Tuesday, October 27, 2015

Biết nghe là một nghệ thuật trong đời sống

(Xin lưu ý: Tất cả những bài chuyển biên chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 
Biết nghe là một nghệ thuật trong đời sống

TT Giác Ðẳng trong room Phật Pháp Buddhadhamma ngày 27-05-2010, Minh Hạnh chuyển biên

Chánh Văn: Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người với trí tuệ lộn ngược, hạng người với trí tuệ bắp vế, hạng người với trí tuệ rộng lớn.

TT Giác Đẳng giảng: Ngài Walpola Rahula có viết một cuốn sách với với tựa đề là "The Buddha 's Sense of Humor - hài hước hay là dữ dội khi chúng ta đọc kinh điển." Đúng ra thì Đức Phật Ngài không thuyết pháp để chọc cười chúng sanh, nhưng đôi khi những điều Đức Phật dạy trong trường hợp như chúng ta đang thảo luận sau đây là thứ gì mà đôi khi chúng ta nói lên quả thật là nghe cũng rất là vui.

Đó là khi nói trí tuệ được úp xuống, nghe thì chuyện đó không vui nhưng nó cho chúng ta ý nghĩa rất rõ ràng là trí tuệ lộn ngược là cái gì mà úp xuống thì nó không chứa được.

Nhưng cái trí tuệ cho chúng ta cảm thấy thú vị đó là Đức Phật gọi là trí tuệ ở bắp vế. Cái gì để ở trên đùi của chúng ta rồi không để ý mà đứng dạy thì nó rớt xuống hết.

Và hạng thứ ba Đức Phật giảng đó là trí tuệ rộng lớn là nghe pháp có chú ý, có lãnh hội và có thẩm thấu. Tức là chúng ta có tiêu hóa có ghi nhận có đem vào trong lòng. Người xưa có dùng chữ thụ nhân, thụ nhân tức là một người đặt mình ở trong phương tiện là một người hấp thụ, là một người bền giữ, người có tâm cầu học, thì điều đó cho chúng ta một số lợi ích nhất là trên phương diện học Phật Pháp.

Đọc lại bài kinh Đức Phật giảng có rất nhiều trường hợp trước khi Đức Phật thuyết pháp Ngài gọi: "Này chư tỳ kheo, hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ Như Lai sẽ giảng".

Trước khi Đức Phật thuyết pháp Ngài nói chư Tỳ Kheo hãy lắng nghe Như Lai sẽ giảng, có lẽ là một trong các phương chặng đầu tiên khiến cho Phật Pháp thấm nhuần tâm tư của chúng ta đó là sự chú ý hôm nay đề tài nói gì, và sự hướng tâm rất quan trọng. Chẳng những vậy mà chúng ta thấy trong bài kinh này Đức Phật Ngài nói rằng chú ý ở đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối. Điều này rất là đơn giản, như hồi chúng ta học khi làm một bài luận văn hay một bài viết phải có phần mở đầu, rồi phần thân bài rồi đến phần kết luận, nếu không có sự dẫn nhập hay lời giới thiệu ban đầu thì thật sự người ta không có ý niệm về cái gì. Giống như mình nhóm lửa thì mình phải có mồi lửa ban đầu. Dẫn nhập giúp cho chúng ta có khái niệm tổng quát. Đúng ra thì việc dẫn nhập là việc rất là lợi ích, đầu tiên trước khi chúng ta đi vào chi tiết thì chúng ta nên có một cái khái niệm chung chung là bài học hôm nay sẽ nói về vấn đề gì, rồi phần thân bài tức là đoạn giữa là chúng ta khai triển đầy đủ và đoạn kết thì chúng ta phải có khả năng để tóm tắt lại, nhắc lại điều trên.

Tâm tư và trí tuệ của con người nó có một cách tình tự nhất định, dĩ nhiên là có nhiều trường hợp chúng ta tình cờ nghe một câu thơ hay bất chợt nghe ai nói điều gì đó thì chúng ta lãnh hội được, nhưng đa phần thì sự lãnh hội nhận thức của chúng ta nó đi theo một tình tự nhất định. Nếu chúng ta đã từng ngồi ở trên ghế nhà trường và nghe vị giáo sư giảng bài thì chúng ta hiểu rất rõ là một người nói chuyện mà khiến cho chúng ta hiểu rõ, thì người đó nói phải có đầu có đuôi. Lời nói có đầu có đuôi là lời nói đó có thể cho chúng ta khái niệm chung, nó phải có sự bắt đầu, rồi có phần khai triển, rồi sau cùng có phần tóm tắt lại. Nói có đầu có đuôi thì vấn đề được hiểu rõ ràng hơn, còn nói mà không có đầu có đuôi thì thật sự rất khó hiểu. Chúng tôi biết có một số người khi nào cần nói cái gì thì nói, nói ngang vậy thôi, bình thường thì chúng ta không để ý khi ở gần những người đó thì chúng ta mới nhận ra đó là cách nói chuyện của họ, nếu chúng ta không có thân thiết hay chúng ta không hiểu rõ thì thật sự là chúng ta không hiểu họ nói cái gì. Chúng tôi lấy ví dụ là đang ngồi ăn cơm vị đó nói về chuyện đi hành hương Ấn Độ, mà khi nói về chuyện đi hành hương Ấn Độ thì vị đó không nói là "à kỳ rồi chúng ta đi hành hương Ấn Độ Sư có nhớ là ông đó hay bà đó như vậy như vậy..., hay là mình lên chỗ đó như vậy như vậy...." mà vị đó cứ nói ngang là "Sư có thấy cục đá đặt ở lối vào vườn Lộc Giả như thế nào?" Nhiều lúc thưa qúi vị những người nói không có đầu không có đuôi như vậy khiến chúng ta không nhận ra rằng họ đang nói cái gì. Vì vậy tâm linh và trí tuệ của chúng ta tuy rất mẫn tiệp, rất nhanh chóng, nhưng trong cách truyền đạt thì bắt buộc chúng ta phải được có điểm khởi đầu có khái niệm trước rồi tiếp theo đó là khai triển mở rộng và sau cùng chúng ta tóm tắt lại để kết thúc đến chỗ chúng ta gọi hoàn mãn.

Đức Phật là một nhà giáo dục và có lẽ hơn ai hết khi Ngài giảng giải cho chúng thấy rằng Ngài chú trọng rất nhiều về phương pháp giảng giải. Bài học này là một thí dụ. Bài học này nhắc cho chúng ta thấy một điều là Đức Phật Ngài đã đi vào trong một số những chi tiết. Bây giờ chúng ta nói lại từng phần: Đức Phật Ngài nói có ba hạng người, hạng người với trí tuệ lộn ngược, hạng người với trí tuệ bắp vế, và hạng người với trí tuệ rộng lớn. Đó là phần mở đầu của Đức Phật. Bao giờ cũng vậy, khi Đức Phật Ngài giảng thì đầu tiên thường là Ngài đi vào trực khởi, không đi vào luân khởi, Ngài đi trực khởi Ngài nói rất rõ những gì mà Ngài nói, Ngài cũng có thí dụ luân khởi mà ít lắm, đa phần là Ngài đi thẳng vào đề tài nhưng Ngài tóm lượt lại mấy phần. Thí dụ ở đây Ngài nói có ba hạng người ở đời đó là; hạng người có trí tuệ lộn ngược, hạng người có trí tuệ bắp vế, và hạng người có trí tuệ rộng lớn. Rồi bắt đầu Ngài đi vào chi tiết thế nào là hạng người có trí tuệ lộn ngược. Đúng ra cách nói của Đức Phật không dư thừa mà rất trong sáng rõ ràng nếu chúng ta để ý thì chúng ta học được thật nhiều

"Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) thường thường nghe pháp từ các Tỷ-kheo, các vị Tỷ-kheo thuyết pháp cho người ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh."

