Monday, October 22, 2018

Sáu pháp tưởng cần tu tập - TT Giác Đẳng

Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya - Chương 6 -XII. Phẩm Các Kinh Không Nhiếp - (123) Tham (3) (124) Tham 

Sáu pháp tưởng cần tu tập

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 18 tháng 9, 2017

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Trong Tam Tạng kinh điển đưa ra nhiều danh sách về các phiền não. Trong Vi Diệu Pháp có 14 tâm sở hay 14 thuộc tánh bất thiện. Và khi đề cập đến những phiền não ở trong danh sách khác ngay cả trong Vi Diệu Pháp cũng đưa ra nhiều danh mục khác nhau. Trong Kinh Tạng những danh mục này rất phong phú.

Bài học hôm nay, Đức Phật đề cập đến tham, sân, si, phẫn nộ, hiềm hận, giả dối, não hại, tật đố, xan lận, lừa đảo, man trá, phản trắc, ngoan cố, bồng bột, nông nỗi, mạn, thượng mạn, kiêu, phóng dật. 

Bây giờ, chúng ta cứ hình dung trong thế giới màu sắc người ta có những màu căn bản và những màu pha lẫn, lấy ví dụ như khi chúng ta học về computer có 3 màu căn bản đó là màu đỏ, màu xanh lá cây, và màu xanh nước biển. Ba màu đó là 3 màu chính, nếu màu đỏ đi với màu xanh lá cây thì tạo ra màu vàng, màu đỏ đi với màu nước biển thì tạo ra màu tím, màu xanh nước biển và màu xanh lá cây nhập lại tạo ra màu da trời. Từ 3 màu này chúng ta gộp chung với nhau tạo thành màu trắng, và người ta sẽ tạo ra 16 triệu màu khác nhau do sự pha màu.

Chúng ta thấy từ 3 màu tạo ra 16 triệu màu khác nhau. Thì ở đây, mình hiểu  đó là hiện tượng vật lý về quang học. Nhưng trên phương diện tâm lý cũng tương tự như vậy. Chúng tôi tạm mượn đó làm thí dụ là có những phiền não chính. Rất là thích thú khi chúng ta học vào Vi Diệu Pháp một tâm như tâm tham, tâm sân, tâm si mà chúng ta thường nói thì tâm đó có nhiều thuộc tánh bất thiện hay nhiều tâm sở bất thiện đi chung với nhau. Căn bản thì tất cả tâm bất thiện đều có những tâm sở bất thiện biến hành ở trong nhóm si phần. 

Cuộc sống là một sự hỗn hợp nó kết cấu bởi nhiều thành tố khác nhau và đây là A kia là B, A+B thành C. Tương tự như vậy chúng ta gọi là thiên biến vạn hóa. Phiền não có rất nhiều thứ phiền não như Đức Phật dạy ở trong kinh Tạng căn bản có tham sân si đọc ở đây thì có danh sách là tật đố, man trá, não hại v.v.... Điều này chúng ta cũng phải để ý là liệt kê của những phiền não nó có nhiều sự khác biệt, một tâm man trá nó là một sự hỗn hợp pha lẫn bởi nhiều thứ.

Về từ vựng "sanna" giải thích như sau: 
 - Sanna dịch là nhận biết
- Nhận là nhận ra một cái gì đó mình từng biết từng trải.
- Thức là biết

Từ vựng "nhận thức" đúng nghĩa theo tiếng Anh là "conception". Và cũng đúng với khái niệm ở trong Vi Diệu Pháp và khái niệm ở trong kinh Tạng tức là "biết cái đã từng biết".

Sáu pháp tưởng này khi áp dụng vào pháp hành một hành giả phải y cứ nhận thức của mình trên một cái gì đó mình đã từng trải nghiệm. 

Nói cho rõ ràng,  một vị Tỳ Kheo hay một vị Sadi đi tụng kinh cầu siêu nhìn thấy quan tài hay thấy xác chết khi trở về phòng ngồi thiền thì nhớ lại hình ảnh đó mình có thể quán tưởng thân mình rồi cũng sẽ giống như vậy. 

Dĩ nhiên, khi chúng ta nói mình nhớ lại không có nghĩa là nhớ lại cái gì rất là lâu có thể là năm trước, có thể là tháng trước, giờ trước, hoặc giả chỉ mới mảy may nào đó thời gian vừa qua.

Nhưng ở đây, pháp tưởng (sanna) là cái gì mình nhận định từ kinh nghiệm đã trải qua ở trong cuộc sống, và khi tiếp xúc với việc đó thì ngay trong giờ phút tiếp xúc là mình chỉ mới tiếp xúc thôi thì khi nó vừa đi qua chúng ta có thể nhìn lại. Giả xử tâm của chúng ta hồi nãy đang vui nhưng sau vì có chuyện gì đó tâm lại bực bội buồn phiền, rồi bây giờ nó trở nên tự nhiên. Thì hành giả có thể nhìn thấy ở đó tâm mình sáng nay có thay đổi vui buồn đó là vô thường. 

Cảm thọ cũng vậy và tất cả mọi thứ đều vô thường dựa trên cái mình đã từng trải qua ở trong giây lát hay ở trong một ngày.

 Thật sự mà nói, khi đề cập đến dĩ vãng người ta đề cập đến một quá khứ đã qua rất lâu như vài ba năm trước hay một cái gì đó kết thúc và bây giờ nó là một bóng mờ ở trong tâm tưởng của mình, cái đó gọi là dĩ vãng, và chữ quá khứ người ta quan niệm như vậy. 

Nhưng với Phật Pháp quá khứ là cái gì đã xảy ra, có những quá khứ đã hoàn thành, có những quá khứ còn tiếp diễn, tức là vừa mới xảy ra bây giờ vẫn còn. 

Nói chung, với Phật Pháp thì chữ tưởng bao hàm cả quá khứ hoàn thành và quá khứ tiếp diễn, nhưng quá khứ đó đủ để chúng ta nhận định, đủ để chúng ta thấy 

Đặc biệt trong trường hợp những gì mới xảy ra, như hồi nãy chúng tôi đề cập đến một người ở trong sự tu tập chánh niệm đủ bén nhạy thì có thể nhận ra được là hồi sáng thức dậy tâm mình an lạc rồi mình nghe một cú phone về chuyện gì đó làm tâm mình buồn phiền, rồi sau đó mình tâm mình ổn định lại, thì nếu nhìn lại trạng thái tâm của chúng ta trong thời gian ngắn chúng ta thấy đúng là vui đó, buồn đó, an lạc đó, phiền não đó, sanh đó, diệt đó, mình thấy nó biến đổi, như mây trên trời như cá dưới nước, và vạn hữu  là một dòng chảy mà dòng chảy đó là sự tiếp nối của sanh diệt, và chúng ta thấy tự tánh như vậy bản chất như vậy.

1 - Đầu tiên Đức Phật dạy tu tập pháp niệm tưởng vô thường. 

Pháp tưởng đây là sự nhận thức, chúng ta nhận thức về sự biến dịch hay nhận thức về sự thay đổi. Ở trong sự nhận thức về sự thay đổi chúng ta không đánh giá không phê bình mà chúng ta chỉ ghi nhận. Ghi nhận ở đây là sự ghi nhận phải sắc bén, cái ghi nhận của chánh niệm, cái ghi nhận của cái gì rất là tỉnh táo. Nhiều lúc chúng ta nghĩ cái đó nó đến, nó ở lại và nó nằm yên tại đó, không như vậy, thật ra thì có rất nhiều thứ đến trong đời sống chúng ta nhưng nó không nằm yên ở đó, một bình hoa mình cắm rất đẹp để trên bàn thờ hay trên bàn làm việc chúng ta nhìn thấy bình hoa đó nằm yên, thật ra nó không nằm yên, từ lúc cắt cành hoa để vào trong bình thì tự nó đã có quyết định là hoa đó chỉ tồn tại ở trong một thời gian nhất định hai ngày ba ngày, tại vì nó bị cắt rời cây của nó và bị ngâm trong nước thì nó phải có tuổi thọ nhất định.

Một buổi sáng thức dậy mình rất phấn khởi ở thân ở tâm hay một trạng thái rất khỏe mạnh ở thân. Thì dù là thân dù là tâm chúng ta cũng nên hiểu nó có giới hạn về thời gian của nó, chúng ta không thể khỏe hoài mà có lúc mệt, tâm của chúng ta không an lạc hoài mà nó sẽ thay đổi.  Cái khả năng để thấy vạn pháp vốn biến dịch, vốn không đứng yên không nằm yên một chỗ thì nó có thể hiểu bằng một cách nhỏ nhất và nhỏ nhất ở trong những trạng thái thay đổi chóng mặt, thay đổi liên hồi của tâm tư chúng ta cho đến thế giới này. 

 Nếu chúng ta có dịp đọc các bài viết liên quan đến thiên văn học chúng ta sẽ thấy cả vũ trụ này không có một vật thể nào nằm yên, từ các hành tinh cho đến định tinh, như mặt trời hay cả một dãy thiên hà như Milky Way, một dãy ngân hà chẳng hạn. Tất cả cái đó mình nhìn lên bầu trời hồi nhỏ cũng dãy ngân hà đó bây giờ mình nhìn cũng dãy ngân hà đó mình nghĩ nó nằm yên, không phải, nó luôn luôn có sự biến dịch liên hồi, ở trong sự biến dịch đó có những thứ này xoay quanh thứ khác, có những thiên thể quyến lại nhau trở thành một quần thể. Nhưng mà rồi dù nó lẻ loi cô độc đi một chiều như những sao chổi hay đi theo đường qũy đạo của một hành tinh đi nữa thì rồi nó cũng luân lưu cũng vận hành cũng thay đổi liên tục, thay đổi vị trí, thay đổi từ bản chất tuổi thọ của nó, mặt trời rồi cũng sẽ bị hủy diệt, trái đất cũng bị hủy diệt, thiên hà cũng diệt, ngay cả những black hole cũng bị diệt. Đó là chúng ta nói đến cái gì rất rộng, rất cao, rất xa ngày nay ở trong thế giới này được biết.

