Monday, July 7, 2014

Có phải chăng ai chế ngự được ý trong bất cứ mọi khi chế ngự ý tịnh tịch thoát khỏi mọi khổ đau?

Hỏi : Có phải chăng ai chế ngự được ý trong bất cứ mọi khi chế ngự ý tịnh tịch thoát khỏi mọi khổ đau?

. (Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Mình hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu : Ở đây thưa qúi vị chúng ta nói đúng thì cũng đúng nhưng nếu chúng ta nói còn thêm nữa thì chúng ta cũng còn thêm những pháp môn khác nữa trong sự giải thoát mọi khổ đau đòi hỏi rất nhiều yếu tố để thành tựu sự giải thoát, có yếu tố xa, yếu tố gần, yếu tố gián tiếp, và yếu tố trực tiếp, còn vấn đề chế ngự được ý thì được xem như là yếu tố gần.

Ở đây chúng tôi chỉ nói một cách tóm tắt như vậy. Yếu tố đưa đến sự giải thoát là yếu tố xa, tức là đối với một chúng sanh có tâm nguyện Bồ Tát từ trong vô lượng kiếp quá khứ, đã trải qua nhiều thời gian nhiều kiếp sống tu tập thiện nghiệp balamật với đầy đủ tâm huyết hạnh nguyện để được giải thoát trong kiếp tương lai. Thì khi chúng sanh đó được viên mãn cụ túc về phước balamật đây là một yếu tố có thể trợ giúp cho chúng sanh đó thành tựu được đạo quả, thành tựu được sự giải thoát. Chính ngay khi Đức Chánh Đẳng Chánh Giác, Đức Phật Ngài muốn tiếp độ chúng sanh nào Ngài cũng phải dùng Phật nhãn để quan sát chúng sanh đó có hội đủ duyên lành hay không, trong đời quá khứ họ đã tạo được thiện nghiệp như thế nào, họ có hạnh nguyện giải thoát hay không ngay trong thời kỳ hiện tại, sau khi quán xét nếu thấy rõ chúng sanh đó trong quá khứ tạo được những phước balamật và có tâm nguyện giải thoát ngay trong kiếp hiện tại này, thấy rõ như vậy thì Đức Thế Tôn mới đi đến để thuyếp pháp tế độ khai thị cho chúng sanh đó. Thì trong trường hợp này chúng ta thấy rõ là nếu như không có đầu đủ duyên lành trong quá khứ thì dù cho ngay trong kiếp hiện tại mà người đó có sự cố gắng có sự nỗ lực, nhưng sự cố gắng nỗ lực đó chỉ là chủng tử để trong tương lai thôi chứ không thể nào mà thành tựu sự giải thoát được.

Còn ở đây nếu như chúng ta nói chế ngự ý được tịch tịnh thoát khỏi mọi sự khổ đau là nói nguyên nhân gần hay yếu tố gần, thì điều này cũng đúng. Trong Pháp Cú kinh chúng ta gặp một trường hợp trong phẩm Citta Vagga có vị tỳ kheo tên gọi là Cittahattha hoặc những vị tỳ kheo khác vì nhờ chế ngự được nội tâm cho nên được thành tựu quả giải thoát. Hoặc như có một vị tỳ kheo xuất gia vào trong giáo pháp này gặp vị Hoà Thượng thầy tế độ và thầy giáo thọ những vị đó giải thích và bắt phải tuân thủ những giới luật như thế này như thế nọ, vị tân tỳ kheo này cảm thấy khó chịu bị ràng buột cho nên ý muốn hoàn tục trở về đời sống cư sĩ được thoải mái hơn, lúc bấy giờ vị thầy của vị tân tỳ kheo đó dẫn đến Đức Phật và vị tỳ kheo đã được Đức Phật Ngài dạy cho một pháp môn, Ngài bảo rằng;

"Này tỳ kheo nếu người sợ gìn giữ giới luật nhiều thì bây giờ ngươi chỉ gìn giữ một pháp được không?"

"Bạch Đức Thế Tôn con có thể gìn giữ được."

Thì Đức Phật Ngài dạy rằng:

"Hãy giữ cái tâm của ngươi."

Sau đó vị tỳ kheo cố gắng thu thúc kiềm chế và cuối cùng do sự thu thúc chế ngự được nội tâm mà vị này chứng quả Alahán..v.v... Trong trường hợp này chúng ta thấy rõ tất cả các pháp tùy vào ý mà sanh khởi.

"Ý dẫn đầu các pháp ý làm chủ ý tạo - Manopubba'ngamaa dhammaa manose.t.thaa manomayaa."

