Friday, June 7, 2013

Để bớt sân tâm phải chăng "né tránh" là thượng sách?

Hỏi: Để bớt sân tâm phải chăng "né tránh" là thượng sách? 

(Thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 6-6-2013, Minh Hạnh chuyển biên và tóm lượt) 

TT Pháp Đăng giảng: Trong câu hỏi này thì bởi vì chúng ta không thể nào mà qua Đức Phật được Đức Phật là bậc Đạo Sư Ngài biết được nên 

Trong bài kinh Đoạn Trừ Lậu Hoặc Đức Phật Ngài dạy có những lậu hoặc mình do né tránh để đoạn trứ, có những lậu hoặc do phòng hộ, có những lậu hoặc nên tu tập. Thì một người có tánh hay sân thì biết người nào hoặc chỗ nào mình đến mà nổi tâm sân thì phải né tránh, né tránh như vậy thì mình đỡ phiền não. 

Bởi thường cảnh sanh tâm. Cảnh là gì? Là cảnh thinh, những lời nói châm chích mình nghe thì sanh lên tâm sân, gọi là tâm sân hữu trợ.

Có hai loại tâm sân là tâm sân vô trợ và tâm sân hữu trợ. Hữu trợ là có sự hổ trợ về thân, về khẩu, về ý của người khác mà họ nói nhiều lần mình tức quá chịu không nổi nên mình sân thì tâm sân này là sân hữu trợ.

Người có tánh sân vô trợ. Cái sân mang đến từ đời quá khứ, đời này họ sanh vào thời kỳ gặp nhiều chướng ngại, rồi không khéo tác ý, không học hành, nên nhiều khi học hành có nhiều sự kiện làm cho mình bớt sân. 

Khi mình có tu tập thấy được tâm sân bởi nhiều khi tâm sân là sự kiêu mạn của mình, mình nghĩ rằng mình giai cấp mà giàu sang vua chúa mình là người có uy quyền thế lực mình là người có tài sản có sắc đẹp v.v... thì chính những điều kiện đó là cái đòn bảy. Như câu chuyện của vị tu sĩ tên là Kuṇḍadhāna đi đâu cũng có bóng người phụ nữ vào làng khất thực nhưng không ai cúng dường, Đức Vua thấy vị này rất đặc biệt nên Đức vua nói rằng: "nếu ĐĐ đi bát mà không ai cúng dường thì ĐĐ vào cung trẫm sẽ cúng dường đến ĐĐ". Thì lúc bấy giờ vị này giống như được tựa vào Đức Vua, chư tăng mà nói cái gì thì vị này chống trả kịch liệt. 
Đức Phật nghe câu chuyện Ngài dạy: 

- "Này Kuṇḍadhāna ông hãy làm như chiếc chuông bị bể thì sẽ dẫn đến Niết-bàn". 

Và Ngài nói kệ rằng:

 Nếu tự mình yên lặng,
 Như quả chuông bể miệng,
 Người đã chứng Niết-bàn.
 Sẽ không còn phẫn nộ.

Thì cái chuông bị bể nghĩa là, chuông phải ngân vang, con người mình có kiêu mạn bây giờ mình bỏ kiêu mạn rồi giống như cái chuông bị bể người ta đánh sao cái chuông cũng không kêu. Bây giờ mình biết tự ngã của mình, mình bỏ tự ngã thì ai chọc ghẹo gì mình cũng không thấy. 

Trong kinh, Ngài Xá Lợi Phất dạy : mình sân là do tự ngã, và tu tập cách quán để đoạn trừ sân. Mình có tai có cảnh thinh rồi có tiếng nói, người nào đó chưởi mình, vì mình có cảnh thinh, có nhĩ căn, có nhĩ thức, nương nơi nhĩ căn. Nhưng nếu mình có tu tập mình biết ngăn chặn, chẳng hạn như căn phòng ngăn bít âm thanh không lan vào trong tai mình được. Giống như người chết cũng có nhĩ vật nhưng ai chưởi thì người chết cũng không nghe được vì người chết không có nhĩ thức, nhĩ thức là tâm. Giả như mình bị điếc, tâm nhĩ thức đó cảnh thinh không có thì không nghe được như vậy. Mình là người có phước sanh ra đầy đủ nhĩ căn nhĩ thức mình phải tu tập nhĩ căn còn nếu không mình nghe người ta khiêu khích tâm sân nổi lên. Ngài Xá Lợi Phất Ngài dạy mình quán như vậy thì không thấy cái tự ngã ở đâu./.

Thursday, June 6, 2013

Tâm này chói sáng là sao?

Hỏi. Tâm này chói sáng vậy tâm bất thiện thì sao?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 16-2-2012, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng giảng: "Tâm này chói sáng", nếu ai học A Tỳ Đàm thì biết rất rõ là đúng nghĩa:
- "tâm" là "thức uẩn".
- và những phiền não thuộc về "hành uẩn"

. Hành uẩn có thiện và bất thiện. Thì cho dù hành uẩn là thiện hay là bất thiện đi nữa thì thức uẩn có đặc tính là biết cảnh và thức uẩn đó thì với nghĩa Đức Phật dạy ở tại đây là chói sáng.


Chúng tôi lấy ví dụ như là vàng thì có mặt ở trong đá trong đất và dĩ nhiên là chúng ta có thể lấy vàng từ trong mỏ vàng. Theo các nhà khoa học cho chúng ta biết rằng ngay cả trong đất sau vườn nhà chúng ta hay là một cục đá mà chúng ta thấy thì nó cũng có một lượng vàng nhất định, tức là ở trên trái đất chỗ nào cũng có vàng hết nhưng mà để lấy vàng ra từ trong cục đá hay trong một thước đất chẳng hạn thì công lấy quá nhiều so với lợi nhuận mình có được, thí dụ lấy một chút vàng trong khi đó mất nhiều công quá nên người ta không lấy, thì vàng có mặt ở khắp nơi. 

Thì thức uẩn là một thành tố của tất cả tâm. Tâm trong A Tỳ Đàm là biết cảnh. Thì chữ "biết" tự nó là chói sáng. 

Ở đây, Đức Phật Ngài không nói đến một cái chân ngã một tự hữu vĩnh hằng. Thức uẩn cũng có sanh diệt.  Nhưng căn bản của thức uẩn là biết cảnh và thức uẩn có mặt ở trong tất cả các tâm, bất cứ một đơn vị tâm nào cũng có bốn nhân uẩn là thọ, tưởng, hành và thức, và do vậy cái biết đặc biệt có giá trị và Đức Phật Ngài muốn cho chúng ta dùng cái biết, ví dụ như  mình có trí tuệ, mình có sự hiểu biết thì thay vì trí tuệ hiểu biết đó mình đầu tư vào những chuyện hoang phí như chơi game hay hoặc giả phiếm đàm với thiên hạ hay là gì đó thì mình dùng trí thức hiểu biết đó vào trong những việc lợi lạc cho đời sống của mình những gì nó liên hệ đến mình những gì mang lại lợi ích cho người khác thì tâm mình chói sáng.

 Đức Phật Ngài nói rõ chứ không phải là Ngài nói mơ hồ, Ngài nói rằng: một người tâm thanh tịnh thì người đó biết được lợi ích của người biết được lợi ích của mình biết lợi ích cả hai và chứng ngộ các pháp bậc thượng nhân tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh, đó là cái biết.

Ở đây, Đức Phật Ngài nói trên phương diện rất thường thức ở bên ngoài là biết được lợi ích của người ,biết được lợi ích của mình, biết được lợi ích cả hai, có tri kiến của bậc thượng nhân, có tri kiến xứng đáng của bậc thánh, thì những điều này cho chúng ta thấy điều gì, cho chúng ta thấy một sự việc rất rõ là chính cái biết đó nó nối được rất là nhiều thứ. Thí dụ mình làm chuyện gì mà mình biết việc đó có lợi cho người khác hay có lợi cho mình hay lợi cả hai thì tự cái biết đó nó được chói sáng.

Thì riêng về tâm là một đơn vị rất nhu nhuyến và Đức Phật Ngài nói rằng Ngài chưa thấy có một cái gì trong đời này mà khéo tu tập khéo huấn luyện khéo tôi luyện mà có lợi lạc giống như một tâm được tu tập, Ngài không thấy. 

