thiền sắc giới, chớ không thể là thiền vô sắc đừng nói chi là đạo quả không thể đắc thiền vô sắc nữa.

 Cho nên ở đây xin được trả lời rằng trạng thái tu tập từ tâm sung mãn dẫn đến: một là an lạc trong đời sống hàng ngày, hai là chứng đắc thiền sau khi chết sanh vào cõi Phạm Thiên.

Điều thứ hai là trừ phi vị đó đã chứng quả Niết-bàn thì vị đó đắc Alahán không sanh về cõi Phạm Thiên. Còn nếu phàm phu hay bậc hữu học với tâm từ đắc chứng thiền thì chết sanh về cõi Phạm Thiên liền. Còn ngay trong đời sống hàng ngày tâm được an lạc. chỉ có hai trạng thái đó thôi chớ không phải ba.

Một lần nữa chúng tôi nói rằng điều lợi ích thứ 11 ở trong bài kinh này nói ngoại trừ vị ấy là vị Alahán thì mới không sanh về cõi Phạm Thiên còn những hạng khác ngoài vị Alahán ra thì tu tập tâm từ chứng đắc thiền có thể sanh vào cõi Phạm Thiên./. 

Wednesday, August 1, 2018

Hữu - Bhava Sutta - TT Giác Đẳng

Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya

Chương 6 - X. Phẩm Lợi Ích

 (X) (105) Hữu - Bhava Sutta


Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 4-9-2017.

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài kinh nằm trong chương 6 chi pháp gồm 2 đề tài, mỗi đề tài gồm 3 chi pháp cộng lại thành 6 chi pháp. Do sự phân loại của các Ngài Axàlê đặt bài kinh này trong chương 6 pháp thay vì 3 pháp vì một vài lý do đặc biệt về sự liên hệ của 2 đề tài này.

Chúng ta bắt đầu với mục thuật ngữ Phật học, thuật ngữ này được nói nhiều, được tìm thấy nhiều trong Phật học lại là một trong những thuật ngữ khó hiểu và có rất nhiều cách dịch trong Anh ngữ đó là chữ "hữu" hay là "bhàva". Ở một ý nghĩa nào đó chúng ta gọi là "hiện hữu" "sự có mặt" hay "sự tồn tại". 

Định nghĩa "sự hiện hữu" của cuộc sống chúng ta nói đến một giòng hiện hữu rất sinh động được tạo và tái tạo. Ở trong tiến trình được tạo và tái tạo đó chúng ta nói đến 2 thứ là "nghiệp hữu" và "sanh hữu".

 "Nghiệp hữu" là sự tạo tác của chúng ta trong đời sống ví dụ như tạo ra nghiệp thiện hay nghiệp bất thiện. 

Khi đề cập đến sự hiện hữu, chúng ta nói đến cả 2 phương diện là:

- "nghiệp hữu" tức là mình tạo tác 

- "sanh hữu" là sự có mặt đủ loại cảnh giới chúng ta sống.

Điều này cho thấy rõ ràng đó là một sự đắp đổi giữa hai thứ được tạo và tái tạo. Trên phương diện nào đó điều này giống như chữ hữu cơ  trong sinh vật học. 

Khi nói đến hữu cơ chúng ta muốn nói đến một hiện tượng của vật chất có khả năng hấp thụ dưỡng tố và tái tạo, tự nó tái tạo để tồn tại. Ví dụ như những loài cây cỏ hấp thụ nước, ánh sáng mặt trời, rồi  tạo ra sự sống, sự sống tạo ra hoa trái hột, rồi hoa trái hột đó lại có khả năng tiếp tục tái tạo và tồn tại hiện hữu. Như vậy, chữ hữu được kề cập được xem như là một hình ảnh rất sinh động về sự sống của chúng ta.

Nhưng đằng sau đó còn có một thứ khác đạo Phật gọi là "ái", ái duyên cho thủ, thủ duyên cho hữu. Ái là bản năng sinh tồn là một sự khao khát. Bản năng sinh tồn và sự khao khát này tạo thêm một thứ chúng ta gọi là lẽ sống, một lực đẩy đi tới cho đời sống chúng ta. 

Và chính lực đẩy này đã tạo nên con người, tạo nên một thế giới sống của mình. 

 Ví dụ, những người sanh ra ở miền quê và những người sanh ra ở thành thị. 

- Với những người sanh ở miền quê nhà cửa ở nơi rộng thoáng có hương đồng cỏ nội chung quanh, nhưng bù lại cuộc sống tay lấm chân bùn, đời sống tương đối không nhiều tiện nghi như người ở thị thành. 