Cho nên các việc tu tập nếu chúng ta chế ngự được ý thì xem như là đã chế ngự được cả thân nghiệp và khẩu nghiệp. Và khi chúng ta chế ngự được ý khiến cho tâm được tịch tịnh, khiến cho trí tuệ được an trú, và liễu tri các pháp thì như vậy đưa đến sự giải thoát dễ dàng. Những ai tu tập mà tâm ý chưa được chế ngự thì như vậy người đó chưa đạt được kết quả và sẽ không đạt được kết quả bởi vì sự tu tập ở đây không phải tu tập bằng hình thức chỉ với màu sắc của giáo phục hay là bằng hình thức tôn giáo lễ lạy v.v... Tu tập chỉ có hình thức mà chúng ta không có thật sự chế ngự được tâm ý của mình thì chúng ta cũng sẽ không đạt được hiệu quả giải thoát.
Cho nên khi nói rằng "những người chế ngự được tâm ý trong bất cứ mọi khi chế ngự ý tịch tịnh thoát khỏi mọi khổ đau" thì trong trường hợp này cũng đúng và rất chính xác. Nhưng trường hợp đó là chúng ta nói yếu tố hiện tại. Còn nếu yếu tố vị lai thì xa, yếu tố quá khứ thì chúng ta còn xét lại. Cũng như trong bài kệ Pháp Cú 101, mặc dầu nhà khổ hạnh Bhàhiya không chính thức là một vị đệ tử xuất gia với Đức Phật bởi vì đang trong hình tướng của một vị du sĩ khổ hạnh mặc y phục bằng vỏ cây bện, thế nhưng với căn tánh của vị đó trong quá khứ đã tạo nhiều phước balamật, nhiều phước báu thành thử ngay trong hiện tại khi vị này khẩn khoản cầu xin Đức Thế Tôn thuyếp pháp cho ông ta nghe mặc dầu đang trên đường đi khất thực, Đức Phật Ngài thấy nhân duyên đã có nên Ngài khai thị bằng một bài kệ chỉ đơn giản nói về sự chế ngự ý để khởi sanh lên trí tuệ mà quán pháp có chánh niệm:

"Khi thấy chỉ biết là thấy, khi nghe chỉ biết là nghe, khi cảm nhận chỉ biết là cảm nhận, khi suy nghĩ chỉ biết là suy nghĩ."

Trong bài kệ Đức Phật Ngài nói cho Bhàhiya nghe có tánh cách là chỉ điểm cho ông ta trong việc tu tập nếu như không chấp tướng chung tướng riêng, không chấp ngã sở ngã đắc, mà khi mắt mũi tai lưỡi thân và ý thấy nghe ngửi nếu đụng và suy nghĩ và chỉ biết mắt là mắt cảnh sắc là cảnh sắc nhãn thức là nhãn thức v.v... thì như vậy vị ấy xem như đã chế ngự được những phiền não phát khởi từ nơi lục căn tiếp xúc với lục trần. Sau khi lãnh hội được ý nghĩa này ông Bhàhiya đã nhiệt tâm tinh cần suy niệm về những điều mà Đức Thế Tôn đã dạy và chính ngay trong lúc đó vị này chế ngự ý và thành tựu tuệ quán đạt đến quả Alahán. Thì đây là trường hợp mà chúng ta thấy rõ rất dễ dàng. Nhưng trong trường hợp đó chúng ta phải biết một người mà ngay trong hiện tại dầu cho được Đức Phật Ngài khai thị bằng phương tiện nào đi nữa bằng pháp môn gì đi nữa, chúng ta thấy rất là dễ dàng, nhưng chúng ta cũng phải hiểu và nhớ rằng không nên bỏ qua những yếu tố xa tức là yếu tố về quá khứ, tức là phước balamật. Đó là câu trả lời của chúng tôi cho câu hỏi chế ngự ý trong mọi khi để thoát khỏi mọi khổ đau.

Sunday, July 6, 2014

Nếu một người nói rằng Phật tử làm phước mà ưa thích trong phước báo cũng là sự tăng trưởng lòng tham. Chúng ta nên trả lời câu hỏi đó như thế nào?

Hỏi: Nếu một người nói rằng Phật tử làm phước mà ưa thích trong phước báo cũng là sự tăng trưởng lòng tham. Chúng ta nên trả lời câu hỏi đó như thế nào? 

(Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, thời giảng kinh Pháp Cú, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Pháp Đăng: Nếu có một người hỏi mình làm phước mà ưa thích trong phước báu cũng là sự tăng trưởng lòng tham. Nếu điều này được hỏi thì nên phân biệt cho họ thấy đức Phật ngài cũng tuyên bố rất là nhiều về vấn đề này. Nếu một người biết bố thí hay bất luận làm các thiện sự công đức nào thì chúng ta làm ra đó bằng cái gì tế khôn phò nguy. 