Đặc điểm của sự vô thường là chúng ta không cần phải suy nghĩ phải đánh giá mà chúng ta chỉ cần dùng chánh niệm. Chánh niệm tức là khả năng tỉnh táo ghi nhận như hơi thở vô hơi thở ra, ghi nhận những cảm giác khổ, lạc, ưu, bi, hỉ, xả, ghi nhận những thay đổi ở chung quanh. 

Ban đầu chúng ta chỉ thấy được những thay đổi lớn, ví dụ như một người thân mất đi, hay một vật nào đó chúng ta sài đang tốt như cái tủ lạnh đang tốt bây giờ bị hỏng, rồi dần dà chúng ta có thể ghi nhận được cái tương đối bình thường hơn như một bình hoa trưng rất đẹp vài ba ngày hoa tàn, thời tiết chung quanh chúng ta sáng nắng chiều mưa, tâm tư chúng ta như vậy, nhưng mà rồi chúng ta cũng thấy được dần dà sự vô thường đó lại càng gần càng rõ hơn như hơi thở ra vào, như cảm giác vui buồn, như những sanh diệt chợt đến chợt đi.

 Ngày xưa người ta dùng câu "bóng câu qua cửa sổ", bóng câu là con ngựa chạy ngang qua cửa sổ, tại vì khung cửa sổ là một không gian hẹp cho chúng ta một cái nhìn ở một mảng giới hạn và bóng ngựa đi qua cửa sổ chúng ta thấy nhanh hơn mặc dầu nó cũng vậy, hơn là chúng ta nhìn ở bên ngoài không xuyên qua cửa sổ, cái gì hiện ra nơi cửa sổ rồi nó biến mất khỏi cửa sổ rất là nhanh không giống như chúng ta nhìn chiếc máy bay bay trên bầu trời hay chúng ta nhìn một con ngựa chạy bên ngoài. 

Ví dụ "bóng câu qua cửa sổ" là hình ảnh rõ ràng để hiểu một khi dựa trên cái nhìn của chúng ta trên một khung hình, một lãnh vực nào đó như thân, thọ, tâm, pháp, chúng ta sẽ nhận ra được những thay đổi rất nhanh, hơn chúng ta tưởng.

Chúng ta bình thường rất chung thành bảo vệ cảm giác của mình, ai làm gì cho mình vui mình cảm thấy thương thấy qúi người đó, ai làm gì mình buồn mình giận người đó. Đối với tất cả chúng ta cái quan trọng là cái vui cái buồn, nhưng một khi hành giả tu tập chánh niệm lâu hành giả mới thấy cảm thọ vui buồn của chúng ta không ổn định. Người hành giả có thể buổi sáng rất thích am thất của mình để tu thiền vì có cây cao trời mát mẻ nên thơ, nhưng buổi trưa cảm thấy nóng nực, cảm thấy buồn chán, buồi chiều khi tiếng côn trùng kêu cảm thấy rất não nùng cảm thấy không thích thú gì với am thất thiền thất của mình, nhưng thiền thất chỉ là thiền thất thôi, buổi sáng buổi trưa buồi chiều cho mình cảm giác khác nhau. Đó là ở bên ngoài, còn ở trong tâm chúng ta cảm giác lại rất là vô chừng.

Và ở đây, trong bước đầu tiên của một người tu tập chúng ta không nhất thiết phải đặt quá nặng sự phê phán mà chỉ là ghi nhận, ghi nhận sanh và diệt, ghi nhận đến và đi, ghi nhận sự hiện hữu và sự biến mất của hiện hữu, rất dễ dàng để chúng ta nhận thấy sự thay đổi.

Như chúng tôi làm việc ở trong paltalk lâu lâu chúng tôi gặp lại một số qúi Phật tử những người đã từng làm việc, ngày hôm qua chúng tôi đến chùa Từ Quang trong chương trình 3 ngày trại hè của Giáo Hội, năm nay Giáo Hội đặc biệt tổ chức sinh hoạt trại hè ở 3 nơi, ngày đầu học về lịch sử và những công việc quan trọng tại chùa Huyền Quang, ngày thứ hai sinh hoạt dạ ngoại ở Lake Tahoe học kinh Pháp Cú, và ngày cuối cùng của trại hè tại chùa Huyền Quang. Tại chùa Huyền Quang chúng tôi gặp một vài Phật tử trong đó có cô Dạ Lan, cô là một Phật tử chúng tôi có sinh hoạt vào năm 2000 lúc đó phong trào paltalk đang phát triển nhiều người biết đến, cô Dạ Lan là người mời chúng tôi vào rơom Thảo Luận Phật Pháp Online buổi tối để giảng pháp, thì khi nói chuyện với cô nhìn lại thoáng đã 17 năm rồi, từ năm 2000 cho đến năm nay là 2017. Thời gian đi qua rất nhanh, nhanh đến mức độ đôi khi mình cũng không nghĩ thời gian nhanh như vậy,17 năm là dài lắm, qua bao nhiêu là thay đổi, đời sống là một dòng chảy liên tục, dòng chảy đó là một sự tiếp nối sanh và diệt. 

Chúng ta nhìn dòng sông tưởng nó là dòng sông muôn thuở, dòng sông là vậy, nó mãi mãi là vậy nhưng ở trong lưu lộ của dòng nước thì nó luôn luôn thay đổi biến dịch, nước trong đó đã đi qua biết bao nhiêu là ghềnh thác, từ non cao chảy ra biển cả và nó đã đi qua không biết bao nhiêu và nó cộng lẫn không biết bao nhiêu thứ và tạo nên một dòng sông. Chúng ta thì rất hững hờ nhìn dòng sông chỉ là dòng sông, mình thấy dòng sông nó luôn luôn là như vậy cuộc sống nó phải là như vậy. 

Thì khả năng để dám mở mắt ra, dám nhìn, dám nhận nó đã thay đổi, nó là vô thường, và nhất là ở trong tâm tư của chúng ta nhận thức sự vô thường dựa lên trên kinh nghiệm mình đã từng trải, và kinh nghiệm đó chúng tôi nhắc lại là không phải là của 10 năm trước, 15 năm trước, 1 năm trước, của tháng trước mà ngay có thể là một vài tích tắc, một vài giờ trước, từ sáng cho đến bây giờ, hay từ trưa cho đến chiều chúng ta đã cảm nhận được sự vô thường.

2 - Pháp thứ hai: tưởng về khổ trong vô thường

Pháp kế tiếp về tưởng, Đức Phật Ngài dạy chúng ta tưởng về khổ ở trong vô thường.

Khổ trong vô thường là một liên hệ khác giữa chúng ta và đại tự nhiên. Ở trong thế giới của đại tự nhiên mọi việc đều biến dịch đều thay đổi nhưng sự thay đổi đó làm chúng ta khổ, tại vì sự an lạc của chúng ta nằm ở chỗ ổn định, an lạc của chúng ta là sự đặt để. 

Chúng tôi lấy một ví dụ, thử nghĩ hôm nào mình mời một người lạ về sống trong căn nhà của chúng ta, khi họ về sống chung căn nhà thì vốn cái bàn đặt chỗ này, bình hoa để chỗ nọ, và mình cảm thấy an lạc như vậy, mình đi đâu về bước vào căn phòng cảm thấy vui tại vì nó sắp theo ý mình nhưng bây giờ có một người đến làm xáo trộn những thứ đó lúc đó chúng ta mới thấy sự thay đổi đó làm cho chúng ta phiền. Tất cả những pháp như phiền não, bỏn xẻn, ganh tị đều là sự đe dọa của thay đổi, cái của mình mà người ta lấy đi, hay cái của mình không còn giá trị lớn tại vì người ta có cái giá trị lớn hơn của mình, rồi kiêu mạn, rồi man trá tất cả những điều đó đều là những phản ứng, cái phản ứng trong vô hình chung mà chúng ta không có biết là nó đến từ cảm giác chúng ta muốn mọi thứ nó nằm yên như vậy.

Chúng ta có khổ không? Chúng ta bỏ quá nhiều sức lực, bỏ quá nhiều nỗ lực để đạt được điều gì đó và khi đạt đến điều đó chúng ta chỉ muốn nó nằm yên tại đó nhưng nó không nằm yên. Tương tự như một người rất thích mua một cái điện thoại cầm tay mới tối tân, bỏ bao nhiêu tiền bạc để mua nhưng ngay khi mua về vài bữa sau người ta ra cái mới khác cái của mình không còn mới nữa, nó không còn tối tân nữa, bây giờ lâu lâu chúng ta cầm lại phone cũ nó là bài học rất tốt, ở trong giờ phút nào đó chúng ta rất nhiệt thành rất tha thiết mong mỏi để mua cái phone đó tại vì lúc đó nó làm rất tối tân hiện đại nó có nhiều điểm đặc trưng mà chúng ta nghĩ không phone nào có được v.v... Bây giờ cầm lại thì nó lỗi thời, ngay cả sài nó cũng khó khăn, người ta nhìn thấy nó cũng cũ kỹ lỗi thời và nó không có giá trị gì với chúng ta hết. 

Thì ở đó, vô thường khổ, tại sao khổ, khổ ở đây không phải là vò đầu bức tóc mới là khổ, mà khổ ở đây là sự thất vọng, sự chán nản, sự lãnh đạm bởi vì nó không còn là nó nữa, chúng ta thất vọng vì nó. 

Một lần, có một diễn giả đến chùa nói chuyện về một tác phẩm văn học và vị này bỏ ra 5 phút để nói một lời ở trong một bài hát của Trầm Tử Thiêng, ở trong đó có câu "Duờng như trong em ta có điều tuyệt vọng", vị diễn giả này đã nói câu đó rất thú vị, vì không phải ở trong tình yêu, không phải là ở trong cuộc sống bình thường mà hầu như ở trong tất cả mọi thứ gì mình muốn đạt đến thì mình mong cái cốt lõi của nó, mình mong nó có sự hoàn hảo của nó, mình mong nó có một cực điểm, nó phải tốt hơn hết, nhưng kỳ thật khi mình đạt đến chỗ đó thì mình thấy giống như trong kinh Phật dạy như một cây chuối hay một củ hành cứ lột hết lớp vỏ này sang lớp vỏ khác, hết lớp này sang lớp khác cuối cùng thì cái gọi là củ hành chỉ là từng lớp từng lớp một và mình lột hết thì nó trống rỗng, chữ trống rỗng cũng là ý nghĩa chữ dukkha là ý nghĩ của sự khổ, và cây chuối cũng vậy chúng ta lột hết lớp này sang lớp khác. 

