Saturday, March 8, 2014

Bậc hiền trí nói lời lợi ích. Nói những điều có lợi ích là như thế nào?

Hỏi: Bậc hiền trí nói lời lợi ích. Nói những điều có lợi ích là như thế nào? 

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu: Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo môi truờng sống, tùy theo tư duy của mỗi nguời, chúng ta nhận xét lời có lợi ích và lời không có lợi ích. 

Ví dụ như, sinh viên  vào giảng đuờng, khi nghe vị giáo sư giảng giải về môn học của mình thì nguời sinh viên đó sẽ nhận thức đuợc đây là lời nói có lợi ích. Một bệnh nhân khi đến một vị bác sĩ và đuợc lời khuyên của vị bác sĩ đó khiến cho bệnh nhân nầy cảm thấy an tâm và lạc quan khi chữa trị căn bệnh của mình, thì như vậy lời nói của vị bác sĩ đuợc bệnh nhân xem như là lời nói có lợi ích. Trong cuộc sống cũng vậy, chúng ta có thể đánh giá rất nhiều lời nói có lợi ích, khi chúng ta làm ở bất cứ ngành nghề nào, và có những nguời khuyên nhắc chúng ta những điều thuận lợi cho ngành nghề của chúng ta thì đó cũng đuợc xem như là lời nói có lợi ích. 

Do vậy, "nói lời lợi ích, có giá trị hơn cả ngàn lời vô ích", về khía cạnh chung chung, ý nghĩa chung chung thì chúng ta có thể áp dụng trong bất cứ truờng hợp nào ở cuộc sống của chúng ta. Khi gặp mặt nhau, chúng ta nói những điều gì khiến cho nguời khác nghe xong mà họ thu thập đuợc những điều hay, những điều có lợi cho cuộc sống của họ về mặt vật chất cũng như tinh thần, như vậy lời nói đó đuợc xem như lời nói lợi ích. Và nếu đuợc nghe một lời nói lợi ích thì quả thật lời nói đó có giá trị hơn cả ngàn lời nói vô ích.

Lời nói vô ích ở đây đuợc đánh giá như thế nào? Nói một cách chung chung thì lời nói vô ích là lời nói rỗng không, chẳng có ý nghia và chẳng có tác dụng cho chúng ta. Ở đây khi chúng ta đề cập đến lời nói có lợi ích giá trị hơn cả ngàn lời nói không có tịnh lạc, không lợi ích

Tuy nhiên, chúng ta nên hạn chế cái gì thuộc về hiệp thế bỏi vì nguời Phật tử lúc nào cũng nhắm đến mục đích giải thoát. Sự tịch tịnh, sự tịnh lạc trong đạo hạnh là điều tốt đẹp nhất, và do đó lời nói lợi ích ở đây đuợc xem như là lời nói có liên hệ đến giới hạnh, liên hệ đến sự tinh tấn, liên hệ đến sự viễn ly, liên hệ đến sự thiểu dục, tức là ít có sự ham muốn, liên hệ đến sự tri túc là biết đủ, liên hệ đến sự giải thóat, liên hệ đến tri kiến giải thóat.

Chúng ta khổ có hai mặt, khổ về mặt vật chất và khổ về mặt tinh thần hay gọi là khổ thân và khổ tâm. Khổ thân là sự khổ về già, bệnh và chết, hay là thiếu ăn thiếu mặc, trời nắng nóng hay trời mưa uớt át, gió lạnh thì những cái gì thuộc về cảm xúc, cảm thọ khổ thuộc về thân thì cái đó chúng ta gọi là khổ thân. Còn về khổ tâm tức là những sự khổ ảnh huởng về mặt tinh thần, tâm buồn bực âu lo phiền muộn, bất an, hoang mang sợ hãi, tâm trạng đó gọi là khổ tâm. Mặc dù chúng ta có thể giúp đỡ cho nguời khác về vật chất, phần lớn nguời ta chỉ nghĩ rằng giúp đỡ về mặt vật chất sẽ thiết thực hơn. Tuy vậy, chúng ta không thề phủ nhận một điều rằng những lúc chúng ta âu lo, phiền muộn, có những nỗi ám ảnh sợ hãi, bấy giờ nếu chúng ta đuợc nghe một lời khuyên hữu ích, hữu hiệu, một lời khuyên có giá trị sẽ tác động tâm lý chúng ta, sẽ đem lại cho chúng ta một sự hy vọng hay một tư tuởng lạc quan, một sự an vui; chúng ta không thể phủ nhận điều đó. Do vậy, trong đời sống có khi chúng ta chỉ cần một lời nói khuyên nhủ, khuyến khích, động viên cũng đủ rồi.

Khi tu tập có nghĩa là chúng ta phải áp dụng cả hai mặt, khi chúng ta tiếp xúc với nguời khác và chúng ta có tâm tiếp độ nguời khác, chúng ta có thể tùy cơ hội, tùy truờng hợp mà tiếp độ về vật chất hay tinh thần chứ không có một cái gì cụ thể. Giúp lời chứ không ai giúp của. Quả thật vậy, khi chúng ta nghèo khổ thì nguời ta đến khuyên  chúng ta đừng buồn, hãy sống an phận như vậy, không ai giúp tiền của cho nguời đó thoát khỏi cảnh nghèo. Nếu  suy xét cho kỹ thì trong đời sống của chúng ta, có đôi lúc không cần của mà cần lời, và cũng có đôi lúc chúng ta cần một trạng thái tinh thần hơn là sự kiện vật chất. Chính điều nầy nói lên rằng khi chúng ta cần trạng thái an lạc về tinh thần, thì một lời khuyên hữu hiệu, một lời khuyên lợi lạc nghe xong đuợc chứng đạt quả vị giải thóat thì lời nói đó quả thật quý báu.

Như truờng hợp của cậu Pala, con trai út của ông truởng lão Cấp Cô Độc, cậu ta nghe theo lời cha khuyên đi đến chùa cố gắng thọ trì Tam Quy và Ngũ Giới để rồi trở về nhà lãnh tiền thuởng. Một thời gian sau, ông Cấp Cô Độc khuyên con mình hãy đến chùa để nghe Đức Phật thuyết pháp, ‘con mà nghe đuợc một câu pháp nào có thể thuyết lại, nói lại cho cha nghe thì cha sẽ thuởng cho con gấp muời lần số tiền thuởng hàng ngày’. Cậu Pala vì ham tiền nên đi đến nghe Đức Phật thuyết pháp. Một vài lần cậu ta định sau khi nghe xong một câu pháp, nhớ đuợc một câu pháp để đem về nói cho cha nghe thì cậu ta sẽ đứng dậy bỏ ra về. Và Đức Thế Tôn đã dùng phương tiện giúp cho cậu ta ngồi lại lắng tai nghe pháp, sau đó cậu ta chứng đắc quả Tu Đa Huờn. Ngày hôm sau khi ông Cấp Cô Độc thỉnh Đức Phật về trai tăng luôn tiện để phát thuởng cho đứa con trai của mình, cậu Pala lấy làm hổ thẹn truớc mặt bậc đạo sư và xin sám hối với bậc đạo sư. Đức Thế Tôn biết rõ cậu Pala đã chứng quả Tu Đa Huờn, do đó Ngài đã thuyết một bài pháp và Ngài nhắn nhủ rằng với quả vị mà Pala đa đạt đuợc, quả vị đó quý báu hơn cả ngai vàng của Đế Thích hay là ngai vàng của vua Chuyển Luân Vương. Lời nói đó đuợc một vị thuyết giảng như là Đức Phật hay chư vị A La Hán thì quả thật lời nói nầy đáng giá hơn cả ngàn ngàn câu nói.

Trong cách Đức Phật thí dụ  giúp cho chúng ta hiểu đuợc cách sống trong việc tu tập: 

1 - Một là, chúng ta luôn luôn đón nhận những lời nói tốt đẹp của bậc thiện trí thức đã răn dạy, trình bày cho chúng ta. Những lời nói của các bậc thiện trí thức chúng ta không lắng tai nghe và không lĩnh hội đuợc thì giống như chúng ta đuợc một nguời chỉ cho kho tàng mà không chịu chấp nhận, chúng ta lo đễnh bỏ qua. Như vậy rất là uổng phí.