Đức Phật Ngài cũng nói với bà Sumanà: Này Sumanà, nếu người bố thí hay người có hành động lành từ thân thì người này nếu làm những thiện sự công đức như vậy người đó sẽ được sanh thiên giới. Hoặc người đó sanh làm người thì phước báo vẫn cho người đó được an ổn. Nếu  người đó xuất gia thì người đó cũng nhận được sàn tọa, y phục hoặc thường được nhận y phục. Đức Phật Ngài đã dạy như vậy. Người đó đến hội chúng nào thì hội chúng đó vui mừng tiếp đón. Và nếu người đó được sanh thiên giới thì cảnh trời nào cũng hoan hỷ tiếp đón. Sự mong mỏi thiện sự công đức như vậy, nếu người đó làm được như vậy thì rất tốt đẹp vì việc làm đó hoàn toàn mình cho ra. Một người bố thí như vậy là hoàn toàn cho ra. Làm cho mọi người ưa thích, hội chúng đó ưa thích. Cho dù người nói lời ái ngữ và thực sự dùng lời ái ngữ thì đó là lời nói dễ nghe, dễ chấp nhận và lời nói đó luôn luôn người ta thích nghe và muốn nghe chứ không phải là những lời nói thô bỉ, cọc cằn, thô ác. 

Vậy nên đối với người có thiện sự công đức nhiều thì thân nghiệp người đó cũng từ hòa, khẩu nghiệp người đó cũng từ hòa, ý nghiệp người đó cũng từ hòa với lợi ích cho rất nhiều người. Người đó tới đâu thì ở đó có lợi ích cho hội chúng đó, tới hội chúng đó với một sự tự tín. 

Đức Phật Ngài dạy nếu một người có sự bố thí, hội chúng nào người đó đi đến với lòng tư tín, không hoang mang lo sợ và người nào làm với thân nghiệp, với khẩu nghiệp, với ý nghiệp đẹp thì người đó cũng tự tin. Tự tin mình là con người tốt đẹp, mình với bàn tay mở rộng và mình đã thực hành pháp tối thượng. Pháp bố thí, pháp cho ra cũng là pháp nhiếp phục mọi người. Người làm được thiện sự công đức như vậy thì gọi là pháp dục, trong đó thiện sự công đức mong mỏi làm cho thế giới này được an lạc. Mong mỏi làm cho mình thoát khỏi lòng bỏn xẻn, keo kiết, cũng mong mỏi cho mọi người, làm gương lành cho mọi người, cho xã hội, cho quần chúng. Nên đức Phật Ngài cũng khuyên nếu một người nào muốn được mọi người ái kính thì người đó phải là người có thiện sự, thiện sự công đức trong thân hành, khẩu hành, ý hành. 

Nếu nói rằng đó là tham vọng thì đó là pháp dục tốt đẹp cho bản thân mình, cho người, cho đời này, cho đời sau, cho hội chúng mình, hội chúng người, lợi ích an lạc cho đời này và cho đời sau. Như vậy đức Phật Ngài đã dạy rằng rất nhiều lợi ích đối với một người có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp tốt đẹp, thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp có thiện sự, biết bố thí, biết giữ giới, một sự tự tín có đối với người đó. Đó là cái tốt đẹp chứ không phải là tham vọng. 

Tham vọng thì thường có một thu đoạt, còn làm thiện sự là pháp dục, nghĩa là mong mỏi làm được nhiều thiện sự công đức, cho ra bằng ngoại vật tứ chi, bằng cả sanh mạng của mình. Đó là  ly tham tối thượng. Trong tất cả các pháp hữu vi, vô vi, đức Phật gọi ly tham là tối thượng. Ly tham là cho ra. Người đó khi làm thiện sự công đức như vậy thì tâm người đó là tâm ly tham. 

Con xin trả lời: Người làm được nhiều thiện sự công đức vậy là người ly tham. Người ly tham như vậy là người tối thắng. Trong tất cả các hội chúng mà hội chúng nào có ly tham thì hội chúng đó tối thắng. Biềt cho ra là một người biết ly tham. 

Saturday, July 5, 2014

Phân chia chữ "Ái Dục" có nhiều cấp độ

Hỏi: Phân chia chữ "Ái Dục" có nhiều cấp độ

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 28-6-2014, Minh Hạnh chuyển biên) 

TT Giác Đẳng: Chúng ta khi đọc kinh mình nên phân chữ "Ái Dục" có nhiều cấp độ. Ví dụ như mình thích một cái gì đó, thích ăn ngon, thích mặc đẹp, mình thích cái gì thô tháo trong đời sống, nếu thích trực tiếp đó là một cách, rồi có một cách khác mang tánh cách trọng đại hơn, chúng tôi lấy ví dụ như một người đi học siêng năng học. Học thì cũng cực chứ không phải không cực nhưng cái học đó để xây dựng một cái gì lớn hơn là chuyện vui sướng nhất thời thì chúng ta thấy rằng nó cũng có sự tha thiết, cũng có hoài bão mà hoài bão đó nó bàn bạc. Rồi cũng có những người đi học không phải vì học vị họ đi học vì một việc là làm sao để đào tạo bản thân của mình để mai hậu mình có thể cống hiến được. Thì cái đó nó lại là một cấp độ khác nữa. 