Nên chi, chúng tôi nói trở lại là tâm biết cảnh và tâm ở đây cái biết cảnh đó là chúng ta hiểu là thức uẩn, thức uẩn có mặt trong tất cả tâm nhưng mà khi nó đi với tâm bất thiện thì nó cũng có thức uẩn, khi chúng ta học A Tỳ Đàm thì chúng ta thấy điều này là rất rõ ràng ./.

Wednesday, June 5, 2013

Phải chăng phiền não là do chúng ta nhìn sự việc một cách nông cạn?

Hỏi: Phải chăng chúng ta phản ứng phiền não là do chúng ta nhìn sự việc một cách nông cạn? 

(Thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 4-6-2013, Minh Hạnh chuyển biên)

 TT Tuệ Quyền trả lời: Quả thật, chúng ta nhìn sự việc một cách nông cạn cho nên mọi phiền não phát sanh đến chúng ta, mọi chuyện đau khổ là do chúng ta có một cái nhìn hơi phiến diện, hơi chấp thủ, hơi bực bội mà nó sinh ra. 

 Đúng như vậy, ít bao giờ chúng ta có sự phản tỉnh nhẹ nhàng, tất cả điều này do tham ái bảo bọc. Thí dụ như, TT Giác Đẳng hỏi Sư Tuệ Quyền có mặt không, mãi không nghe lên tiếng thì tự nhiên nghĩ ông này khó chịu quá tại sao nói mà không trả lời, ông là cái gì. Nếu như là phiến diện thì chúng ta thấy TT sẽ có bực bội nhưng TT biết rằng quả thật đường truyền internet bị trục trặc, hay là nhìn có chiều sâu, không phải chúng ta nói người khác không nghe mà ngay cả người khác nói chúng ta cũng không nghe người ta nói cái gì thì làm sao mà trả lời.

 Một thí dụ thực tế hơn ở trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma này đôi khi qúi Sư yêu cầu các mc giúp điều này điều kia mà tự nhiên gọi mãi mà không ai nghe trả lời. mà quả thực lúc đó họ đâu có nghe chúng ta vì đường truyền internet của chúng ta bị trục trặc, nếu mà qúi sư bực bội nghĩ rằng họ thiếu tôn trọng thì tự nhiên cảm thấy mình bị xúc phạm sinh ra bực bội, là do cái nhìn nông cạn phiến diện của mình chứ mình không nhìn một cách sâu sắc hơn, và thứ hai mình nghĩ rằng  không có mặt ở trước máy  mà không có mặt ở trước máy một người, hai người, ba người, thì chúng ta biện luận ra tại sao không có mặt một người thì không nói mà hai người ba người v.v... Thì quả thật là do đường truyền internet. Và tất cả là do chúng ta suy diễn, nhưng nếu chúng ta suy diễn một cách tích cực nó khác và cách tiêu cực nó khác. 

 Thường thường, chúng ta cảm thấy suy nghĩ một cách tiêu cực là do chúng ta bảo thủ cái ái của mình, nghĩ rằng mình bị xúc phạm mình nói mà người ta không nghe mình nhờ người ta không làm thì tự nhiên chuyện đó làm bực bội sanh lên, tại sao như thế này tại sao như thế kia, mà rồi những người kia không biết tại sao mình cự nự um sùm, làm người đối diện bực bội, thì cả hai đều cảm thấy bị xúc phạm . Do vậy cái nhìn phiến diện của cả hai bên đều quan trọng. 

 Một học giả Tây Phương nói rằng chiến tranh trong đệ nhất, đệ nhị thế chiến, và tới nếu có đệ tam thế chiến hay là những cuộc sung đột trong từng gia đình đều do tâm con người phóng ảnh ra. Đây là nói trên tinh thần Phật Pháp tất cả đều là do tâm con người biến chuyển ra vì cái nhìn mang tính chấp thủ. 

 Nhiều khi, là ông, là bà, là cha mẹ, mình la rày con cháu hay bực bội con cháu vì mình kêu nó không trả lời, quả thật nhiều khi nó cũng không nghe mình gọi mình nói, rồi mình tự động trách cứ và thấy mình bị xúc phạm, mình là cha, là mẹ, là ông bà mà nó không nghe lời mình hay là tôi là sư phụ anh, tôi là thầy anh mà anh không biết tôn trọng. Thì hàng hàng lớp lớp trong cuộc đời này nó đều do cái nhìn phiến diện rồi chúng ta tự gây đau khổ cho chính mình. 

Trong kinh Pháp Cú có câu:
 Nó chưởi tôi, đánh tôi,
 Nhục mạ, cướp của tôi.
 Lòng không niềm oán hận,
 Oan trái sẽ vơi nguôi.

 Nhưng không phải chỉ chừng đó mà mình còn thấy rằng mình tôn trọng cái danh dự cái tư cách sĩ diện của mình, mà tư cách sĩ diện và danh dự của mình chính là do chấp ngã chấp ái tôn tạo nó bảo vệ nó dính mắc và ai đụng tới nó thì liều chết để bảo vệ, cho nên mới có sự xung đột, mới có đao thương, đao trượng, binh khí miệng lưỡi, và các bất thiện pháp sẽ phát sinh ra. 

 Như trong chùa chúng tôi có một chú tiểu, tuy đã lớn tuổi nhưng rất khờ khạo và còn bị nói cà lăm, đã vậy mà còn không tinh tấn tu học. Một hôm, một vị sư trong chùa đề nghị là đuổi chú tiểu đi với lý do là lười biếng thì chúng tôi giải thích là: 

 "Qúi sư nhìn như vậy nhưng tôi nhìn cách khác. Tôi thấy tội nghiệp người ta, phải nói là chúng sinh nghiệp duyên như vậy rồi thì thôi mình yêu cầu người đó quét chánh điện quét sân chùa là được rồi, đó cũng là thiện phước, cũng coi như là hưởng phước Phật, hãy khởi lên từ tâm rồi từ từ dạy họ đọc câu kinh như vậy là được rồi. Sao Sư lại thấy phiền não, tôi là người phải lo chuyện đó mà tôi không thấy phiền não mà Sư lại thấy phiền não là tại vì sư yêu cầu quá lớn, khả năng họ không có, cũng lớn tuổi rồi mà nói cứ cà lăm nói ba bốn chữ mới ráp được một câu thì thật sự tội nghiệp. Thì tại sao mình nhìn mà mình lại phiền não mà sao không nhìn tích cực hơn là tại cái nghiệp cái duyên của chính họ như vậy, nếu chúng ta có cái nhìn đảo ngược hơn thì chúng ta dễ dãi mà chấp nhận họ cho họ cái duyên hưởng phước Phật, mình có thể che chở và gánh vác cho người ta một phần thì đó cũng là cái phước chung".

 Thì sau khi nghe chúng tôi nói vậy thì vị sư đó nói: "Nghe Sư nói vậy con được giải toả chứ trước kia con nhìn chú con không chấp nhận được chút nào, sao người như vậy sao Sư chứa trong chùa". Thì chúng tôi nói nếu người ta tốt người ta đã không ở chùa tại người ta xấu mới ở chùa tu để được tốt.

 Thì tất cả là do cái nhìn của mình phiến diện rồi tự nó làm phiền não mình. Nếu như mình nhìn sâu hơn, nhìn tích cực hơn thì mình sẽ không bị phiền não.

 Cũng như, chúng ta thương người nào, ghét người nào, chúng ta không thể bảo mọi người đều thương hay ghét như mình. Cái ghét cái thương đều tùy duyên của mình. 

 Cũng vậy, mọi việc trong cuộc đời này không như ý mình, nếu chúng ta biết đánh giá, biết suy nghĩ  tại sao người ta làm khó khăn mình, mình đau khổ là do nghiệp của mình đã tạo chứ không tự nhiên ai đó chọc phá mình hay đánh mình. Trên tinh thần Phật pháp thì không có tự nhiên họ chưởi mình, không có tự nhiên họ đánh mình, cũng không phải tự nhiên mà viên đạn lạc đến mình vô cớ mà mình lại hoạ vào thân, mà đều là có cái duyên, tại sao không là người khác mà là mình. Còn nếu như mình được cái may mắn thì mình vừa lòng còn nếu như mình bị cái điều không tốt đẹp, cái xấu hay tai nạn đến mình như mình cảm thấy bực bội thì cái bực bội đó cũng chính sanh lên cái tâm phẩn uất trong lòng mình. Nếu chúng ta có sự suy xét kỹ thì đây là do cái nhân duyên phần của mình, do ác nghiệp, do thiện nghiệp của mình, suy nghĩ như vậy thì mọi việc nó khác. 