Đức Phật dạy rằng sơ thiện, trung thiện, hậu thiện tức là thuyết pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, nhưng ba cách căn bản này chúng ta thường hiểu rằng đó là pháp học, pháp hành, và pháp thành. Pháp học tức là giáo pháp được trình bày trên phương diện lý thuyết, pháp hành là giáo pháp được trình bày trên phương diện thực hành, và pháp thành tức là giáo pháp được trình bày trên phương diện chứng ngộ. Ba đoạn đó không trái trống nhau giống như một thứ thuốc uống khi chúng ta uống vào thì nó giảm đau lại có tác dụng tốt lâu dài, nó không có những tác dụng phụ, không dị ứng, không biến chứng, và cuối cùng là hết bịnh, do vậy chúng ta gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện là tốt đẹp ở đoạn đầu, ở đoạn giữa và ở đoạn cuối. Hay nói một cách khác là giáo pháp tốt đẹp ở chỗ lý thuyết, ở chỗ thực hành, ở chỗ chứng ngộ, có nghĩa, có văn, giáo pháp được trình bày rõ ràng ở trên hai phương diện ngôn từ và nghĩa lý trong sáng. Nhiều khi người ta nói rằng ngôn ngữ không cần thiết quan trọng là lấy ý thôi, nhưng mà ngôn ngữ nó là một cách diễn đạt. Hồi nãy chúng ta nói nếu mình trình bày một điều gì đó mà mình trình bày không trong sáng, không rõ ràng thì thật sự nó có vấn đề, dễ tạo ra hiểu lầm. Chúng tôi lấy ví dụ như là ngày nay người ta có hàng mấy trăm quyển giải thích về Lão Tử Đạo Đức kinh, và các nhà phê bình nói rằng Lão Tử Đạo Đức kinh thì có quá nhiều cách khác nhau không biết ai là người thật sự nắm được cái tinh yếu Lão Tử Đạo Đức kinh. Chuyện này dễ hiểu thôi. Lão Tử Đạo Đức kinh có nhiều điều rất thú vị nhưng có rất nhiều câu mơ hồ, mơ hồ đến đỗi mà ai muốn giải thích sao cũng được, như câu "Đạo khả đạo phi thường đạo," người ta có trăm cách giải thích. Đức Phật Ngài không bao giờ muốn giáo pháp được giảng dạy mơ hồ, hiểu sao cũng được, giải thích cách nào cũng được mà Đức Phật Ngài đặt nặng về sự trong sáng và sự tinh xác. Dĩ nhiên là nhiều vị không đồng ý, mà cho rằng đạo là ở chỗ nào có vẻ mơ hồ mới linh, mới đặc biệt. Nhưng chúng ta nên nhớ học pháp căn bản là ở chỗ thực hành và chứng ngộ, mà muốn thực hành thì lý thuyếp phải trong sáng và rõ ràng. Ngày nay phần nhiều chúng ta sống trong thời đại này có trăm muôn ngàn thứ mà chúng ta cần phải biết cái nào càng rõ ràng càng trong sáng thì cái đó càng lợi ích. Chúng tôi có đọc một số các cẩm nang hay sổ tay hướng dẫn, như hướng dẫn phương diện máy móc, xử dụng nhu liệu, chúng tôi thấy rằng ngay cả những công ty lớn có nhiều công ty họ viết cuốn cẩm nang mình đọc không hiểu gì hết cho đến khi một người nào đó kinh nghiệm họ lượt bớt cho chúng ta. Cái đó là khuynh hướng rắc rối và rõ ràng là cái khuynh hướng nào mà làm cho thân thiện gọi là friendly thân thiện trong sáng dễ hiểu là điều tốt nhất, chúng ta nói đến tinh thần phục vụ. Bởi vậy nó phải có nghĩa, nó phải có văn, trình bày phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Cho dù chúng ta sống trong thế giới phiền não tại vì bản thân của chúng ta có phiền não thì chúng ta phải nhìn nhận rằng Phật Pháp hướng chúng ta đến chỗ trí thiện, trí thiện đó là sự trong sạch kể cả đoạn lià những cái chấp trước, cái ngã chấp đối với các pháp

"Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối."

Là nghe pháp mà không để ý, một người nghe pháp có để ý thì người đó sẽ có khái niệm chung chung, giống như chúng ta coi một cuốn phim. Có nhiều người coi cuốn phim mà không hiểu phim diễn về cái gì là tại vì họ không chú ý. Nhưng một người tinh tế một chút, họ coi họ có chú ý đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối thì họ mới thấy những đoạn đó có liên hệ với nhau, những đoạn đó được nối kết lại với nhau. Chúng tôi thí dụ một người thợ may khi cắt vải họ cắt ra nhiều mảnh nhưng mà rồi họ dùng những đường kim sợi chỉ để kết những mảnh vải lại với nhau thành áo quần chúng ta mặc. Thì tương tựa như vậy tất cả những sự trình bày nó sẽ là những mảnh rời nếu chúng ta không để ý đoạn đầu đoạn giữa đoạn cuối.

"Cũng vậy, khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỷ-kheo, một cái ghè bị lộn ngược, nước chứa trong ấy tuôn chảy, không có dừng lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn ... không có tác ý đoạn cuối. Cũng vậy, khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng lên ... không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ lộn ngược."

Chúng tôi nhớ hồi còn nhỏ ở với Sư Trưởng, Sư Trưởng có nói một câu là ngay cả một vị giới tử thuyết trình, tức là lên đọc bài soạn sẵn thì Sư Trưởng ngồi lắng nghe và khám phá ở đó có nhiều điều hay để học. Một người có tâm nghe pháp chỉ cần nghe một bài kinh được đọc lên, nghe vị giảng sư nào đó nói một vài điều thì chúng ta cũng có thể học được, quan trọng là sự học hỏi của chúng ta. Có một vài lần chúng tôi đi hành hương với những phái đoàn Phật tử, chúng tôi có nhận ra một điểm này, có những người Phật tử đi đến một khu chợ, như kỳ rồi chúng tôi đến thành phố Mumbai của Ấn Độ, thì người ta dẫn chúng tôi đến một khu nhà ga ở chỗ đó như là một khu chợ trời, trăm muôn ngàn thứ bán các vật lưu niệm của Ấn Độ kể cả các Phật cụ, nhưng có vài Phật tử họ đi một buổi rồi quay về nói ở đây không có gì để mua hết thì chúng tôi cũng nhận rằng mỗi người có nhu cầu riêng. Sau đó có một số Phật tử khác cũng đi cùng chuyến họ lại mua được một số vật kỷ niệm của người Ấn Độ bán ngoài chợ và khi về tới khách sạn thì những người kia nói "tại sao nãy mình đi mà mình không thấy." Cũng đi mà không thấy, và dù có thấy cũng không để ý nhiều. Chúng tôi nhận ra rằng có một lý do rất đơn giản, đó là đa số những người sống tại Âu Mỹ quen đi mua sắm ở những khu shopping có tánh cách gọi là sắp đặt nhất định. Thí dụ như mình cần mua quần áo thì đi đến tiệm chuyên bán quần áo, mình cần mua thức ăn thì đến tiệm chuyên bán về thức ăn và ngay cả những khu shopping có những khu bình dân, có những khu giàu có, và có những khu có tánh cách trang trí và những thứ mà chúng ta dùng như là quần áo giày dép thì nó cũng có phân loại riêng như những Departments Store chẳng hạn. Bằng thói quen đi shopping đó khi qúi vị đi vào chợ trời thì thật sự là khó để shopping lắm, tại vì chúng ta thấy ở đó nó lộn xộn không có thứ lớp gì hết, có những cửa hàng của người Tây Tạng bán Phật cụ tuy gian hàng rất nhỏ nhưng có một số tượng Phật có thể thỉnh được nhưng những vị này hoàn toàn không để ý, chúng ta quen sống ở trong cái nếp nào đó đi qua chỗ xa lạ thì chúng ta không có nhận ra. Thì cũng tương tựa như vậy, một số các vị có thói quen là mình học Phật Pháp thì phải đến chùa ngồi ở trong chánh điện rồi phải có vị Pháp Sư đăng toà thuyết pháp, rồi trong đó phải chuông trống rầm rộ mới gọi là học Phật Pháp. Còn bình thường mà nói một cách rất gọn rất ngắn không bày vẽ mang nặng về hình thức thì chúng ta không để ý. Tuy nhiên nếu chúng ta đi vào trong kho tàng kinh điển của Đạo Phật thì thấy rằng rất nhiều trường hợp, Đức Phật Ngài đã giảng cho những người Ngài gặp dọc đường, Ngài giảng cho những người đến đảnh lễ Ngài, ở trong một bài giảng rất ngắn vậy mà thay đổi tâm tư của người đó. Do đó nếu chúng ta quen thuộc với Phật Pháp thì một quyển pháp nhỏ cũng đáng cho chúng ta lưu tâm chứ không phải là chúng ta cần đến cả bộ kinh điển to lớn. Nhưng thí dụ đầu tiên Đức Phật Ngài thí dụ ở tại đây là trí tuệ lộn ngược nghe cũng thú vị, đầu óc của chúng ta tiếp thu không có khả năng chất chứa để chứa đựng như bình đựng nước bị lộn úp lại, đã bị lộn úp lại thì đâu chứa đựng được cái gì. Chúng tôi nhớ ở trong thiền tông có câu chuyện là đầu óc của một người mà có nhiều sự cố chấp thì giống như một ly trà và đã đầy rồi có chế thêm vào cũng tràn ra, nhưng câu chuyện thí dụ ly trà tràn ra thì chúng tôi nghĩ rằng nó cũng còn có thể chứa ít hoặc nhiều, còn ở đây nói trí tuệ lộn ngược thì nó không chứa được cái gì hết.