Ở trong đời sống này, thật ra Đức Phật Ngài dạy rằng cái duyên sinh và khởi nó rối bời như một cuộn chỉ và rất khó để chúng ta có thể phân định, rất khó để chúng ta có thể nhận mặt nó một cách dễ dàng như chúng ta nghĩ. Ví dụ, một người Phật tử làm một buổi trai tăng hay đi một chuyến hành hương, ngay cả tâm thái chúng ta khi hành hương hay buổi trai tăng cũng là một tâm thái không có đơn giản. Có những người làm việc đó là vì tâm muốn bớt phiền não. Có những người làm vì nghĩ là tạo phước. Hay có những người làm vì mình vui thì mình làm. 

Nhưng cũng cùng công việc thiện đó tâm thái của chúng ta rất khác biệt. Và có những tâm thái dẫn chúng ta đi xuống có những tâm thái dẫn chúng ta đi lên.

 Ở trong chùa chúng tôi thấy có một việc là những người Phật tử làm phước mà làm bằng thiện tâm thật sự thì họ làm ở mức độ tương đối nào đó. Nhưng làm vì danh làm vì sự khích động của người khác thì họ có thể làm được những chuyện rất lớn. Chúng ta biết thường thường người ta khó có thể bỏ tiền ra để có thể cúng chùa 1000$ nhưng ở trong một hoàn cảnh nào đó người ta có thể đấu giá một cái gì đó lên cả chục ngàn là do bối cảnh lúc đó làm cho người ta cảm hứng, giữa một đám đông người ta cảm hứng người ta bỏ ra số tiền lớn mua món đó.

 Thì ở đây, chúng ta không có chỉ trích, mà chúng ta luôn hiểu rõ tâm cảnh của chúng ta, trạng thái tâm để chúng ta đi tới để chúng ta có thể làm việc. Thì, một trong những tâm thái đẹp nhất, tốt nhất Đức Phật dạy đó là tâm nekkhamma tức là xuất ly hay là vượt thoát không dính mắc. Vượt thoát không dính mắc là lý tưởng nhất mà tâm của chúng ta có thể an trú vào như trường hợp chúng ta quán niệm về sự chết, chúng ta quán niệm về vô thường, chúng ta quán niệm về bất tịnh. Mình quán niệm cách nào mà tâm của mình không bị cột trói không bị cột chặt vào cái đó thì Đức Phật dạy rằng như vậy là hoan hỉ như vậy là tốt. 

Điểm thứ hai, chúng ta hoan hỉ với điều thiện và ở đây đặc biệt là mình hoan hỉ với phước của người khác như phước của mình, khi mình thấy một người làm cái gì giả sử như mình thấy một người họ vào chùa thắp ba cây nhang lạy Phật thì mình chỉ nghĩ một chuyện đơn giản rằng thay vì người này họ đi vào chùa rồi họ đi ra bây giờ họ còn biết thắp nhang lạy Phật cũng là điều hoan hỉ. Hay một người mà qúi Phật tử đi chùa có nhiều khi nhìn thấy người ta làm phước rồi có nhiều Phật tử chỉ trích sao người đó làm phước ít hay làm phước thế này làm phước thế kia, mình chỉ trích người ta, mình thấy người ta làm phước thì mình cũng nghĩ rằng nên hoan hỉ là tại vì họ đang làm phước họ đang làm một việc thiện. Thì sự hoan hỉ với phước lành, sự tùy hỉ phước lành làm cho tâm của chúng ta an trú vào một tâm thái tương đối rộng hơn là sự phê phán chỉ trích. 

Rồi đối với một người tu tập thì mình hiểu một điều rằng đôi lúc cũng là sắc, cũng là thinh, cũng là vị, cũng là xúc, cũng là pháp nhưng nó có cái này nhẹ nhàng hơn cái kia. Giả sử như cũng là sắc nhưng về tượng Phật về bàn Phật, về bông hoa chưng bàn Phật. Cũng về âm thanh nhưng tiếng tụng kinh hay tiếng giảng Pháp. Cũng là mùi hương nhưng mùi hương trầm những mùi hương nhẹ nhàng làm chúng ta an lạc. Những cái mà tương đối nó cũng sắc, thinh, khí, vị, xúc nhưng nó nhẹ nhàng và nó có giá trị về tinh thần thì nó vẫn tốt hơn là cái gì thuần nặng nề ./.

Thursday, July 3, 2014

Khái niệm về "Dục" và "Hữu" chúng ta nên biết.

Hỏi: Khái niệm về "Dục" và "Hữu" chúng ta nên biết.

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma  ngày 28-6-2014 - Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Chúng tôi xin được trình bày hai khái niệm mà tất cả chúng ta đều nên biết, đó là "Dục" và "Hữu". 

- Thật ra chữ "Dục" ở đây nói về những cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc. Nói một cách khác, đó là vấn đề ngoại cảnh. Ví dụ như chúng ta nhìn thấy một khu vườn rất đẹp hay một căn phòng trang trí rất đẹp với rất nhiều màu sắc đó là sắc. Tai chúng ta nghe những âm thanh rất ngọt ngào êm ái đó là thinh. Mũi chúng ta ngửi những mùi thơm đó là hương. Thì khi nói đến "Dục" là chúng ta nói đến ngoại cảnh. 