2. Thứ hai là truờng hợp khi chúng ta đối đãi, tiếp xúc với nguời khác, chúng ta biết rõ rằng một lời nói lợi lạc, hữu ích có giá trị hơn cả ngàn lời nói vô ích, vì đem lại lợi lạc cho nguời khác chúng ta chỉ nên nói những lời nói hữu ích mà thôi. Và những lời nói hữu ích đó sẽ giúp cho nguời khác đuợc sự an vui, tinh tấn, hay xóa bỏ đi những mặc cảm để rồi họ tiến hóa trên đuờng tu tập. Đây cũng là phuớc báu lớn lao. Khi chúng ta tu tập, chúng ta đừng nghĩ rằng chúng ta chỉ im lặng, thân tu tập là đủ, vì trong tam nghiệp, tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp, chúng ta cũng biết lời nói là khẩu nghiệp và nếu như lời nói đó là lời nói tốt, lời nói hữu ích, lời nói có giá trị đạo đức thì lời nói nầy sẽ đem lại phuớc báu cho nguời nói, cho nguời đã trình bày lời nói đó. Trừ ra đối với Đức Phật và chư vị A La Hán, là những bậc vô lậu giải thoát, là những vị những gì nên làm đã làm, sau đời sống nầy không còn đời sống khác, thì đối với các Ngài cho dù các Ngài có nói nhiều những lời nói đem lại hữu ích, lợi lạc cho quần sanh đi nữa thì các Ngài cũng không cần đến quả báo của những lời nói đó, do vậy đuợc xem như không thành tựu khẩu nghiệp, dù cho đó là lời nói tốt. Nhung đối với kẻ phàm phu chúng ta, trong đời sống tu tập, chúng ta không thể so sánh với Đức Phật, hay chư vị A La Hán là chúng ta bất cần, không tạo khẩu nghiệp tốt, điều nầy thật không nên. 

Do đó, nguoi Phật tử nên có những lời nói hữu ích khi nói chuyện với nguời khác. Và nguợc lại khi nguời khác nói những lời hữu ích đến ta thì ta cũng phải đón nhận một cách trân trọng vì những lời nói hữu ích đó nghe đuợc thì chúng ta sẽ đuợc tịnh lạc, sẽ đuợc an vui. Bởi vậy cho nên cho dù mình nghe hay mình nói những lời nói lợi ích thì bao giờ cũng có giá trị cả.

Thursday, March 6, 2014

3 điều nên biết khi làm phước

Hỏi: 3 điều nên biết khi làm phước

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 18-2-2014, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Trước nhất chúng ta hiểu ba lý lẽ trong việc làm phước là:

1. Mình làm việc gì mà có tâm hoan hỉ thì phước nhiều.
2. Và thứ hai là, mình làm phước mà có trí tuệ thì phước đó nhiều hơn là không có sự hiểu biết rõ việc mình làm. 
3. Điều thứ ba, khi mình tạo phước mà mình rủ người khác cùng làm phước với mình thì phước báu tăng nhiều, mình biết rõ chuyện đó. 

Tuy vậy, ở chùa  hay ở nơi nào khi lam phước, ngày nay có nhiều chuyện rất đáng tiếc  . Đáng tiếc là tại vì nói chung người Phật tử không rành Phật Pháp nhiều cho nên thường việc phúc thiện là do chuyện quan niệm xã hội kêu gọi.

Thì chúng tôi xin được nói một vài lời ở đây. Nếu bản thân của qúi vị Phật tử là người thường đi kêu gọi người khác làm phước hay là mình được người khác kêu gọi làm phước thì nên biết những điều này:
- Thứ nhất là khi làm phước mình tránh trường hợp mình bị kích động bị nói khích. Giả sử như chuyện phước gì đó mình không muốn làm nhưng người khác nói khích rồi mình làm thì không nên và mình cũng không dùng cách đó để kêu gọi người khác làm phước. 
- Và thứ hai nữa là mình tránh làm thế nào, như ở trong chùa có những người Phật tử rất có lòng cúng dường mà mình cứ kêu hoài Đức Phật gọi là vắt sữa con bò khô cạn. Có những người việc gì cũng kêu kêu riết người ta buồn nản, riết rồi người ta không làm nữa, cái đó là mình bị mang cái nghiệp rất là lớn vì mình làm mất niềm tin của họ. 
- Và điểm thứ ba là, khi người ta làm phước dù làm ít làm nhiều mình không nên chỉ trích, thí dụ hôm nay mình kêu người ta cúng 1000 đồng mình cũng sadhu, mà người ta cúng 1 đồng mình cũng sadhu, đừng bao giờ nói "Phật tử đó bà đó làm bác sĩ mà chùa kêu gọi chi cúng $20, $50" thì không nên nói như vậy. Chuyện người ta làm phước, ai làm phước thì người đó hưởng chứ đó không phải là vấn đề bổn phận hay là vấn đề là họ phải cúng thế này thế kia. 

Thành ra, khi mình đi chùa tuyệt đối không nên nói cạnh khóe tức là mình có vẻ là moi móc người khác tại sao người như vậy mà làm như vậy v.v...   Tại vì, mình hiểu trong cuộc đời là mỗi người có một tính, có những người họ không nghĩ đến chuyện bố thí, có người nghĩ tới trì giới, có người nghĩ tới tham thiền. Và nếu họ không nghĩ tới bố thí thì khi nào họ nghe pháp rồi khi họ hoan hỉ thì họ bố thí chứ mình không nên vì chuyện họ không làm phước mà mình nói làm cho họ phiền não, chuyện đó mình hoàn toàn không có nên. 

Sinh hoạt ở trong một cộng đồng Phật giáo cũng có cái rất đẹp là mọi người làm đều vì tâm thành. Cũng nên nói rằng ở trong cộng đồng Phật giáo thì thường thường là chúng tôi làm trụ trì chúng tôi biết có những việc  có những việc rất dễ làm rất dễ gây phước, thí dụ như lau bụi tượng Phật hay chăm sóc chánh điện, mình làm cái gì đó mà có người muoố làm thì mình để người ta làm mình lo những chuyện khác mà người ta không làm chẳng hạn dọn dẹp nơi chánh điện mà người ta không làm là bởi vì không hoan hỉ thi mình làm, thì cũng tùy thôi, người nào làm thì làm. 

Chúng tôi cũng thấy có một chuyện là đôi khi Phật tử đi hành hương thì mỗi người có tánh ý riêng, có người thích cúng chùa nghèo khổ thì cúng, nhưng cũng có người không thích cúng chùa nghèo mà thấy chùa càng đẹp thì họ càng cúng nhiều vì họ nghĩ chùa này linh thiêng còn chùa nghèo chùa xấu thì không linh thiêng nên họ không cúng, thì do tánh ý của mỗi người nên mình cứ để tự nhiên. Trong việc làm phước nên để tâm người ta tự nhiên người ta hoan hỉ.

Và một điều như vầy, nếu mình phải lựa chọn trong cuộc sống thì mình nên lựa chọn theo cách đơn giản đó là mình lựa chọn cuộc sống yên bình, cuộc sống nghèo hơn là mình đặt để cho những người Phật tử ở trong hoàn cảnh họ phải lo lắng nhiều trở thành gánh nặng cho họ. Chuyện tu hay chuyện làm phước không có gì để trở thành gánh nặng. Hãy để cho mọi người được tự nhiên, để mọi người được hoan hỉ. Tại vì mình phải hiểu rằng ở trên cuộc đời này mình không muốn ai bắt buộc mình phải làm chuyện gì thì mình cũng suy niệm rằng mình cũng không bắt buộc ai dù bằng hình thức này hay hình thức khác. 

Có nhiều khi chúng tôi cảm tưởng như ở trong quan niệm xã hội người ta hay nói chuyện phiếm chuyện thù tạc, thí dụ như họ chơi một nhóm với nhau thì người này bỏ 5 chục ngàn thì người kia cũng phải bỏ 5 chục ngàn mới gọi là mặt mũi thể diện, thì cách đó thật sự không hợp đạo.

 Và chúng ta cũng nên tập sống tùy hỉ khi người khác làm phước. Giả sử như ở chùa ngày xưa có một cô Phật tử người Hoa ở Indonesia, mỗi tuần cô nấu thức ăn đem cúng dường Chư Tăng ở chùa, thì khi chúng tôi ở chùa chúng tôi rất là hoan hỉ chúng tôi thấy cô không phải là người Việt Nam mà cô là người Hoa ở Indonesia mà cổ chịu khó nấu ăn đem đến chùa. Rồi một lần chúng tôi đi xa làm Phật sự một thời gian khi về không thấy cô đi chùa nữa thì chúng tôi nghĩ chắc cô bận cái gì đó nhưng sau đó gặp cô thì cô nói rằng lúc Sư đi khỏi thì ở chùa có người Phật tử nói với cô là có cúng thì cúng tiền chứ thức ăn cô nấu mấy Sư ăn không được." Cái đó là cái không nên. Người xuất gia mà người Phật tử cúng nhiều thì ăn nhiều mà nếu ăn không được ngon thì ăn một chút ít chứ không nên vì một người Phật tử có tâm thành mang đến chùa rồi người Phật tử khác nói người ta đừng mang đến nữa dù những người Phật tử đó họ nói là họ hành động với thiện chí là cản cô đừng nấu vì thật sự cô nấu thì nấu rất là nhiều ,nhưng mình có cách khác chứ không nên nói với cô như vậy. 

Thì nói chung trong cuộc sống tu tập thì mình làm thế nào mà Phật Pháp được thịnh là do những người cư sĩ làm phước mà họ hoan hỉ đúng nghĩa làm phước và cái chuyện mình cản trở nói ra nói vô làm cho người khác bị phiền não thì nên tránh và đồng thời cũng không nên bắt buộc người ta làm, chuyện đó không có đẹp.