Đức Phật Ngài lại nói đến trường hợp thứ hai là có người lắng nghe và cũng có nhận thức nhưng mà rồi chỉ nghe và nhận thức ngay chỗ mình ngồi thôi khi đứng lên thì quên hết tất cả, đây là trường hợp xảy ra rất thường. Chúng tôi có một vị sư đệ là ĐĐ Giác Nguyên mà thường qúi vị nghe là ĐĐ Uyên Minh. Vị nào nghe sư Uyên Minh thuyết pháp rồi thì biết là Sư Uyên Minh thuyết pháp rất vui, nhưng nó lại có một chuyện là sư Uyên Minh đôi lúc sư thuyết pháp vì quá vui nên qúi Phật tử ngồi nghe sư thuyết pháp chỉ cười, mỗi lần chúng tôi về bên Tampa, Florida, sư thuyết pháp ở trên chánh điện có khi Phật tử ngồi cười từng chập, nhưng sau đó có người khi gặp những người khác họ nói bữa nay sư Uyên Minh thuyết pháp hay quá vui quá, rồi người ta hỏi là sư Uyên Minh nói cái gì thì vị Phật tử đó nói rằng không nhớ được chỉ biết là rất hay. Biết rất hay mà không nhớ được thì chuyện đó rất là bình thường. Tức là lúc sư Giác Nguyên thuyết pháp quí Phật tử rất là vui nhưng mà vì quá vui với cái duyên dáng với sự chọc cuời của sư Giác Nguyên và cũng có thể là quí vị chỉ lo để ý đến cái gì vui thôi nên vị đó không nhớ được pháp, khi bước ra khỏi chánh điện biểu lập lại cái sư Uyên Minh nói thì không nhớ, họa hoằn lắm thì mới nhớ được một chuyện. Chúng tôi nghĩ việc đó cũng là một việc bình thường, như đa phần chúng ta đi nghe pháp, ngồi trong pháp hội, lúc nghe lúc ngồi mình nhớ được nhiều thứ nhưng nghe xong thì quên hết, về điểm này thì chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng mỗi người có một tư chất, cái tư chất đó là trí nhớ và sự thẩm thấu. Nói điểm này thì chúng tôi nhớ đến câu chuyện người ta nói rằng ở bên Tây có hai vợ chồng, bà vợ khi coi phim ở trên TV hay trong rạp thì chỉ nhớ đến một việc là Tây trắng với Tây đen thôi, cứ Tây trắng đánh Tây đen, ông này ông kia không nhớ tên nhớ tuổi gì hết chỉ nhớ người này đánh người kia và đôi khi bà vợ nhắc lại chuyện phim làm ông chồng phải suy nghĩ rất nhiều mới nhận ra là bà vợ nói cái gì, mặc dù lúc coi phim thì người ta cũng cảm thấy hay cũng biết được nhân vật này nhân vật kia nhưng sau đó không có khả năng nhớ và gìn giữ lại. Thì Đức Phật Ngài có một cái ví dụ ở tại đây mà chúng ta đọc ở đoạn thứ hai

"Ví như này các Tỷ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả."

Ở đây gọi là trí tuệ trên đùi hay trí tuệ bắp vế, thì cái gì mình để trên đùi hay bắp vế khi đứng dạy bị đổ hết, khi mình nghe Pháp, khi mình lắng nghe hội luận hay thuyết trình mà lúc nghe thì nghe rất là nhiều, cười trong cái cười chung, vui trong cái vui chung, xúc động trong cái xúc động chung nhưng khi đứng dạy thì quên tất cả thì chúng ta nhớ rằng lúc đó cái trí tuệ người ta giống như trí tuệ bắp vế, cái gì để trên đùi thì khi đứng dạy đi mất hết.

Và sau cùng Đức Phật Ngài đề cập đến một thứ trí tuệ gọi là trí tuệ rộng lớn, trí tuệ này biết lắng nghe, biết lãnh hội và biết thẩm thấu tức là biết tiêu hóa. Đoạn này Đức Phật Ngài dùng nhiều thí dụ, ở trong một thí dụ Ngài nói rằng cái lưỡi mà tinh tế dù chỉ nếm một chút vị canh thì cũng cảm nhận được mùi vị của vị canh, hay là một người có mắt tinh tế thì khi có ánh sáng họ nhìn thấy họ sẽ nhận ra được vật nào xấu, vật nào đẹp, vật nào gần, vật nào xa. Người có tinh tế thì họ rất dễ nhận ra pháp nào là pháp nào. Có một sự việc mà đôi lúc thật ra chúng ta không thể truyền cho nhau được, chúng tôi lấy một ví dụ ở đây không phải nói để tự phụ, nhưng việc học Phật Pháp cũng có một điều là vị nào quen đọc kinh điển hay thường đọc sách cầm lên một quyển sách chỉ đọc thoáng vài ba trang hay chỉ nhìn lượt qua thôi thì đa phần là có thể đánh giá được quyển sách đó có giá trị hay không có giá trị, nhất là khi chúng ta đứng trước một tủ sách lớn, nhưng một người không quen thuộc với việc đó thì đứng cả ngày lựa hết cuốn sách này đến cuốn sách kia rốt cuộc lựa cuốn sách nào bìa đẹp nhất in đẹp nhất mang về, nhưng đẹp nhất về hình thức không nhất thiết là có giá trị về nội dung. Khi chúng tôi ở Sàigòn với HT Tịnh Sự thì chúng tôi có đem tâm sự này nói với một người ở trong chùa đó là cô Tư Yên, bây giờ cô đã mất rồi, cô là người nấu ăn cho HT ở trong chùa. Có lần tôi nói với cô Tư là nếu mình quen thuộc với sách vở thì không cần đọc hết cả ngàn trang mình mới biết giá trị của cuốn sách, mình cầm cuốn sách lên đọc cách họ chú thích, cách họ viết thì mình có thể nhận được giá trị của cuốn sách. Cô Tư Yên cười và nói cho chúng tôi nghe một thí dụ mà chúng tôi vẫn nhớ đến bây giờ, cô nói rằng: "Chuyện đó giống như đi chợ sư ơi. Một người biết đi chợ hay quen đi chợ, ra chợ ngó thoáng qua là biết cái nào mình nên mua, cái nào nó tươi cái nào nó tốt thì mình mua, còn người không quen đi chợ đi ra mua trái cây thì trái cây không ngon, đồ ăn thì lại không tươi mà mua mang về, tại vì không biết đi chợ."

Cái biết và cái không biết, cái tinh tế và cái không tinh tế, cái chính xác và không chính xác này nó là cái khéo mà đôi khi chúng ta rất khó để giải thích. Ở trên cuộc đời này người ta gọi là một chợ đời có trăm muôn ngàn thứ cho mình lựa chọn, nào là bạn bè, nào là sách vở, nào là những gì nên nghe và không nên nghe. Có Phật tử nói với chúng tôi rằng không hiểu tại sao mà những chuyện thị phi ông này bà kia nghe xong thì nhớ liền, thí dụ như nghe người ta nói xấu bà này thế này bà kia thế kia thì dễ nhớ, nhưng sao nghe Phật Pháp thì cứ lùng bùng bên tai vậy, không nhớ được. Thì thưa qúi vị, chúng tôi cũng phải nhìn nhận rằng quen trong cảnh giới nào thì mau mắn để ghi nhận, mau mắn để lãnh hội, mau mắn để ghi nhớ về điều đó, nó quen thuộc thôi. Do vậy bình thường chúng tôi có sự cố ý đó là chúng tôi không viết lại những bài kinh mà chúng tôi đem nguyên chánh văn bài kinh vào trong lớp học, qúi vị đọc thì hơi khó nghe, tại vì có nhiều đoạn dịch nguyên văn thì nghe hơi khác với chúng ta một chút xíu, nhưng chúng tôi muốn qúi Phật tử có cơ hội làm quen với văn phong của kinh điển, khi chúng ta làm quen với kinh điển rồi, như ở trong lớp học này có nhiều Phật tử nói với chúng tôi rằng hồi xưa đọc kinh rất ngán, bây giờ đọc kinh bắt đầu thích là bởi vì quen thuộc với sự hành văn với văn phong, với cách trình bày kinh điển, đó là một điều lợi cho chúng ta, khi chúng ta quen với điều gì thì chúng ta dễ phân biệt, dễ đón nhận, dễ lãnh hội, dễ nhận thức, và thế giới đó là một thế giới mở rộng ra, chúng ta đi vào thế giới đó chúng ta được một điều mới và đi vào thế giới đó là chúng ta tìm thấy được cả một vùng trời cao rộng.