- Và khi chúng ta nói đến "Hữu" thì có tánh cách chủ quan "Tôi là ai", "Tôi sẽ như thế nào". Con người chúng ta sanh ra lớn lên ai cũng mong mỏi có một chỗ đứng trong xã hội, có một địa vị ở trong lòng người khác. Thí dụ như chúng ta học rất nhiều để có được học vị, ngoài việc kiếm cơm ra thì còn có chuyện là mình nói "Mình là ai", "Tôi là ai". Đi vào cuộc đời này có đôi lúc chúng ta cảm thấy mình quan trọng hay mình không có quan trọng và luôn luôn mong muốn mình sẽ đóng một vai trò gì đó, trở thành một ai đó. Có thể nó không hẳn riêng gì ở ngoài xã hội khi mà xã hội nằm ở trong phạm vi gia đình, chúng ta thấy vai trò của người vợ, người chồng, hay cha mẹ với con ở trong gia đình cũng là một vấn đề liên quan đến "Hữu". Ngay cả một vị ẩn sĩ, một người bỏ vào trong rừng mà nghĩ đến "mình sẽ là vị đạo sĩ, mình sẽ là một nhà ẩn dật" chữ gọi là "Ẩn sĩ" hay "Ẩn dật" và nếu mình không khéo thì cũng là một thứ một hình tượng về cái "Tôi" cái "Ta" chúng ta muốn trở thành như vậy. 

Dĩ nhiên, "Dục" và "Hữu" này không đơn thuần là cái gì mình muốn thì mình theo còn cái gì mình không muốn thì thôi, nó tự nhiên thôi thúc đẩy mình ở trong thế rất bị động mặc dù mình nghĩ mình chủ động. Chúng tôi lấy một ví dụ: Có một lần chúng tôi sang Thổ Nhĩ Kỳ thăm một nơi ngày xưa chúng ta nghe câu chuyện thần thoại Hy Lạp, rồi nghe những câu chuyện cổ Hy Lạp nói về con ngựa thần Troia. Khi chúng tôi đến thăm con ngựa thần Troia này, thật tình mà nói chúng tôi cũng quen thuộc với nền văn hóa của Âu Tây và đồng thời chúng tôi cũng không kỳ thị Hồi Giáo. Nhưng sống ở trong một khu vực 2 ngày rưỡi chung quanh là những giáo đường Hồi giáo và mình cảm thấy hơi xa lạ. Và thật sự một trong những ý tưởng mình muốn làm là muốn rời nơi đó để đi trở về với một nơi nào đó thân quen hơn, thoải mái hơn là sống ở trong một xóm làng của Hồi giáo. Thật ra chỗ đó không phải là chỗ xấu, không phải chỗ đó có những bạo loạn hay có những vấn đề về an ninh xã hội, mà thật tình chúng tôi đi đó đi đây chỉ thấy những nóc giáo đường và vào thăm một vài giáo đường rồi mình không muốn đi thăm nữa, tại vì chúng ta không quen với không khi đó. Thì lúc đó chúng tôi mới cảm nhận ra được mình có những lệ thuộc nhất định vào thế giới chung quanh, vấn đề là nó có quen hay không quen thôi, bình thường mình không nhận ra chuyện đó nhưng có đi có ở một chỗ khác biệt rồi chúng ta mới thấy được.

 Chúng tôi có gặp một Phật tử, người Phật tử đó sống bên Mỹ lâu thành quen với đất nước Hoa Kỳ và có một lần vị đạo hữu đó đi với một vị Thầy sang Ấn Độ hành hương ( không phải chúng tôi hướng dẫn). Thầy đó có lẽ là Thầy cũng chưa có kinh nghiệm nhiều do đó Thầy nghe những vị bên đó sắp xếp để đi xe lửa. Sau đó chúng tôi có gặp vị Phật tử đó ở tại Mỹ khi vị đó trở về vị đó nói với chúng tôi rằng ở trong cuộc đời chưa bao giờ có một giây phút nào hãi hùng bằng giây phút bước xuống nhà ga của Ấn Độ, ở trên thì đầy người và nhà ga thì dơ và ở dưới nhà ga thì đầy chuột, vị này thấy thì khóc và xin với vị trưởng đoàn lấy vé máy bay trả bao nhiêu cũng được làm sao rời Ấn Độ để về Mỹ. Thì thưa qúi vị, tại vì vị này vốn không có quen nhìn cảnh tượng đó và thấy cảnh tượng đó thì nghĩ cách nào mình phải bỏ mình phải chạy mình phải vượt ra ngoài khỏi nơi đó chứ mình không thể chịu nổi.