Thật ra thì đề tài mà chúng tôi đang nói với Phật tử ở đây chúng tôi muốn có một buổi hội thảo về đề tài này để chúng ta có thể nghe và hiểu nhiều hơn ở trong chuyện làm phước. Chúng tôi rất là sợ thế hệ mai sau từ từ mai một về chuyện làm phước mất đi tinh thần mà ngày xưa thời Đức Phật và Chư Tăng đã để lại đó là tinh thần hộ trì người xuất gia sống để tu tập đó là sự phát tâm tự nhiên của người đàn tín. Càng về sau này nó mang tính bắt buộc. 

Văn hóa Tây phương ngày nay trong các đạo khác như Tin Lành hoặc Thiên Chúa giáo thì tín đồ đi làm  phải đóng thuế cho nhà thờ. Điều đó không có đẹp.

 Phật giáo có nhiều chùa chiền hay từ thiện, mình  không phải là đóng thuế mà minh ý thức được tinh thần hộ tri của mình.

 Và qúi Phật tử cũng nên nhớ là khi mình làm phước mình nên dùng cái trí tuệ, cái chính của người Phật tử làm phước không phải là bây giờ qúi Phật tử thương qúi một vị Thầy nào đó rồi chăm lo cho vị Thầy đó quá nhiều vì là Thầy của mình, điều đó không có đúng, mình nên làm phước với tâm rộng đến chung qúi Chư Tăng . Giả sử như hôm nay quí vị mang đến thì để chung cúng Chư Tăng chứ đừng nghĩ rằng tại vì quen với vị này quen với vị kia mà mình đem đến và đồng thời mình làm sao cho thấy rằng mình đi chùa mình đối với Chư Tăng đồng đều, tại vì mình làm như vậy Chư Tăng sẽ có sự đoàn kết. Qúi vị biết là có nhiều khi Chư Tăng ở trong chùa bị chia rẽ phân hóa vì qúi Phật tử. Và ở đây, chúng tôi nói với qúi Phật tử nữ đừng có buồn là người nữ thường hay có tâm thiên vị, thiên vị vì thương hay thiên vị vì ghét chẳng hạn, có nhiều khi qúi Phật tử thấy có vị Thầy nào Sư nào mình hoan hỉ thì mình lo cho vị đó nhiều một chút, chuyện đó nhìn ở bên ngoài thì vô hại nhưng kỳ thật nó làm cho có sự phân hóa. Thành ra ngày xưa, theo Phật Pháp thì làm chung chung làm gọi là cúng dường đến đại chúng không có cúng riêng vị nào. 

Và dĩ nhiên là hình ảnh đẹp mà ngày xưa còn lại Phật dạy cho chúng ta đó là hình ảnh Chư Tăng đi khất thực, khi đi khất thực trong làng thì qúi Phật tử gặp Chư Tăng thì cúng dường chứ không cần biết vị đó là ai thân hay là sơ. Thì ngày nay chúng ta hay nghĩ rằng mình biết nhiều nhưng mà thật ra mình không biết nhiều , chúng ta thường đánh mất đi những giá trị truyền thống và những giá trị đó rất là đẹp rất là quan trọng. Bởi vì để chấn hưng Phật Pháp thì Phật tử đi chùa học đạo hiểu đạo nên làm phước bằng tâm hiểu biết tâm an lành và đồng thời có trí tuệ. 
Mình không bao giờ nghĩ rằng mình không đi chùa vì mình nghèo, đi chùa làm phước phải giàu, chưa chắc chỉ giàu mới có thể làm phước được, mà hễ mình làm phưóc là do sự phát tâm của mình và do vậy chúng ta nên ý thức rõ ràng là việc phước đó để mình làm phước cho được chọn vẹn
Thứ hai nữa mình không làm phước vì thiên vị. Những người Phật tử đi chùa làm phước và chúng ta nên biết một điều rằng quan hệ của người xuất gia và người tại gia là điều rất là quan trọng và mỗi người phải tự ý thức rõ để Phật giáo được hưng thịnh. Làm phước mà mang tánh cách gọi là quen biết hoan hỉ nhiều hơn là cái gì có tánh cách đại chúng. Điều đó là điều mà chúng ta rất là cẩn trọng ./. 

Wednesday, March 5, 2014

Sự vô ý giết hại một chúng sanh có mang nghiệp không?

Hỏi: Sự vô ý giết hại một chúng sanh có mang nghiệp không?

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Theo trong lý nghiệp báo thì chữ cố ý hay vô ý chúng ta nói ở bên ngoài mang tánh cách tổng quát nghĩa là  không có  thể trả lời dựa bằng cố ý và vô ý đựơc. Chúng tôi xin đưa ra một thí dụ như vầy, đối với Ðạo Phật một hành động gọi là sát sanh đó phải hội đủ năm yếu tố:

1.- Đối tượng  bị giết phải là một chúng sanh có  thức tánh , nghĩa là  chúng sanh đó đang sống đang có  thức tánh. Một ngưòi hỏi chúng tôi: 

-Một miếng da người ta đã làm sẵn rồi đem  bịt cái trống thì điều đó có phải là làm tổn hại chúng sanh hay không? 

Thì chúng tôi thưa rằng: trên nguyên tắc khi nào quí vị cần một miếng da bò để bịt cái trống mà mình kêu người ta làm cho mình thì điều đó có thể tạo nghiệp. Nhưng nếu là miếng da bò người ta bán ở ngoài chợ khi mình mua về thì miếng da bò đó không phải là chúng sanh có thức tánh. Con vật đó có thức tánh mình phải biết là vật đó là vật có thức tánh và cái biết ở đây là cái biết về đối tượng. 

Thì cái biết về đối tựơng này có nhiều trường hợp; về phương diện giới , giả sử như chúng ta đốt  một đống lửa mà chúng ta không biết ở trong đó có một con vật gì đang nằm trong đó, chúng ta chỉ đốt một đống lá thôi thì cái đó chúng ta hoàn toàn không có biết tới đối tựơng. 

Về điểm này thì còn có rất là nhiều điểm cần phải bàn thảo. Người ta hỏi rằng; giả sử như chúng ta nói rằng trong ngũ nghịch đại tội có  tội là giết cha giết mẹ thì nếu chúng ta sanh ra làm một đứa con cô nhi không  biết  cha mình còn sống mà bây giờ lớn lên mình tham dự trong quân đội, quân đội  phía bên này đánh phía bên kia, và lúc đó cha mình ở phía bên kia và mình bắt đựơc cha mình, mình không biết đó là cha mình, mình giết cha mình thì có phạm tội ngũ nghịch đại tội hay không? Và trường hợp mình ra trận người ta nổ súng thì mình cũng nổ súng nhưng cái nổ súng  của mình nó vô tình là viên đạn đó đi vào trúng ngay người bên kia mà người đó lại là cha ruột của mình  mà mình lại không biết người đó là cha của mình và mình cũng không hề biết rằng viên đạn mình nổ súng đó nhắm vào cha của mình, thì điều đó có mang nghiệp hay không ?

            Thì đó là, một sự cố ý hay vô ý. Chúng ta phải phân biệt là chúng ta có biết đối tượng hay là không biết đối tượng và đối tựơng đó là gì và đối tựơng đó là đối tựơng của một người thường hay là đối tượng đó là vị Phật, đối tượng đó là đối tượng Thánh rồi cố ý giết , là có ý giết là có chủ tâm, là có chủ tâm để tạo một hành động là ráng sức giết. 

Thường thường cái ráng sức giết này nó đi với tà kiến nó đi với kiến hoặc. Thí dụ một người muốn làm một việc sát sanh mà họ nghĩ rằng việc sát sanh này không có tội gì hết thì  trong việc sát sanh đó họ lại đi kèm với tà kiến, và tà kiến này có thể tính vào chỗ ráng sức giết và sau cùng là con vật đã chết vì đối tượng đó đã bị  đoạn mạng vì cái sự cố ý đó.

Chúng tôi nói như vậy quí vị  thấy rằng câu chuyện nó phức tạp chứ không đơn giản là chúng sanh đó có đối tựơng và đối tựơng như thế nào, chúng ta có biết về đối tựơng đó hay không và chúng ta có lập tâm làm một hành động sát hay không và trong cái lập tâm  hành động sát đó chúng ta có gói ghém trong đó  sự rán sức. Sự rán sức ở đây chúng ta có vận dụng khả năng của mình, tâm tư của mình, vận dụng kiến chấp sai lạc của mình thì  về điểm này nó rất là phiền hạ.