Và cuộc đời này chúng ta không bao giờ đòi hỏi người khác như ta được và cũng không đòi hỏi ta như người khác được. Tất cả là có cái nghiệp riêng và nghiệp riêng đó chính là họ đi theo cái nghiệp của họ, đi theo nghiệp cảm, đi theo sở hành của chính họ. 

 Chúng ta nghĩ một cách đơn giản như vậy thì phiền não sẽ không có mặt và chúng ta không cảm thấy rằng đó là một điều mà nó mang đau khổ cho chính ta. Và trong cuộc đời này ai mà sanh ra mà có giống nhau bao giờ, tất cả đều khác nhau bởi vì do nghiệp khác nhau, do tâm khác nhau, cho nên nghiệp cũng khác nhau, và nghiệp khác nhau thì hành tướng và sở tánh cũng khác nhau, hình thức bên ngoài cả bên nhau cũng khác nhau./.           

Tuesday, June 4, 2013

Như thế nào để một người Phật tử có niềm tin nhưng không rơi vào cuồng tín?

Hỏi: Một người Phật tử nên như thế nào để có thể an trú trong pháp, hoan hỉ trong pháp, suy tư pháp, thường niệm tưởng pháp, nhưng không rơi vào thái độ cuồng tín?

(Thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)
TT Tuệ Siêu trả lời: Ở đây, trong vấn đề này thì chúng tôi sẽ khuyên các Phật tử, trong việc chúng ta hoan hỷ an trú trong pháp, hành trì theo pháp mà chúng ta tránh được sự cực đoan, hay là tránh được cuồng tín, thì xin gợi ý ba điểm.
Thứ nhất, chúng ta phải hiểu thế nào là sống theo pháp. 
Điểm thứ hai là chúng ta phải chuẩn bị cho mình một trạng thái tâm lý, nhìn sự vật ở đời với tâm ly tham và nhàm chán, thật sự chúng ta không bị dính mắc, không bị thần tượng một cái gì đó, thậm trí đối với Đức Phật, chúng ta cũng không nên có sự dính mắc quá đáng, chúng ta không nên thần tượng một cách quá đáng mà chúng ta dùng trí tuệ để chúng ta suy tư về đức tánh của Ngài.
Điểm thứ ba, khi người Phật tử chúng ta thực hành theo pháp, nhắm đến mục đích giải thoát.  Chúng ta biết rõ chính tự mình mới là vị cứu tinh của mình, tự mình mới giúp mình thoát khỏi sự khổ đau luân hồi này, chúng ta không nương tựa bất cứ một tha lực nào khác.
Thường thường một người cuồng tín là người họ dựa vào một đối tượng siêu nhiên, và đối tượng đó họ khất phục một cách vô điều kiện, và với niềm tin họ đặt nơi đối tượng đó, họ tùy thuộc đối tượng đó, họ không cần dùng trí để suy tư, và chính họ cũng không biết gì về thực trạng của cuộc đời này, chính vì vậy cho nên họ mới rơi vào tình trạng gọi là cuồng tín.
Người Phật tử chúng ta thì khác, khi chúng ta hiểu về giáo pháp, chúng ta phải dùng trí tuệ  khách quan. Chúng ta tin nơi Đức Phật, chúng ta cũng phải dùng trí tuệ khách quan, chúng ta nhắm đến mục đích tu tập, mục đích giải thoát là chúng ta cũng phải dùng vào trí tuệ khách quan, có như vậy thì đời sống của chúng ta trong việc tu tập mới thấy giá trị của giáo pháp, đồng thời chúng ta có thể ngăn ngừa được trạng thái cuồng tín.
Có ba khuynh hướng tu tập, tức là một người nặng về đức tin, người này nếu như không khéo tu tập, coi chừng rơi vào tình trạng cuồng tín, mặc dù có khuynh hướng tinh tấn, họ cũng có thể đi đến sự tu tập sự thực hành thái quá bất cập.
Còn một người nặng về trí tuệ nếu như họ không phối hợp với niềm tin và tinh tấn, thì chính họ đã sanh khởi sự hoài nghi như tự họ phản bác lại lời dạy của Đức Phật, trong khi với trí tuệ của kẻ phàm phu, họ càng suy xét, nhưng vì họ không có niềm tin cho nên họ không hiểu về giáo lý bằng sự thán phục, do đó họ rơi vào tình trạng hoài nghi. 
Như vậy với ba khuynh hướng tu tập này chúng ta phải thận trọng: nếu mình là một người nặng về đức tin thì phải bổ khuyết về đức tính chuyên cần tinh tấn, cố gắng bất thối chuyển, nếu như chúng ta là người nặng về đức tin thì chúng ta phải có trí tuệ, mới có thể dàn xếp được, mới có thể củng cố được và chuyển hướng niềm tin của chúng ta đi vào nẻo chánh, đó là thứ nhất.
Người nặng về tinh tấn, trong sự tinh tấn tu tập, sự tinh tấn đó là một sự cần thiết, nhưng vì không có niềm tin nơi đức Phật cho nên chúng ta có sự tinh tấn nỗ lực quá đáng, cái gì chúng ta cũng thực hành, cái gì chúng ta cũng đeo đuổi, cái gì chúng ta cũng thọ trì mà chúng ta không có được niềm tin vững chắc, không có được trí tuệ để phân tích, thì như vậy nó cũng sẽ tai hại cho chúng ta. 
Còn nếu chúng ta nặng về trí tuệ, chúng ta phải bổ khuyết về niềm tin và sự tinh tấn, trong trường hợp này mới có thể giúp cho chúng ta có được sự tiến hóa, để chúng ta có được sự an trú trong pháp, hoan hỷ trong pháp mà chúng ta không bị tình trạng gọi là cuồng tín.
Ở đây, một điều mà chúng tôi cũng xin nhắc nhở với quí vị là đối với thiện pháp, sự khéo tác ý, là nhân, là duyên để phát sanh lên thiện pháp, phát sanh lên chánh kiến, và một người có thiện pháp, một người với chánh kiến thì người này sẽ không bao giờ khởi lên cuồng tín được.
Bởi vì cuồng tín ở đây nó có khuynh hướng thiên về tà kiến, khi một người có sự khéo tác ý, là nhân, là duyên phát sanh lên chánh kiến, thì như vậy người này sẽ không cuồng tín được. Do đó ở đây Phật tử chúng ta cần biết rõ như vậy, cho nên sự tu tập của chúng ta an trú trong pháp, chúng ta phải có niềm tin an lập trên trí tuệ đối với chánh pháp, phải biết rõ về đức Phật bằng trí tuệ và chúng ta phải tự quyết định sự giải thoát, sự tu tập của mình mà chúng ta không cầu cạnh một tha lực nào khác, đó là điều chúng ta cần thiết để chúng ta vừa an trú trong pháp, mà chúng ta cũng vừa tránh khỏi tình trạng gọi là cuồng tín./.

Monday, June 3, 2013

Tâm Niệm là gì?

Hỏi: Tâm Niệm là gì?

(Bài giảng trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng giảng: Phải nói rằng trong kinh điển của Ðạo Phật chữ "Tâm" và chữ "Niệm" hai chữ được hiểu một cách khác nhau hoàn toàn. Có lẽ chúng tôi không cần phải nói dài dòng ở tại đây, riêng thường thức ở bên ngoài "Tâm Niệm" là điều gì mà chúng ta phải tâm tâm, niệm niệm tức là phải thường ghi nhớ, phải thường tưởng nhớ, phải thường xuyên dặn lòng nhắc nhở chính mình, phải thường xuyên dùng những thứ đó thường niệm, tưởng. Thí dụ như chúng ta có quyển 10 điều tâm niệm của Hoàng Ðạo, một nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Ðoàn trước đây, và chúng ta có 10 điều tâm niệm của người xuất gia, hoặc giả chúng ta có 10 điều tâm niệm trong Luận Bảo Vương Tam Muội mà các chùa thường in ra và treo ở trên tường.

Chữ "Tâm Niệm" ở đây hiểu theo phương diện thường thức cái gì mà chúng ta thường phải nhắc nhở, thường ghi nhớ lấy. Thật ra pháp tu tập về "tâm niệm" không phải xa lạ trong Ðạo Phật, như trường hợp chúng tôi vừa nhắc đến 10 điều tâm niệm của người xuất gia, Ðức Phật Ngài dạy 10 điều tâm niệm đó, ví dụ như Ngài nhắc hình dáng của ta đây phải khác hơn kẻ thế, như đầu tròn áo vuông khác hơn kẻ thế, sự nuôi mạng ta phải nhờ nơi kẻ thế, để không sanh tâm kiêu mạn. Rồi bậc trí có thể tự chê trách mình không, ngày và đêm trôi qua mình đã làm đưọc chuyện gì v.v....