Thì khi chúng ta nghe nói đến "Dục" hay "Hữu" thì mình có cảm tưởng như mình là chủ động, mình muốn cái này muốn cái kia nhưng thật ra chúng ta ở trong thế rất bị động, mình không muốn thì nó cũng phải như vậy, lâu lâu chúng ta đi đâu đó, chúng ta sống, chúng ta làm việc gì đó mà chúng ta rời khỏi thế giới thân quen của mình thì mình mới thấy mình bị động như thế nào. Một hình ảnh trong kinh Đức Phật ví con cá bị vứt ra ngoài thủy giới tức là con cá bị quăng ra khỏi nước. Nước là môi trường của con cá bây giờ nó không đúng môi trường đó thì con cá vùng vẫy khó chịu. Đa số là cá sống trong nước trừ một loài cá là cá thòi lòi thì không nói nhưng cá thì sống trong nước khi ra khỏi nước thì nó khó chịu nó vùng vẫy. Thì như vậy, nước đó là một sự lệ thuộc của loài cá. Tất cả chúng ta đều có những lệ thuộc cố định, lệ thuộc vào sắc thinh khí vị xúc pháp. 

Thật ra, đôi khi cái gọi là dễ chịu thoải mái trong đời sống chúng ta nói cho cùng chúng ta đã tự tạo cho mình một thế giới thân quen thích hợp mình với thế giới thân quen. Và khi chúng ta rời khỏi thế giới thân quen đó để đi vào một nơi nào đó trở thành một người nào đó ở trong một hoàn cảnh nào thì nhiều lúc mình thấy rằng lạ quá, không thoải mái, và mình chỉ muốn trở về với thế giới thân quen đó. Đức Phật gọi là "Dục". Cái quen của mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, nó nặng lắm chứ không phải nhẹ, khi chúng ta nói "Dục Ái" . Mặc dù "Dục" là những trần cảnh là thế giới ở bên ngoài là ngoại giới nhưng đa số chúng ta đều lệ thuộc vào "Dục Ái". Mình tưởng tượng nếu một ngày nào đó mình  mắt không còn nhìn thấy nữa, tai không còn nghe nữa, bị mù loà bị đui điếc thì chúng ta cảm thấy rằng rất khổ sở, tại vì sao, tại vì chúng ta sống phải có thế giới đó, chắc chắn là phải có thế giới đó không thể không có được.

Và chúng ta cũng bị lệ thuộc vào "Hữu", dù là một người rất tầm thường ở trong xã hội nhưng họ cũng muốn họ có một sự tôn trọng, một sự nhìn nhận nào đó của cuộc đời. Tại sao người ta hay kéo bè kéo nhóm, tại sao họ tham gia tổ chức này tổ chức kia, tại vì họ cần được sự nhìn nhận họ là ai, chúng ta muốn trở thành một cái gì đó trong cuộc sống thì cái đó chúng ta gọi là "Hữu".

 Và chính hai ý niệm này tạo thành trầm luân và sanh tử. 
Một cái "Dục" là sự hướng cầu với ngoại cảnh. 
"Hữu" là nói về sự tồn tại của một chúng sanh ở trong cuộc đời này qua một hình thái nào đó mà thật sự là chúng ta bằng trí thức nghèo nàn mình muốn mình sẽ là như vậy./.

Wednesday, July 2, 2014

Theo Phật giáo như thế nào gọi là bạn lành?

Hỏi: Theo Phật giáo như thế nào gọi là bạn lành?

(Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, thời giảng kinh Pháp Cú - Minh Hạnh chuyển biên)

TT. Tuệ Siêu: Câu hỏi: “Theo Phật giáo như thế nào gọi là bạn lành?” . Đó là nói đến đức tánh của một người bạn lành được thể hiện ra với những dấu hiệu gì để chúng ta có thể nhìn vào đó biềt đuợc đây là người bạn lành, bạn tốt. 

Khi đề cập đến vấn đề này, chúng ta có rất nhiều khía cạnh để nói đến bởi vì trong Tăng Chi Bộ Kinh cũng như rải rác trong Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh đều có những lời Phật dạy về đặc tánh của người bạn lành.

 Ở đây khi nói đến người bạn lành, trước hết chúng ta nên hiểu:
- Một người thiện,
- Một người trí.
- Một người có cả hai điều đó. 

Một người thiện là một người có chí, một người tốt bụng. Như vậy cả ba hạng người này chúng ta gọi là người bạn lành, có đủ tư cách xứng đáng để làm người bạn lành của chúng ta. 

Khi đề cập đến người thiện, đức Phật ngài nêu lên những đặc tính, đặc tướng của người thiện, tức là khi người thiện họ làm thì làm những gì không có hại mình, không có hại người. Lại nữa, người thiện là người biết cảm hóa người khác cho được thanh tịnh và cũng bíết tự cảm hóa mình thanh tịnh. Như vậy gọi là người thiện. Lại nữa, người thiện là người có được tánh dễ dãi. Lại nữa, người thiện là người có thể nhẫn những việc khó nhẫn, cho những cái khó cho, làm những cái khó làm. Như vậy được gọi là người thiện. 