Đời sống cũng vậy nó là sự đắp đổi liên hồi, đời sống nó là một hỗn hợp là một sự pha lẫn của nhiều thứ kết thành ở trong đó có vui, có buồn, có thăng, có trầm, có cái rõ ràng, có cái mơ hồ, nó trộn lẫn với tất cả mọi thứ chúng ta thì mong tìm một cái gì đó tối hậu, đi tìm cái gì đó gọi là tuyệt đối, cái gì tuyệt vời, cái gì tốt nhất, cái gì đẹp nhất, cái gì hoàn hảo nhất.

 Không có cái hoàn hảo ở trong cuộc sống, thân của chúng ta, nhận thức của chúng ta vốn đã chập chờn rồi thì cuộc sống lấy gì ổn định. Thành ra cái nhìn của một hành giả tu tập thì cái gọi là rỗng không, cái gọi là bất toàn, không hoàn hảo, cái gọi là không ổn định, nó đến từ trạng thái vô thường và trong cảnh trạng huống vô thường này rất dễ dàng để chúng ta nhận thấy bởi vì cuộc sống luôn luôn biến dịch, bởi vì cuộc sống luôn thay đổi, mình đòi hỏi mọi thứ là hoàn hảo, mọi giá trị đứng yên, là tuyệt đối, là vĩnh viễn, đó là do sự ngây thơ do chúng ta muốn nó như vậy rồi chúng ta không bao giờ được như vậy. 

3 - Quán tưởng thứ ba là quán tưởng sự vô ngã trên khổ não. 

 Điều này trong kinh Vô Ngã Tướng, Đức Phật dạy rất rõ ràng: 

- Này Chư Tỳ Kheo, sắc uẩn, thọ uẩn, hành uẩn, thức uẩn là vô ngã không phải là của ta. Này các Tỳ Kheo, nếu các uẩn ấy thật là của ta thì người đời có thể nói xin cho các uẩn của ta như thế này hoặc đừng như thế kia. Này các Tỳ Kheo, các uẩn thật là vô ngã nên người đời không thể nói xin cho các uẩn của ta như thế này hoặc đừng như thế kia.

Gọi là hữu ái, gọi là vô ngã không cần phải triết lý, đơn thuần nếu nó là của mình thì nó phải là theo ý mình, ví dụ mình nói thân là thân của mình thì mình muốn nó khỏe hoài không bịnh, trẻ hoài không già, tươi tỉnh hoài không có trạng thái ủ dột, nếu ra lệnh được thì thân đó là của mình. Nhưng thật sự nó không phải là của mình, nó có những tàn phai, nó có những thay đổi, nó có những xáo trộn không nằm trong sự kiểm soát của mình, mình không thể bảo nó như thế này hoặc đừng như thế kia, thì đó là bản chất của vô ngã. Tâm mình cũng vậy, mình đinh ninh thọ đó, tưởng đó, hành đó, thức đó, cảm giác đó, nhận thức đó, hành xử đó, giác quan đó là của mình là của ta, nhưng chúng ta ngồi nhìn kỹ bây giờ mình nói thức uẩn, thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng, suy nghĩ, thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác những thứ đó nó có hoàn toàn nằm ở trong sự điều khiển của mình không?  -  Không. 

Cái gì mình thấy không nhất thiết thấy cảnh đẹp hoài, chúng ta cũng thấy những điều không đẹp, nghe cũng không phải nghe những gì tốt đẹp hoài có những cái chúng ta nghe rất buồn nản dù không muốn cũng phải nghe, ví dụ đôi khi mình nói điện thoại có những người mình không muốn nghe mà vẫn phải nghe. Do vậy đời sống này, chữ vô ngã theo Đức Phật dạy là nếu cái đó là của ta thì mình có thể nói nó phải như thế này và đừng như thế kia, nhưng bởi vì mình không thể nói là nó phải như thế này phải như thế kia nên nó là vô ngã. Vì vậy, ở đây pháp thứ ba tưởng là sự vô ngã trên khổ não.

4 - Pháp thứ tư là quán tưởng đoạn tận. 

Đoạn tận ở đây nằm trong ý niệm về tư duy, ba tà tư duy của chúng ta đó là đi tầm cầu cái gì mình thích thú: 
- suy nghĩ đến cái gì mình ham muốn, 
- suy nghĩ cái gì thuộc về sân hận, 
- suy nghĩ cái gì thuộc về não hại.

Ba trạng thái này vốn là hiện tượng tự nhiên của tâm chúng ta, khi nói đến đi tầm cầu cái gì mình ham muốn thì nên hiểu bản chất tâm của chúng ta, chẳng hạn suy nghĩ món ăn gì đó ăn làm sao cho ngon, mặc thì mặc làm sao cho đẹp, làm cái gì cho mình được thỏa mãn, làm cái gì cho mình được thích thú và liên tục trong đời sống chúng ta đi tầm cầu những cái như vậy trong cuộc sống. Một ngày từ sáng đến chiều tùy theo cách sống của mỗi người nhưng nói chung là chúng ta luôn luôn đi truy cầu cái gì vừa ý mình thoả mãn cho sự ham muốn.

 Nhưng cũng có người vì sự nghèo nàn nào đó của nội tâm hay vật chất thì luôn luôn suy nghĩ đến cái chúng ta bất bình cái chúng ta bất mãn cuộc sống, sự bất mãn đó mình càng nghĩ thì càng lớn. Chuyện này là một bi kịch muôn thuở của cuộc sống một người nào đó họ chỉ làm một việc mình không hài lòng là mình đem cả lý lịch từ đời cha ông của họ, tất cả cuộc sống của họ, từ chi tiết cho đến đại cương, từ cái đi đứng nằm ngồi của họ, từ cử chỉ hành động của họ ra phê phán, mình cứ nhai đi nhai lại nói tới nói lui để cuối cùng mình đưa ra hình ảnh người đó là một con quái vật. Thật ra thì người đó cũng là một con người giống như mọi người khác nhưng do sân tâm của chúng ta nhiều quá cứ nghĩ tới nghĩ lui hoài. 

Gìống như trong trường hợp thương hay thích một người nào đó thì mình mình nghĩ đến mái tóc tướng đi của người đó cái gì cũng đẹp cũng thích hết. Mình thích cái gì thuộc về tham, mình luôn luôn nghĩ rất nhiều, rất nghĩ kỹ, rất lung, rất thiên biến vạn hóa để có nhiều điểm mình thích thú. 
Nhưng cái gì làm bực bội thì mình nghĩ nhiều chuyện để bực bội, và hận thù cũng vậy. Hận thù thì luôn luôn là chuyện bé xé to, hận thù luôn luôn là cột kết, là oan kết và cái oan kết về hận thù càng nghĩ càng nói thì nó lại càng lớn thêm.

Tư duy hay ý nghĩ của chúng ta nên hiểu nó như bèo ở trong ao, nó luôn luôn lan nhanh lớn mạnh ra chớ không nằm yên một chỗ. Người tu tập nên ý thức bản chất tự nhiên của tâm, điều này không ai có thể nhắc mình mà chính mình phải nhắc mình. Lấy ví dụ, ý muốn của mình giống như bèo ở trong ao hay giây leo lan nhanh, tâm sân hận bực bội của mình nó cũng lan nhanh nó cũng như bèo, mình thoáng không để ý nó có thể phủ cả mặt hồ, ai có nuôi bèo hay có thả một vài tai bèo ở trong ao thì biết nó cũng lan nhanh mọc lớn tăng trưởng rất nhanh.

Hận thù cũng vậy, trong kinh Pháp Cú Đức Phật nhắc chúng ta khi mình khởi lên thiện tâm thì cố gắng làm liền tại vì nếu mình không làm liền thì tâm thiện dễ bị mai một. Và khi khởi lên ác niệm một niệm bất thiện thì mình phải chặn nó liền, tại vì niệm bất thiện mình không dẹp thì nó sẽ lan nhanh.

 Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy, ý nghĩ về sự ham muốn, về sự bực bội khó chịu, về hận thù cũng lan rất nhanh. Và khả năng của một người tu tập là  khả năng có thể quán tưởng sự đoạn tận điều đó, do suy nghĩ của mình, ví dụ như mình đang rất thích cái gì đó mình đang bám víu cái gì đó, mình nghĩ như thế nào để mình có thể để cho dục của mình không lan nhanh. Và khi sân hận cái gì đó thay vì mình cứ theo phóng đại nó mình làm cho sân tăng trưởng sân sanh khởi thì mình suy nghĩ như thế nào cho nó giảm thiểu. 

Chúng tôi lấy một ví dụ, Ngài Ajahn Sumedho một vị tu sĩ người Hoa Kỳ sang Thái Lan tu tập với Ngài Ajahn Chaa, có một thời gian không biết vì lý do gì tự nhiên nhớ lại quá khứ vài ba năm trước lúc có vợ và sống bên Mỹ, hai vợ chồng sống với nhau có sự bất đồng cãi vả dẫn đến ly dị, ly dị xong vẫn còn hục hặc lời qua tiếng lại đủ thứ chuyện. Ngài qua Thái Lan tu tập cứ bực bội người vợ cũ, và trong sự tỉnh giác của một vị hành giả Ngài Ajahn Sumedho nghĩ mình không nên để việc quá khứ đó phiền hà làm cảng trở sự tu tập tại vì nó không có lợi gì hết, Ngài Ajahn Sumedho đã viết một bức thư cho người vợ cũ ở Mỹ để xin lỗi và nói bây giờ mình đã qua Thái Lan tu chỉ muốn một điều là trong lòng không một sự giận hờn một sự trách móc gì, nếu trước đây có quãng đời thường sống chung từng chia sẻ cuộc sống có cái gì đó không vui với nhau thì xin lỗi. Ngài Ajahn Sumedho viết lá thư gửi đi không mong được trả lời mà chỉ viết lá thư gửi đi với lời xin lỗi để cho tâm hận thù oan trái không còn, nhưng như một phép màu, một thời gian sau Ngài nhận được lá thư của người vợ cũng có những lời xin lỗi thái độ tương tự như vậy. 