Có nhiều điều để nhắc nhở hàng ngày, hay hoặc giả chúng ta cũng nghe những điều quán tưởng của người xuất gia, khi thọ dụng tứ vật dụng, tức là khi ăn, khi mặt, khi sử dụng chỗ ở, khi dùng thuốc men, những thứ đó cần nên được quán tưởng ra sao. Sự quán tưởng đó là một sự nhắc nhở, là một sự ý thức, sự quán tưởng hay là tâm niệm cho chúng ta đi theo đường hướng nhất định. Và về điểm này, quí vị sẽ thấy rằng rất thú vị khi chúng ta nêu lên một vài điểm ở tại đây, quan niệm của một người tu tập chánh niệm, thấy sao ghi nhận như vậy, hơi thở vào biết là hơi thở vào, hơi thở ra biết là hơi thở ra, hơi thở ngắn biết hơi thở ngắn, hơi thở dài biết hơi thở dài, mình thở ra với tâm hân hoan thì mình biết là mình thở ra với tâm hân hoan và thở ra với tâm không hân hoan biết là thở ra với tâm không hân hoan.

Như vậy ở trong một phương diện nào đó, một người tu thiền quán là người thấy sao biết vậy, không tô hồng chuốt lục, không vẽ rắn thêm chân, và cái nhìn của người thiền quán là cái nhìn rất tự nhiên. Nói như vậy không phải rằng một người tu tập không cần đến tâm niệm, không cần đến những khái niệm, khái niệm vốn đã lấy từ trong kinh điển, khái niệm đó vốn có sẵn mà chúng ta dùng ở đây là tiền chế. Tiền chế có nghĩa là những quan niệm vốn đã đặt bày, vốn được gợi ý, vốn đã được nói đến, đã được dạy ở trong kinh điển, còn cho biết một người tu thiền quán thấy sao ghi nhận như vậy, thấy sao biết vậy, thật ra hai điều này không có trái chống với nhau nhiều.

Nếu chúng ta ở tại các trường thiền, nếu chúng ta ở tại các trung tâm thiền định, chúng ta sẽ biết rằng không phải một ai bước vào trong trường thiền, được giao cho chìa khoá của am thất, rồi về am thất đó ngồi xuống một mình là có thể nhìn vào hơi thở của mình được, không phải ai được vị thiền sư dạy thiền rồi thì có thể ngồi xuống để theo dõi hơi thở được, không phải như vậy, chúng ta phải phấn đấu rất nhiều và lấy ví dụ chúng ta bị sự lôi cuốn của sắc đẹp của tiếng hay của mùi thơm vị ngon xúc lạc.

Ở đây, phải nhắc lại một giai thoại mà ông Chosacoton thường nhắc đến các khoá thiền của ông, có một lần ông đến dự một khoá thiền, thức ăn theo kiểu người Miến Điện và thức ăn lại hạn chế, một ngày chỉ ăn được một buổi thôi, và do vậy đầu óc của ông bị ám ảnh bởi một miếng bánh mì nướng, bánh mì nướng là một cái gì rất quen thuộc đối với bữa ăn sáng của người Tây Phương, và miếng bánh mì nướng bình thường thì nó không có nghĩa gì hết, bánh mì nướng mà để nghĩ đến, cũng không ai muốn nghĩ đến làm gì, thật ra muốn ăn thì ra nướng bánh mì, bánh mì đối với người Tây Phương cũng giống như cơm đối với chúng ta vậy. Tuy nhiên vào trong giờ hành thiền thì miếng bánh mì nướng nó trở nên một cái gì ám ảnh ở trong đầu, tự nhiên thèm miếng bánh mì nướng một cách lạ lùng, chưa bao giờ thèm như vậy, và lúc bấy giờ không ngồi định tâm được và không ngồi tập trung vào hơi thở được.

Nên chi, một người hành thiền cũng thường phải sống với một số tâm niệm, một số tâm niệm tức là một số nhắc nhở, hay một số lời dạy được trích từ trong kinh điển hay lời dạy của các vị thiền sư và điều này chúng ta gọi là điều tiền chế cũng được, và điều này chúng ta gọi những gì đã định đặt sẵn cũng được, tuy vậy những điều tâm niệm này giúp ích cho người hành thiền rất nhiều, chứ không có đơn giản, tại sao giúp cho chúng ta rất nhiều, bởi vì chúng ta không phải ai cũng có thể giữ được tâm tự nhiên để mà theo dõi hơi thở ngay lập tức như chúng tôi đã nói, mà chúng ta phải phấn đấu với bản thân, và trong sự phấn đấu với bản thân để có thể ngồi xuống yên lặng, có thể ngồi xuống lẳng lặng nhìn hơi thở thì sự phấn đấu đó đòi hỏi một số khí giới để chúng ta có thể đánh lại với giặc phiền não.

Phải nói nhận ra một điều là đối với tất cả những người tu tập hay những người muốn thay đổi cuộc sống của mình, trước nhất chúng ta phải trọn một số điều để tự nhắc nhở lấy mình, và những điều này đối với chúng ta phải là những gì có ý nghĩa rất lớn, không phải chúng ta phải nhắc mình như là những điều răn của thánh thần, mà chúng ta chỉ nhắc mình về những điều đến từ những lời dạy của Đức Phật, những điều này khi chúng ta đọc vào chúng ta cảm thấy thấm thía, cảm thấy có đủ sức mạnh để cho chúng ta vượt qua những phiền não.

Khi nãy chúng tôi cũng nhắc đến trường hợp người xuất gia có những pháp quán tưởng, quán tưởng về bốn món vật dụng, bốn món vật dụng của người xuất gia ngày hôm nay người ta ít có đề cập đến bởi nó không quan trọng và nó có sẵn nhiều.

Chúng tôi nhớ những năm tháng đầu, TT Trí Siêu với chúng tôi đi xuất gia, và đặc biệt là thời gian sống ở Long Thành, thực phẩm rất khan hiếm, lúc bấy giờ hầu như thường xuyên phải ăn độn với khoai mì và lúc bấy giờ người ta bán rất nhiều loại mì sợi, hồi trước năm 75 chúng tôi thích ăn mì sợi lắm, nhưng phải nói rằng lúc sống ở Long Thành, rất sợ ăn mì sợi, mì sợi người ta luột cả thúng to, rồi lấy nước chấm chan lên cho ăn thôi, chứ không có cái gì để ăn với nó hết, ăn thế cho cơm, lúc đó mới thấy rằng miếng ăn nó quan trọng, chỗ ở cũng quan trọng, nhưng thật sự đối với người Việt Nam thì một giai đoạn nào đó miếng ăn được coi như quan trọng như vậy.

Bây giờ chúng tôi được nghe rằng thực phẩm rất đầy đủ, miếng ăn không còn quan trọng nữa. Nhưng nói chung đời sống khi đi xuất gia, cái ăn, cái mặc, thuốc uống, chỗ ở rất dễ trở thành những thứ làm cho mình sanh ra tâm phiền não, dễ dàng để sanh phiền não lắm, bởi vì khi đã giảm bớt những nhu cầu khác, nó chỉ tập trung vào những nhu cầu hết sức tương đối thì những nhu cầu đó lại có sức quyến rủ rất đặc biệt.