Còn như thế nào gọi là người trí, đáng là người bạn lành của chúng ta? Ở đây, trước hết trong bài kinh  Dighajànu, đức Phật Ngài dạy nên thân thiện làm bạn với những người lành,  là người có lòng tin, có giới đức, có bố thí, có trí tuệ. Là người có thân thiện hạnh, hễ hành động thì hành động thiện, khẩu thiện hạnh, hễ họ nói thì nói lời thiện, ý thiện hạnh, hễ suy nghĩ thì suy nghĩ tư tưởng của bậc đại nhân, tư tưởng của người tốt. Đó là ba dấu ấn của người trí. Chúng ta cần phải lưu ý như vậy.

 Khi nói đến người tốt bụng, một người bạn lành chúng ta kết giao được thì ở đây chúng ta cũng nên chú ý một điểm là người nào hay khuyến khích cho ta điều lợi ích, gọi là bạn khuyến lợi thì đó là người tốt, chúng ta cần nên hiểu rằng một người bạn lành, một người nào có tánh thủy chung, không có sự thay đổi thì đó là người bạn tốt. Người nào có tình cảm ái mẫn, tức là có tình thương yêu bạn bè thì đó là người bạn tốt mà cần phải xem như là một người bạn thân thiện. 

Ở đây, khi chúng ta nói đến những đức tánh, những đặc tính vừa kể trên, đặc tánh của người thiện, đặc tính của người trí và đặc tính của người tốt thì khi chúng ta hiểu rõ được như vậy chúng ta hãy biết rằng những người đó là những người bạn tốt. Nếu chúng ta có giao du được thì chúng ta giao du. Có thân cận đựơc thì chúng ta nên thân cận với hạng người đó. Nếu không thì chúng ta xem như chưa gặp được người bạn lành thì chúng ta chớ có giao du một cách bừa bãi. Đây là những điểm chúng ta cần phải chú ý để chúng ta có thể xử sự trong đời sống hằng ngày của chúng ta. 

Khi một người thân cận với chúng ta thì hãy xét những đức tính đó nếu ai có thì xem như là người bạn lành để chúng ta chơi. Nếu như những ai không có đặc tánh của người trí. Đặc tánh của người thiện hay đặc tánh của người tốt thì như vậy chúng ta không nên thân thiện./.

Theo Phật giáo như thế nào gọi là bạn lành?

Hỏi: Theo Phật giáo như thế nào gọi là bạn lành?

(Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, thời giảng kinh Pháp Cú - Minh Hạnh chuyển biên)

TT. Tuệ Siêu: Câu hỏi: “Theo Phật giáo như thế nào gọi là bạn lành?” . Đó là nói đến đức tánh của một người bạn lành được thể hiện ra với những dấu hiệu gì để chúng ta có thể nhìn vào đó biềt đuợc đây là người bạn lành, bạn tốt. 

Khi đề cập đến vấn đề này, chúng ta có rất nhiều khía cạnh để nói đến bởi vì trong Tăng Chi Bộ Kinh cũng như rải rác trong Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh đều có những lời Phật dạy về đặc tánh của người bạn lành.

 Ở đây khi nói đến người bạn lành, trước hết chúng ta nên hiểu:
- Một người thiện,
- Một người trí.
- Một người có cả hai điều đó. 

Một người thiện là một người có chí, một người tốt bụng. Như vậy cả ba hạng người này chúng ta gọi là người bạn lành, có đủ tư cách xứng đáng để làm người bạn lành của chúng ta. 

Khi đề cập đến người thiện, đức Phật ngài nêu lên những đặc tính, đặc tướng của người thiện, tức là khi người thiện họ làm thì làm những gì không có hại mình, không có hại người. Lại nữa, người thiện là người biết cảm hóa người khác cho được thanh tịnh và cũng bíết tự cảm hóa mình thanh tịnh. Như vậy gọi là người thiện. Lại nữa, người thiện là người có được tánh dễ dãi. Lại nữa, người thiện là người có thể nhẫn những việc khó nhẫn, cho những cái khó cho, làm những cái khó làm. Như vậy được gọi là người thiện. 

Còn như thế nào gọi là người trí, đáng là người bạn lành của chúng ta? Ở đây, trước hết trong bài kinh  Dighajànu, đức Phật Ngài dạy nên thân thiện làm bạn với những người lành,  là người có lòng tin, có giới đức, có bố thí, có trí tuệ. Là người có thân thiện hạnh, hễ hành động thì hành động thiện, khẩu thiện hạnh, hễ họ nói thì nói lời thiện, ý thiện hạnh, hễ suy nghĩ thì suy nghĩ tư tưởng của bậc đại nhân, tư tưởng của người tốt. Đó là ba dấu ấn của người trí. Chúng ta cần phải lưu ý như vậy.

 Khi nói đến người tốt bụng, một người bạn lành chúng ta kết giao được thì ở đây chúng ta cũng nên chú ý một điểm là người nào hay khuyến khích cho ta điều lợi ích, gọi là bạn khuyến lợi thì đó là người tốt, chúng ta cần nên hiểu rằng một người bạn lành, một người nào có tánh thủy chung, không có sự thay đổi thì đó là người bạn tốt. Người nào có tình cảm ái mẫn, tức là có tình thương yêu bạn bè thì đó là người bạn tốt mà cần phải xem như là một người bạn thân thiện. 