- Người sống ở thị thành nhà cửa chật hẹp, vách cửa liền với mặt lộ, đi đâu cũng đông đúc, hầu như cuộc sống của họ phải tiếp xúc quá nhiều tiếp xúc thường xuyên, mở mắt ra đường là đã tiếp xúc. Nhưng ngược lại đời sống thị thành là một đời sống với một trật tự cao một tổ chức cao, bệnh thì có xe cứu thương, nhà bị hỏa hoạn thì có sở cứu hỏa, thực phẩm thì có siêu thị.

Chúng ta nhắm mắt lại một chút sẽ thấy hai cảnh giới giữa đời sống nông thôn và đời sống thị thành quả thật là hai cảnh giới. Nhưng một khi đã quen thì mình cảm thấy thế giới đó thuộc về mình và khi mình thuộc về thế giới đó, thế giới đó thuộc về mình thì mình có những khát vọng, có những ưa thích, có những thoải mái. Sống ở miền quê với ruộng vườn hương đồng cỏ nội nhìn thấy rau mọc sau hè nhìn thấy lúa xanh mơn mỡn, nhìn thấy có thể cảm nhận được mùi rạ mùi lúa non mùi đất những thứ đó không thuộc về thế giới của thị thành. Thị thành đối với người miền quê là nơi ô nhiễm có nhiều khói, có nhiều chen lấn và sống với biết bao người xa lạ nhưng một khi đã quen với cuộc sống thị thành mình về miền quê cảm thấy thôn quê với những tiếng côn trùng kêu buổi chiều khi trời sụp tối, với tiếng ve kêu buổi trưa với hình ảnh đồng ruộng mênh mông mình buồn. Những người ở thành thị chỉ muốn trở về với thành thị, những người ở thôn quê muốn trở về thôn quê, lâu lâu mới có những người cuộc sống của họ thích hợp cả 2 thôn quê và thành thị.

 Điều chúng ta muốn nói ở đây, cái gì mình cảm thấy thoải mái dễ chịu trong cuộc sống kể cả chúng ta là ai, chúng ta làm gì, môi trường sinh thái của chúng ta ra sao, tất cả những điều đó thoải mái hay không thoải mái đều dựa trên thói quen. Người sinh ra ở thị thành về sống ở thôn quê cảm thấy buồn chán, người sanh ra ở nông thôn lên thị thành cảm thấy chật hẹp gò bó, vấn đề là ở thói quen.

Đời sống của chúng ta ở trong một ý nghĩa sơ đẳng nhất, bản năng nhất là đời sống giữa căn và cảnh, đặc biệt 5 cảnh ngoại là sắc, thinh, khí, vị, xúc, cái gì mình thấy, cái gì mình nghe, cái gì mình gửi, cái gì mình nếm, cái gì mình cảm xúc. 

Những điều này mới nghe thì rất bình thường nhưng đó là cuộc sống của chúng ta. Tại sao chúng ta muốn xây dựng nhà cửa sơn màu này làm kiểu kia? tại vì con mắt chúng ta thấy vừa ý. Tại sao chúng ta thích âm nhạc, tại sao chúng ta muốn nghe những lời nói ngọt ngào? tại vì muốn tìm cái gì vừa tai. Tại sao chúng ta không chịu được mùi hôi thúi và thích những mùi thơm thích những mùi thân quen vì chúng ta lệ thuộc vào mùi để cho mũi. Tại sao mình không ăn được thức ăn xứ người mà chỉ thích ăn thức ăn xứ mình?  tại vì lưỡi chúng ta cần nếm những vị vừa miệng. Tại sao chúng ta cần đến những chỗ nằm chỗ ngồi chăn ấm nệm êm? tại vì sự xúc chạm của thân thể.

Mới nghe sắc, thinh, khí, vị, xúc mình thấy chuyện đó đôi khi không có gì quan trọng với mình, cái mình thấy, cái mình nghe, cái mình ngửi, cái mình nếm, cái mình đụng, một khi những thứ đó thiếu, hoặc giả không nghe được âm thanh quen thuộc, hoặc giả tai của chúng ta bị hư hay không thấy cái mình thích, hoặc giả con mắt chúng ta bị mù thì lúc đó mới lớn chuyện.