Thì đó là cái khôn của bậc thiện trí. Vì biết rằng dục tư duy, sân tư duy, hay hại tư duy là bọt bèo lăng nhăng nếu chúng ta không khéo sẽ để cho nó tràn ngập và ngự trị trong lòng và chúng ta không làm được chuyện khác. 

Đời sống con người có nhiều phiền muộn, như đơn giản là mình đi đến chùa tu học thoải mái tự nhiên có ai nói dèm pha rằng ông A bà B nói xấu mình rồi mình khởi tâm oan trái, rồi mình lao vào trong một quãng đời bao nhiêu phiền hà, bao nhiêu hệ lụy, bao nhiêu những phiền não cứ cột với người đó lời qua tiếng lại. 

Làm trụ trì trong chùa chúng tôi biết có nhiều sự gây gỗ giữa qúi Phật tử trong chùa, có nhiều vị nói nếu chúng tôi can thiệp thì xong, mà không, chúng tôi không can thiệp, chúng tôi biết một chuyện rất rõ là những oan trái phiền phức nó sẽ tiếp tục trừ phi những vị đó muốn tu tập còn chuyện họ muốn hơn thua tiếp tục thì không bao giờ gỡ ra vì điều đó là cái gì thâm căn cố đế ở trong tâm tư chúng ta không bao giờ gỡ ra được, nó vậy, cuộc sống nó là như vậy.

Thành ra quán tưởng đoạn tận là mình làm sao thấy được sự nguy hại của dục tư duy, của sân tư duy, của hại tư duy, và tự mình phải chấm dứt, tự mình phải gỡ ra, tại vì mình cột mình phải gỡ ra, và mình phải vớt những tai bèo đang lăn tăn ra khỏi làm tâm của chúng ta bị bao phủ bị vấn đục. Đó là cái khuôn trong cuộc sống của mỗi người, mỗi người phải tự cứu mình ra khỏi vũng lầy, khỏi đầm lầy của đời sống ở trong đó nó tạo cho mình nhiều sự khổ đau, mà đôi khi lại nghiệt ngã với chính mình bắt mình phải trải qua điều đó là do chính mình.

5 - Pháp tưởng thứ năm là pháp tưởng ly tham hay gọi là pháp tưởng của sự nhàm chán.

Khả năng không dính mắc không bám víu dựa lên trên một kinh nghiệm lớn của chúng ta, chẳng hạn chúng ta bị nghiện rượu hay nghiện đánh bài hay  dính mắc một cái gì đó thì để cai bỏ để nhàm chán điều này cần qua một quá trình nỗ lực, một nỗ lực là cũng đi đánh bài một thời nào đó làm cho mình phấn khởi thích thú nhưng bây giờ tự nhiên thấy được cái hại của đánh bài từ tư cách cá nhân cho đến chuyện xáo trộn của đời sống và đổ vỡ gia đình bây giờ nghe đến casino đến bài bạc không có cảm hứng gì hết, điều đó người Mỹ gọi là disinclination tức là chúng ta nhàm chán, thấy chẳng hoan hỉ thích thú gì hết. 

Chúng tôi có nói chuyện với một thanh niên năm nay 30 tuổi, vị đó kể một thời theo băng đảng đi trộm cướp rồi bị tù, thời trai trẻ lớn lên 17 tuổi tự nhiên cảm thấy đó là cuộc phiêu lưu, phiêu lưu là rủ nhau 5, 7 người đi cướp của người Việt, chưa đến nỗi giết người nhưng vào nhà cột trói người ta rồi bị bắt ở tù mười mấy năm trời được tha, bao nhiêu chuyện tàn tạ, bây giờ nhìn lại thấy mình chơi với bạn xấu thật là nguy hiểm. Thì chúng ta nhìn lại điều đó, lúc mình đang lao vào thấy nó hấp dẫn, thấy phấn khích, thấy rất vui, năm dài tháng rộng nhìn lại thì thấy ngán ngẩm phải chi lúc đó mình biết thì mình đã không dự vào.

Ở trong kinh có ngụ ngôn về các vị Thiên Sứ, những người làm ác sinh vào địa ngục, Diêm Vương hỏi họ có thấy những vị Thiên Sứ không, Thiên Sứ là Messenger là sứ giả, chúng ta thường nghe các vị trong các tôn giáo đề cập đến như Chúa Con hay Chúa Jesus hay là đấng tiên tri Muhammad là các vị sứ giả của Thượng Đế mang thông điệp đến loài người. 

Trong kinh Phật cũng đề cập đến những vị Thiên Sứ như vậy, nhưng những vị Thiên Sứ này không phải là một cá nhân mà đó là những hiện tượng của đời sống, sanh là một hiện tượng, già là một hiện tượng, chết là hiện tượng,  hình phạt khổ là một hiện tượng, những hiện tượng đó mang nhiều tín hiệu mang nhiều thông điệp cho đời sống mà chúng ta không nhàm chán nản, nếu mình nhàm chán thì mình đã không vướng vào. Thật ra khi đọc những bài kinh Thiên Sứ đó nhắc cho chúng ta khả năng của ly tham của nhàm chán.

6 - Pháp tưởng thứ sáu là tưởng đoạn diệt.

Quán tưởng về sự đoạn diệt một kinh nghiệm rất quan trọng của hành giả tu tập. Nhiều lúc chúng ta nên có khả năng vận dụng kinh nghiệm thực tại để hiểu xa hơn. Trong kinh có một số ví dụ như đặt gánh nặng xuống, mình gánh một gánh nặng quằn vai bây giờ mình đặt xuống. 

Hồi nhỏ khi mới vào chùa tu chúng tôi rất thích đi bát bởi vì đi bát tức là có kinh nghiệm đi trì bình khất thực nhưng bởi vì còn nhỏ tay yếu. Chúng tôi ở chùa Pháp Bảo đi khất thực với Chư Tăng đi xa 6, 7 cây số, đi thì vui nhưng khi trở về thì mệt, vừa mệt mà bình bát nặng, hồi còn nhỏ mấy vị lớn lại không chỉ đầy đủ nên không có giây đeo bình bát thoải mái, tự mình bưng bình bát nặng bằng hai tay. Chúng tôi còn nhỏ thích xôi với bánh nhưng khi gần về tới chùa chừng 3, 4 cây số nếu lúc đó không có ai thì buông xuống liền vì nặng quá rất khó chịu, khi về tới chùa đặt bình bát xuống được thì thấy hạnh phúc, hạnh phúc vô cùng.

Thì ở đây, một khái niệm có thể hiểu về Niết-bàn giống như trường hợp mình nợ mà trả hết nợ tự nhiên trong lòng mình rất thanh thản, như trường hợp một việc gì đó đeo đẳng mình thời gian dài bây giờ dứt nó ra được, bỏ được tự nhiên mình thấy hạnh phúc, mình bị nhức răng bây giờ hết nhức răng thì hạnh phúc, gánh nặng quằn vai bây giờ đặt xuống thì hạnh phúc. Vì vậy khả năng của một người có thể nghĩ tưởng đến sự giải thoát hoàn toàn, nó liên tưởng đến những cái gì mình đoạn diệt mà tương lai không thể sanh khởi được.

Chúng ta nói về 6 pháp tưởng: 

1 - Tưởng vô thường tức là nhận thức về sự biến đổi trong đời sống, 
2 - Tưởng về khổ trong vô thường, là chúng ta phải nhận thức về sự bất toàn sự không hoàn hảo bởi vì do vô thường biến đổi mà ra 
3 - Chúng ta nhận thức về vô ngã trong khổ, bởi vì không ai muốn khổ nhưng mình không thể biểu nó như thế này hoặc đừng như thế kia do nó là vô ngã, 
4 - Chúng ta quán tưởng đoạn tận để dập tắt 3 tư duy đó là dục tư duy, sân tư duy và hại tư duy, 
5 - Chúng ta quán tưởng về ly tham để nhàm chán.
6 - Quán tưởng về đoạn diệt để nghĩ về sự chấm dứt những phiền não.

Sáu pháp này không đơn thuần để chúng ta suy tư mà là sự trải nghiệm, bởi vì khi nói đến sanna nói đến tưởng không phải là nghe người khác nói rồi mình suy diễn ra, không phải vậy. Khi chúng ta nói 6 pháp tưởng là mình phải đọc lại những kinh nghiệm của mình, vận dụng sự kinh nghiệm của mình, vận dụng sự từng trải của mình, vận dụng những cái gì mình đã trải qua trong cuộc sống để từ đó chúng ta nhận thức một cách sâu sắc, có rất nhiều thứ để chúng ta có thể nhận ra điều này trong cuộc sống. 

Bây giờ có một lúc nào đó mình ngồi lại nhìn tất cả những gì mình có ở trong căn phòng mình đang ở, những thứ mình đã vất vả đi tìm, nỗ lực đi kiếm mua về, lúc đó mình nghĩ là tốt nhứt thích nhứt, và bây giờ mình tự hỏi cảm giác của mình những thứ đó ra sao thì chúng ta sẽ thấy. 

Và khi nói đến pháp tưởng nó không phải là một đề tài của pháp học đơn thuần mà là một đề tài lớn của pháp hành của hành giả tu tập, một hành giả tu tập thiếu trang bị cho mình những pháp nhận thức như vậy chúng ta thật sự rất khó để nắm bắt được cái thực tại đúng nghĩa với thực tại, vì chúng ta nhớ tâm của chúng ta hay sống trong ảo tưởng, tâm chúng ta hay sống trong vẽ vời, và một cách đưa chúng ta trở về với hiện tại, một cách để đưa chúng ta tiếp xúc với thực tại đó là nhận ra đây là sanh, đây là diệt, đây sanh diệt, đây là vô thường, vô thường là sự mở đầu rất quan trọng.

Đó là vài điều chúng tôi muốn chia sẻ với quí vị ngày hôm nay./.

Saturday, September 22, 2018

Tri Túc - TT Giác Đẳng

Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya - Chương 6 -  XI. Phẩm Ba Pháp
(VIII) (114) Tri Túc

Bài học giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 11 tháng 9, 2017.