Ở đây, khi chúng ta nói đến những đức tánh, những đặc tính vừa kể trên, đặc tánh của người thiện, đặc tính của người trí và đặc tính của người tốt thì khi chúng ta hiểu rõ được như vậy chúng ta hãy biết rằng những người đó là những người bạn tốt. Nếu chúng ta có giao du được thì chúng ta giao du. Có thân cận đựơc thì chúng ta nên thân cận với hạng người đó. Nếu không thì chúng ta xem như chưa gặp được người bạn lành thì chúng ta chớ có giao du một cách bừa bãi. Đây là những điểm chúng ta cần phải chú ý để chúng ta có thể xử sự trong đời sống hằng ngày của chúng ta. 

Khi một người thân cận với chúng ta thì hãy xét những đức tính đó nếu ai có thì xem như là người bạn lành để chúng ta chơi. Nếu như những ai không có đặc tánh của người trí. Đặc tánh của người thiện hay đặc tánh của người tốt thì như vậy chúng ta không nên thân thiện./.

Tuesday, July 1, 2014

Một người tu tập thành tựu những đức hạnh nhưng không biết đến. Vậy đức hạnh ấy có được gọi là hương thơm không?

Hỏi: Một người tu tập thành tựu những đức hạnh nhưng không biết đến. Vậy đức hạnh ấy có được gọi là hương thơm không? 

(Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, thời giảng kinh Pháp Cú, Minh Hạnh chuyển biên)

TT. Tưệ Quyền: Khi một người tu tập thành tựu những đức hạnh nhưng không ai biết đến. Vậy người ấy có được gọi là giới hương thơm hay không? 

Thật ra người này chắc chắc nếu tu tập thành tựu về đức hạnh, thành tựu về an ổn, sanh đã tận hoặc người ấy tu tập trong sạch tốt đẹp thì nếu như ở rừng sâu núi thẩm, không ai biết, ở nơi am cốc xa xôi tuy không ai biết nhưng có thể chư thiên biết được và nếu ai gặp được người đó thì chắc chắn cái oai lực và cái từ tâm của người đó là do giữ giới trong sạch tự động chúng ta sẽ nhận được. Giả sử như người đó đã thành tựu được rồi thì nội lực của người đó đã đúc kết lên một hương thơm rất lớn lao của mình mà hữu duyên chúng ta có thể biết được. Các bậc hiền nhân hữu duyên chúng ta mới gặp được. Các bậc tu hành chính chắn hoặc các vị đắc được các tầng Thánh. Chúng ta xem đó là chuyện hữu duyên. Những người đó vẫn là hương thơm tốt đẹp, cũng được là trên tinh thần đức Phật ngài dạy là giới hương đó vẫn bay ngược chiều gió chúng ta không ngửi được nhưng chúng ta cảm nhận được. Cảm nhận qua đức hạnh, qua cái oai nghi, do giới hạnh người đó được thành tựu chánh hạnh Và có thể nói rằng người đó tu tập ở nơi nào thì dẫu nơi hang sâu núi thẩm thì chắc chắc chắn rằng đầy đủ các vật dụng đó là thứ nhứt 

Thứ hai, người đó chắc chắc rằng nếu như phàm phu, nếu như loài người không biết thì có chư thiên đảnh lễ và chư thiên cũng cảm được mùi hương giới đức, mùi hương về thành tựu về kết quả tu tập của vị đó.

 Sư trưởng bổ túc: TT Tuệ Quyền đã giảng câu thảo luận số 3 rất đúng. Vì người tu tập thành tựu các đức hạnh dầu có người khác biết hay không biết, kể cả chư thiên biết hay không biết thì tự bản thân của vị đó vốn là thanh tịnh trong sạch thì vẫn là người có đức hạnh tốt. Vì các vị ẩn sĩ, các vị tu tập hạnh đầu đà không phải là mục đích để cho mọi người khác biết vì không ai khoe khoang và những vị đó dầu ở trong núi thẩm hang sâu suốt đời không có người biết đến hay ít người biết đến nhưng những vị đó vẫn là những người có giới hạnh khả kính. Nếu chúng ta được nghe nhiều câu chuyện các vị hạnh đầu đà trong núi rừng nên dù không cần người biết đến vẫn cũng là “thanh giả tự thanh” tức là vị ấy thanh tịnh trong sạch thanh tịnh thì dù vị ấy không ai biết đến vẫn là trong sạch thanh tịnh. Còn một số thì chúng ta được nghe danh thơm, tiếng tốt v.v. Nhưng chưa hẳn hễ ai được nghe danh thơm, tiếng tốt, được nhiều người khen ngợi đều là thanh tịnh, đếu là trong sạch. Có thể như vậy chứ ở đây chúng tôi không nói là tất cả những danh thơm, tiếng tốt đều không phải thực chất mà có thể có những người được danh xưng nhưng đức Phật có nói có thể không phạm hạnh mà xưng là phạm hạnh hay được tưởng như là phạm hạnh. Thì việc ấy không phải là không có./.