Thỉnh thoảng có nhiều vị text chat riêng với chúng tôi, qúi vị đó cũng đồng ý một điều là nghe pháp là một điều rất an lạc nhất là nghe những đoạn đọc từ kinh điển, chúng tôi phải thưa với qúi vị rằng những lúc chúng tôi đọc kinh điển đôi khi chúng tôi cảm thấy Đức Phật như một ông cha Ngài ngồi đó Ngài dạy một cách rất là cặn kẽ cho những đứa con của mình, các vị tỳ kheo tỳ kheo ni, thiện nam tín nữ, Ngài chỉ dẫn rất nhiều điều như bài học này qúi vị nghe Đức Phật Ngài giảng Ngài không nói những điều xa xôi huyền hoặc, Ngài nói những điều rất thực tế, và ở trong kinh điển không phải có một hay vài thí dụ như vậy mà có hàng trăm hàng ngàn thí dụ như vậy. Và với cá nhân của chúng tôi đi vào thế giới đó thì quả thật là một thế giới thân quen, ở ngoài cuộc sống bình thường có bao nhiêu là hệ lụy phiền phức nhưng trở về đọc lại kinh điển, lật từng trang kinh thì tìm về một thế giới quen thuộc, thế giới đó quả thật là cho chúng ta rất nhiều.

Mấy hôm nay chúng tôi đang soạn chú thích những bức tranh về cuộc đời của Đức Phật, có 108 bức tranh như vậy, chúng tôi làm việc này không thấy cực mà cảm thấy rất vui là khi soạn thì mỗi một bức tranh chúng tôi có một câu thơ lục bát ngắn, ví dụ như trong bức tranh về Đức Bồ Tát lúc Ngài đứng ra nhận công quả dọn một con đường để rước Đức Phật Nhiên Đăng, nhưng khi Đức Phật Nhiên Đăng đến thì Ngài vẫn chưa hoàn tất con đường đó và Ngài đã nằm xuống thỉnh cầu Đức Phật và Chư Tăng bước lên người của Ngài để đi qua, và cái việc làm với tấm lòng cao qúi đó Ngài đã phát nguyện là Ngài sẽ thành Phật trong tương lai, Đức Phật Nhiên Đăng đã thọ ký cho Ngài. Chúng tôi chú thích là: 
"Kiếp xưa đại nguyện cúng dường
Hình hài gieo xuống trải đường Phật đi."

Chúng tôi làm những vần thơ như vậy tuy rất ngắn, theo thể lục bát, nhưng chúng tôi muốn rằng những vần thơ đó được qúi vị nào đọc dễ nhớ khi liên tưởng đến ý nghĩa của bức tranh, trong lúc soạn những chú thích của những bức tranh này thì trong lòng của chúng tôi rất vui và rất an lạc, là tại vì sao? là tại vì đó là một thế giới thân quen khi chúng ta đọc lại những giai thoại liên quan đến cuộc đời của Đức Phật thì chúng ta thấy rằng Đức Phật là bậc đại phúc, đại đức, đại từ, đại bi. Có người thương Ngài, có người ghét Ngài, có người phỉ báng Ngài, có người lắng nghe Ngài, có người mạ lỵ Ngài, nhưng mà với tất cả thì Đức Phật có một thái độ của bậc giác ngộ, thái độ của bậc tỉnh thức, chúng ta đọc những đoạn đó chúng ta thấy an lạc vô cùng.

Và bài học ngày hôm nay chúng ta thấy Đức Phật Ngài dạy về ba hạng người: hạng người với trí tuệ lộn ngược, hạng người với trí tuệ như bắp vế, hạng người với trí tuệ rộng lớn. Nghe thì có một chút khôi hài nhưng nó là một thực tế mà chúng ta thấy trong đời sống. Trí tuệ bị lộn ngược giống như một cái ghè đựng nước mà nó úp xuống thì nó không chứa được cái gì hết, trí tuệ như bắp vế là cái gì để trên đùi của chúng ta rồi đứng dạy nó rớt xuống hết, nhưng trí tuệ rộng lớn là người biết lắng nghe, lắng nghe đây là chú ý đoạn đầu, chú ý đoạn giữa, chú ý đoạn cuối, chẳng những biết nghe mà còn biết lãnh hội, chẳng những lãnh hội mà còn biết tiêu hóa nữa thì như vậy là một người biết hưởng nhiều sự lợi lạc. Đó là ý nghĩa của bài học này./.

Tuesday, October 13, 2015

Kinh bị dính mắc - Phật Tự Thuyết

(Xin lưu ý: Tất cả những bài chuyển biên chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

Kinh Phật Tự Thuyết Kinh  bị dính mắc

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 5-3-2015, Minh Hạnh chuyển biên 

TT Giác Đẳng: Thành Savatthi kinh đô xứ Kiều-Tát-La (Kosala) là một giao điểm của một trục lộ giao thông thương mại rất quan trọng. Một kinh đô rất  phồn thịnh, đặc biệt có 4 điều: 

- Một là nằm ở vị thế rất trù phú, ngày xưa các quốc gia phồn thịnh phần lớn do hai yếu tố nông nghiệp và giao thương, Xá vệ có cả hai điều đó. 

- Điều thứ hai, thời tiết ở thành Xá Vệ tương đối tốt, đi về hướng Bắc thì lạnh, ví dụ như gần chân núi Hy Mã Lạp Sơn vùng đất ngày nay chúng ta gọi là Népal, đi về phía Nam mùa hè tương đối rất nóng như vương quốc Ma Kiệt Đà, nhưng Xá Vệ tương đối không khí ôn hoà. 

- Điều thứ ba, thành Xá Vệ thời Đức Thế Tôn còn tại thế có một đặc điểm là kinh đô của vương Quốc Kiều Tát La, một ở trong 2 vương quốc trù phú của châu thổ sông Hằng, vương quốc khác là Ma-Kiệt-Đà với kinh đô Vương Xá. Riêng về xứ Kosala (Kiều-Tát-La) là một quốc gia lớn, tại thành Xá Vệ có rất  nhiều nhà triệu phú và nổi tiếng, chúng ta được nghe đến ông Cấp-Cô-Độc và bà Vishaka tất cả đều là đệ tử Đức Phật. 

- Điều thứ tư. Đức Thế Tôn Ngài đã an cư 24 mùa hạ tại thành Xá Vệ đó là 24 mùa hạ cuối đời Ngài. Ở trong suốt thời gian gần 1/4 thế kỷ không phải lúc nào Đức Thế Tôn cũng ở Xá Vệ mà là tới mùa mưa Ngài ở thành Xá Vệ thời gian khác Ngài cũng đi du hành đó đây, 24 năm, đó là sự tuần hoàn của rất nhiều chu kỳ về kinh tế. 

Ví dụ như chúng ta thấy nền kinh tế Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng tăng trưởng ở một nhịp độ giống nhau, có sự trồi sụt đó là chuyện rất bình thường, để đi theo chu kỳ hết tăng trưởng rồi suy thoái, hết suy thoái rồi tăng trưởng, vì vậy điều này ảnh hưởng lớn những người dân ở trong xứ khi kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng, niềm tin vào kinh tế được mạnh mẽ người ta bắt đầu chuyển hướng từ cần kiệm qua sự hưởng thụ, và khi người ta có tiền sự hưởng thụ đó có nhiều thứ. Tại Mỹ người ta thường gắng liền hai chỉ số của comsumer confidence và comsumer spending tức là niềm tin của giới tiêu thụ và chỉ số tiêu dùng của người tiêu thụ, khi người ta có niềm tin vào kinh tế tốt người ta sài tiền mạnh tay hơn và đời sống có vẻ hưởng thụ nhờ đó kinh tế phát triển nhiều khía cạnh nhiều lãnh vực. 

Bài kinh ngày hôm nay gợi nhắc chúng tôi hình ảnh của Thái Lan 20 năm về trước, đó là thời đất đai ở Bangkok với giá trị tăng vọt, đó là thời cả đất nước Thái Lan đều hướng tới sự mở mang tăng trưởng. Bangkok chuyển mình khắp nơi đều có cao ốc được xây cất và thế lực của đồng tiền chi phối trong mọi lãnh vực của đời sống. Chẳng những vậy, Bangkok đã mở ra một chương mới về sự hưởng thụ, những khu thương mại sầm uất mọc lên, có thể nói rằng đã đưa rất nhiều người trở thành những người cự phú, cực kỳ giàu có và đời sống xa hoa đã tồn tại ở trong rất nhiều khu phố của Thái Lan, của Bangkok. 