Chúng tôi đã từng sống qua những ngày tháng của giông bão. Đời sống hàng ngày có những thói quen cố định mình xem nó rất bình thường, cần ánh sáng chỉ cần bậc công tắc điện để bậc đèn lên, muốn uống nước lạnh mở tủ lạnh có ngay, muốn rửa mặt thì mở vòi nước ra. Một khi nhà hay thành phố bị cúp điện không một ngày mà nhiều ngày đời sống chúng ta bị đảo lộn, laptop không dùng được, tủ lạnh không lạnh, máy lạnh không có, đèn không có. Thật ra thì, đã từng sống qua ngày tháng với những ngọn đèn dầu gọi là đèn trứng vịt, ngọn đèn leo lét buổi tối, đã từng sống qua những ngày tháng không có internet không có laptop, không có điện thoại nhưng bây giờ mình quen những thứ đó rồi mà không có điện làm cho mình cảm thấy đời sống của mình xáo trộn, đời sống của mình rất là khó, đời sống của mình không dễ dàng chút nào và chỉ mong cho điện có trở lại, nước cũng vậy. Điều đó cho chúng ta thấy có những gì rất quen thuộc đôi khi mình nghĩ nó bình thường, thậm chí nó quá tầm  thường chứ không phải bình thường nữa nhưng khi không có nó thì lớn chuyện. 

Mỗi ngày mở mắt ra thấy không biết bao nhiêu thứ đôi khi có những cái mình không muốn nhìn, buồn ngủ thì nhắm mắt lại ngủ, nhưng vì lý do gì đó mình bị nhặm mắt phải băng mắt lại không thấy đường được thì nó trở ngại khủng khiếp. Đời sống chúng ta vốn lệ thuộc vào 5 cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc, cái gì mình thấy, cái gì mình nghe, cái gì mình ngửi, cái gì mình nếm, cái gì mình đụng, đó là hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, và xúc, những điều đó đã trở thành một cái gì nó chi phối lớn đời sống của mình, đạo Phật gọi đó là thế giới của dục, hay là dục giới.

Tại sao thế giới của dục giới? Tại vì thế giới đó sắc, thinh, khí, vị, xúc là điều kiện để trưởng dưỡng và tăng trưởng ham muốn của chúng ta. Không thấy thì thôi mà thấy thì phải cái gì cho đẹp, ở trên tường phải màu sắc đó và người mình sống chung phải hình ảnh đó mới là đẹp, ở ngoài vườn phải làm như vậy mới là đẹp, nhà cửa phải cất như vậy mới là đẹp, đi chơi chỗ đó mới là đẹp, thì con mắt thật sự chi phối mình. Âm thanh cũng vậy, chỉ nghe một người nói chói tai mình nghe không chịu, phải nói lời nói dịu dàng, nghe một bản nhạc cũng thời bản nhạc đó ca sĩ này hát mình không thích nghe mà ca sĩ khác mình thích nghe. Mùi cũng vậy, có những mùi mình chịu được nhưng có những mùi mình không chịu được. Điều đó rõ ràng, chúng ta khó phủ nhận đời sống của chúng ta bị chi phối bởi sắc, thinh, khí, vị, xúc. Trong cuộc sống chúng ta luôn luôn có những thứ  mình ưa chuộng và do có những thứ mình ưa chuộng thành ra có những thứ mình  ghét bỏ. 

Vấn đề của dục giới là sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc phải có nguồn cung ứng và tâm của chúng ta thật sự có hoà điệu với những điều đó. Lấy ví dụ mình thường ăn ngon nhưng có món ăn ngon ăn buổi sáng thì được buổi chiều thấy nó bình thường và buổi tối hay ngày hôm sau ăn nữa thì mình sợ. Chúng tôi nhớ hồi nhỏ  nhiều khi Thân Mẫu chúng tôi nấu một nồi chè lớn ăn buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều thấy sợ rồi. Tại vì sao? Tại vì đó là tự nhiên của sắc, thinh, khí, vị, xúc, cái ngon, cái hay, cái đẹp cứ lập đi lập lại hoài thì đâm ra ta buồn chán. Thành ra trong thế giới của sắc, thinh, khí, vị, xúc lại kèm theo hiện tượng xáo trộn đời sống của chúng ta đó là tham hay quá dính mắc, hay quá bực bội, hay hôn trầm thụy miên rồi trạo hối và nghi hoặc. 

Trạo hối là tâm tán loạn lao chao hối quá. 

Nghi hoặc tức là sự lưỡng lự phân vân.