Có những câu chuyện túc sanh chuyện rất là dài đề cập đến những con người mà những ngừơi đó họ hoàn toàn không biết đối tượng đó là ai và ví dụ như là  trong một bài kinh Pháp Cú kể về một vị trưởng gỉa , ông này đi dọc đường thấy một vị Samôn, vị Samôn đó có một tướng cốt cách rất là đẹp, đẹp lắm, đẹp đến nỗi ông là đàn ông mà khi thấy vị Samôn đó thấy dáng dấp của vị đó thì ông nghĩ một ý nghĩ quấy ở trong đầu, ông nghĩ rằng nếu mà vị này là con gái là phụ nữ thì bằng giá nào mình cũng cưới về làm vợ, ông nghĩ như vậy và lúc ôngnghĩ như vậy thì ông hoàn toàn không biết người mà ông đang nghĩ đó là Tôn Giả  là một vị Thánh nhân đã hòan toàn giải thoát và cái ý nghĩ này nó tạo một trọng nghiệp và ngay lúc đó trọng nghiệp đó nó biến ông từ thân nam trở thành thân nữ và đó là theo trong kinh nói như vậy thì trong trường hợp này  một người nhìn thấy một vị Samôn và họ chỉ nghĩ rằng vị Samôn đó là  vị Thầy Tu bình thừơng thôi nhưng  không biết đó là bậc thánh, giống như là  chúng ta thấy cục than  mình nghĩ nó đã nguội rồi bên ngoài không có  thấy dấu hiệu gì cục than dó là nóng hết, nhưng mà cục than đó lại là một cục than nóng đang cháy . Thì như vật có một lần chúng tôi có đề cập đến ba  yếu tố để quyết định liên quan đến nghiệp , một  là tác ý  tức là chủ tâm của chúng ta , cái tác ý này có thể nó được làm mạnh hay yếu đi là bởi khả năng gọi  vô trợ hoặc hữu trợ tức là nhậm lẹ cái tác ý này nó có thể đựơc quyết định bởi yếu tố là thọ hỷ và thọ xả  tức là cảm giác vui buồn hay là cảm giác thản nhiên.

            Tác ý  chủ tâm tạo nghệp này nó có thể quyết định bằng các yếu tố mà chúng ta gọi là có tà kiến hay không có tà kiến đó là riêng về tâm tạo nghiệp thôi, rồi cái tâm tạo nghiệp đó phải nói đến hành động tạo nghiệp có những hành động rất là dã man có những hành động không có dã man, có những hành động rất là thù thắng mà có những hành động không có  thù thắng. 

Chúng tôi muốn nói đến trường hợp là cũng thời bố thí ,có những việc bố thí mà  vật bố thí thì rất là trang trọng nhưng  hành động bố thí  kém cỏi, thì cái hành động cái việc làm cũng là một yếu tố quyết định. 
-Yếu tố quyết định sau cùng chúng tôi nói đó là đối tượng, đối tựơng ví dụ như cũng lời nói đó chúng ta nói với cha mẹ thì quả nặng hơn là với người thường với một vị có giới đức , một vị có đạo cao đức trọng nó khác với một ngừơi tầm thừơng. Thì như vậy khi mình đề cập đến chủ tâm khi đề cập đến  hành động đề cập đến tác ý đối với đối tựơng  thì cho thấy rằng sự cố ý hay vô ý của chúng ta nó hoàn toàn không thể dùng được ở đây được mà chúng ta nói là rất rõ.

             Một câu chuyện, vị thái tử cầm một cái tên một cái cung bắn vào một cái hoa và không biết rằng trong cái hoa đó có một con sâu nằm trong đó thì trong trường hợp này cái gì đã làm cho cái nghiệp nó có kết quả. Trong việc giữ giới vị này không có phạm giới bởi vì  vị này đã không có nghĩ rằng hoa có thức tánh hay là trong cái hoa đó có một sinh vật có thức tánh, nhưng mà rõ ràng vị này có lập tâm làm một hành động là bắn và vì trong cái bắn đó mà nó tạo nên một cái oan kết và cái oan kết thì đời sau chúng ta sẽ trả. Nên đôi lúc quí Phật Tử có hỏi rằng tại sao mà thỉnh thoảng chúng tôi có dề cập đến một số các điều liên quan đến hành động sát sanh rất là  thường, bởi  vì nhiều lúc chúng ta không khéo sẽ mang một mặc cảm rất lớn. Một người đề cập đến một câu hỏi là; giả sử như cắt cỏ và trong lúc cắt cỏ có con vật nó sẽ chết đi và nếu mình biết con vật chết đi thì mình có nên cắt cỏ hay không ? 

             Mặc dầu hành động cắt cỏ chỉ chủ tâm làm sao sạch sẽ sân sau sân trước chứ không có mục đích giết con vật đó nhưng mình biết rằng có thể tạo ra cái nghiệp vì vô ý, có hàng trăm ngàn thứ  trong đời sống mà chúng ta bị liên hệ, chúng tôi xin gọi đó là cái khổ của trầm luân, đôi lúc Phật Tử hỏi chúng tôi vậy chứ nếu mà chúng ta có một cách nào để tránh khỏi tuyệt đối không sát sanh không ?. 

              Bên Ấn Độ có một tông phái của Bà La Môn giáo họ chủ trương rằng một ngừơi mà muốn hoàn toàn trong sạch là đi đâu cũng phải có một khẩu trang để bịt mũi lại, vì khi hít thở vào sẽ hít các con vật vào và phải có cây chổi để quét bước đi của mình dể mình không có dẫm lên con này con khác. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là chúng ta sẽ không sát sanh. Chúng tôi nói một cách đơn giản như vầy ; trong rau cải chúng ta ăn, người ta tính trung bình nếu người ăn rau cải một năm thì ngừơi ta có thể nuốt vào trong bụng khoảng hai pound (1 ký lô ) côn trùng ở trong rau cải và trong việc trồng trọt của các nhà nông thì để trồng trọt như vật ngừơi ta đã phải giết bao nhiêu sinh vật để có thể giữ được hoa màu. Có một lần chúng tôi đi với một vị Thầy vào trong một chỗ họ làm bông vải làm cotton, thì Thầy này đi ra và đã nói với chúng tôi rằng Thầy rất là phiền não và tôi hỏi tại sao thì Thầy nói rằng từ trước tới giờ Thầy tránh không có dùng tơ lụa bởi vì ở trong tơ lụa mỗi lần sài áo tơ lụa thì Thầy nghĩ rằng áo tơ áo lụa nó giết rất nhiều những con tằm khi ngừơi ta lấy kén để dệt tơ thì họ sẽ phải giết nó đi đúng thời đúng lúc thì chắc chắn rằng mặc áo tơ lụa mình đã gián tiếp sát sanh nhưng khi Thầy vô các hãng dệt bông vải cotton này thì Thầy cũng thấy người ta làm tương tợ như là khi bông vải đựơc hái về trong bông vải chứa nhiều ấu trùng , những ấu trùng này cũng có thể làm hỏng đi cái bông vải và ngừơi ta phải dùng kỹ thuật luột và họ lựa những thứ này ra. Và có thể nói rằng trong cuộc sống không thể nào cho dù quí vi sài vải tơ lụa hay là vải cotton, cho dù chúng ta chỉ ăn rau cải cho dù chúng ta chỉ làm công việc rất nhẹ nhàng thì trực tiếp hay gián tiếp chúng ta cũng thỉnh thoảng tạo nghiệp sát sanh. Và đạo Phật dạy rằng chúng ta không thể làm cái tuyệt đối đựơc là trong trần gian này tránh những cái nghiệp gọi là nghiệp vô ý thật là chúng ta không tránh khỏi, chắc chắn ít nhiều thì chúng ta cũng phạm phải.

           Giống như người ta nói rằng đã nói rằng đã vào trong cuộc trần thì nhiễm phong trần vậy. Đồng tiền  chúng ta đóng góp cho chính phủ để trả thuế thì ngừơi ta dùng cái tiền đó có thể chế tạo vũ khí có thể làm bao nhiêu việc mà chúng ta hoàn toàn không có tưởng tượng. Nên chi sống trong một thời đại, một xã hội, một cộng đồng , trong một nếp sống bao giờ chúng ta cũng có một cái cộng nghiệp mà cái cộng nghiệp này không sao tránh khỏi. Riêng về chuyện chúng ta sài giấy thôi, ngành tiêu thụ giấy ngày hôm nay cho chúng ta nhiều tiện nghi, nhất là sách vở  thì giấy đó tạo nên một cái tệ nạn rất lớn là nạn phá rừng, mà hễ người ta phá rừng thì người ta đã tiêu hủy bao nhiêu chỗ ở của các sanh vật ở trong rừng mà thậm chí bây giờ ngừơi ta báo động rằng cái việc phá rừng nó đã làm thay đổi cái môi sanh trên thế giới này.

             Hàng năm có hàng trăm loại bị tuyệt chủng bởi vì những sanh vật này không tìm thấy mảnh đất sống nữa có nghĩ như vậy thì chúng ta mới hiểu rằng tại sao kiếp trầm luân của chúng ta tạo nhiều cái nghiệp. 

Tuy vậy, khi nói về sự cố ý và vô ý chúng tôi nhắc lại là sự cố ý vô ý dựa trên nhiều các yếu tố là:
-biết hay không biết vật có thức tánh hay là vật không có thức tánh, 
-cái biết đó là một chuyện rồi chúng ta biết thứ hai là chúng ta có ý giết hay không có ý giết , ví dụ như quí vị cắt cỏ , cắt cỏ không có nghĩa là cố ý giết con vật này con vật khác mà chỉ có ý cắt cỏ thôi, 
-và rồi ráng sức giết , ráng sức giết này đi chung với tà kiến, đi chung với những cái chấp hay là với những cảm thọ thì điều nàỳ nó là một yếu tố và chúng ta phải cân nhắc. 