Một khi người ta sống trong thời kỳ hay trong giai đoạn kinh tế tăng vọt thì tự nhiên sự hưởng thụ trở thành điều tất yếu, và hình ảnh đó đập vào con mắt của Chư Tỳ Kheo. Tương tự như 20 năm trước chúng tôi  đi trên những con phố ở Bangkok đã từng thấy sự náo nhiệt của hàng quán ăn uống, của bông hoa của đèn, của quần là áo lụa, nam thanh nữ tú, bao nhiêu là sự phấn khởi nghĩ về tương lai của đất nước. 

Dĩ nhiên nó là một giai đoạn, không phải lúc nào cũng như vậy, nhưng chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng điều đó đã hiện rõ ở trên đường phố ở trên những hành trình Chư Tỳ Kheo đi khất thực và các vị này trở về để trình với Đức Phật về đời sống của những người trong thành Xá Vệ bây giờ họ đặt nặng sự hưởng thụ các dục lạc. Nhân đó Đức Phật Ngài dạy bài kệ:

 Chúng sanh bị tham đắm,
Trong các loại ái dục,
Họ không thấy lỗi lầm,
Trong phiền não kiết sử,
Chắc chắn các chúng sanh,
Tham đắm trong ái dục,
Họ không vượt qua được,
Thác nước rộng và lớn.

Trong bài kệ Đức Phật Ngài đưa ra hình ảnh, có lẽ qúi vị nào ngày xưa trước năm 1975 có đọc tác phẩm "Vô gia đình" một tác phẩm của Hà Mai Anh dịch và cũng là người dịch cuốn "Tâm hồn cao thượng" sau này cuốn là "Vô gia đình", đó là một quyển tiểu thuyết nhỏ nói về một bé trai lạc loài trở thành một người lang thang trải qua bao nhiêu truân chuyên đưa đẩy và trở thành một khách lữ đi trên một con thuyền dọc theo dòng sông Nile. Sông Nile chúng ta được biết ở Ai Cập chảy ra Địa Trung Hải nhưng từ giòng sông Nile ngược giòng đã đi qua nhiều quốc gia Phi Châu và có lúc giòng thủy lưu đã đưa con thuyền đến các ghềnh thác nước. Chúng ta hiểu được ngày nay trên thượng nguồn của con sông vẫn còn có những thác nước, nhỏ gọi là ghềnh, lớn gọi là thác, và những thác ghềnh rất nguy hiểm cho những người đi, khi nó đổ xuống nếu mình không may mắn thoát chết thì từ trên cao rớt rơi xuống kể như từ chết tới chết thôi.

Ở đây, Đức Phật Ngài dùng hình ảnh của một giòng nước chảy mạnh đưa chúng ta đến thác nước và thác nước đó quá lớn, quá cao, quá rộng không thoát được khi đổ từ trên cao xuống. 

Tương tự như vậy, ở trong cuộc đời này có những trào lưu, trào lưu của phát triển, của hưởng thụ. Giống như bây giờ chúng ta đang có trào lưu về tin học, về internet, về điện thoại thông minh, ai cũng có ai cũng sài, và nó trở thành một phần của cuộc sống. 

Nhưng Đức Phật Ngài dạy: chúng sanh bị đắm chìm trong ái dục không thấy được lỗi lầm của ái dục trong phiền não kiết sử tức phiền não trói buột, họ không vượt qua được thác nước rộng và lớn.

Chúng ta hiểu con người thường hay chạy theo trào lưu, chạy theo những quan niệm thời thượng và với trào lưu đó chúng ta bị cuốn hút vào quan niệm của phần đông, cái xu thế của cuộc đời thế nào thì chúng ta lại chạy theo xu thế đó, vì chúng ta không có khả năng để rời khỏi đám đông để nhìn lại vấn đề coi nó ra sao, nó như thế nào. Sự việc đó chi phối chúng ta mãnh liệt, mãnh liệt lắm. Để thấy được lỗi lầm của dục lạc không phải chuyện đơn giản. Nó cũng giống như có thời nào đó tất cả những ngôi chùa Phật Giáo đều đua nhau xây càng to càng tốt, có thời nào đó người ta cố gắng tích tập tài sản càng nhiều càng tốt, có thời nào đó người ta cố gắng hưởng thụ càng nhiều càng tốt v.v... Đó là xu thế, nó là một sự lôi cuốn, nó là giòng cuộn chảy, giòng cuộn chảy đó chúng ta không có ngừng được. 

Đức Phật Ngài khuyên chúng ta nên tỉnh táo nhận ra được lỗi lầm của các dục lạc, sự cột trói của các dục lạc, cái gì khiến chúng ta mất đi sự tự tại mà có quá nhiều vướng vấp, quá nhiều sự ràng buột, quá nhiều sự cột trói  chúng ta phải thấy được lầm lỗi của các dục. 

Thí dụ, Đức Phật Ngài dạy lầm lỗi các dục  là: do các dục nên cha tranh chấp với con, con tranh chấp với cha, anh em tranh chấp với anh em, vợ chồng tranh chấp với vợ chồng. 

Khi dục lạc càng tăng thịnh những sự tranh chấp càng nhiều, người ta hơn nhau từng lời từng chút, người ta sẵn sàng phỉ báng mạ lỵ nhau để tìm cách nâng uy tín của mình trở thành nổi tiếng và chà đạp những người khác để cho người khác không được cái mà đáng lẽ họ phải được. 

Tất cả những hiện tượng đó đều từ lỗi lầm tự nhiên của dục lạc. Dục lạc phải có tranh dành và trong tranh dành thì có bao nhiêu sự tổn thương, bao nhiêu  phiền lụy, bao nhiêu  uẩn khúc, bao nhiêu khổ ải, chúng ta không thấy được điều đó, chúng ta không thấy được sự sa đà của một trào lưu mà người ta đang quá đặt nặng về nó. Thì thưa qúi vị, chúng ta bị cuốn phăng đi giống như một giòng nước từ trên cao đổ xuống chảy mạnh và cuốn phăng đưa chúng ta đi đến thác  ghềnh và trước mắt là một giòng thác rất rộng rất lớn, nó quá rộng để chúng ta có thể chạy trốn có thể tấp vào bên này hay tấp vào bên kia, chúng ta bắt buộc phải chảy phăng xuống giòng thác và rơi xuống. Hình ảnh đó chúng ta tìm thấy rất nhiều ở các nơi. 

Hiện nay chúng ta đang sống trong một thời đại có rất nhiều sự tăng trưởng về kinh tế. Các quốc gia đang mở rộng những biên giới, và ngành giao thương càng mạnh thì tạo nên nhiều điều kiện tốt về tiền bạc, cùng với khoa học kỹ thuật cho phép chúng ta có những thành tựu rất lớn, chưa có thời nào có nhiều những sản phẩm mới như thời đại này, hầu như mỗi tuần mỗi ngày đều có những sản phẩm mới mời mọc người tiêu thụ, và biên giới của các quốc gia cũng mở rộng, với thông hành passport đã cho chúng ta đi rất nhiều quốc gia khác nhau, ngày xưa đi thì khó khăn bây giờ đi tương đối là dễ dàng từ Âu Châu sang Á Châu. đặc biệt các quốc gia Á Châu. Con người đang tôn sùng chủ nghĩa về kim tiền, bên cạnh chủ nghĩa kim tiền chúng ta có thì phải nhận người ta có muôn ngàn cách để hưởng thụ, chính về điều này là những lôi kéo rất lớn. Bài kinh ngày hôm nay theo lời của Đức Phật dạy là tiếng chuông cảnh tỉnh chúng ta, chúng ta bị cuốn hút, chúng ta lao vào đó bởi chúng ta không thấy sự lỗi lầm chúng ta không thấy cái giây cột trói, lỗi lầm ở đây tức là nó có những hệ lụy, giây cột trói ở tại đây tức là những cái ràng buộc. 