Những trạng thái này hệ quả tất yếu của 5 ngoại cảnh khi chúng ta tiếp xúc. Giống người  sống ở thành phố là một nơi văn minh, ra đường có đèn xanh đèn đỏ, những nhu cầu của đời sống như xe cứu thương, xe cứu hỏa, siêu thị thì có sẵn đó, nhưng ngược lại thành phố cũng có những hệ lụy, mình sẽ gặp rất nhiều người lạ thường chen lấn, ô nhiễm, và có nhiều luật lệ áp đặt nếu mình không quen cảm thấy rất không thoải mái, hệ quả tất nhiên của thành phố, đời sống của phố thị luôn luôn có hệ quả của nó. Đời sống ở miền quê cũng vậy không có nơi nào hoàn hảo hết, ở miền quê thì có những hệ quả của miền quê, thí dụ như ai không quen với bùn sình, trên một mảnh đất mênh mông không tráng xi măng, không trải đường nhựa mỗi khi cơn mưa đổ xuống thì từ con đường này tới con đường kia sình lầy mình cảm thấy dơ, tiếng côn trùng vào buổi tối làm chúng ta não lòng. Mỗi nơi đều có cái được và cái không được và khi chúng ta đã dính mắc vào nơi đó thì mình cảm thấy nơi đó đẹp tuyệt vời mình quên đi những nhọc nhằn, những hệ lụy phiền toái. Điều đó cho chúng ta biết đời sống của chúng ta luôn luôn gắng chặt và dính mắc vào cảnh giới nào đó.

Ba cảnh giới Đức Phật dạy ở đây là dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu. 

Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu nghĩa rộng hơn dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Dục giới, sắc giới và vô sắc giới  chỉ nói cảnh giới thôi nhưng dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu thì nó cộng lại cả hai cảnh giới, sự tái tạo ra cảnh giới và sự khao khát, khả năng đam mê để tái tạo. Chữ hũu ở đây là chữ rất rộng, nhưng chữ hữu ở đây chúng ta nói đến sự tha thiết, đến sự khao khát, nói đến sức sống đến sự ham muốn mãnh liệt. 

Tương tự như một người đã sống ở nông thôn khi đã có sự gắng bó yêu ruộng vườn yêu đất trời mênh mông yêu hương đồng cỏ nội, điều đó khiến cho không thể sống cuộc sống khác hơn được, sống phải có vườn phải có ruộng rẩy, phải có cá ở dưới nước, phải có chim ở trên trời, những thứ đó đặt để trở thành một điều kiện sống không thể thiếu, thiếu cái đó mình cảm thấy lạc lõng. 

Thì như vậy, khi chúng ta nói đến dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu  chúng ta nói đến nhiều giai tầng nhiều cảnh giới, trong mỗi cảnh giới đó hàm chứa đầy đủ bản năng sinh tồn, sự khao khát hiện hữu và những sở hành để dẫn đến hiện hữu đó, cái đó rất mạnh. Một người sống ở trong dục hữu với nhu cầu thì người đó luôn luôn tạo tác, luôn luôn tìm kiếm để thoả mãn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, để thoả mãn cái gì thuộc về 5 cảnh. Nhưng một khi họ nhàm chán dục hữu họ lại tìm đến sắc hữu, sắc hữu là cái gì rất tế nhị, chúng ta so sánh giữa hai thứ, chúng tôi tạm thí dụ như có một số người sống trong xã hội này họ chỉ thích ăn nhậu, thích bạn bè nhậu nhẹt và ngày này qua ngày khác, không có nhậu nhẹt họ không vui. Nhưng có người tâm trí họ tế nhị hơn họ chán ghét chuyện bạn bè nhậu nhẹt, họ muốn tìm cảnh giới như cõi thơ, thế giới của âm nhạc, thế giới của văn chương của nghệ thuật thì cảnh giới đó tế nhị hơn và người sống ở thế giới này và thế giới bạn bè nhậu nhẹt rất khó nói chuyện với nhau.

 Lấy ví dụ, có người khao khát nghệ thuật họ có thể ăn bánh mì uống nước máy (fontaine) và đời sống rất giản dị nhưng chỉ sáng tác được một vần thơ hay họ cảm thấy sung sướng trong lòng. Điều đó rất khó diễn tả để cho người chuyên về nhậu nhẹt cảm nhận được. Và, người nhậu nhẹt rượu chè mỗi ngày cũng khó để cho một thi nhân có thể cảm nhận được đời sống của họ. Hai người sống hai cảnh giới khác nhau, nhưng cảnh giới của một thi nhân tế nhị hơn cảnh giới của một người nhậu nhẹt, chúng tôi tạm thí dụ vậy. 

Hay đời sống của một thi nhân một người vui với gió buồn với mây và một người sống lúc nào cũng thả hồn theo thế này thế kia mà so với một vị tu sĩ một người tu thiền định sống trong đời sống an tịnh thì hai cảnh giới đó hoàn toàn khác nhau, hai cảnh giới, chúng ta nói đều về tinh thần nhưng một bên có sự đam mê với vần với điệu với thơ với ý thơ và một bên sống đem tâm hồn mình hòa với ý nghĩa của đạo lý,  nó là những phương trời biển mộng, nó là những cảnh giới hoàn toàn khác nhau, người sống ở cảnh giới này rất khó để nói về cảnh giới khác. Chúng tôi tạm gọi một người sống trong cảnh dục là người sống nặng về vật chất, người sống trong sắc và vô sắc là về tinh thần, nhưng ở trong cái sắc về tinh thần nhưng là tinh thần của đam mê, đam mê có hạn chế. Nhưng ở trong vô sắc hữu nó là về tinh thần nhưng nó đi tìm cái gì đó không có hạn cuộc không có hạn định như là chúng ta nói về không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu, phi tưởng phi phi tưởng. 