Chúng tôi nhớ là có một vị Thầy cho chúng tôi biết rằng có một lần đi đến một chùa ở Uden, chùa của Ngài Ajahn Maha Boowa, Ngài giao cho một cái thất, mà chúng ta gọi là cái cốc, cốc là chỗ để những vị xuất gia ở, bên Thái lan tì những ngôi chùa theo truyền thống đầu đà, hay tu thiền, những ngôi chùa này đa số cất những cái cốc riêng, những cái cốc này gọi là những am thất, đa số được cất ở những nơi thanh vắng, thường thường được bao bọc chung quanh bởi những rừng cây để tạo ra sự yên tĩnh, và có một phong tục ở bên Thái Lan, có nhiều người khi họ qua đời, tài sản họ còn để lại, thân nhân hay gom tất cả tài sản đó để cúng dường vào trong chùa để cất những am thất cho những người tu thiền, ví dụ như người đó để lại một số tiền vài ba chục ngàn đồng, số tiền đó sẽ được dùng cất một cái cốc và ở trước cái cốc đó có bản nhỏ đề là cốc này cất để hồi hướng cho ông A bà B nào đó, và cũng có trường hợp đặc biệt, mỗi cái cốc như vậy người ta xây một con đường kinh hành, con đường kinh hành nghĩa là con đường bằng gạch để cho những vị hành thiền đi tới đi lui tu tập, gọi là thiền hành, tức là tu thiền tu dưỡng chánh niệm lúc đang đi, thông thường người ta lấy hũ cốt của người mất, họ chôn ở cuối con đường kinh hành đó, có nhiều vị sợ ma khi đi hành thiền mà biết rằng có hũ cốt chôn ở cuối con đường kinh hành thì sợ, nhưng thường thường người ta tin rằng khi một người tu thiền, đi kinh hành hay ngồi thiền mà nhớ rằng cái cốc này, con đường kinh hành này được xây dựng bởi một thí chủ nào đó, bây giờ thí chủ đã quá vãng, người ta hồi hướng cho thí chủ đó, nên chi cái phong tục như vậy thường dễ tìm thấy ở các chùa thiền.

Chúng tôi trở lại với câu chuyện đang bàn đó là những cái am thất thông thường được cất rất đẹp, chúng tôi ở và chúng tôi phải nhìn nhận rất đẹp, rất thoáng. Người Thái Lan họ có kinh nghiệm rất lớn về thủ pháp cất các am cốc, họ cất như thế nào mà kiến không vào được, rắn không vào được, cất như thế nào mà thoáng mát, trông nó giản dị. Ví dụ như cốc luôn luôn cất giống như nhà sàn và cao lên một chút, cửa sổ không cao, cửa sổ sát với cái sàn vì vậy khi mở cửa sổ gió có thể vào trong, cả trong lúc chúng ta nằm cũng có thể có gió thoáng được. Và phải nói rằng một cái am thất nằm giữa trong rừng cây bao bọc ở chung quanh, là một nơi rất dễ làm cho chúng ta sanh tâm ái nhiễm, ái nhiễm chỉ muốn ở tại chỗ đó mà thôi. Đặc biệt nếu chúng ta đến đó vào mùa gần tết, như mùa bây giờ không có mưa, tâm hay sanh dính mắc, bởi vậy ở tại các trường thiền của Ngài Ajahn Chah thông thường những vị tu thiền phải dời chỗ ở của mình, trong ba tháng phải đổi một lần, ví dụ như chúng ta mới bước vào trong rừng thiền, người ta giao cho chúng ta một cái am thất rất đẹp, chúng ta nghĩ rằng mình sẽ xin Ngài Thiền Sư ở luôn tại đó tu tập, như vậy tâm sẽ dính mắc. Trong vòng khoảng chừng ba tháng, có một phiên họp vào ngày bố tát, người ta lấy chìa khoá ra để đổi với nhau, người này phải rời qua chỗ kia, chỗ kia rời qua chỗ nọ, có thể am thất của mình ở chỗ rất gần lại rời đi xa, chỗ rất đẹp rời lại cái am xấu, chỗ mới dời đi chỗ cũ chẳng hạn, để không có tâm dính mắc vào những am thất mà mình đang ở.

Nói chung, đời sống khi dẫn đến sự tu tập, thường thường những nhu cầu về vật chất nằm trong bốn nhu yếu phẩm, như bốn nhu yếu của một người tu đó là thực phẩm, chỗ ở, thuốc men, và y phục, những thứ đó làm cho người tu tập dễ dính mắc và để đối trị với những thứ này Đức Phật Ngài dạy một người xuất gia quán tưởng, quán tưởng trước khi dùng, quán tưởng khi đang dùng, quán tưởng sau khi dùng, và mỗi buổi sáng trước khi mặt trời mọc, các vị Tăng sĩ đọc những bài về quán tưởng như một điều tâm niệm, bởi vì những điều tâm niệm này, ví dụ như Đức Phật Ngài dạy một người xuất gia nên tâm niệm rằng mình ăn uống không phải để mập, để mạnh, để làm cho cơ thể được đẹp đẽ, ăn uống để từ cái khổ của đói, ăn uống để nuôi cái mạng tu tập v.v...Sự nhắc nhở như vậy ban đầu nghe giống như thủ tục, giống như những điều răn, nhưng mà với một người tu tập, những điều đó có ý nghĩa lớn, tại vì trả chúng ta trở về với ý thức chân thực về thái độ nào là thái độ nên có đối với những món vật dụng những nhu yếu của đời sống, như vậy tâm niệm là pháp tu rất phổ thông trong Đạo Phật.

Chúng tôi chỉ đưa ra có hai ví dụ thôi, chúng tôi chưa kể ra những ví dụ khác, ví dụ như chúng ta niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm Chư Thiên, những pháp niệm đó quí vị gọi tiền chế thì cũng có một phần tiền chế, thế nào là ân đức Phật, ân đức Pháp, ân đức Tăng như chúng ta đọc ở trong Thanh Tịnh Đạo, kể cả ơn đức của Chư Thiên và những thứ đó được đem vào trong đời sống để khai triển làm một khái niệm để tập trú, để an trú. Như vậy những cái chúng ta gọi là tâm niệm nó vẫn có một giá trị nhất định, nó vẫn có giá trị lợi lạc, chứ không phải khi chúng ta tu thiền rồi chúng ta nhìn sự vật một cách tự nhiên, cái gì xảy ra như thế nào chúng ta nhận là đủ, phải nói rằng trước khi chúng ta có khả năng để quan sát sự vật có tánh cách tự nhiên, chúng ta phải có rất nhiều tâm niệm cần thiết để chúng ta đem vào cuộc sống tu tập của mình.

Bây giờ chúng ta hãy bước qua một đề tài khác, khi chúng ta đề cập đến những điều tâm niệm và cuộc sống tu tập. Chúng tôi có đặt ra một câu hỏi: 

Tâm niệm có phải là một giới luật hay không? 

Đối với chúng tôi điểm này là một điểm rất thú vị, có thể nói rằng những gì mà mình cần phải tâm niệm và quán tưởng để nhắc nhở, trừ khi liên quan những điều tứ vật dụng mà Đức Phật Ngài dạy những điều đó là thanh tịnh giới, ở trong tứ thanh tịnh giới gọi là quán tưởng thanh tịnh giới, nhưng những điều tâm niệm khác, phải nói rằng tùy vào căn cơ, tuỳ vào căn duyên của mỗi người, và mỗi người có thể đem vào trong tâm tư của mình những tâm niệm, và những tâm niệm này phải thích hợp với căn tánh của mình, ví dụ ân đức Phật, ân đức Pháp, ân đức Tăng, hay ân đức của Chư Thiên.

Một người niệm ân đức của Chư Thiên không có nghĩa ân đức của Chư Thiên hơn của Phật, hơn ân đức Pháp, hơn ân đức Tăng, mà tại vì người đó họ hạp với tâm niệm đó, họ hạp với khái niệm đó. Như vậy khi nói đến những điều tâm niệm, chúng ta cứ tưởng nghĩ rằng đó là những khuôn mẫu mà tâm nhất định phải đi theo. Ở trên thực tế những điều tâm niệm này là những gợi ý, nhưng khi áp dụng vào đời sống chúng ta thì được áp dụng như là giới luật, giới luật là điều phải thọ trì, giới luật là điều không có thể thay đổi được, nhưng những tâm niệm thì khiến cho chúng ta có một không gian rộng lớn khác, ở trong không gian rộng lớn đó chúng ta có thể lựa chọn.

Thật ra trong lịch sử đạo Phật thời gian gần đây có một trường hợp rất thú vị, đó là trường hợp của Hoà Thượng Nhất Hạnh có lập ra một dòng tu tiếp hiện và có một giới luật gọi là giới luật tiếp hiện, đúng ra trong những năm tháng gần đây Hoà Thượng Nhất Hạnh đã đổi hướng đi từ những quan niệm hết sức khác biệt với truyền thống, bây giờ là Hoà Thượng lại trở về với quan niệm rất là truyền thống, kể cả tu chính và kể cả nhấn mạnh đến những giới bổn người xuất gia, nhưng trước đây Hoà Thượng nói rất nhiều đến giới luật tiếp hiện, khi đọc vào giới luật tiếp hiện thì thật ra với quan niệm của một vị tu sĩ Phật Giáo truyền thống, nhất là tu sĩ Nam Tông những điều trong giới luật tiếp hiện mang tánh cách tâm niệm nhiều hơn giới luật.