Và chúng tôi cũng phải nói ở đây là cái gì ở trong cuộc sống này chỉ có tương đối, chúng ta không thể tuyệt đối đuợc, khi mà đặt vấn đề tuyệt đối chúng ta tự mình đánh mất đi cái cơ sở của chính mình và nều mà chúng ta tránh đựơc sự sát sanh bằng cách trực tiếp giết thì nên và đừng bao giờ nuôi cái mặc cảm ở trong lòng, hễ nuôi dưỡng mặc cảm thì chúng ta không bao giờ thành đạt và không bao giờ  đi xa được hết và để tránh né tất cả mọi thứ nghiệp sát ngay cả quí vị ngồi một chỗ qúi vị cũng chưa chắc là chúng ta không có mang nghiệp sát.

Tuesday, March 4, 2014

Tại sao chiến tranh, tranh chấp, hận thù xảy ra ở giữa loài người ?

Hỏi: Tại sao chiến tranh, tranh chấp, hận thù xảy ra ở giữa loài người ?

(Bài giảng trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Phải nói rằng danh lợi là những gì chúng ta rất dễ bị lôi cuốn, đã có rất nhiều sự chia rẽ ở trong cộng đồng Phật giáo không phải vì y' thức hệ, không phải về chánh kiến, mà đơn thuần vì danh vì lợi mà  thôi.  Có những khi chúng ta nghe những lời nói rất nặng của một cá nhân này đối với một cá nhân khác không phải vì những ân oán cá nhân mà tại vì người ta sợ rằng sẽ mất đi cái họ đang có.

Trong một đoạn kinh rất nổi tiếng trong Trường Bộ Kinh là kinh Đế Thích Sở Vấn, một lần Đế Thích đến đảnh lễ Đức Phật và Đức Phật Ngài thuyết pháp cho Đức Trời Đế Thích.  Đức Trời Đế Thích đã đảnh lễ Đức Phật và xin được hỏi câu hỏi đầu tiên là tại sao chiến tranh, tranh chấp, hận thù xảy ra ở giữa loài người và ở trong Chư Thiên  trên thế gian này, thì Đức Phật Ngài giải thích rằng chính do hai pháp ganh tỵ và bỏn xẻn.  
- Ganh tỵ là tâm đố kỵ không vui với sự thành đạt của người khác, người ta giàu hơn mình, người ta đẹp hơn mình, người ta thành công hơn mình thì mình không hoan hỷ, mình cảm thấy bực bội khó chịu.  
-Bỏn xẻn là mình sợ rằng cái gì mình đang có sẽ bị lấy đi, nó sẽ bị tổn giảm, nó sẽ bị vơi đi.

Chính hai pháp này đã tạo ra vô số máu và nước mắt ở trong lịch sử của nhân loại.

Ở đây, chúng ta một lần nữa tìm thấy được ý nghĩa đạo Phật dậy về hạnh xả ly, hạnh buông bỏ, nếu chúng ta không tu tập hạnh buông bỏ, hạnh xả ly thì chúng ta chính là nạn nhân của chính mình.  Nạn nhân của chính mình là do ganh tỵ và bỏn xẻn, do tỵ hiềm đối với cái được của người khác và do sợ cái mất của mình, nên chi cả hai điều này dẫn con người vào một cái nhìn, cho dù đó là một viên ngọc và viên ngọc ở trong tay người khác thì họ cũng không nhận đó là một viên ngọc, và cho dù họ có thể đi tìm thấy những ánh sáng từ một nơi khác thì họ cũng không tìm mà họ chỉ khư khư ôm  lấy cái gì mình có được. 

Ở trong thời đại người ta cổ võ chủ nghĩa tiêu thụ, người ta cổ võ tinh thần làm giàu bản thân, trường hợp này đã tạo nên không biết bao đau khổ mất mát và những nghiệp hết sức nặng nề.  Với một người Phật tử  chúng ta tin vào lý nghiệp báo, biết một người với tâm thanh tịnh làm các thiện sự mà mình khuyến khích họ thì phước đức của mình tăng trưởng rất nhiều, nhưng nếu một người phát tâm làm phước làm các thiện sự  mà chúng ta chỉ trích chê bai hoặc gây trở ngại cho họ thì quả thật nghiệp bất thiện  cũng nặng lắm chứ không nhẹ, rất nặng. 

Ngày hôm nay, chúng ta thường nghe nhiều tranh chấp, nhiều lời nói đố kỵ qua lại ở trong cộng đồng Phật giáo về cá nhân này hay cá nhân khác.  Thường thường người ta hủy báng mạ lỵ nhau đơn giản vì danh vì lợi chứ ít khi vì giá trị thực sự.  Quí vị để y' như vầy, những người  sống rất tầm thường ở trong cuộc đời này ít khi họ bị miệt thị, bởi họ không phải là đối tượng để người khác tranh chấp, nhưng những bậc tu tập thanh tịnh tốt đẹp, những bậc danh tăng có tiếng tăm thì thường thường bị đố kỵ bị dèm xiểm rất nhiều, bởi vì có một số cá nhân họ rất sợ những ảnh hưởng của những vị này liên quan đến đời sống của họ và cho dù một số cá nhân  đó có khả năng, có sự tu tập ở trong đời sống đến đâu đi nữa, nhưng thái độ đố kỵ sẽ khiến cho những vị này đánh mất đi cái lợi ích của chính mình và dần dà rơi vào một hoàn cảnh mà chính mình lại đào bứng cái gốc rễ của mình.

Phải nói một điều rằng đối với chánh pháp chúng ta phải bỏ ra rất nhiều thì giờ để chiêm nghiệm để hiểu giá trị của chánh pháp, và trong hoàn cảnh nào thì chúng ta cũng phải thấy được giá trị của chánh pháp trên hết.  Nếu chúng ta hiểu được giá trị của chánh pháp thì những ai phát tâm với chánh pháp, hoan hỷ với chánh pháp, dù rằng chánh pháp đến từ mình hay đến từ bất cứ người nào khác thì chúng ta cũng hoan hỷ. 

Các vị Chư Thiên  sống trong cảnh giới Tusita là Cung Trời Đâu Xuất, phần lớn những Chư Thiên sanh về cõi này là những vị phát tâm trong sạch hoan hỷ đối với chánh pháp, nhìn thấy vẻ đẹp của chánh pháp, cái rực rỡ oai nghi của chánh pháp, và vị này sanh lên cõi trời đâu xuất, tại cõi trời này các vị tiên thường quây quần trong pháp hội, và những pháp hội này được thuyết giảng thường là bởi những vị Bồ Tát sắp chứng quả Vô Thượng Chánh Giác, đây là một cảnh giới rất vi diệu, cảnh giới này được thành tụ là do những người ưa thích chánh pháp.  

Đời sống của chúng ta một trong những điều để chúng ta vượt qua những đố kỵ những bỏn xẻn là chúng ta nên biết làm thế nào để cảm kích chánh pháp thay vì đặt mình trong sự đố kỵ với những người khác. Có thể nói con người thường chuốt lấy những đau thương, những hệ lụy chính mình, không phải vì nghiệp riêng quá khứ, không phải vì hoàn cảnh đưa đẩy bên ngoài mà do chính cái nhìn sai lầm của mình 

 Một lần chúng tôi có nói chuyện với một vị Hoà Thượng, vị HT này nói rằng: con người của mình bình thường rất hiền lành nhưng khi vì danh vì lợi thì cũng có thể làm những việc tày trời là giết cha giết mẹ của mình.  Lời nói đó thật ra không phải quá đáng, chúng tôi nhận thấy rằng có những người Phật tử đi chùa, ban đầu phát tâm rất trong sạch, nhưng sau đó vì một chút phiền phức cá nhân, một chút phiền não mình không dằng xuống được và từ đó họ quay lưng lại chống báng Chư Tăng, chống báng những đạo hữu, chống báng ngôi chùa, thậm trí chống báng lại đạo mình và trong những sự chống báng đó người này tạo vô số điều đạo Phật gọi là phi công đức, những điều phi công đức này đáng lẽ không nên làm tại viì nó không đáng gì với sự phiền giận nhỏ bé của chúng ta mà làm tổn giảm của chúng ta rất nhiều, nhưng bởi vì tự ái cá nhân hay bởi vì sự bất mãn mà mình đặt mình ở trong vị thế ngược lại với những lợi ích của mình thì đây chính là bi kịch của kiếp người.

 Loài người chúng ta rất dễ bị danh lợi chi phối, và khi con người đã mù quán trong danh lợi rồi thì có thể đặt mình trong bất cứ bi kịch nào, kể cả việc tự mình đối lập với những giá trị cao qúi mà mình đã lựa trọn, tự mình làm tổn hại đến bản thân của mình, đào bứng lấy gốc rễ của mình, thì điều này quả là một điều không may. 

Monday, March 3, 2014

Phật Pháp soi sáng cho chúng ta những gì và cái gì chúng ta có thể làm được khi chúng ta đến tuổi về già?".