Trong bài học hôm nay thật ra rất khó đào sâu hết nhưng mình tạm tưởng tượng như vậy, thì cho dù vật chất hay tinh thần, cho dù đời sống tinh thần tế nhị hay thô thiển thì nó đều cho thấy chúng ta từng khao khát, đã quen đã sống trong đó thì luôn luôn có sự khao khát và do sự khao khát đó nó có chất của tanha (khát ái) thì có nhiệt não có khổ. Ví dụ như một người nghiện rượu không có rượu họ cảm thấy buồn, một thi nhân không tìm nguồn cảm hứng để làm thơ thì họ buồn, ngay cả một vị tu sĩ mà nghiền tư duy nghiền suy nghĩ nghiền trầm tư mà không trầm tư được cảm thấy phiền. Ở trong mỗi chúng ta sức sống đó gọi là tanha mà nặng hơn nữa gọi là "Taṇhā Paccayā Upādānaṃ là ái duyên cho thủ", cái sự khao khát phải có dù thô hay tế, dù  vật chất hay tinh thần, dù  bồng bột hay tế nhị thì nó cũng là sự khao khát, nó tạo nên sự sống, nó tạo nên sự hiện hữu, nó tạo nên sự có mặt của chúng ta trong đời này. 

Khi có sự khao khát có nghĩa chúng ta phải là thế này phải là thế kia, có sự khao khát, nó có điều kiện, ví dụ như mình là người muốn ăn thức ăn Việt Nam, thử đi đến nơi nào không có thức ăn VN, thì cái thèm thức ăn VN nó làm cho chúng ta khổ, tại vì sao, tại vì chúng ta muốn ăn thức ăn VN thì chúng ta phải có thức ăn VN nếu không có thì chúng ta không hạnh phúc. Chúng ta muốn những người chung quanh phải yêu thương mình, mà những người chung quanh không yêu thương mình thì cảm thấy phiền, cảm thấy trống rỗng, cảm thấy cần, thì cái đó là mình sống có điều kiện, sống phải có và cái khao khát đó nó trở thành lực lớn của đời sống một lẽ sống và nó bắt buột cứ đi tới, đi tới và đi tới, đó là chúng ta nói về hữu.

Sau khi chúng ta nói đại lượt về "hữu", đối với Đức Phật không phải chỉ có suy nghĩ và hiểu biết như vậy là xong, tại vì suy nghĩ và hiểu biết chỉ dẫn chúng ta đến một mức độ nào đó thôi, bây giờ chúng ta nói cảnh dục giới, sắc, thinh, khí, vị, xúc, vi tế hay thô nó là cuộc sống không phải một đời mà nhiều đời của chúng ta. Nhiều người sau khi tụ tập bạn bè nhậu nhẹt nhiều quá về đánh đập vợ con, khi tỉnh họ nói quả thật uống rượu là tệ hại nhưng mà rồi vẫn ghiền vẫn đi uống rượu. Có nhiều người đánh bài đến tán gia bại sản nhưng có đồng tiền nào cũng đem đốt vào sòng bài mặc dầu họ biết chuyện đó là không tốt nhưng họ vẫn lao vào, đó là vì thói quen. Đạo Phật gọi là "thường thân y duyên" nó đã quen nếp sống như vậy rồi.

 Để thay đổi thói quen thay đổi cái nếp mà nó vốn đã có sẵn, thay đổi nó không đơn thuần là tư duy là đúng, không đơn thuần suy nghĩ, không đơn thuần thấy biết là đủ, Đức Phật Ngài gọi là để có thể chuyển hóa cuộc sống mình cần có cả bốn thứ: 

1. một là sự hiểu biết là hiểu biết về khổ, 

2. hai là sự đoạn diệt, sự đoạn diệt nhân sanh khổ,

3. ba là sự chứng ngộ, chứng ngộ ở đây là sự diệt khổ, 

4. bốn là phải tu tập, sự tu tập ở đây là con đường đưa đến sự diệt khổ. Và con đường đưa đến sự diệt khổ đó nó không có đơn thuần chỉ là sự hiểu biết như là sự hiểu biết về sự khổ, mà con đường đó bao gồm trong hai từ vựng, hai từ vựng đó là hai từ vựng rất là đẹp đôi khi chúng ta ít nhắc đến:

Đó là sikkhitasikkho có nghĩa là học và huấn luyện. 