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài kinh hôm nay cũng giống một số các bài kinh vừa qua rất ngắn gọn nhưng chứa đựng những triết lý thâm sâu của cuộc sống. Đây là những gì liên hệ đến đời sống hàng ngày tạo cho chúng ta một cái nhìn nhân sinh quan về cuộc sống, cái nhìn này ảnh hưởng toàn bộ cuộc sống của chúng ta và riêng đối với một vị Tỳ Kheo, một người tu tập điều này lại ảnh hưởng rất lớn, đời sống của chúng ta có thay đổi là dựa trên cái nhìn này. Thật ra, một lãnh vực phiền não sanh khởi rất nhiều đó là sự hưởng dục những nhu yếu của đời sống. 

Trong danh từ của xã hội ngày hôm nay người ta gọi là tiêu thụ. Mình hưởng dục như thế nào để được an lạc không thái quá thì gọi đó là một cách sống phải chăng, và nếu nói cho hoa mỹ đó là một nghệ thuật sống. Không ai trong chúng ta phủ nhận thời đại ngày hôm nay là thời đại chúng ta có rất nhiều. Chúng tôi nhớ hơn 40 năm về trước lúc TT Tuệ Siêu và chúng tôi vào chùa tu một bộ y rất là qúi, lúc bấy giờ vải mắc, thuốc nhuộm cũng mắc, có một bộ y cho đàng hoàng là cả một vấn đề chứ không dễ dàng, lúc đó chúng tôi là sadi và thường khi người lớn mặc y có dư hoặc y cũ cho thì mừng, ngày hôm nay thì có rất nhiều, y áo rất dễ dàng để tìm kiếm. 

Thực phẩm cũng vậy, có một thời gian nào đó chúng ta thường tìm kiếm gì ăn cho bổ, càng có nhiều thức ăn thì càng bổ, bây giờ thì chúng ta đi vào một giai kỳ mới mà ở trong thời gian này mình thấy rõ ràng là một chứng bịnh xảy ra ở nhiều quốc gia là bịnh béo phì, người ta đưa ra những phương pháp để giảm cân. Đó là một hiện tượng của thời đại. Nhưng cho dù những điều đó có tánh cách giai đoạn lúc thiếu thốn lúc dư giả thì có những bí quyết của cuộc sống mang lại sự an lạc cho cuộc sống và tất cả chúng ta đều có thể tìm thấy lợi lạc nếu chúng ta áp dụng.

1 - Pháp không có tri túc - asantuṭṭhitā

Trong bài kinh này Pháp thứ nhất là Đức Thế Tôn dạy cho chúng ta là Pháp không có tri túc.
Không có tri túc nghĩa là không bằng lòng cái mình có. Lấy ví dụ, ngày hôm nay chúng ta đi chơi đâu đó trước khi đi đã chuẩn bị một số thức ăn mang theo và khi chúng ta đến nơi mở ra ăn chúng ta thấy không có vui lắm tại vì nó thiếu món này thiếu món kia, đôi khi chúng ta vừa ăn vừa nói "Phải chi mình có cái này, phải chi mình có cái kia mới ngon."

Thật ra những điều đó mang tánh so đo, mặc dầu bữa ăn không tệ và chúng ta ngồi giữa đường có chừng đó thức ăn nhưng chúng ta vẫn so sánh lúc ở nhà hay lúc ăn ở nhà hàng và sự so sánh này làm cho mình cảm thấy thiếu, làm cảm thấy không được hoan hỉ, thì ngay đó chúng ta nhận ra mặt mũi của sự không tri túc.

Để đối trị lại pháp không tri túc, đơn giản đó là chúng ta tu hành tri túc. Bí quyết của tu hành tri túc là bằng lòng cái mình có. Đầu tiên chúng ta cần ý thức, ý thức rất rõ và ý thức khẳng định nếu để đòi hỏi thì không biết bao nhiêu là đủ. Ví dụ, mình đang kẹt tiền bây giờ có tiền mình giải quyết chuyện đó thì mình sẽ vui, nhưng có tiền rồi mình cũng không vui, phải chi mình dư giả một ít, có dư giả rồi thì mình cũng chưa vui, mình lại muốn giàu lên một chút rồi phải giàu nhiều mình mới vui.

Tôn Giả Ratthapala nói: "Thế giới là khiếm khuyết nô lệ cho tham ái" . Ở đây cũng một cách nói khác của không tri túc là: "bao nhiêu cũng không đủ" cái bao nhiêu cũng không đủ xảy ra nhan nhãn ở trong đời sống, một đứa con được cha mẹ nuông chiều, cha mẹ đầu tắt mặt tối để mua cho con quần áo đẹp, mua máy móc xe cộ nhưng đứa con không bao giờ thấy thoả mãn vẫn tiếp tục thấy mình thua kém bạn bè, thì đó gọi là không đủ. Mình đang đi trên một chuyến hành trình trong cuộc hành trình này cái gì mình có mang theo cũng không tệ nhưng dĩ nhiên không được khá hoàn toàn thì thay vì mình vui với cái gì có mình cứ cảm thấy trong lòng không thoải mái phải chi mình có cái này phải chi mình có cái kia. Và khi mình có ý thức được bao nhiêu thì cũng không đủ, biết đủ thì đủ mà chờ đủ thì không biết chừng nào đủ, như câu nói người xưa "Tri túc tiện túc hà thời túc". 

Chúng ta đưa tâm tư mình về với trạng thái vừa lòng thoả mãn, bằng lòng với cái gì đang có, vui với cái gì mình đang có, điều đó cho chúng ta một thứ hạnh phúc gọi là hạnh phúc trong hiện tại. 

Thật ra, nếu nghĩ cho kỹ, một người không tri túc là thường dựa trên hai thái độ một là so sánh với quá khứ, hai là mơ mộng tương lai. Ở trong quá khứ mình đã từng ăn từng mặc như vậy, mình đã ăn những thức ăn rất ngon với đầy đủ gia vị bây giờ ăn thiếu một chút mình cảm thấy không vui, mình không bằng lòng với chuyện đó. Mơ mộng về tương lai là nghĩ rằng mình đi đâu đó có cái này có cái kia thì nhất, đó là về tương lai. Quá khứ và tương lai, một cái đã qua một cái chưa tới nó không phải là thực tại, thực tại là cái gì đang có trước mặt và nếu mình bằng lòng với cái đang có, vui với cái đang có thì chúng ta thực sự là sống với hiện tại. 

Do vậy, một người sống tri túc đôi khi bị hiểu lầm là một người sống cầu an, an phận thủ thường. Khi nói an phận thủ thường thì bị chỉ trích là người không biết phấn đấu. Phấn đấu là một chuyện khác nhưng bí quyết để bằng lòng với cái mình đang có, vui với cái mình đang có, lại là một chuyện khác, hai cái đó khác xa. 

Chúng ta vẫn có thể phấn đấu nhưng nếu chúng ta khéo thì vui với cái mình đang có. Lấy ví dụ là sáng hôm nay chúng tôi đi ra lễ tháp Xá Lợi, trong lòng có hai niềm vui, niềm vui thứ nhất là tối qua bão vào Tampa, Florida. Sáng nay nói chuyện với Sư Trí Tịnh được biết mọi việc ở đó bình yên. Năm nay chúng tôi và Sư Trí Tịnh ở hai nơi giữa hai cơn bão là bão Harvey và bão Irma bão nào cũng lớn nhưng bão đi qua bình yên thì tốt rồi.  Và thứ hai chúng tôi ra tháp vào một ngày đẹp mát mẻ, nhìn lên bảo tháp thấy trong lòng hoan hỉ, thì đó cũng là một niềm an lạc. Nếu mình không ý thức được niềm an lạc đó, không sống với giờ phút an lạc đó mình cứ nghĩ làm việc này được cái kia được cái nọ nghĩ xa xôi thì chuyện mình nghĩ cũng chẳng tội vạ gì nhưng nếu suy nghĩ về tương lai nhiều quá hay mình nhớ tiếc quá khứ nhiều quá mình đánh rơi giờ phút hiện tại thì đúng là sự thiệt thòi. Món ăn có trước mặt không chịu ăn cứ ngồi nhớ hồi trước mình đã ăn những món ăn ngon hay ở trong tương lai mình sẽ tìm thức ăn ngon hơn như vậy, do mình nghĩ quá nhiều về quá khứ hay mình ảo tưởng quá nhiều về tương lai thì mình đánh mất hiện tại, hiện tại là cái gì mình có.

 Đời sống tri túc ngoài ý nghĩa bằng lòng còn ý nghĩa sống trong hiện tại, sự bằng lòng đó dựa trên ý thức rất rõ là muốn bao nhiêu cũng không đủ bao nhiêu cũng không hài lòng, và không bao giờ biết đủ. Cuộc sống con người mình có giàu bao nhiêu cũng không đủ, có danh bao nhiêu cũng không đủ, có tài bao nhiêu cũng không đủ, tại vì bản chất của nó là như vậy. Mình nên thật sự cảm kích cái gì cuộc đời cho mình. 

Chúng ta thấy một ý nghĩa khác từ sự tri túc đó là mình tri túc thì mình biết ơn, không tri túc thì mình sống vô ơn. Một người sống không tri túc cứ nghĩ người ta phải làm cho mình một ơn huệ rất lớn thì mình mới cảm kích nhưng khi mình biết tri túc người ta cho mình một bữa cơm, một ly nước, một nụ cười thân tình, một vài giây phút đầm ấm thì cũng quá đủ để mình cảm kích, và khi mình cảm kích như vậy là mình cũng sống hạnh phúc trong giờ phút đó. Nhiều khi đời sống con người không tri túc người ta có cho mình một bữa ăn ngon đi nữa, cho mình những giây phút thân tình đi nữa thì mình ngồi đó mơ tưởng xa xôi cũng không cảm thấy an lạc phút đó, mình không thể sống kết nối với thực tại sống hiện hữu trong hiện tại, 

Cái gì rất là khó hiểu ở trong Phật Pháp khi đề cập đến tri túc hay đời sống trong hiện tại, người không tri túc thì khó mà cảm kích, khó cảm kích thì khó mà biết ơn, bởi vì khi mình biết ơn người nào thì thật sự mình phải nhìn ra cái giá trị người đó họ làm gì cho mình. Chúng tôi lấy ví dụ là có những người Phật tử không phải máu mủ ruột thịt gì khi mình đến thăm nhà qúi vị đó qúi vị cho một bữa cơm với tất cả thân tình. Có những người rất là bận rộn họ bỏ thì giờ đến chùa để nấu bữa cơm cho Chư Tăng, không cần biết bữa cơm đó nhiều hay ít, ngon hay dở, món mặn hay món lạt nhưng điều quan trọng là nếu họ đã làm cho mình như vậy mà mình không đủ khả năng để cảm kích thì thật sự mình khó chìu chuộng, thật sự mình rất khó nuôi, và thật sự điều mình thiếu sự cảm kích gọi là vô ơn. 