Hỏi: Đối diện với sự già nua, khi tóc trên đầu đã điểm sương, chúng ta là những người không thể nào tránh khỏi sự cằn cổi của cuộc sống và trong giai đoạn cuối đời của mình, Phật Pháp soi sáng cho chúng ta những gì và cái gì chúng ta có thể làm được khi chúng ta đến tuổi về già?". 

(Bài giảng trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Tuổi già là một hiện tượng suy thoái và hiện tượng suy thoái này là cơn ám ảnh cho tất cả mọi người. Ở những quốc gia kỹ nghệ người ta nói nhiều đến quỹ hưu vọng, quỹ an sinh xã hội cho tuổi già. Ngày hôm nay, dân chúng trên địa cầu tại các quốc gia kỹ nghệ lớn như Đức quốc, Nhật Bản đã bắt đầu lên tiếng báo động dân chúng càng lúc càng già nua. Ngày xưa, có thể năm bảy người trẻ tuổi đi làm để đóng thuế để chu cấp cho một người lớn tuổi, bây giờ chỉ còn một người rưỡi, và trong tương lai một người trẻ đi làm có thể phải chu cấp cho ngân quỹ an sinh của hai hoặc ba người già. Tại Đức quốc kể cả Nhật Bản ngày hôm nay đã có tình trạng báo động người phụ nữ không còn muốn sanh con nữa và số người đang sống 50, 60 tuổi thì nhờ vào kỹ thuật y khoa càng lúc càng tiến bộ, người ta càng sống lâu hơn. Vì vậy thành phần chiếm đại đa số trong xã hội là những người lớn tuổi.

Cho dù thích hay không thích đôi lúc mình nghe người khác nói rằng “ bạn đã già đi rồi”, chúng ta nghe không vui, không hài lòng, nhưng rồi, dù có thích hay không thích chúng ta cũng phải đối diện với tuổi già. Chúng tôi nhớ có một bài viết của Dorothy Curtis, bà có đề nghị rằng chúng ta hãy  trưởng thành chứ đừng già nua. Trưởng thành ở đây có nghĩa là thể xác thì già dặn nhưng tâm hồn đừng già nua. Đây là một điều tuy là dễ nói, rất là hay nhưng không phải dễ dàng thực hiện trong đời sống này. Đối với đạo Phật bất cứ vấn đề gì của kiếp nhân sinh cho dù chuyện đó chúng ta có hài lòng hay không hài lòng, hoan hỷ hay không hoan hỷ chúng ta cũng phải đối diện với những thứ này. Trong nền văn hoá cổ truyền Đông phương của chúng ta, tuổi già cũng giống như ở bất cứ nơi nào khác, con người đến thời kỳ suy thoái của thể xác, lưng cong má hóp, răng long tóc bạc lại có thêm một thứ mà ngày hôm nay ở tại các nước phương Tây lại không có được: đó là tuổi già được kính trọng. Niên trưởng của một người cuối cuộc đời thường được kính trọng ít nhất là trong gia đình, và những người ở chung quanh. Đặc biệt trong đạo Phật điều này cũng được nhắc đến.

Tuy nhiên. Tuổi già được nhìn dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Có lúc tuổi già được nhìn thấy như là một hiện tượng thiên nhiên, hiện tượng đó có mãnh lực tuyệt đối, mãnh lực đó đưa tất cả chúng sanh đến chỗ tử vong. Một chỗ khác Đức Phật Ngài nhìn tuổi già, như một người lớn tuổi lớn xác mà không lớn trí tuệ, giống như một con trâu già. Một chỗ khác chúng ta nghe Đức Phật dùng tuổi già để làm một điểm tựa nhắc nhở rằng thời còn trẻ còn khoẻ phải làm những gì nên làm cần làm đừng chờ đến tuổi già. Khi tuổi già đến, sức khoẻ đã cùn kiệt, tay chân không còn làm theo ý của mình nữa, lúc bấy giờ chúng ta mới thấy rằng tuổi trẻ đã bị phung phí quá nhiều, không làm những việc thật sự cần thiết.

Nếu chúng ta hiểu Phật Pháp, đọc với tinh thần của một người Phật tử hiểu đạo chúng ta sẽ thấy rõ ràng rằng, có một sự việc không phải là điều vui trong cuộc sống, có một sự việc con người vốn tránh né nói tới thì đạo Phật lại nói tới một cách thật sảng khoái, hết sức rõ nét. Không phải nói đến như vậy để chúng ta bi quan, buồn bã mà nói đến để đánh động tỉnh thức trong người của chúng ta.

Quả thật đề tài tuổi già là đề tài lớn, lớn trong Tứ đế, trong giáo lý Thập Nhị Nhân Duyên. Trong nhiều bài kinh khác nhau, ví dụ kinh Thiên Sứ, tuổi già cũng được xem là một vị Thiên Sứ mang thông điệp đến cho trần gian này. 

Nói chung chúng ta có thể đọc được nhiều giai thoại rất thú vị trong kinh Phật kể cả một giai thoại “Năm đó Đức Thế Tôn đang ở một thị trấn nhỏ tại nước Kosala, vua Ba-Tư-Nặc lúc bấy giờ tự nhiên khao khát mong muốn được gặp Đức Phật. Vua Ba-Tư-nặc đến gặp Đức Thế Tôn, để xe ngựa tận ngoài cửa và đi vào với đôi chân không của mình. Gặp Đức Phật vua quỳ xuống đãnh lễ, lấy trán của mình đụng vào bàn chân của Đức Phật. Đức Phật hỏi vua Ba-Tư-Nặc một câu nghe rất thấm thía, “ Này Đại vương tại sao Đại vương lại đem thân của một vì Quốc vương quỳ trước thân thể già nua này?” Vua Ba-Tư-Nặc đã nói lên những cảm khái của mình, tại thương và quý Đức Phật, trong đó có một câu rất thú vị, nhà vua nói rằng, “ Bạch Đức Thế Tôn, Ngài cũng 80 tuổi và con cũng 80 tuổi”. Ở một tuổi nào đó người ta tìm những người tri kỷ,  người đồng điệu. Nhà vua ở ngôi vị Tôn chủ của thế gian, Đức Phật ở ngôi vị Tôn chủ của Chánh Pháp, một vị Pháp vương. Có lẽ nhà vua nghĩ rằng ngoài lòng cung kính còn một thứ giao tình, còn có một cái gì rất gần nhà vua tìm thấy nơi Đức Phật. Dĩ nhiên đây là sự cảm nhận rất phàm phu của một vị vua nhưng cũng là một giai thoại thú vị  về tuổi già.

Sunday, March 2, 2014

khi cúng dường đến chư tăng chúng ta có phải hồi hướng đến chư thiên không?

 Hỏi : khi cúng dường đến chư tăng chúng ta có phải hồi hướng đến chư thiên không? và xin cho biết sự lợi ích của sự hồi hướng này. 

. (Bài giảng trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên )

TT Giác Đẳng: Tất nhiên là khi chúng ta dùng chữ "phải hồi hướng" tức là sự bắt buột thì điều đó không có ở trong Phật pháp, tất cả những thiện sự nào mà chúng ta biểu lộ ở trong Phật pháp đều dựa trên một căn bản là do lòng tự phát của chúng ta, do sự tự nguyện của chúng ta, và tất nhiên hồi hướng phước là một sự ban tặng, là một sự chia sẻ, và gọi là ban tặng chia sẻ thì không có cái gì gọi là bắt buộc phải hay không phải hồi hướng.

Về sự lợi ích của hồi hướng thì hồi hướng có ba lợi ích rất là quan trọng:

Điều thứ nhất là khi chúng ta hồi hướng công đức thì tâm của chúng ta sẽ an trú vào một điều mà trong kinh Phật gọi là sự suy tư sau khi làm phước sự. Thật ra thì một người làm một việc công đức mà người đó có ý thức rằng mình làm công đức đó là một điều tốt, ý thức đó theo trong Phật Pháp thì ở trong ba thời kỳ gọi là tư tiền, tư hiện và tư hậu. Tức là trước khi làm tâm mình có chuẩn bị, có nhận biết ra rằng mình làm việc đó, và đặc biệt trong việc phước sự cần đến sự chuẩn bị của chúng ta. Có nhiều người làm tới đâu thì hay tới đó thôi chứ không có tâm để làm lo lắng cho chu đáo thì thiếu sự suy tư trước khi làm. Thiếu sự chuẩn bị trước khi làm các việc phước sự đó cũng là một điều thiếu xót, và nếu chúng ta chuẩn bị được thì là một điều rất lợi lạc. Khi mình đang làm việc phước sự mình cũng để tâm hiểu trọn vẹn đến công việc mình làm, và sau khi mình làm xong thì mình cũng phải ý thức rằng mình đã làm công việc phước sự. Và khi chúng ta làm một việc gì, ví dụ như hôm nay qúi vị Phật tử đi chùa để nghe pháp thì buổi trưa qúi vị về qúi vị có thể nghĩ đến là sáng nay mình đã nghe pháp như vậy, cái ý nghĩ đó thấy nó chỉ rất mong manh rất nhẹ nhàng, nhưng nó rất là tốt để chúng ta nghĩ trở lại.