Học ở đây có thể là học từ kinh điển, học từ lời dạy của người khác. 

Và huấn luyện ở đây là sự rèn luyện

Ở trong danh từ sikkhitasikkho có nghĩa:

- Sikkhita  là học hỏi.

- Sikkho là huấn luyện.

 Sikkhitasikkho tạm gọi là tu học, tức là mình được thụ huấn và mình được huấn luyện, thụ huấn ở đây là được học hỏi,  huấn luyện ở đây  là mình có thực hành và trao dồi. 

Sikkhitasikkho là từ rất đẹp trong Phật học, chúng ta tạm gọi là tu học.

Trong quá trình tu học này thì Đức Phật Ngài nêu ra ba công đoạn:

1- Công đoạn đầu tiên Ngài dùng chữ adhisīlasikkhāya là tăng thượng giới học. 

Chữ adhi là tăng thượng. 

Chữ sīla là giới.

Trong tiếng Việt bây giờ họ dịch chữ adhi là cao cấp. Trong tiếng Hán  dịch là tăng thượng như thế giới của bậc cao, để chỉ cho khả năng để tạo ra bước kế tiếp.

Adhisīla là tăng thượng giới.

Nói về giới, ở bên ngoài chúng ta nói chánh nghiệp, chánh ngữ và chánh mạng. 

Chánh nghiệp là những hành động không tạo ác nghiệp, hành động chơn chánh.

Chánh ngữ là lời nói và hành động chân chánh.

Chánh mạng là sinh kế nuôi mạng chân chánh.

 Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là lời nói, hành động, và sinh kế chân chánh chúng ta gọi là giới học. 

2. Công đoạn thứ hai, Ngài dùng chữ adhicittasikkhāya là tăng thượng định học, hay tăng thượng tâm. 

Adhicittasikkhāya là tăng thượng tâm học. Ở đây giống như chúng ta dùng chữ "tu tâm dưỡng tánh" và chuyện giữ giới là để mình tránh những ác nghiệp nhưng mà tâm ở đây là mình phải có khả năng trong 3 thứ:

1. Chánh tinh tấn tức là trong tâm lực của mình, nghị lực của mình, mình phải có sức mạnh về nội tại để đặt tâm mình nỗ lực đúng chỗ.

2-  Chánh niệm, là sự tỉnh táo, khả năng tỉnh táo tỉnh thức, 

3- Chánh định là sự tập trung. 

Ba lực đó của nội tại nếu có được ba lực đó thì chúng ta gọi là tăng thượng tâm.

3. Công đoạn thứ 3, Đức Phật dùng chữ adhipaññāsikkhāya = Tăng Thượng Tuệ. 

Thì tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ là 3 công đoạn của sự tu học, chúng ta nói một cách chi tiết hơn trong Bát Chánh Đạo:

Tăng thượng giới thì có chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, 

Tăng thượng tâm có chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh định

 Tăng thượng tuệ thì có chánh kiến chánh tư duy.

Những pháp này không phải là chỉ được nghe chỉ được học, chữ sikkhita có nghĩa là sự tôi luyện, sự dồi mài hay là sự huấn luyện, có nghĩa chúng ta nói học và hành hay là tu học, tu học cả 3 điều này.
Sự tu học này bao gồm khả năng thanh tịnh đời sống bằng cách không tạo ác nghiệp, khả năng tạo ra một nội tâm đủ tốt đủ mạnh với chánh tinh tấn, chánh niệm chánh định và thành tựu được trí giác ở trong trí giác đó là tuệ gồm có chánh kiến, chánh tư duy. 

Những pháp này không đơn thuần là sự hiểu biết, ví dụ như bây giờ mình học về máy móc mình không thể nào cầm cuốn sách nghiên cứu suông. Muốn giỏi về máy móc xe hơi mình không thể cầm đọc mấy cuốn sách mà biết về xe hơi, mình phải có thực hành phải tự tay  sửa xe hơi và không phải một chiếc xe mà phải nhiều chiếc xe mới kinh nghiệm và do kinh nghiệm đó hoàn toàn khác hơn học lý thuyết. Với thiền định cũng vậy. 

Thì ba điều này ở trong kinh gọi là tam học nhưng chữ học ở trong tam học bao gồm cả học và được huấn luyện, như một người lính không thể nào chỉ học về lý thuyết mà ra trận được, ở trong quân trường và phải có thực hành thao tác thì họ mới có thể ra đánh trận được chứ không phải đơn thuần học về lý thuyết ôm súng ra trận là đánh giặc được, như vậy 3 pháp này mới đủ khả năng để chuyển hóa đời sống.