Thì như vậy đời sống tri túc ảnh hưởng chúng ta rất nhiều phương diện chứ không đơn giản là mình vui hay không vui với hiện tại, sống trong hiện tại nó cũng là một biểu thị của hạnh tri túc. Biết cảm kích cái mình đã có, biết ơn với người cho mình cũng là tri túc. Và đặc biệt là mình nên biết một lý lẽ căn bản của Phật Pháp là tâm mình luôn luôn sống với khát ái (tanha) và nếu không khéo mình quên đi rằng mình cho nó bao nhiêu chiều nó bao nhiêu cũng không đủ. Nói một cách khác, trong cái nhìn của người tu Phật thì tâm mình giống một đứa con nít nó đòi hoài, những đứa con nít đòi mình cho mà nó không mãn nguyện, mình cho cái này nó đòi cái khác. Thành ra khi mình vào sự tu tập một ý thức rất quan trọng trong cuộc sống là tâm của mình, sự đòi hỏi của mình, mình đòi hỏi bao nhiêu cũng không đủ.

  Chúng tôi hồi đến chùa Wat Pah Nanachat thấy một tấm bản ghi dòng chữ của Ngài Ajahn Sumedho đóng trên con đường đi: "individual desires it is not a problem - những ham muốn cá nhân nó không phải là vấn đề", ý muốn nói con người mình luôn luôn tạo ra nhiều vấn đề những vấn đề đó từ sự đòi hỏi ham muốn cá nhân, một khi bắt đầu vào cuộc tu tập thì mình phải coi ham muốn là một chứng bịnh chứ không phải là vấn đề giải quyết. Một đứa con hư mình phải nhìn thẳng vào mặt nó nói "như vậy là đủ rồi" chứ không chìu chuộng nó, mình cứ chìu chuộng nó hoài thì nó không bao giờ hết tại nó là như vậy, bản chất của nó là không bao giờ mình làm cái gì cho nó thoả mãn hết, thì tâm của mình cũng vậy. 

Thậm chí Đức Phật Ngài dạy: "dù cho mưa bạc mưa vàng cũng không làm cho lòng tham được thỏa mãn". Mình ngồi đó như vua Chuyển Luân Vương hay là người có phước vỗ tay vàng rơi xuống mình cũng không hạnh phúc được nếu tâm mình đòi hỏi hoài, đời sống của mình có biết bao nhiêu thứ, lòng tử tế cuộc đời dành cho mình, đời sống mình cơm ăn áo mặc và nhiều thứ nhưng không có gì làm cho mình bằng lòng thì thật sự mình phải thấy rằng đó là vấn đề của mình, đó là việc của mình phải giải quyết, đó là nội tâm của mình chứ không phải mình chạy đi chỗ này chỗ kia tìm cái này cái khác. Điều quan trọng khi tu hành tri túc là mình thấy được không biết bao nhiêu là đủ. 

2. Không tỉnh thức.- asampajaññaṃ.

Không tỉnh thức - asampajaññaṃ được ví dụ như lúc đang lái xe mình lo nói điện thoại, hoặc text message hay uống rượu bị say, trong khi đang xử dụng xe chạy với tốc độ nhanh đòi hỏi mình phải tỉnh táo biết vận tốc trên đường cho bao nhiêu, chỗ nào cần phải giảm tốc độ, ngó chừng trước mặt sau lưng chung quanh mình có xe hay không. Ai lái xe cũng hiểu một điều là thiếu sự tỉnh táo, thiếu sự cảnh giác, thiếu sự nhận biết rõ ràng cái gì xảy ra chung quanh mình thì điều đó tạo nên nguy hiểm. Một người say rượu lái xe đến ngã tư đèn xanh đèn đỏ vì say rượu nên không chú ý đèn đỏ họ sẽ vượt qua và tạo ra tai nạn. Điều đó cũng tương tự với một người lái xe đến đèn xanh đèn đỏ lo text message cũng sẽ gây ra tai nạn. Tiểu bang Texas  đã bắt đầu áp dụng luật phạt rất nặng những người đang lái xe mà text massage. Ngày nay text massage là một cách liên hệ giao lưu với mọi người, chúng ta nhớ một điều chúng ta có thể chờ đợi được, nhưng nếu chuyện gấp quá thì hãy tấp vào ven đường mà text massage chứ đừng vừa chạy vừa text.

Ở đây cho chúng ta thấy lái xe thì đòi hỏi sự tỉnh táo, đang lái xe mà lo làm chuyện khác mình không tỉnh táo rất dễ gây nguy hiểm. Chuyện đó tương tự trong đời sống của chúng ta. Ở trong cuộc sống của chúng ta chỉ thiếu tỉnh táo một chút thôi là mình không biết nhân không biết quả, không biết người không biết ta, không biết thời nào để làm gì cho thích hợp với đám đông đó ra sao, không biết chừng mực độ lượng thì chúng ta sẽ rơi vào nhiều vấn đề, mình nói nhiều quá một cách không cần thiết, mình nói nặng lời sau này mình phải hối hận, mình làm nhiều việc là do cái mình không tỉnh táo. 

Đối với Phật Pháp, sampajaññaṃ là sự tỉnh táo thường đi với sati là chánh niệm, chánh niệm là đem sự chú ý trở về với giờ phút hiện tại tức là không nghĩ vẩn vơ, đầu óc nghĩ vẩn vơ là bịnh muôn thuở của chúng sanh trong đời này, tất cả chúng ta đều bị như vậy, chúng ta thường bị chi phối bởi việc này và việc khác nhưng chúng ta quên rằng cho dù có nhiều việc phải lo, có nhiều việc phải nghĩ, nhưng đem sự chú ý trở về với giây phút này ở đây và bây giờ luôn luôn cho chúng ta phần thưởng rất lớn là có được sự tỉnh táo. 

Một người lính gác ở lô cốt không có tỉnh táo giặc dễ vào thành, một kỹ sư đang điều khiển toa xe lửa không tỉnh táo thì nguyên con tàu xảy ra tai nạn, một người tài xế lái xe không tỉnh táo thì đại họa đang chờ. Nhưng đời sống chúng ta không tỉnh táo thì chúng ta tạo ra rất nhiều sở hành bất thiện. 

Thật ra, người ta hay nói nhiều về bí quyết của cuộc sống nhưng bí quyết lớn nhất Đức Phật dạy chúng ta là đem sự chú ý trở về lại với giây phút hiện tại và do sự chú ý gọi là chánh niệm thì chúng ta có được tỉnh giác là biết rõ, biết rõ mình đang làm gì, biết rõ mình đang nói gì, biết rõ mình đang suy nghĩ gì, đời sống của một vị xuất gia hay một vị tu tập hay bất cứ hành giả nào mà quá bận rộn lo việc này việc kia quên đi sự tỉnh giác trong đời sống hiện tại thì Đức Phật Ngài không tán thán, điều Đức Phật Ngài thật sự tán thán là một người sống có tỉnh táo có tỉnh giác, và Ngài thường dạy rằng chánh niệm tỉnh giác là một ở trong những pháp có rất nhiều tác dụng có rất nhiều lợi lạc cho chúng ta. 

Khi Đức Phật còn tại thế và cho đến mãi về sau này trong nền văn hóa của Phật Giáo điểm quan trọng vẫn là làm thế nào tâm tư của chúng ta không có vì lý do này hay vì lý do khác mà thiếu đi sự tỉnh táo, thiếu đi sự tỉnh giác đối với hiện tại, đối với thân và tâm của mình, đối với sở hành tức là thân khẩu ý và đối với những gì chúng ta đang theo đuổi đang hướng tâm, tại vì sao vậy, tại vì cả những thứ đó nếu thiếu tỉnh táo nó đều dễ dàng gây ra họa  giống như người lái xe không tỉnh táo. Ở bên Mỹ người ta khuyên mình cho dù mình gấp đi nữa nhưng đừng lái ẩu lái nhanh tại vì lái ẩu bị cảnh sát chận lại sẽ làm chuyến đi của mình chậm hơn, khi buồn ngủ thì người ta cũng khuyên mình nên ghé vào chỗ nào đó như cây xăng hay rest area chợp mắt mươi phút lấy lại sự tỉnh táo để tiếp tục lái, những lời khuyên đó là những lời khuyên rất tốt luôn luôn giúp chúng ta thấy rằng phải lấy lại sự tỉnh táo, có được sự tỉnh táo chúng ta đi tiếp.

Hồi xưa khi chúng tôi về với Ngài HT Hộ Giác, mỗi khi chúng tôi gặp khó khăn Ngài hay nhắc là bỏ thì giờ nhiều để tụng kinh, bỏ thì giờ nhiều giữ tâm cho bình tỉnh lại, gặp những khó khăn mà tâm không bình tỉnh làm đời sống bị hỗn loạn thì có vấn đề là mình chuốt lấy cái họa trước. Đó là kinh nghiệm sống cả đời, kinh nghiệm đó rất là quan trọng, ở trong bất cứ hoàn cảnh nào thuận cũng như nghịch tâm của mình phải giữ tỉnh táo thì tương đối đỡ khổ, mình đỡ tạo ra tai họa, còn mình không tỉnh táo thì mình cứ lao đầu đi theo cơn lốc và mình đi đâu về đâu mình không biết được. 

Lúc chúng tôi sang ở với Ngài Ajahn Jayasaro, chúng tôi nhớ Ngài dùng chữ drifting nghĩa là trôi dạt, cái tâm trôi dạt là tâm không có tỉnh thức là nó đi theo sự đẩy đưa của cuộc sống, cuộc sống kéo mình về bên này kéo mình về bên kia làm mình trôi dạt. Ngài nói rằng một người tu tập mà để tâm mình trôi dạt thì trước nhất đó là một sự thất bại vì không tự chủ được không có chủ kiến được và đặc biệt không có sự tỉnh thức, không có sự tỉnh táo. Không có sự tỉnh thức bởi vì mình trôi dạt thì như vậy mình đánh hỏng tất cả từ bữa ăn của đàn tín, từ nỗ lực mình vào trong trường thiền tu, thành ra mình phải thắp sáng khả năng tỉnh thức. Chúng tôi nghĩ đó là những lời dạy rất là lợi lạc ở trong đời sống.