Chúng tôi nói tâm niệm nhiều hơn giới luật là ví dụ như vầy, ví dụ như chúng ta quan niệm trong giới luật là không sát sanh, thế nào là người phạm giới sát sanh thì có quy định rất rõ, con vật có thức tánh là biết con vật có thức tánh và có ý giết rồi ráng sức giết, rồi con vật đã chết vì sự ráng sức đó, thì sau khi tính như vậy mới đủ gọi là giới sát sanh, và nếu mà chúng ta vẫn quan niệm một điều như vậy là mình sống mình phải thương yêu muôn loài, phải thương yêu sự sống, phải bảo vệ môi sinh, phải bảo vệ hành tinh sanh này v.v... những khái niệm như vậy mang tánh cách tâm niệm hơn là giới luật, tại vì phải áp dụng được trên phương diện giới, nếu mà đem điều đó áp dụng vào đời sống hàng ngày của chúng ta thì không biết ai là người phạm giới hay là người không phạm giới.

Chúng tôi lấy một ví dụ, những tờ báo chúng ta đang đọc hiện nay, những tờ báo in màu và giấy láng bóng, những tờ giấy đó vốn là những tờ giấy được sản xuất một cách rất tai hại cho việc bảo vệ môi sinh, quí vị cầm tờ báo, trang bià in màu bóng láng, thì các hoá chất để họ dùng vào thứ đó là hoá chất làm ô nhiễm rất lớn môi trường, do vậy người ta kêu gọi rằng con người hãy bỏ bớt những thứ đó lại. Khi người ta in bản in màu, mà bản đó không có sáng, màu nó không bóng láng tự nhiên thấy màu nó không hấp dẫn, tuy nhiên cách in đó khiến cho chúng ta ít có làm ô nhiễm môi sinh.

Bây giờ nếu như một tờ báo được in bìa bóng như vậy mà chúng ta mua, chúng ta cầm đọc thì bảo rằng người đó đã phạm giới luật tiếp hiện, tức là người đó không bảo vệ môi sinh, điểm đó rất khó bởi vì chung quanh chúng ta có rất nhiều thứ chúng ta hoặc ỳ thức được hoặc không ý thức được, do vậy tinh thần bảo vệ môi sinh không thể gọi là giới luật được, tinh thần bảo vệ môi sinh là một điều rất đẹp, nhưng cái đẹp đó lại khác với quan niệm về giữ giới, khi nói về giữ giới không nói về đẹp hay xấu, giới là điều, điều đó là điều qui định rất rõ ràng chứ không phải chỉ là một khái niệm như tâm niệm. Do vậy chúng tôi phải nói rằng những giới luật về tiếp hiện của Hoà Thượng Nhất Hạnh đề ra, nếu quí vị đọc kỹ lại thì đó là những điều mang tánh cách tâm niệm hơn là giới luật, bởi vì có những thứ không có.

Chữ Bồ Tát giới ở trong Đại Thừa có rất nhiều điểm mang tới tâm niệm hơn là về giới, cái giới khác xa với điều đó, có thể nói rằng khi đề cập đến giới luật, nó là một câu chuyện khác hơn những gì chúng ta quan niệm mang tánh cách tư tưởng hay khái niệm, hay là tâm niệm đem áp dụng vào trong đời sống, và chúng tôi cũng phải nói ở tại đây những điều tâm niệm là những điều rất có lợi cho sự tu tập của mình, tuy nhiên khi đã nói đến tâm niệm thì không thể đem một kiểu mẫu nào đó áp dụng cho tất cả mọi người, có những người họ lại hạp với những thứ này, có những người hạp thứ khác.

Chúng tôi lấy một ví dụ, hồi nãy chúng tôi nói rằng một người tu tập thiền chỉ hay thiền quán, những người này có thể niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm Chư Thiên, chúng ta không thể nói một ân đức nào lớn hơn ân đức nào, thật ra đối với một người tu tập thì dù ân đức Pháp, ân đức Tăng, hay ân đức của Chư Thiên, hay ân đức của thí, của giới thì tất cả đều giống nhau ở một điểm, cái nào thích hợp với căn tính của mình thì cái đó nên tu tập, nên thường xuyên niệm tưởng. Chính vì vậy đối với những điều chúng ta gọi là tâm niệm, tuy là mang tánh cách tiền chế, tức là cái gì được quy định sẵn, nó là những khái niệm đã được tìm đâu đó ở trong kinh điển, tìm đâu đó ở trong lời dạy và chúng ta chỉ dựa trên điều đó để nhắc đi nhắc lại trên đời sống, tuy vậy phải nói rằng những điều tâm niệm là một lợi khí rất lớn cho chúng ta để đương đầu với phiền não.

Phải nói rằng cuộc sống tu tập hay đời sống của người xuất gia, khi chúng ta phấn đấu với phiền não thì thưa chúng ta phải có một vài chỗ đứng, và chỗ đứng này nhất định phải của mình chứ không thể của phiền não được, như một người lính họ ra trận, tuy rằng xông pha ngoài trận mạc sống giữa làn tên mũi đạn, nhưng họ phải trở về hậu cứ, hậu cứ tức là nơi an toàn của họ, hậu cứ là nơi họ canh gác cẩn mật để họ có thể an toàn sống ở trong lãnh vực nào đó, thì hậu cứ đó sẽ giúp cho quân đội được dưỡng quân, phải giúp cho những người lính tìm thấy những giây phút mà không phải mặt đối mặt với kẻ thù và lúc nào cũng lo sợ, thì như vậy một người tu tập phải có cứ điểm nội tâm, và những cứ điểm nội tâm đó khiến cho chúng ta qua đó không có tranh luận hơn thua, không phải đôi co, không có bàn thảo mà nó là như vậy để chúng ta có sự ổn định.

Chúng tôi muốn nói ở đây một điểm đó là sự nghi hoặc, nghi hoặc tức là một người tu tập không sống bằng những tâm niệm, thì thường xuyên phải đối diện với tâm hoài nghi, hoài nghi ở đây là hoài nghi Phật, hoài nghi Pháp, hoài nghi Tăng, hoài nghi về quá khứ hiện tại vị lai, hoài nghi về nhân quả v.v.... và những hoài nghi này có thể đưa chúng ta trôi dạt về nhiều phương hướng. Vì vậy tâm niệm là cái gì cho chúng ta hậu cứ, cho chúng ta một cứ điểm, cứ điểm đó khi chúng ta trở về, chúng ta không cần phải đôi co, không phải vật vã, không phải hoài nghi, không phải nghi hoặc, để tạo ra sự ổn định cho mình, cái sự ổn định này cần thiết.

Không hẳn là khi chúng ta tu tập, chúng ta phải sống với một số quan niệm định bất di bất dịch không thay đổi, nhưng, khi đương đầu với phiền não, từ cái tham, cái sân, cái si, cái thay đổi trong đi đứng nằm ngồi, thay đổi ở trong bất cứ sự thay đổi nào khi đối diện với phiền não thì làm chúng ta trở lên lúng túng, làm cho chúng ta trở lên khó chịu và lâu ngày mình cảm thấy mình bị thua trận nhiều hơn là đạt được lòng tự tin.

Chúng tôi xin được nhắc ở đây lại giai thoại liên quan đến một vị thiền sư, đó là vị Tăng sĩ Ajahn Sumedho là người đã thành lập ra Tăng đoàn Phật Giáo Tây Phương ở Anh Quốc và nhiều quốc gia khác, Ngài là một trong những khuôn mặt Phật Giáo lớn của thế kỷ này, khi quí vị nghe Ngài kể câu chuyện, quí vị rất ngạc nhiên về đời sống tu tập của Ngài, Ngài là một người sanh ra ở tại Mỹ, và là người da trắng, lớn lên ở tại Mỹ, khi đi sang Á Châu xuất gia tu tập dưới sự hướng dẫn của Ngài Ajahn Cha, thì phải nói rằng: Một con người đến từ nền văn hoá khác, một con người sống từ một xã hội như Hoa kỳ mà chọn con đường tu tập xuất gia lại trọn con đường trở thành người Phật tử, một đứa con của Phật thì phải nói rằng đó là sự lựa chọn lớn.

khi chúng ta nghe về quan niệm tu tập của Ngài có một vài đoạn chúng ta rất ngạc nhiên ví dụ như Ngài Sumedho nói, đời sống của ngài thường an trú trong ba câu: 
Buddham saranam gacchami,
 Dhammam saranam gacchami,
 Sangham saranam gacchami 

 là 
 con về nương tựa với Phật,
  con xin quay về nương tựa với Pháp,
   con xin quay về nương tựa với Tăng.