Trong bài học này đề cập 2 phần, phần đầu đề cập đến tam hữu và phần sau đề cập đến tam học. 

Tam hữu ở đây là 3 sức sống, 3 sự khao khát, 3 sự tái tạo và 3 cảnh giới, chúng ta nói dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu. 

Dục hữu nặng về vật chất về sắc, thinh, khí, vị, xúc, cái mình thấy, mình nghe, mình ngửi, mình nếm, xúc chạm. 

Sắc hữu, vô sắc hữu, một cái có tánh cách chuyên chú có hạn cuộc, và một cái về tinh thần nhưng thuộc về vô lượng không có giới hạn. Dù vật chất hay tinh thần, dù dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu Đức Phật dạy chúng ta đều có sự khao khát, do có dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu nó bị tác động bởi thủ bởi ái, ái là sự khao khát, thủ là sự bám víu và hữu nó chỉ là một kết quả tất nhiên của thủ.

 Chúng tôi lưu ý qúi Phật tử, trong thế giới Phật học những điều này dễ làm chúng ta lầm lẫn: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu không giống như dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu nó rộng lắm.

Chúng ta còn có một thứ khác chỉ một pháp xa hơn đó là, dục ái, hữu ái, phi hữu ái lại khác nữa, khi mình học Phật thì cẩn thận những từ vựng đó tại vì ý nghĩa này trồng lấn qua ý nghĩa kia nhưng thật ra nó rất khác nhau. 

Ở đây chúng ta tạm nói như vậy, chúng ta hiện hữu và chúng ta dính mắc vào thế giới của sự hiện hữu đó, để vượt thoát ra khỏi những hiện hữu đó chúng ta phải làm cái gì khác hơn. Giống như mình quen với đời sống nông thôn bây giờ vì lý do dời nhà đi qua nước khác hay phải lên thành phố để sống chúng ta cảm thấy mất mát, thấy mình chới với, cảm thấy mình không có thoải mái. Cái không thoải mái đó tại vì mình đến với cái gì không có thân quen, mình sống ở một nơi mình cảm thấy nó thiếu một cái gì đã từng có. Nhưng kỳ thật, tất cả chỉ là môi trường sống, người ta sống được thì mình sống được, lý do mình cảm thấy khó khăn tại vì chưa quen một khi đã quen rồi thì mình cảm thấy tự tại nhưng mà ở đây không phải tự tại mà mình quen rồi mình sẽ có sự dính mắc. Và sự dính mắc đó là điều kiện để tạo nên sự tái tạo. Và dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu nó là một chi tiết đạo Phật gọi là samsara là luân hồi sanh tử. Mình có dục hữu mình tạo nên những nghiệp của dục giới và tái sanh vào cõi dục giới. 

Tức là, nếu có dục hữu thì có nghiệp hữu và sanh hữu ở trong cõi dục. Nếu mình có sắc hữu thì nó tạo ra nghiệp hữu và sanh hữu ở trong cõi sắc. Nếu mình có vô sắc hữu thì nó có nghiệp hữu và sanh hữu ở trong cõi vô sắc.

Tất cả nằm trong trầm luân trong sự luân hồi. Và sự luân hồi là sự lặp đi lặp lại, sự luân hồi là sự quanh quẩn, và ý tưởng vượt thoát điều đó, tương tự như là chúng ta hồi trẻ nhỏ chúng ta lệ thuộc mấy món đồ chơi trẻ em, khi lớn lên trưởng thành thì không tha thiết đồ chơi trẻ em nữa và bắt đầu nghĩ đến chuyện gia đình sự nghiệp, có thể lớn thêm chút xíu nữa thì nghĩ đến chuyện sống cho quê hương, cho dân tộc, cho văn hóa. Và tất cả điều đó nó đều là những tha thiết, nó đều có những đam mê nhưng ở mức cảnh giới nào tâm chúng ta không được thanh thản tâm của chúng ta đòi hỏi là phải nằm trong thứ nhất của điều kiện thì đó tạo ra nhiệt não. Thật ra thì một vị phải từ bỏ cả 3  dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu thì vị đó mới thành tựu được cứu cánh giải thoát là Niết-bàn. 