3. Pháp thứ ba ở đây chúng ta nói về đa dục và thiểu dục - .mahicchatā.

Đa dục và thiểu dục ở đây được hiểu là coi chừng ý muốn của mình, tâm của chúng ta thường muốn nhiều, muốn cái tốt nhất và muốn được phần mình. Thí dụ, đời sống con người mình có yêu cầu rất cao, ăn phải như vậy, ở phải như vậy, sinh hoạt phải như vậy, muốn cái gì thì muốn cái tốt nhất, muốn cái gì cũng muốn nhiều nhất. Thì những cái nhất đó thật ra nó là ý niệm mang tánh cách là tương đối, vì ở trên đời này không có cái gì gọi là nhất. Nhưng bởi vì yêu cầu cao quá, đòi hỏi nhiều quá làm cho đời sống chúng ta rộn ràng, làm đời sống mình phiền những người chung quanh mình. Mình sống với người nào mà họ luôn luôn có quá nhiều đòi hỏi, quá nhiều yêu sách thì nó hơi làm nóng nảy, ở gần người đó là sự bất hạnh, bởi vì người đó tự làm khổ họ và làm khổ những người chung quanh. Vì vậy một trong những thái độ sống Đức Phật dạy là chấp nhận cái tương đối đừng đòi hỏi nhiều quá đừng biến đời sống mình thành gánh nặng cho mình và gánh nặng cho người khác. Ở trong chúng ta thì thấy rất rõ ràng, cái gì mình có mình đều phải trả giá cho nó, mình có càng nhiều thì mình càng khổ vì nếu mình trả giá không đầy đủ mình không có được điều đó. 

Cái muốn được nó lại dẫn chúng ta đến một thái cực khác, đó là luôn luôn đuổi bắt và không bao giờ ngừng kiếm, cuộc sống tốt là chúng ta làm lành làm hòa với bản thân của mình nếu mà mình sống muốn quá nhiều, đòi hỏi quá nhiều thì có nghĩa là mình đặt điều kiện khó khăn với chính mình, phải có chừng đó thì mình mới hạnh phúc, phải có nhiều như vậy mình mới vui, phải đạt đến mức độ đó thì mình mới thỏa mãn thì chúng ta chưa làm khổ người khác chúng ta đã làm khổ mình, nụ cười của chúng ta sẽ không trọn vẹn, mình đi ngủ trong sự trằn trọc và đời sống lúc nào cũng tất bật. Thiểu dục là một nghệ thuật sống chúng ta đôi khi từ bỏ nó tại vì chúng ta quen sống với những yêu cầu rất cao muốn rất nhiều, nhưng bí quyết chính của đời sống là bất toại.

Một ví dụ chúng ta dễ tìm thấy là ngày Bát Quan Trai Giới, thật ra Bát Quan Trai Giới có khác với Ngũ Giới là Bát Quan Trai Giới là tiết chế sự ham muốn của các giác quan, dù là thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, thị giác xúc giác. 
Thị giác là mình không xem múa hát, 
Thính giác là mình không nghe âm nhạc,
 Khưú giác là mình không xử dụng nước hoa dầu thơm,
 Vị giác là mình không ăn phi thời,
 Xúc giác là mình không tiếp xúc nhục dục hay là không nằm ngồi chỗ cao sang. 

Khi mình giảm bớt những thứ đó thì có một thứ hạnh phúc mà mình không bao giờ biết, đó là hạnh phúc thiểu dục. Chúng ta thường nghĩ mình hưởng càng nhiều thì mình càng hạnh phúc, nhưng thật ra khi có tu tập Bát Quan Trai hay có đời sống nhẹ nhàng rồi thì mới thấy ở trong cái nhẹ nhàng đó quả thật cho mình hạnh phúc, mình thử dành cho bản thân của mình có những giờ phút sống trong một căn phòng trống trải có những giờ phút sống trong không gian yên tĩnh, sống cho mình những giờ phút đi bộ chầm chậm ở trên con đường trong công viên hay trong rừng, những lúc đó mình thật sự rất đơn giản chỉ chú vào bước đi không ồn ào không nặng về sắc thinh khí vị xúc, mà trong cái đơn giản, ở trong cái tịch mịch, ở trong cái an tịnh đó, tâm của mình không bị chi phối nhiều, không bị phiền não nhiều, không bị áp lực bởi đòi hỏi nhiều thì lúc đó mình mới thấy an lạc, đây là hạnh phúc của sự thiểu dục.

Điều này là một bí quyết sống hầu hết ngay cả tôn giáo người ta thường dạy chúng ta phải muốn nhiều nhưng riêng trong Phật Pháp Đức Phật Ngài dạy rất rõ là muốn nhiều chỉ làm khổ bản thân, và đời sống thiểu dục đời sống đơn giản đời sống an tịnh lại cho mình hưởng hương vị dễ có dễ tìm. Ở trong truyền thống phạm hạnh ngày xưa thời Đức Phật còn tại thế cũng như thời khi Ngài còn là Bồ Tát nhiều đời nhiều kiếp một hạnh mình thường thấy đó là hạnh Nekkhamma là xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình, sống đời sống nhẹ nhàng, sống đời sống tri túc thiểu dục, bởi vì đời sống thiểu dục đó khiến cho con người mình dễ nuôi. Tương tự như qúi Phật tử nào đó có một người cháu ở xa đến nhà qúi vị muốn nuôi cho đi học nhưng đứa cháu này nhiều nhu cầu quá nuôi không nổi, nhưng nếu nó  đơn giản không đòi hỏi mình sẽ cảm thấy thoải mái. Con người mình sống mà làm gánh nặng cho người khác thì điều đó không thoải mái lắm, cái thoải mái nhất của con người mình là trong cái giản dị mình làm được, trong cái đơn giản mình sống cho vui và mình có thì giờ để không làm gánh nặng cho  người khác.

Thì như vậy ba pháp này ba pháp mà Đức Phật dạy chúng ta là:

-  không có tri túc, không có tỉnh giác, đa dục đem lại cho chúng ta nhiều phiền phức cho mình và cho những người chung quanh mình.

-  Nhưng ngược lại đời sống chi túc đời sống tỉnh giác và đời sống thiểu dục cho chúng ta một sự an lạc và cho chúng ta nắm được thực tại đưa tâm tư trở về giờ phút này thay vì tưởng tiếc quá khứ và mơ mộng quá nhiều về tương lai./.

Thursday, August 30, 2018

Lợi ích của tu thiền tâm từ - TT Giác Đẳng

Thảo luận: Lợi ích của tu thiền tâm từ

Câu thảo luận trong ngày 1-8-2018. Kinh Tăng Chi Bộ - Mười Một Pháp - Phẩm Tùy Niệm - Bài (V) (16) 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Đôi khi qúi vị nghe Chư Tăng nhất là Chư Tăng Nam Tông giảng tu tập thiền tâm Từ Bi Hỉ Xả là 4 pháp dẫn đến đắc thiền nhưng không dẫn đến đắc chứng đạo quả giải thoát. Tuy vậy chúng tôi cũng xin thưa một điểm rằng trả lời điều đó là tính cách rất chuyên môn và trực tiếp nhưng trên phương diện tu tập thì tu tâm từ vẫn là một pháp quan trọng dẫn đến giác ngộ giải thoát. 

Trên cơ sở tu tập của một vị Bồ Tát dẫn đến giác ngộ giải thoát dựa trên tâm từ tâm bi là tinh thần ban vui cứu khổ, dựa trên sự cảm nhận đau khổ và hạnh phúc của chúng sanh thì vị này huân tu ba la mật và cuối cùng dẫn đến giác ngộ giải thoát. 

Trong 37 pháp Trợ Bồ Đề không nói đến tâm từ, nhưng trong hành trình tu tập thì tâm từ tâm bi đều bắt buộc cần có. 

Lợi lạc đầu tiên của tâm từ là chúng ta vượt thoát những tư duy về sân, những tư duy về hại, sân và hại nằm trong tà tư duy. Ở trong chánh tư duy, thường một người có được chánh tư duy là do tu tập tâm từ và tâm bi. 

Nói một cách khác, trong cuộc sống hàng ngày nếu chúng ta luôn hơn thua, có những thù hận dù sự thù hận đó mạnh trong quan niệm về chủng tộc, hoặc giả những đụng chạm cá nhân trong đời sống hàng ngày ảnh hưởng chúng ta nhiều, nhưng khi đi sâu vào thế giới tu tập hành giả ngồi xuống tu tập thiền mà còn có một tư duy nghĩ đến bực bội khó chịu thù hận chúng sanh nào thì quả là khó tu tập. Thì ở đó tâm từ tâm bi đặc biệt rất đáng quan tâm.

Chúng tôi có được dịp tiếp xúc với một số các Thiền Sư, chúng tôi thấy có một quy luật mà tất cả các vị Thiền Sư mặc dù các vị dạy riêng về Thiền Tứ Niệm Xứ, đó là những người tu tập nên thường tu tập tâm từ để mình nhẹ nhàng. Mình phải nhận một điều là quan hệ xã hội phức tạp ảnh hưởng chúng ta rất nhiều, chúng ta phải có khả năng vận dụng tâm xả tức là mình phải quên đi và mình có thể tha thứ được bởi vì phải nhìn nhận một điều rằng ngoài tâm xả để tha thứ thì mình không có làm gì khác được nhất là tập trung vào sự tu tập. 

Thật ra thì có một lý do chúng ta nên tu tập tâm từ, ở đây, trong 11 lợi ích của việc tu tâm từ đó là sự an lạc thanh thản của nội tâm. Người có quan niệm thù ghét họ không bao giờ có được cái nhìn khách quan tại vì sự thù ghét của họ làm họ bực bội. Đồng thời do không có quan niệm thù ghét bực bội tâm mình được an lành mát mẻ. Ngay cả khi mình ngồi vào nghe pháp như chúng ta đang nghe pháp ở đây nếu ai có tâm đang thù ghét cũng không thể lãnh hội được pháp đừng nói chi đến việc mình ngồi thiền. 