Đối với một người Phật tử Việt Nam quan niệm rằng: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng là những quan niệm rất sơ đẳng, vào chùa thì tam quy trước, rồi ngũ giới, rồi sau đó thiền định v.v..., mà tại sao với một vị xuất gia, một vị thiền sư có thể nói rằng một người có nhiều năm tu tập mà lại trở về với những quan niệm đó. Thật ra, quan niệm của một người đã một lần người đó quì xuống và phát nguyện từ đây trở về sau cho đến trọn đời con sẽ sống nương tựa Phật, nương tựa Pháp, nương tựa Tăng, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng đó là quyết định lớn và trong quyết định đó, tâm niệm này hoàn toàn có thể nói rằng trong sạch tịnh tính, và trong cái tâm tịnh tính đó không còn nghi hoặc nữa và vị đó lựa chọn là từ đó trở về sau sự quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng trở thành cứ điểm an toàn của mình, hễ khi mình nghĩ đến điều đó thì tâm mình được thuần, tâm mình được trong sạch, tâm mình được ỗn cố, nó không hoài nghi, nó không có những uế nhiễm phức tạp.

Do vậy đối với Ngài Sumedho thì ba câu Buddham saranam gacchami, Dhammam saranam gacchami, Sangham saranam gacchami mang lại cả một ý tưởng rất lớn lao, mang lại cả một vùng trời an toàn, một không gian mà ở trong đó vị đó không bị chi phối bởi những nghi hoặc, những hoài nghi. 

Như vậy là tâm niệm của mỗi người xuất gia, và quan niệm sự tu tập khả dĩ cho phép chúng ta có một hậu cứ an ổn và không phải thường xuyên vật lộn đối với những phiền não nghi hoặc mà chúng ta sống trong tâm trạng hồi hộp, năm ăn năm thua, mà trái lại tìm được một không khí hết sức là ổn định về tinh thần, một cảm giác gọi là an toàn. Vì vậy khi chúng tôi nói về những tâm niệm ở tại đây thì phải nói rằng với một người tu tập chúng ta không có bác bỏ những giá trị tiền chế, giá trị tiền chế ở đây tức là những giá trị mà chúng ta hấp thụ từ trong kinh điển, những giá trị mà chúng ta vốn tìm thấy ở từ vị Thầy, từ sự nhắc nhở răn bảo của vị Thầy mà những thứ đó khi đem vào trong đời sống tu tập nhất là người tu thiền thì bao giờ cũng cần thiết và hết sức cần thiết để chúng ta tìm được một sự ổn định trước khi bắc đầu vào sự tu tập.

Như vậy chúng ta phải tìm sự tu tập ở thế quân bình giữa giá trị tiền chế và giá trị tự nhiên của một người tu tập, cái giá trị tiền chế ở đây là chúng ta phải sống bằng một số khái niệm đã được quy định sẵn, và giá trị về tự nhiên, là ở trong trách nhiệm là ghi nhận cái gì xảy ra mới nghe nói như vậy, chúng ta tưởng tượng như hai giá trị giữa cái tự nhiên vào tiền chế nó có tính cách mâu thuẫn, trái chống với nhau nhưng trên thực tế thì không phải như vậy. Một người bỏ vào trong rừng thiền sống 5 ngày ba ngày thì người đó cần rất nhiều sự trang bị, những trang bị này khả dĩ giúp cho vị đó đương đầu với nhiều phiền não, cả hai thứ đó nó đều cần thiết hết và hỏi rằng những quan niệm này cần được khai triển tới đâu, thì cái khéo đó là cái khéo của mỗi người hành giả, cái khéo đó là cái khéo của mỗi người tu tập./.

Sunday, June 2, 2013

Tại sao chúng ta nên hướng chánh niệm vào thân vào tâm của mình hơn là nghĩ đến người khác?

Hỏi: Để có thể duy trì sự tỉnh táo chánh niệm tỉnh giác đối với đời sống hàng ngày một cách liên tục thì tại sao chúng ta nên hướng chánh niệm vào thân vào tâm của mình hơn là nghĩ đến người khác?

(Thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 16-2-2013, Minh Hạnh chuyển biên)

 TT Pháp Tân giảng: Tâm của chúng ta thường có những pháp bất thiện, những phiền não tập nhiễm, đặc biệt là những sự phóng dật trao đảo. Cho nên,  sống trong đời này do ngoại cảnh phiền não của nội tâm tác động để rồi tâm khó định tỉnh được vì mình thường có sự suy nghĩ đến người khác, để ý coi người này làm thế này người kia làm như thế nọ. Trong khi mình quên việc xem xét nội tâm của mình

  Chúng ta, mỗi người đều có năm uẩn, có sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Mỗi chúng sinh do phiền não và nghiệp tập nhiễm tạo lên đời sống luân hồi, và mỗi người chúng ta có sự luân hồi trong đời sống. Thay vì mình có thể trú tâm đến nội tâm của mình nhưng mình lại thường hay quan tâm đến những điều gì đó, được hay không được, nên hoặc hư, những việc chung quanh người khác. Thì những điều đó làm cho nội tâm của mình không thể sáng suốt được.

   Cũng như, biết việc mình thành Phật, mình giác ngộ, mình được an lạc hay không thì cũng chính ở sự tu tập nội tâm của mình chứ không ai làm cho mình được điều đó. Cho nên nội tâm có sự an tịnh thì chính là việc làm cho bước chân tu tập của mình có thể dần đến sự an lạc hay là sự giác ngộ.
  
  Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật Ngài dạy rằng: đừng nghĩ người khác làm hay không làm, đừng chú ý đến người khác làm lợi ích hay không lợi ích. Hãy chú tâm vào việc mình làm hay chưa làm. Tức là mình biết được nội tâm của mình, hướng đến nội tâm của mình.

  Để làm cho tâm của mình lợi ích hay không lợi ích, thì hãy chú tâm vào việc mình làm hay chưa làm tức là biết được nội tâm của mình, hướng đến nội tâm của mình, chỉ có mình làm bằng tâm trong sạch thì mới có thể có được lợi ích hoặc là mình có thể giác ngộ được.

  Khi nội tâm của mình không có sự tập trú hoặc là không có sự gắn tâm trên một đề mục thì những sự dạo động hay những sự loạn động khởi lên trong tâm. Cho nên, hãy chú tâm giữ chánh niệm trong đời sống hàng ngày thì cũng là điều kiện tốt để giúp tâm lắng dịu những sự phóng dật.

  Chúng ta, trong đời sống hàng ngày thì những điều làm cho tâm của mình lu mờ chính là mình hướng đến dục tầm, do dục tầm tham cầu những cái mà làm sao cho mình thoả mãn trong đời sống, hoặc là do tham cầu  hoặc là do hướng đến tìm cầu cái sân giận bực bội hoặc là tìm cầu những sự hận thù trả thù v.v... thì những điều đó làm cho tâm của mình không thể an tịnh được cũng không làm cho tâm của mình trong sạch hoá được.

  Trong khi mình hướng nội tâm vào việc tập trú trong một đề mục hay một đề tài tức là mình hướng vào cái gì đó. Cũng như chúng ta thấy rằng việc giác ngộ hay được lợi ích hay không thì cũng chính là do mình làm cho tâm mình trong sạch hóa hay không, chứ không ai làm cho mình điều đó, Phật cũng chỉ là bậc giác ngộ là bậc Đạo Sư chỉ cho chúng ta con đường, phương pháp để chúng ta làm mà chúng ta không làm được thì chúng ta không có được sự lợi ích không có được sự tiến hóa.

  Còn nếu như mình  thực tập được bấy nhiêu thì chính là mình đã có an lạc được bấy nhiêu, và nếu như một lúc nào đó mình thật sự đã dứt hẳn được những dục tầm hay sân tầm và là hại tầm thì chính điều kiện làm cho nội tâm của mình có thể hướng đến sự giải thoát được.

   Cho nên, theo chúng tôi nghĩ rằng một trong những điều người ta khó có thể hướng tâm của mình được là vì do phiền não và nếu như một người biết được những điều chướng ngại của nội tâm thì mình nên dứt bỏ lần lần. Thật sự thì mình khó dứt bỏ nhưng nếu mình dứt bỏ được một phần bao nhiêu thì mình có thể có được sự an lạc bấy nhiêu, mình có được sự lợi ích bấy nhiêu.
  