Chúng tôi nghe rất nhiều những câu chuyện đau lòng, câu chuyện đó là ở VN có những người bỏ xứ ra đi vượt biên giao nhà cửa lại cho người thân cho cha cho mẹ, rồi cha mẹ sống trong căn nhà đó thì nhiều năm qua những người này gửi tiền về để lo chăm sóc cha mẹ, chuyện đó rất là tốt. Nhưng có một ngày người con khám phá ra căn nhà  cha mẹ đang ở rất  được giá, nhà ở VN mà giá cao hơn ở Mỹ, thì những người này trở về VN tìm cách lấy lại căn nhà để bán đi  có số tiền khổng lồ và phải mời cha mẹ anh em ra khỏi nhà rồi chẳng những vậy còn dẫn đến kiện tụng, dẫn đến bao nhiêu nước mắt bao nhiêu sự đau lòng. Chúng tôi ở bên Mỹ này cũng gặp nhiều trường hợp con cái đi làm đầu tắt mặt tối, nhà bên California rất  đắc người ta tìm mọi cách để làm sao có lợi tức để trả tiền nhà hàng tháng, cha mẹ già hàng tháng sống chung với những vị này thì chúng ta cũng hiểu  đi làm cực quá tiền bạc thì cũng không dư giả thành ra những vị này lại nghĩ rằng cha mẹ già rồi lãnh tiền hàng tháng cũng không sài cái gì sao cha mẹ không đóng góp vào việc nhà, cha mẹ vì thương con thương cháu ở trong nhà nên cũng đóng góp vào nhưng đôi khi cũng có những lời trách móc nặng nhẹ là sao ba má không giúp cái này không giúp cái kia. Khi nghĩ những chuyện đó bi kịch rất là buồn, buồn ở độ là lẽ ra sống trên một quốc gia có điều kiện về kinh tế nhiều làm ra tiền nhiều  chúng ta sẽ vui hơn nhưng  bởi vì chúng ta mong muốn nhiều quá, chúng ta mong muốn có nhà cửa, chúng ta mong muốn có đầu tư về dài và đôi khi chúng ta quên đi cái tình, quên đi cái ân sâu, quên đi ơn nghĩa cha mẹ mà chỉ mong  sao cha mẹ không có giúp cái này cha mẹ không giúp mình cái kia. 

Cuộc đời là như vậy. Đức Phật Ngài dạy chính do những dục lạc tạo nên những sự tranh dành tạo nên những va chạm, tạo nên những hệ lụy giữa người thân với người thân, nó còn có vô số chuyện khác. Chúng ta đọc tin tức ở VN thấy có nhiều trường hợp con cái cần cái gì đó, cần tiền để đi với bạn trai, đi với bạn gái,  cần tiền để chơi game hay làm cái gì đó mà cha mẹ có tiền không cho thì giết cha giết mẹ chỉ để lấy tiền bạc để lấy ít đồ trang sức, đó là bi kịch của cuộc sống. Cuộc sống của con người đến mức độ nào đó mình quá mong muốn, mình quá khao khát chuyện gì đó thì mình có thái độ bất chấp và sự bất chấp đó tạo ra đau thương ngay cả trên người thân rất thân của mình, Đức Phật gọi là đó là lỗi lầm của dục lạc. Các dục lạc vui ít khổ nhiều và nguy hiểm lại nhiều hơn. Đó là điều Đức Phật Ngài dạy. 

Chưa có thời nào chúng ta sống dễ dàng để cảm nhận điều Đức Phật dạy như thời này và với câu Phật ngôn này thì đúng là một giòng thác, một giòng nước lũ cuốn phăng, một giòng nước chảy rất mạnh dẫn đến một thác ghềnh và thác ghềnh đó quá lớn để chúng ta tránh né chúng ta phải rơi xuống từ trên cao.

Ở trong kinh cũng nói có thời nào đó con người rất khôn ngoan rất qủi quyệt, từ sự tranh chấp tạo ra chiến tranh, tạo ra điêu linh, tạo ra sự tàn hại lẫn nhau, rồi những người có trí bỏ tất cả đi vào trong rừng để tránh xa những sự tranh chấp đó. Bây giờ chúng ta nhìn lại trên thế giới thay vì sự giàu có làm cho con người được sống bình an được hưởng thụ, thì chính sự sự giàu có sự phát triển làm cho con người tranh chấp. Quê hương Việt Nam của chúng ta nằm ở trên vị thế Viễn Đông là một thùng thuốc nổ có thể nổ ra bất cứ lúc nào trước những cuồng vọng xâm lăng trước những tham vọng điên cuồng tại vì nguồn hải sản phong phú đó, khoáng sản phong phú đó, dầu khí phong phú đó nằm ở dưới đáy biển và người ta sẽ tạo thành một cái thế để khơi dậy bất cứ mọi trận chiến nào nếu người ta thấy rằng người ta có đủ sức lực mạnh, nếu người ta thấy rằng người ta có đủ vũ khí để theo đuổi những tham vọng điên cuồng như vậy. Thì nó là bi kịch muôn thuở của nhân loại. Và đó là cái khổ muôn đời mà Đức Phật dạy rằng đó là lầm lỗi của các dục. Chúng ta quá khao khát cái gì đó dẫn đến sự bất chấp thủ đoạn. 

Một người học Phật, thỉnh thoảng chúng ta ngồi nhắc lại đọc lại, chiêm nghiệm những lời của Đức Phật. Đức Phật Ngài dạy chúng ta rất rõ ràng là chúng ta nên ý thức những điều đó và làm thế nào để cuộc sống không trở thành một thảm kịch, nó không dẫn chúng ta đến một chung cuộc quá khổ ải, quá phiền lụy. Không phải chỉ có thời xưa mà thời nay cũng vậy, sự phát triển, sự tăng thịnh của nền kinh tế thường hay dẫn con người đến chỗ xa đoạ ngông cuồng và để lại không biết bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu bi kịch cho cuộc sống. 

Chúng ta tu tập theo Đức Phật và gọi Ngài là Phật tại vì chúng ta hiểu Phật là bậc tỉnh thức. Ngài tỉnh thức trong cả hai trường hợp, sự tỉnh thức trước những nghịch cảnh khổ nạn và Ngài tỉnh thức trước những đam mê dục lạc của cuộc sống. Trong cả hai trường hợp Đức Phật Ngài đều là bậc tự mình thấy rõ biết nên chúng ta gọi Ngài là Phật, bậc tỉnh thức. 

Con người chúng ta có bao nhiêu thứ nhu cầu và đặc biệt sở thích của chúng ta là những cuồng vọng. Phải nói, chúng ta tự hỏi  nếu mình có nhiều tiền bạc, có chức cao quyền trọng con người chúng ta sẽ như thế nào? Chúng ta có trở thành điên đảo, chúng ta có đánh mất đi giá trị chân thật của mình không? Điều đó dám có lắm chứ không phải không. 

Tại Hoa Kỳ, người ta có làm một cuộc nghiên cứu tìm hiểu nhiều người khi  trúng số độc đắc, cái giàu có của họ không hẳn mang lại cho họ được hạnh phúc mà đa phần  mang lại cho họ nhiều khổ lụy và khổ lụy đó có thể nói là vô cùng, họ mất đi người thân, họ mất đi chính họ, họ mất đi cuộc sống ổn định và bao nhiêu thứ chồng chất, đến nỗi có một vài người mong muốn  phải chi họ đừng có trúng số để trở lại cuộc sống bình thường trước kia. 

Chúng tôi sống ở trong chùa quen biết những người xuất gia, có những người đáng lẽ đời sống tu tập tốt lắm nhưng vì một chút hư danh, vì một chút địa vị nào đó mà đánh mất đi định hướng của mình, trở thành cuồng nhiệt ở trong danh trong lợi, cuối cùng ở trong cuộc sống chỉ từ khổ đau đến khổ đau chứ không được gì hết. 

Và khi nghĩ đến những vị đó, nhìn những vị đó thì bản thân của chúng ta cũng nên thắp sáng nhận thức của mình liệu  mình có đi theo con đường đó hay không? Đó là tại sao mỗi ngày chúng ta ngồi đây đọc lời  Đức Phật dạy mang lại cho chúng ta rất nhiều lợi lạc. Bởi vì chính có Đức Phật có lời dạy của Ngài và có sự gợi nhắc về lời dạy của Đức Phật lâu lâu cho chúng ta hồi tỉnh một chút, cho chúng ta nhìn lại vấn đề khác đi. Từ chỗ nghèo rồi có tiền bạc,  từ chỗ tầm thường rồi có địa vị, từ chỗ một cuộc sống rất an lạc vì không đặt quá nặng cái "tôi" cái "ta", cái mình trở thành rất quan trọng, trở thành vĩ đại. Và đời sống mình thay đổi rất nhiều để có thể đi, có thể sống, có thể an lạc với cái gì bình dị nó không phải là chuyện đơn giản. Chúng ta thường chạy đuổi  theo những hư danh, chúng ta thường chạy đuổi theo những mồi danh bã lợi, và rồi đến lúc nào đó mình nhìn lại mình cảm thấy mệt mỏi về đủ thứ chuyện.