 Chúng tôi có dịp được tiếp xúc với các Ngài Thiền Sư Ngài Mahasi, Ngài Mahathera, Ngài U Silananda, nói chung là các vị đều nhắc nhở chúng ta nên tu tập tâm từ hàng ngày bên cạnh tu tập niệm về hơi thở như các pháp quán khác. Trong khi tu tập thiền thì chỉ cần một chút bực bội khó chịu hay oán thù hay ám ảnh thì mình không thể có an lạc được.

Có ba điều một người tu tập cần lưu ý:

1. Thứ nhất là người tu tập đối với mọi người nên có tâm từ thì dù hoàn cảnh nào tâm cũng an lạc.
2. Thứ hai, người tu tập chú ý niệm hơi thở để nâng cao niệm và định
3. Thứ ba là quán khổ, vô ngã, vô thường, 

Ba nền tảng đó rất quan trọng. Khi mình ngồi xuống tu thiền nếu có những lấn cấn với những người chung quanh thì mình hãy mong cho mọi người được an lạc, và mình áp chặc vào hơi thở của mình để tăng cường khả năng niệm và định, đồng thời mình quán tưởng sanh diệt và quán tưởng vô thường, quán tưởng sự trống rỗng của các pháp khổ, vô thường và vô ngã.

Trong kinh Girimānanda Đức Phật dạy một vị tu tập quán tưởng từ bỏ để giải thoát thì tâm từ bỏ đó ra khỏi dục tư duy, sân tư duy, và hại tư duy. Và từ bỏ sân tư duy và hại tư duy thì tâm nằm trong tâm từ.

Muốn hiểu trạng thái lòng từ thì chúng ta nên hiểu trạng thái của sự thân thiện, sự thân thiện là mình đối xử tốt với mọi người nhưng không để mình dính mắc như sự dính mắc ái dục giữa nam và nữ, được như vậy rất là qúi rất an lạc

Chúng tôi lấy một ví dụ, có một người mà mình rất có thiện cảm rất qúi người đó, do mình qúi người đó mình muốn người đó có chỗ ngồi tốt, có một ly nước, có một cảm giác rất dễ chịu khi có mặt ở trong nhà chúng ta, thì tâm thân thiện tương đương với tâm từ, nó chỉ khác một điều là mình làm thế nào đó không đi xa hơn. Trạng thái tâm tử tế thân thiện thường là chúng ta đặc biệt dành cho người mình có thiện cảm, chỉ dành cho người đó thôi những người không thiện cảm thì mình không có thân thiện không có tâm trạng đối xử như vậy, nhưng khả năng hiển lộ tâm từ ra bên ngoài là sự quan tâm của chúng ta đối với những người khác vừa phải thôi, vừa phải nghĩa là mình không phải là làm nô lệ cho người khác. Cái khổ của chúng ta trong cuộc sống mình thương ai thì mình rất thương, mà ghét bỏ ai thì rất ghét thậm tệ, nhưng ở đây tâm từ là một trạng thái mong cho mọi người được an lạc không có nghĩa là mình thương nhưng ít nhất tâm của chúng ta là tâm thân thiện, mình không để cho bị chi phối bởi cái chúng ta gọi là hận thù. Thì sự thân thiện trạng thái gần nhất của tâm từ là chúng ta thân thiện với người mình có cảm tình, thân thiện với người mình không có cảm tình, thân thiện với bậc cao nhân, với các chúng hữu hình và vô hình.

 Chúng tôi nhớ mấy năm về trước, có lần chúng tôi đang ngồi với HT Hộ Giác thì có một người cách đó chừng 5 sáu tháng họ ra một cuốn nói về Ngài Hộ Giác rất nặng, nhưng về sau này không biết vì lý do gì đó người này bị sa cơ và đã đến gặp Ngài thì khi vị đó đến chùa điều đầu tiên chúng tôi thấy là Ngài pha trà ngon mời vị đó uống và Ngài ngồi lắng nghe rồi Ngài có vài lời khuyên thì vị đó rất cảm kích, khi người đó đi rồi, chúng tôi thưa: 

- "Con thấy Ngài làm một điều mà nếu là một người họ có những oan trái với mình mà mình nói chuyện thì đã đủ tử tế lắm còn ở đây Ngài có thể ngồi lắng nghe và pha tách trà rất ngon mời uống" 

 Ngài cười, Ngài nói với chúng tôi:

- "Đôi khi mình tử tế bằng tâm từ với người khác không vì người đó mà vì để tâm mình được an lạc"

Chúng tôi nghĩ bài học đó là bài học rất lớn, mình tử tế với những người hận thù, mình tử tế với những người ghét bỏ mình như vậy việc đầu tiên là để tâm mình được an lạc hơn là mình ngồi đó nghe tới nghe lui những chuyện phiền não để rồi mình oan trái với họ để tâm mình bị phiền não.

Thì ở đây chúng ta đọc lại trong 11 lợi ích của lòng từ được tu tập sung mãn, những lợi ích đó đều là chất lượng của an lạc của giải thoát trong đời sống. Và nếu chúng ta chịu nghe lời Đức Phật dạy nó đến từ trong thái độ sống hàng ngày và chúng ta ghi nhận một điều rằng mình trốn tất cả mọi người để vào rừng sâu sống một mình và ngay cả mình vào rừng sâu sống một mình thì mình cũng tiếp xúc với chúng sanh này chúng sanh khác. Thậm trí là ở trong đời sống hàng ngày của chúng ta dù chúng ta liên đới với chúng sanh khác và trong sự liên đới đó nó chỉ có một điều làm chúng ta an lạc là do tâm từ. Tâm từ là một sự thân thiện, mình nuôi dưỡng tâm từ thì tâm được an lạc rất nhiều./.

Thursday, August 23, 2018

Phải chăng tu tập tâm từ sung mãn có thể dẫn đến chứng đắc giải thoát?

Thảo luận. Phải chăng tu tập tâm từ sung mãn có thể dẫn đến cả ba trạng thái: an lạc trong đời sống hằng ngày, chứng đắc thiền (sau khi chết sanh về cõi phạm thiên), chứng đắc giải thoát (Niết bàn)? 

Câu thảo luận trong ngày 1-8-2018. Kinh Tăng Chi Bộ - Mười Một Pháp - Phẩm Tùy Niệm - Bài (V) (16) 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu: Trong Vi Diệu Pháp đề cập tu tập Tứ Vô Lượng Tâm và trong Visuddhimagga - Thanh Tịnh Đạo cũng có đề cập đến tu tập tâm từ là đề mục thiền dẫn đến chứng đắc thiền thôi chứ không chứng đắc quả giải thoát Niết-bàn được.

 Ở đây, khi chúng tôi nói tu tập tâm từ đạt đến tâm giải thoát rồi đạt đến thiền chứ không phải đạt đến tuệ giải thoát. Còn trường hợp bài kinh hôm nay từ tâm giải thoát được tu tập đạt được mười một lợi ích (anisaṁsā - lợi lạc), thì lợi ích thứ 11 ở trong bài kinh này Đức Phật Ngài nói rằng:

 -"nếu chưa thể nhập thượng pháp (A-la-hán quả); được sanh lên Phạm thiên giới " 

Nói như vậy làm chúng ta hiểu nhầm là tu tâm từ đắc được quả Alahán còn nếu chưa đắc Alahán thì đắc cõi Phạm Thiên. 

Thật ra, câu này phải hiểu: nếu vị tu tâm từ ngay trong hiện tại vị đó kiếp chót để đắc Alahán thì ngay lúc đầu vị đó có tu tập tâm từ đắc chứng thiền định, hễ đắc Alahán thì ngay sau khi đắc Alahán vị đó không còn sự tái sanh về cõi Phạm Thiên.

Ngay trong kiếp chót đắc Alahán kể như là không có sanh về cõi Phạm Thiên dầu cho vị đó có chứng được thiền bằng đề mục từ tâm đi nữa thì khi đắc Alahán rồi thì mãnh lực của thiền tâm từ mà sanh về cõi Phạm Thiên thì chỗ đó chấm dứt sự tái sanh. Cho nên, nói rằng nếu chưa thể nhập Alahán quả thì người tu tâm từ và đắc chứng thiền sanh lên Phạm Thiên giới thì cái chỗ này là Đức Phật Ngài muốn giới hạn rằng vị Alahán vị đó cũng có tâm từ và tâm từ đến cái mức tuyệt đỉnh thì như đối với vị Alahán thì không có cái anisaṁsā - lợi lạc, không có kết quả sanh về cõi Phạm Thiên bởi vì vị đó đã sau đời sống này không còn đời sống khác. Cho nên, ở trong trường hợp này chúng ta chưa thấy chỗ nào mà nói tu tâm từ mà đắc chứng giải thoát Niết-bàn.

Trong 30 đề mục tu thiền trong đó có tứ vô lượng tâm là từ bi hỉ xả là tu chứng thiền và đạt đến trạng thái tâm giải thoát, đạt đến quả chứng là tâm giải thoát, là ám chỉ cho thiền đáo đại thiền sắc giới, chớ không thể là thiền vô sắc đừng nói chi là đạo quả không thể đắc thiền vô sắc nữa.

 Cho nên ở đây xin được trả lời rằng trạng thái tu tập từ tâm sung mãn dẫn đến: một là an lạc trong đời sống hàng ngày, hai là chứng đắc thiền sau khi chết sanh vào cõi Phạm Thiên.

Điều thứ hai là trừ phi vị đó đã chứng quả Niết-bàn thì vị đó đắc Alahán không sanh về cõi Phạm Thiên. Còn nếu phàm phu hay bậc hữu học với tâm từ đắc chứng thiền thì chết sanh về cõi Phạm Thiên liền. Còn ngay trong đời sống hàng ngày tâm được an lạc. chỉ có hai trạng thái đó thôi chớ không phải ba.

Một lần nữa chúng tôi nói rằng điều lợi ích thứ 11 ở trong bài kinh này nói ngoại trừ vị ấy là vị Alahán thì mới không sanh về cõi Phạm Thiên còn những hạng khác ngoài vị Alahán ra thì tu tập tâm từ chứng đắc thiền có thể sanh vào cõi Phạm Thiên./.