   Đức Phật gọi "tâm đặt đúng hướng" tức là mình hướng tâm vào một trong đề mục hoặc là tâm làm cho trong sáng. Và chính khi nào bị vẩn đục bởi các dục tầm, vẩn đục bởi các sân tầm, vẩn đục bởi các hại tầm  hay là vẩn đục bởi các phiền não thì chính là làm cho tâm của mình như là hồ nước bị khuấy đục thì không thể nào thấy được vật gì dưới đáy hồ.

Cũng như vậy, tâm của mình bị sự phóng dật, nội tâm bị trao động thì mình cũng không thể phát triển được trí tuệ, mà trí tuệ là một thiện pháp then chốt để phá vỡ vô minh, nếu như trí tuệ không sanh được thì cũng không thể phá vỡ vô minh. Hoặc là chúng ta nói rằng nhờ có trí tuệ mà chúng ta có thể hướng đến thiện nghiệp hay hoặc là nhờ có trí tuệ mà chúng ta phá vỡ được vô minh phá vỡ được phiền não để chúng ta có được sự an lạc giải thoát hay là giác ngộ trong tương lai./.

Saturday, June 1, 2013

Khi cúng duòng đến chư tăng chúng ta có phải hồi hướng đến chư thiên không?

Hỏi: khi cúng dường đến chư tăng chúng ta có phải hồi hướng đến chư thiên không? và xin cho biết sự lợi ích của sự hồi hướng này. 

. (Bài giảng ngày 2 tháng 6 năm 2003, Kệ ngôn 82 tại rơom Diệu Pháp , Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng giảng: Tất nhiên là khi chúng ta dùng chữ "phải hồi hướng" tức là sự bắt buột thì điều đó không có ở trong Phật pháp, tất cả những thiện sự nào mà chúng ta biểu lộ ở trong Phật pháp đều dựa trên một căn bản là do lòng tự phát của chúng ta, do sự tự nguyện của chúng ta, và tất nhiên hồi hướng phước là một sự ban tặng, là một sự chia sẻ, và gọi là ban tặng chia sẻ thì không có cái gì gọi là bắt buộc phải hay không phải hồi hướng.

Về sự lợi ích của hồi hướng thì hồi hướng có ba lợi ích rất là quan trọng:

Điều thứ nhất là khi chúng ta hồi hướng công đức thì tâm của chúng ta sẽ an trú vào một điều mà trong kinh Phật gọi là sự suy tư sau khi làm phước sự. Thật ra thì một người làm một việc công đức mà người đó có ý thức rằng mình làm công đức đó là một điều tốt, ý thức đó theo trong Phật Pháp thì ở trong ba thời kỳ gọi là tư tiền, tư hiện và tư hậu. Tức là trước khi làm tâm mình có chuẩn bị, có nhận biết ra rằng mình làm việc đó, và đặc biệt trong việc phước sự cần đến sự chuẩn bị của chúng ta. Có nhiều người làm tới đâu thì hay tới đó thôi chứ không có tâm để làm lo lắng cho chu đáo thì thiếu sự suy tư trước khi làm. Thiếu sự chuẩn bị trước khi làm các việc phước sự đó cũng là một điều thiếu xót, và nếu chúng ta chuẩn bị được thì là một điều rất lợi lạc. Khi mình đang làm việc phước sự mình cũng để tâm hiểu trọn vẹn đến công việc mình làm, và sau khi mình làm xong thì mình cũng phải ý thức rằng mình đã làm công việc phước sự. Và khi chúng ta làm một việc gì, ví dụ như hôm nay qúi vị Phật tử đi chùa để nghe pháp thì buổi trưa qúi vị về qúi vị có thể nghĩ đến là sáng nay mình đã nghe pháp như vậy, cái ý nghĩ đó thấy nó chỉ rất mong manh rất nhẹ nhàng, nhưng nó rất là tốt để chúng ta nghĩ trở lại.

Cuộc sống rất dễ chìm vào trong quên lãng, và khi chúng ta hồi hướng phước cho người khác cũng là một lần để chúng ta thắp sáng cái ý thức, ý thức đó về một phúc nghiệp mà chúng ta đã làm.

Và việc thứ hai đó là khi chúng ta hồi hướng phước có nghĩa là chúng ta nói lên một cái tâm biết nghĩ tới, nghĩ tới ở đây là nghĩ tới những quyến thuộc đã qúa vãng, nghĩ đến Chư Thiên. Nó tương tự như vầy là ở trong đời sống này có lẽ người ta nói điều quan trọng không phải tiền bạc vật chất mà là tấm lòng biết nghĩ đến nhau, có nghĩa là chúng ta cứ nghĩ chung quanh mình không biết có bao nhiêu người thân, những người này ít có khi nào chúng ta có thì giờ nghĩ đến họ cho đến khi họ có một hữu sự gì đó, ví dụ như họ qua đời, hay là họ bịnh nặng thì chúng ta mới để ý, đa phần là chúng ta để cho họ đi qua trong quên lãng, đây là một điều rất là đáng tiếc.

Chúng tôi nhớ hồi sống ở dưới miền quê sống trong làng thường thì dân quê rất gần với nhau, có khi trong nhà nấu một nồi chè mà bà thân sinh của chúng tôi bắt phải bưng một tô chè cho người này, biếu người kia, đem qua bên kia sông cho một ông cụ nào quen, thì hồi chúng tôi còn nhỏ chúng tôi không có thấy được là tại sao phải làm chuyện đó và đôi lúc chúng tôi cảm thấy rất là khó chịu, khó chịu là tại sao mình phải nghĩ đến những người ở chung quanh như vậy, nhưng lớn lên rồi mới hiểu đó là một cách sống rất đôn hậu của người dân quê, là ở trong xóm làng có cái gì, dầu một nồi chè cũng chia với nhau.

Thì cuộc sống của chúng ta thưa qúi vị, nếu một người sống mà có nghĩ đến những người hữu hình và những người khuất mặt, những người khuất mặt ở đây là những hàng phi nhân, các vị chư thiên thì tâm hồn của mình nó đôn hậu lắm. Chúng tôi để ý thấy rằng một người sống ở trong một xóm làng mà người đó có nghĩ đến người xa kẻ gần, những người chung quanh mình thì tâm hồn của mình khác đi, còn nếu mà mình sống mạnh ai nấy sống, quanh năm suốt tháng mình chỉ biết lo chuyện mình, và ai sống mặc ai, ai chết mặc ai thì tâm mình nó lại khác. Do vậy phép hồi hướng của đạo Phật là cái gì đó làm cho chúng ta ý thức về sự có mặt của những người khuất mặt, của những vị chư thiên, của những chúng sanh xa gần và làm cho lâu ngày chúng ta sống trong tâm tình đó thì con người chúng ta lại khác đi.

Và rồi một điều thứ ba rất quan trọng mà thỉnh thoảng qúi vị cũng nghe chư tăng đề cập đến, Đức Phật thường dạy rằng những ai thương tưởng các vị Chư Thiên thì các vị Chư Thiên sẽ thương tưởng lại. Đạo Phật không có quan niệm quá nhiều, quan niệm một cách tuyệt đối về những năng lực ngoại tại tức là năng lực ở bên ngoài. Nhưng chúng ta đừng quên một điều rằng chúng ta sống trên cuộc đời này, ngay cả ở trong thế giới nhìn bằng con mắt thịt của chúng ta đi nữa, thì những người chung quanh ảnh hưởng đến chúng ta rất lớn, chúng ta phải cố gắng rất là nhiều để thành đạt những gì mà mình mong mỏi, nhưng đừng quên rằng trên con đường dẫn đến đó thì cần rất nhiều trợ duyên, trợ duyên của những người thân của mình, mình đi học mà nếu vị thầy của mình mà có cảm tình với mình thì vị thầy đó sẽ tận tình giúp đỡ mình sẽ học khá hơn, mình sống gần ở trong xóm làng mà người ta thương mình thì tối lửa tắt đèn có nhau thì chuyện đó vẫn tốt hơn, những người đó họ không có lo cho chúng ta tất cả nhưng thật ra tấm lòng cũng giống như thương mến của họ thì nó sẽ giúp cho chúng ta rất nhiều, bởi vì vậy nếu có thiện sự nào chúng ta làm thì chúng ta rất nên hồi hướng./