Chúng tôi có mắn ở trong đời được tiếp xúc với một vài vị trưởng lão và những vị này có một quá khứ lừng lẫy, có địa vị cao trọng và cuối đời có được tâm rất thanh thản. Hình ảnh của những vị đó quả thật dạy cho chúng ta rất nhiều. Mình cứ tưởng tượng một người sống cuối đời khi kề cận cái chết mà cứ nghĩ đến danh đến lợi thì thật sự khổ sở lắm. Những lúc đó  tâm chúng ta thanh thản thì đỡ hơn nhiều, những lúc đó tâm của chúng ta nhẹ nhàng thì chúng ta bớt đi cái khổ. Mình khách quan thì mình có thể nói như vậy nhưng nếu người đó là chính mình thì điều đó không đơn giản, không phải dễ hiểu và cũng không phải dễ làm. Chúng ta  thường bị cuốn hút, cuốn hút vào những quan niệm của phần đông, cuốn hút vào  xu thế và chúng ta không thể cưỡng lại được. Hãy nhìn giòng nước chảy rất mạnh, giòng nước đưa đến những thác nghềnh và những thác nghềnh này có thể làm chết người khi mình rơi xuống liệu chúng ta có đủ sự bình tỉnh để làm thể nào để vượt qua khỏi giòng nước đó rồi lên bờ hay không? Câu trả lời là ở mỗi chúng ta. 

Ở đây hình ảnh Đức Phật dạy về sự cột trói. Nhiều khi mình thấy đó là cái gì mình được, cái gì mình có, cái gì mình thủ đắc. Nhưng kỳ thật Đức Phật dạy rằng đó là sự cột trói. Sự cột trói đó  nó bắt buột chúng ta phải làm cái này không làm cái kia, hay buột dính với cái này không được buông cái kia, đó là sự buột trói. 

Trong Đạo Phật dạy một chữ rất đẹp, những phiền não nội tại là những kiết sử, là những dây trói buột. Và cứu cánh của chúng ta là giải thoát. Giải thoát cái gì? Giải thoát khỏi phiền não, giải thoát khỏi hệ lụy của năm uẩn. Nhưng trước nhất là giải thoát khỏi phiền não. Và cách cởi giải thoát là bắt đầu bằng sự giác ngộ. Giác ngộ và giải thoát ./. 

Saturday, September 19, 2015

Hạnh Tu Như Cọp

Hạnh tu như cọp 

TT Giác Đẳng giảng tại chùa Pháp Luân ngày...tháng 12, năm 2012, Song Ánh chuyển biên và biên tập, TT Pháp Nhiên hiệu đính

Lời giới thiệu:

Vào năm 1979, trong một lớp học Phật Pháp tại chùa Kỳ Viên ở quận 3, TP. HCM, lúc bấy giờ giảng viên là một vị sa di trẻ. Sư Giác Đẳng khi ấy mới 16 tuổi, nhưng đã thể hiện được năng khiếu giảng dạy của mình.

Một lần nọ, sư Giác Đẳng nói với chúng tôi về đề tài hạnh tu như cọp, và có hứa sẽ giảng cho chúng tôi nghe bài Pháp này, nhưng chẳng bao lâu sau thì sư đã đi nước ngoài để du học.

Thời gian thấm thoát đã 32 năm trôi qua và cơ duyên được nghe bài Pháp đã đến với chúng tôi. Ngày 14/12/2012, chúng tôi sang Hoa Kỳ để dự lễ kỷ niệm mười năm ngày khánh thành Bảo Tháp tại Thích Ca thiền viện ở tiểu bang California dưới sự bảo lãnh của ngài Hòa thượng Thiền sư Kim Triệu cùng với sự tài trợ vé may bay của các bạn Lệ Trinh, Lý Nhàn, Lệ Lệ (Lý), Tiết Tiểu Minh, Hoa Cúc và gia đình Long Tuyết (Texas).

Trong dịp này, chúng tôi đã đến Houston (Texas) gặp lại Thượng tọa Giác Đẳng và chúng tôi nhân cơ hội này đã thỉnh cầu sư thuyết bài Pháp “Hạnh tu như cọp”. Với chúng tôi đây là bài Pháp vô cùng quý báu vì chúng tôi phải đợi hơn 32 năm. Với thời gian dài như vậy mà chúng tôi đến ngày hôm nay vẫn còn sống để nghe sư thuyết giảng !

Trong thời Pháp, sư Giác Đẳng có cho ghi âm và sao chép ra đĩa CD, nhờ vậy mà chúng tôi có thể nghe lại khi về nhà. Do thiện ý muốn phổ biến bài Pháp có giá trị này nên chúng tôi đã biên tập, đánh máy, photocopy và cho ra đời quyển sách nhỏ với nhan đề “Hạnh tu như cọp”.

Nội dung của bài Pháp đề cập đến bốn đặc tánh của loài cọp (cọp đực). Bốn đặc tánh ấy là:

1- Khả năng sống độc lập (sống một mình)

2- Khả năng cảnh giác rất cao

3- Săn mồi vừa đủ ăn

4- Không biết sợ

Với vị hành giả cũng phải có bốn đức tính như sau:

1. Sống độc cư thanh tịnh

2. Khéo phòng hộ các căn

3. Ăn uống có tiết độ

4. Không biếng nhác, tinh cần ( có tinh thần vô úy)

Chúng con thành kính tri ân sư Giác Đẳng đã từ bi thuyết giảng cho chúng con một bài Pháp vô cùng quan trọng và có giá trị thiết thực cho sự tu tập của hành giả. Chúng con cũng tri ân Sư Pháp Nhiên đã hiệu đính cho quyển sách này.

Mong rằng quyển sách “Hạnh tu như cọp” sẽ là một tài liệu quý báu, là kim chỉ nam giúp cho hành giả thăng tiến trên con đường chấm dứt sanh tử.

Do công đức ấn tông Kinh sách này, chúng con thành tâm hồi hướng và chia phần phước thiện thanh cao này đến ông bà, cha mẹ, thầy tổ, bà con quyến thuộc, bạn hữu và tất cả chúng sanh, cùng toàn thể chư Thiên, toàn thể chư Thiên hộ trì Chánh Pháp. Cầu xin quý vị hoan hỷ nhận phần phước thiện này. Cầu mong quý vị an lạc, thoát khoải cảnh khổ và được an vui lâu dài.

Nguyện cho chúng con sớm thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử.

Sadhu! Sadhu! Sadhu!

Bài Pháp

TT Giác Đẳng: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Bài Pháp hôm nay là một trong những bài Pháp có thể nói rằng rất khó quên trong cuộc đời của chúng tôi. Bài Pháp là một lời hứa mà 32 năm qua vẫn chưa thực hiện được. Ngày đó tôi là một sa di trẻ ở Việt Nam, trước khi rời quê hương ra nước ngoài, tôi hứa là sẽ nói về đề tài hạnh tu như cọp, lúc đó chỉ là một câu nói tình cờ trong lớp học Phật Pháp, nhưng hôm nay thật bất ngờ hữu duyên để có thể thực hiện lời hứa ấy.

Hôm nay hai cô Ánh Hoa, Ánh Nguyệt sang Hoa Kỳ. Cũng lạ, mặc dù trước đây chúng tôi cũng đã vài lần gặp nhau tại Ấn Độ, Thái Lan và Trung Quốc, nhưng chưa bao giờ có dịp để thực hiện điều này vì quả thật do những điều kiện đặc biệt về hòan cảnh, thời gian và và cái nhìn, mà nội dung của bài pháp có thể thay đổi ít nhiều theo từng thời điểm trình bày. Nếu bài Pháp này được nói 32 năm về trước thì một số suy nghĩ trong đó sẽ khác với ngày hôm nay. Hôm nay, nhân dịp hai cô đến chùa và nhắc lại lời tôi đã nói cách đây 32 năm, tôi xin trình bày bài Pháp này để hoàn thành lời hứa cũng như thỏa mãn sự mong đợi của hai vị.

Trong Giáo Pháp, Đức Phật thường dùng chữ thiện xảo, tức là khéo léo. Thiện xảo là khả năng mà chúng ta có thể làm được một điều gì đó theo phương pháp. Thí dụ như người nấu một bữa ăn, người xây dựng một ngôi nhà, nghệ nhân thực hiện một công trình điêu khắc. v.v … Nếu làm đại khái thì nhiều người có thể làm được, nhưng để làm cho tốt, cho được mỹ mãn thì chúng ta phải cần đến phương pháp. Một học giả người Đức, trong bài viết lời tựa cho một quyển sách Vi diệu Pháp đã nói rằng sự khác biệt giữa đạo Phật và các tôn giáo khác là đạo Phật không chỉ ca ngợi những giá trị của thiện pháp mà còn đề cập đến những phương pháp nhằm giúp để thành tựu và chứng đạt những thiện pháp đó.