Đây là đề tài rất lớn không đơn giản, lấy ví dụ như thành thị với nông thôn, hay chúng tôi tạm lấy ví dụ như thời còn chơi đồ chơi trẻ em làm thí dụ, nhưng những thí dụ đó chưa đủ để chúng ta nói hết, bởi vì có nhiều khi một người bình thường như chúng ta cảm thấy mình chứng sơ thiền là thấy đủ lắm rồi, hoặc là mình tu tập chứng sơ thiền là mình đã lên tới mây xanh rồi, nhưng giống như những người ở Việt Nam hay ở nơi nào đó mong muốn qua Mỹ, chỉ đặt chân đến Mỹ là vui rồi, nhưng mà không, khi đến Mỹ không có vui như mình nghĩ, có rất nhiều người ở Mỹ họ không có vui được. Như vầy là, chúng ta tạm gọi những cảnh giới của cuộc sống là những phương trời viễn mộng (phương trời viễn mộng là chữ của Ngài Tuệ Sĩ dùng trong bài Tô Đông Pha) chúng ta sống muốn dõi mắt về phương trời xa xăm, đôi khi chúng ta có mơ ước, chúng ta nghĩ nơi đó sẽ đẹp hơn, ở nơi đó sẽ bình yên hơn, ở nơi đó có cái gì hấp dẫn, nhưng  kỳ thực cái nhìn phải là cái nhìn quán triệt.

Chúng ta cần đọc cho kỹ câu cuối của bài học:

"Một Tỳ Kheo đã từ bỏ ba hữu, hoàn tất tam học

 - ba hữu là dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu

- hoàn tất tam học là đã tu học đầy đủ giới tăng thượng, tâm tăng thượng và tuệ tăng thượng.

 Thì vị đó là vị cắt đứt ái. 

- ái là sự dính mắc 

Cắt đứt được ái là tháo gỡ dây kiết sử (dây cột trói) những gì cột trói tháo gỡ hết

Câu này mạch văn ở trong tiếng Phạn rất hay:

sammā mānābhisamayā
antam akāsi dukkhassā" ti.

Nghĩa là do triệt để đoạn tận quá mạn, vị ấy chấm dứt khổ đau. 

Đoạn tận quá mạn ở đây là phải đoạn tận triệt để, đoạn tận hoàn toàn. 

Chữ triệt để ở đây dịch từ chữ sammā là hoàn toàn là triệt để

Và chữ quá mạn (mānābhisamayā) ở đây chúng ta nên hiểu trong cuộc sống này chúng ta luôn luôn sống với ngã chấp, ở trong ngã chấp này tại sao mình muốn có địa vị như vậy, tại sao mình muốn có học vị như vậy, tại sao mình muốn có cái nhà như vậy, tại sao mình muốn như vậy, thật ra nói một cách khác là nó nằm ở trong sự quá mạn. Có chiếc xe đẹp hơn người khác mình sẽ hãnh diện hơn, mình có bộ đồ đó mình sẽ hãnh diện hơn người khác, mình có địa vị đó mình thấy mình cao hơn người khác.

 Mạn ở đây chỉ cho một tâm thái một trạng thái tâm luôn luôn sống có sự so đo có sự tìm một sự tương phản, cái này hay hơn, tôi giỏi hơn, tôi đẹp hơn và do mình cảm thấy mình hơn mình mới hạnh phúc chứ nếu mình cũng tầm thường giữa những tầm thường, bình thường giữa những cái bình thường thì mình không hạnh phúc. 

Nhưng Đức Phật Ngài dạy do đoạn tận quá mạn vị ấy đoạn tận khổ đau. Đó là một mệnh đề mà chúng ta thấy hầu hết sự đau khổ của chúng ta là do mạn. 

Nói một cách khác mạn ở đây là ngã chấp, đau khổ của chúng ta là do ngã chấp, mình phải thế này, mình phải thế kia, mình là thế này mình là thế kia, mình có cái này, mình có cái kia, nói như lời Đức Phật dạy Tôn Giả Lahula là đây là ta, đây là của ta, đây là tự ngã của ta, thì ba cái đó nó làm cho mình hãnh diện, ba cái đó nó làm cho mình sung sướng nhưng mà cái đó nó mang lại cho mình sự khổ, khi nào mình tận diệt được nó thì mình mới có thể diệt tận nỗi khổ đau. 

Chúng ta thấy rằng ba cái là dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu nó đều liên hệ đến mạn, tôi là ai, tôi có những gì, tôi như thế nào, đây là ta, đây là của ta, đây là tự ngã của ta, nó gây không biết bao nhiêu chuyện phiền và mình muốn đoạn tận điều đó không có dễ, muốn đoạn tận cái mạn, muốn đoạn tận khổ đau, muốn đoạn tận mạn mà nói phụ thêm là cắt được ái, tháo gỡ được kiết sử thì mình phải từ bỏ ba hữu tu tập tam học, đó là một tiến trình dài của sự tu tập, đó là một cái nhìn toàn diện của Phật Pháp đối với thế giới này.

Bài kinh rất ngắn nhưng trong đó hàm tàng cả một hành trình tu tập của tất cả chúng ta những người Phật tử, đó là vượt thoát tam giới, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn./.