Cuộc sống rất dễ chìm vào trong quên lãng, và khi chúng ta hồi hướng phước cho người khác cũng là một lần để chúng ta thắp sáng cái ý thức, ý thức đó về một phúc nghiệp mà chúng ta đã làm.

Và việc thứ hai đó là khi chúng ta hồi hướng phước có nghĩa là chúng ta nói lên một cái tâm biết nghĩ tới, nghĩ tới ở đây là nghĩ tới những quyến thuộc đã qúa vãng, nghĩ đến Chư Thiên. Nó tương tự như vầy là ở trong đời sống này có lẽ người ta nói điều quan trọng không phải tiền bạc vật chất mà là tấm lòng biết nghĩ đến nhau, có nghĩa là chúng ta cứ nghĩ chung quanh mình không biết có bao nhiêu người thân, những người này ít có khi nào chúng ta có thì giờ nghĩ đến họ cho đến khi họ có một hữu sự gì đó, ví dụ như họ qua đời, hay là họ bịnh nặng thì chúng ta mới để ý, đa phần là chúng ta để cho họ đi qua trong quên lãng, đây là một điều rất là đáng tiếc.

Chúng tôi nhớ hồi sống ở dưới miền quê sống trong làng thường thì dân quê rất gần với nhau, có khi trong nhà nấu một nồi chè mà bà thân sinh của chúng tôi bắt phải bưng một tô chè cho người này, biếu người kia, đem qua bên kia sông cho một ông cụ nào quen, thì hồi chúng tôi còn nhỏ chúng tôi không có thấy được là tại sao phải làm chuyện đó và đôi lúc chúng tôi cảm thấy rất là khó chịu, khó chịu là tại sao mình phải nghĩ đến những người ở chung quanh như vậy, nhưng lớn lên rồi mới hiểu đó là một cách sống rất đôn hậu của người dân quê, là ở trong xóm làng có cái gì, dầu một nồi chè cũng chia với nhau.

Thì cuộc sống của chúng ta thưa qúi vị, nếu một người sống mà có nghĩ đến những người hữu hình và những người khuất mặt, những người khuất mặt ở đây là những hàng phi nhân, các vị chư thiên thì tâm hồn của mình nó đôn hậu lắm. Chúng tôi để ý thấy rằng một người sống ở trong một xóm làng mà người đó có nghĩ đến người xa kẻ gần, những người chung quanh mình thì tâm hồn của mình khác đi, còn nếu mà mình sống mạnh ai nấy sống, quanh năm suốt tháng mình chỉ biết lo chuyện mình, và ai sống mặc ai, ai chết mặc ai thì tâm mình nó lại khác. Do vậy phép hồi hướng của đạo Phật là cái gì đó làm cho chúng ta ý thức về sự có mặt của những người khuất mặt, của những vị chư thiên, của những chúng sanh xa gần và làm cho lâu ngày chúng ta sống trong tâm tình đó thì con người chúng ta lại khác đi.

Và rồi một điều thứ ba rất quan trọng mà thỉnh thoảng qúi vị cũng nghe chư tăng đề cập đến, Đức Phật thường dạy rằng những ai thương tưởng các vị Chư Thiên thì các vị Chư Thiên sẽ thương tưởng lại. Đạo Phật không có quan niệm quá nhiều, quan niệm một cách tuyệt đối về những năng lực ngoại tại tức là năng lực ở bên ngoài. Nhưng chúng ta đừng quên một điều rằng chúng ta sống trên cuộc đời này, ngay cả ở trong thế giới nhìn bằng con mắt thịt của chúng ta đi nữa, thì những người chung quanh ảnh hưởng đến chúng ta rất lớn, chúng ta phải cố gắng rất là nhiều để thành đạt những gì mà mình mong mỏi, nhưng đừng quên rằng trên con đường dẫn đến đó thì cần rất nhiều trợ duyên, trợ duyên của những người thân của mình, mình đi học mà nếu vị thầy của mình mà có cảm tình với mình thì vị thầy đó sẽ tận tình giúp đỡ mình sẽ học khá hơn, mình sống gần ở trong xóm làng mà người ta thương mình thì tối lửa tắt đèn có nhau thì chuyện đó vẫn tốt hơn, những người đó họ không có lo cho chúng ta tất cả nhưng thật ra tấm lòng cũng giống như thương mến của họ thì nó sẽ giúp cho chúng ta rất nhiều, bởi vì vậy nếu có thiện sự nào chúng ta làm thì chúng ta rất nên hồi hướng./

Saturday, March 1, 2014

Tại sao Tâm gọi là khó thấy, rất tế nhị?

Hỏi: Tại sao Tâm gọi là khó thấy, rất tế nhị? 

(Thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên

TT Tuệ Siêu: Là bởi vì tâm này thuộc về danh pháp, là vô hình không có hình thể, không có hình tướng, cho nên không thể thấy được bằng mắt thường, không thể nhìn cái tâm được bằng nhục nhãn. Tế nhị là bởi vì tâm này sanh diệt nhanh lẹ vô cùng , một khảy móng tay tâm sanh diệt triệu triệu sát-na tâm, rất tinh tế. Tâm này luôn luôn bắt cảnh, hướng về cảnh chỗ này chỗ kia, cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc và cảnh pháp. Lúc nào tâm của chúng ta cũng  bay nhảy tìm đến đối tượng. Chúng ta khó có thể gìn giữ được nó cũng giống như một con ngựa chứng thường chạy nhảy chỗ này chỗ kia, không chịu cho người cỡi lên nó, điều phục nó. Hoặc ví như con khỉ ở trong rừng, nó luôn luôn chuyền từ cành này đến cành khác không bao giờ nó chịu nằm yên một chỗ.

Người trí là những bậc sáng suốt, những người có tuệ căn mạnh, những người có sự ý thức, hiểu được điều lợi và điều bất lợi. gọi là bậc trí tuệ. Những điều nên làm và những điều không nên làm, vị đó cân nhắc, đắn đo bằng trí tuệ của mình. Người trí  khi biết được rằng tâm này một khi đã loạn động chạy theo dục vọng quay cuồng thì sẽ mang đến sự tác hại to lớn. Người trí hiểu được như vậy cho nên trong việc tu tập người trí chỉ cần phòng hộ  gìn giữ  tâm citta.m rakkhetha.

Gìn giữ cái tâm là như thế nào? Gìn giữ cái tâm có hai cách, một là chế ngự nội tâm, hai là giáo hóa nội tâm. 
-Chế ngự nội tâm gọi là saññama(Cittassa saññamo) 
-Giáo hóa nội tâm gọi là dama (Cittassa damo)
Chữ saññama ở đây tức là gìn giữ bằng cách phòng hộ ngăn ngừa. Khi mắt thấy cảnh sắc không nắm tướng chung tướng riêng, không thấy rằng đó là tốt đó là xấu, không thấy rằng cái này thuộc về ta, cái này không phải của ta. Vị ấy biết rõ nguyên nhân nào làm cho tham ái ưu bi sanh khởi, do mắt thấy cảnh sắc. Vị này liền nhiếp phục nội tâm và khử trừ nguyên nhân đó, Đây được gọi là sự thu thúc, sự chế ngự về nhãn căn. Về nhĩ căn tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn cũng vậy. Khi mắt thấy cảnh sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý suy nghĩ, vị đó đều gìn giữ canh chừng không để cho tâm bay nhảy theo sự ham muốn hay sự bất mãn. Vì rằng sự ham muốn là tham, sự bất mãn đối với cảnh là sân. Vị ấy biết rõ như vậy cho nên cố gắng gìn giữ bằng cách là chế ngự. Một khi tham, sân đã sanh vị ấy đoạn trừ. Khi mắt, tai, mũi,lưỡi, thân, ý thấy các cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc vị ấy liền nhiếp phục không để cho tham ái, ưu bi sanh khởi.

Một lẽ thứ hai, vị hành gia phòng hộ tâm bằng cách luôn luôn giáo hóa, dạy dỗ tâm đừng để cho nó sanh khởi, đừng để cho nó hư hỏng vì sự dốt nát thiếu hiểu biết. Cũng giống như người mẹ giáo dục đứa con bằng hai cách. Một là dạy ngon dỗ ngọt cho con nghe những điều hay lẽ phải, khi con phạm vào những lỗi lầm thì người mẹ sẽ quở trách đánh đòn, sẽ hình phạt. Nhờ vậy mà đứa con được ngoan ngoãn thành người. Cũng như thế, người trí khi phòng hộ tâm bằng hai cách. Chế ngự tâm, khi tâm tiếp xúc với cảnh sắc sẽ là nguyên nhân để phát sanh lên tham ái và ưu bi (tham và sân), người trí chế ngự khắc phục. Khi bình thường tâm chưa có nguy hiểm khởi lên tham ái ưu bi, người trí luôn luôn kiểm soát tâm dạy dỗ tâm.

Như đối với bậc xuất gia Đức Phật Ngài thường nhắc nhở, Bậc xuất gia hằng ngày phải có sự tâm niệm gọi là Abhinhapaccavekkhana, tức là phải thường xuyên tâm niệm rằng, “Ta là vị có tướng mạo khác hơn kẻ thế, mạng sống của ta phải nương nhờ vào kẻ khác, hành vi thân khẩu của ta phải khác hơn kẻ thế, ta có thể tự mình khiển trách được mình hay không, sau khi suy xét giới hạnh hay không. Ngày đêm qua mau ta đã làm được gì, các pháp thượng nhân ta đã chứng đạt chưa, ta có thích nơi thanh vắng chăng. Và nếu trong giờ phút lâm chung các bạn đồng phạm hạnh có trí hỏi ta về những pháp thượng nhân thì lúc bấy giờ ta có hổ thẹn chăng v.v…” 
Hằng ngày vị Tỳ kheo cần phải giáo hóa nội tâm bằng những điều tâm niệm như vậy. Hoặc suy xét rằng, 
Jarādhammomhi Jaram anatīto
Ta phải có sự già, không thể thoát khỏi sự già  
Byādhidhammomhi  byādhim anatīto
Ta phải có sự bệnh, không thoát khỏi sự bệnh 
Maranadhammomhi maranam anatīto
Ta phải có sự chết, không thoát khỏi sự chết 
Sabbehi me piyehi  manāpehi  nānābhāvo  vinābhāvo
Ta phải xa lìa nhân vật thương yêu quý mến 
kammassakomhi kammadāyādo  kammayoni kammabandhu kammapatisarano yam kammam karissāmi kalyānam vāpāpakam vātassa  dāyādo  bhavissāmi
Ta là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng là quyến thuộc là chổ y cứ. Khi ta làm việc lành hay việc ác ta phải cảm thọ hậu quả của nghiệp lành hay nghiệp ác ấy.

Đó là năm điều quán tưởng Đức Phật đã dạy cho hàng xuất gia và  tại gia để giáo hóa nội tâm như vậy.

Quả thật, khi chúng ta tu tập, nếu chúng ta kềm giữ và phòng hộ được nội tâm, như vậy chúng ta không cần phải tu pháp môn khác nữa, vì tất cả những phiền não đều phát sanh từ nơi nội tâm này, do nội tâm loạn động quay cuồng chi phối các cảnh và bị những điều kiện chủ quan và khách quan chi phối cho nên phát sanh lên những thứ phiền não và khi tâm đã bị phiến não chi phối sai xử thì lúc bấy giờ nó mới tạo nên những hành động ác hoặc lời nói ác hoặc ý nghĩ ác. Nếu như tâm ác sai xử cho hành động lời nói và tư tưởng bất thiện pháp như vậy, sẽ dẫn đến những hậu quả cay đắng, những cảm thọ khổ đau đời này và đời sau.

Bởi vậy khi chúng ta gìn giữ, phòng hộ được tâm sẽ có nhiều sự an lạc. Sụ an lạc ở đây, khi chúng ta gìn giữ được nội tâm này bằng cách chế ngự và giáo hóa nội tâm. Hay nói một cách khác nếu như muốn chế ngự nội tâm thì chúng ta phải có chánh niệm, phải có sự ghi nhớ biết mình luôn luôn. Muốn giáo hóa nội tâm chúng ta phải dùng trí tuệ gọi là pháp tỉnh giác. Khi thực hành được những pháp đó, ngay trong hiện tại chúng ta cảm thọ an lạc gọi là hiện tại lạc trú. Theo trong A-tỳ-đàm mỗi khi tâm thiện sanh khởi, tâm thiện đó sẽ tạo nên sắc tâm  gọi là cittaca rupa. Một sắc tâm thuần thiện tốt đẹp và khinh an nhẹ nhàng. Như vậy người tu tập và phòng hộ nội tâm, không cho nội tâm phang duyên theo trần cảnh,lúc bấy giờ chúng ta được hoan hỷ được thoải mái, nên gọi là hiện tại lạc trú.

Khi chúng ta tạo những thiện pháp, phòng hộ được tâm không để cho phiền não sanh khởi. Như vậy được an lạc do nhờ không bị phiền não thiêu đốt, không bị nhiệt não bởi những bản chất bất thiện. Quả thật vậy khi một người làm điều bất thiện, họ sẽ bị đau khổ. Sự đau khổ đó không phải do ai mang đến cho họ, chưa nói đến quả báo trong tương lai, chỉ nói trong hiên tại khi nhìn thấy nghiệp bất tịnh mình đã làm, người đó khởi lên sự đau khổ thì đã muộn rồi. Bởi vậy khi tu tập chúng ta giữ được nội tâm tốt đẹp, chúng ta sẽ có sự an lạc. Hai điều an lạc ngay trong hiện tại như thế một là hiện tại lạc trú, hai là chúng ta không bị nhiệt não bởi những mặc cảm tội lỗi.

Lợi ích thứ ba, khi chúng ta tu tập nhiếp phục được tâm, chính điều này sẽ dẫn đến nếu như ngay trong hiện tại chưa đắc được Thánh quả giải thoát còn sự tái sanh thì được thuận lợi trong sự tái sanh đến những cảnh giới an lạc nhất là các cõi trời hay cõi Phạm thiên. 
Do đó khi người Phật tử tu tập trong giáo pháp này chúng ta nên biết rằng,
Manopubbaṅgamā dhammā, 
manoseṭṭhā manomayā; 
manasā ce paduṭṭhena, 
bhāsati vā karoti vā; 
tato naṃ dukkhamanveti, 
cakkaṃva vahato padaṃ.



Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ ý tạo 
Nếu nói hay hành động
Với tâm tư ô nhiễm 
Đau khổ sẽ theo sau
Như bánh xe theo vật kéo    
Câu Pháp cú số 1

 Chúng ta phải phòng hộ tâm vì ý được tốt, trở thành một tâm thiện, một ý thiện. Như vậy chính tâm này khiến cho hành động hay nói năng bằng thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh. Do vậy hạnh phúc sẽ theo mình như bóng không rời hình. Còn khi không khéo tu tập, không khéo phòng hộ tâm sẽ đưa đến quả đắng cay bởi vì thân nghiệp khẩu nghiệp chúng ta hành động bằng ý bất thiện. Sự đau khổ đó sẽ theo sát bên mình như bánh xe lăn theo chân con bò kéo xe vậy. Người phật tử tu tập, không cần phải tu tập bằng hình thức thái quá. Hình thức những nghi lễ, những phong tục tôn giáo chúng ta vẫn tuân thủ nhưng sự tuân thủ đó là để an lập trật tự trong việc sinh hoạt của một hội chúng toàn thiện để hội chúng trở nên tốt đẹp nhưng không phải chúng ta tu tập suông bằng hình thức. Nếu chỉ tu tập bằng hình thức như thế chúng ta sẽ không đạt được lợi ích gì.

Người Phật tử biết rằng khi chúng ta tu tập, mà tâm còn khởi lên phiền não, còn vọng động chi phối bởi những phiền lụy trong cuộc sống, như vậy mặc dầu kẻ thù, kẻ đối lập hay người bất mãn với mình, những người đó chưa có làm cho mình đau khổ thì chính nội tâm phức tạp này, nội tâm hướng đến bất thiện này cũng đủ làm cho chúng ta phải phiền lụy, phải đau khổ rồi. Vì vậy sự tu tập của chúng ta là phải cố làm sao gìn giữ được tâm. Điều này khó chứ không phải là dễ, nhưng chúng ta nên nhớ rằng, cái gì người ta làm được thì mình làm được. Chúng ta chỉ cần có sự nổ lực cố gắng để thu thúc để kềm chế, lâu ngày chúng ta quen dần gọi là thường cận y duyên, chúng ta sẽ quen dần gìn giữ được tâm.

Một vị Tỳ kheo nọ, Tỳ kheo Anupubla xuất gia vào trong giáo pháp. Vì các vị Thầy của vị tân Tỳ kheo này  không hiểu được tâm trạng của vị ấy nên đã dạy theo cách riêng của mình, dạy những pháp môn mà mình đã thọ trì, mình đã thông  hiểu. Dạy nhiều quá như vậy vị đệ tử không thể tu tập được nhưng đến khi dẫn đến Đức Phật thì Ngài bết rõ vị Tỳ kheo này chỉ mong làm sao được tu tập một cách đơn giản thôi. Chính sự đơn giản đó Đức Phật Ngài dạy cho chỉ cách duy nhất là gìn giữ nội tâm. Nghe nói thì đơn giản, nhưng khi phòng hộ tâm này không đơn giản một chút nào, bởi vì tâm rất khó thấy và rất tế nhị luôn luôn hướng tìm ngoại cảnh từ chỗ này sang chỗ khác.

 Nếu chúng ta biết phòng hộ, gìn giữ nội tâm, đừng để cho nó xu hướng theo ác bất thiện pháp thì như vậy đã đủ rồi. Chúng ta để tâm xu hướng theo thiện pháp sẽ mang đến sự an lạc cho mình.