Một điều mà chúng ta biết là cứu cánh của đạo Phật có thể tóm gọn trong bốn chữ Giác ngộ và Giải thoát. Giác ngộ là thấy được chân tướng của các pháp, và Giải thoát có nghĩa là cắt đứt những dây kiết sử. Đức Phật không chỉ nói đơn giản rằng Giác ngộ và Giải thoát là điều cao quý mà chính Đức Phật và cả chư Phật trong quá khứ đều nói và trình bày mà còn chỉ dẫn hành trình của con đường và phương pháp thực hành để đưa đến Giác Ngộ và Giải thoát. Có một điều mà chúng ta thường ít quan tâm đến đó là trong đạo Phật có một pháp gọi là Pàtimokkha mà chúng ta gọi là Giới bổn. Giới bổn mà ngày nay quý phật tử biết đó là Tỳ khưu và Tỳ khưu ni gới được chư Tăng tụng để nhắc nhở và hành trì. Pàtimokkha được người Trung Hoa dịch là Biệt biệt giải thoát, có nghĩa là những điều này được thực hành thì sẽ đưa đến giải thoát những phiền não.

Pàtimokkha hay Giới bổn đều được các chư Phật dạy để trì tụng chứ không phải riêng gì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy mà thôi.

Các Giới bổn mà Đức Phật dạy về Tỳ kheo và Tỳ kheo ni giới có tính ứng hợp với căn tánh của chúng sanh thời đó. Họ có những sai quấy và Đức Phật chế định theo giới luật. Đó là Giới bổn, điều học. Nhưng Giới bổn mà Đức Phật tự thân hành trì thì rất đơn giản, nó chỉ vỏn vẹn trong bốn điều, và ngài Na Tiên (Nàgasena) đã dùng bốn điều này để giảng giải. Và khi ngài trình bày về điều này ngài đã dùng hình ảnh của một con cọp, một hình ảnh rất gần với đất nước Ấn Độ thời đó để minh họa. Vì vậy, chúng ta nói hạnh tu như cọp thì nghe cũng hơi lạ tai, bởi vì ai cũng nói dữ như cọp chứ không ai nói tu như cọp.

Bây giờ chúng ta nói đến Giới bốn đầu tiên hay nói đến đặc tính thứ nhất của loài cọp. Cọp sống một mình. Quý vị cũng thường nghe nói một rừng không thể có hai con cọp và cọp ở đây chính là con cọp đực. Một con đực sống với nhiều con cọp cái, nhưng trong một lãnh địa thì không có trường hợp hai con cọp đực sống chung với nhau được. Cọp đực phân biệt giang sơn của chúng bằng phân và nước tiểu. Khi một con cọp đực sống nơi nào thì nó dùng phân và nước tiểu để phân ranh, và con cọp này không bao giờ lấn qua ranh phận của con cọp kia. Vì vậy mà người ta nói rằng trong một rừng không thể có hai con cọp. Những nghiên cứu ngày nay cho biết là giang sơn của một con cọp đực thường rộng ít nhất là từ bảy cho đến mười cây số vuông. Con cọp đi lại, sống, săn mồi và nó là chúa sơn lâm trong cái giang sơn riêng biệt của nó.

Ngài Nàgasena dùng hình ảnh này để ví với lối sống của một hành giả- đó là sống độc cư. Tất cả chúng ta, trong sự tu tập, đều phải trải nghiệm một điều mà tất cả những nghệ nhân, những người làm nghệ thuật đều biết: Đó là cho đến khi nào họ thật sự thoát ra được những cái giá trị được thẩm định bởi người khác, bởi xã hội để tự mình nhận chân ra những giá trị đó và dám sống với chúng, sống với chính mình thì đó là một bước ngoặc rất quan trọng trong cuộc đời của họ. Đối với người hành giả cũng vậy. Ví dụ trong đời sống, trong công việc làm hay việc tu tập, mình thường luôn nghĩ rằng ta làm những điều như vậy có ai khen mình không, có được người khác chấp nhận hoặc công nhận hay không, hoặc là những gì mình làm có phù hợp với cái cách mà người khác suy nghĩ hay không. v.v … Điều này trở thành một sự lệ thuộc cố hữu trong cuộc sống, do vậy khi làm việc gì chúng ta cũng phải làm theo những cái giá trị vốn đã được áp đặt, vốn đã có sẵn.

Một hành giả, cho dù sống giữa thị thành hay sống giữa làng mạc, trong rừng sâu đều cần phải có một khả năng độc lập tuyệt đối. Đó là thấy cái này là tham thì phải từ bỏ vì vị ấy nhận thức được rằng tham là một sự ngăn ngại chứ không phải từ bỏ tham vì sợ nếu không bỏ nó thì sẽ bị phật tử chê trách, hay là người này người kia chê trách mình, không đồng ý với mình. Có nghĩa là việc tốt hay xấu hành giả phải tự mình nhận biết điều đó, có như vậy, đó mới là tính cách độc lập. Dĩ nhiên là trong giai đoạn đầu, khó có ai có đủ trình độ để làm được như vậy.

Ở giai đoạn đầu hành giả phải nương vào Kinh điển, lời dạy của thầy tổ hay sự phê phán của xã hội, của gia đình , của bạn bè và những người chung quanh, để phân biệt đúng sai; nhưng đến một lúc nào đó, một hành giả biết sống độc cư- tức là một mình với tự thân, thì vị đó có thể tu tập, có thể thấy các pháp từ cái nhìn hoàn toàn độc lập của chính mình mà không cần dựa vào sự bình phẩm của người khác. Đây là một trong những điều rất khó. Nếu chúng ta hỏi những người làm nghệ thuật thì họ thường dùng hai chữ “thoát thai”. Thoát thai có nghĩa là đến một lúc nào đó mình thật sự trưởng thành và tìm được giá trị do chính mình tự chứng, tự biết chứ không phải dựa vào sự phán xét của người khác. Không phải do người khác nói tốt mà mình nghĩ tốt, mà do tự mình thấy được điều đó là tốt. Mình không cầu chứng từ người khác.

Trong Kinh ghi lại rằng, một lần nọ, Đức Phật hỏi ngài Sariputta có phải ngài hiểu Đức Phật bằng niềm tin không? Ngài Xá-lợi- phất bạch: “ Dạ con không hiểu Đức Phật bằng niềm tin”. Ngài Xá-lợi-phất muốn nói rằng “ Con hiểu Đức Phật bằng trí của con chứ không phải do người ta xưng tán Ngài mà con tin theo”. Phần nhiều trong cuộc sống của chúng ta, phần lớn chúng ta tu tập dựa trên đức tin. Ví dụ một vị thiền sư cho chúng ta những lời dạy hết sức thuyết phục về vô thường, chúng ta nghe và chúng ta đồng ý với vị thiền sư, cho rằng vị ấy nói đúng. Điều đó có nghĩa là chúng ta không thực sự thấy vô thường bằng cái nhìn độc lập. Có thể chúng ta kính trọng vị thầy ấy quá, có thể chúng ta đánh giá quá cao vị thiền sư, và vì vậy vị ấy nói gì mình cũng cho là đúng một trăm phần trăm. Nhưng một hành giả đạt đến khả năng độc cư thì vị ấy phải có khả năng nhận biết về sự vô thường bằng chánh niệm và bằng chính nhận thức của mình.

Trong Kinh Đại Niệm Xứ có một câu mà nhiều hành giả không để ý “ Vị ấy quán thân trên thân, không nương dựa bất cứ việc gì ở đời”, nghĩa là vị ấy ở trong tư thế hoàn toàn độc lập, thấy và biết như vậy. Thật ra, kinh nghiệm sống độc cư và kinh nghiệm nhận thức độc lập , hai thái độ đó đi liền lạc với nhau, nghĩa là một người có kinh nghiệm nhận thức độc lập thì vị ấy có khả năng sống độc cư. Còn một người có khả năng sống độc cư thật sự thì người ấy phải là người có khả năng nhận thức sự việc một cách độc lập. Đến mức độ đó chúng ta mới tạm gọi là có sự trưởng thành trong đời sống. Lấy ví dụ khi chúng ta còn nhỏ, những điều đúng, sai, phải, quấy mà cha mẹ giáo dục chúng ta thì rất tốt, vì mỗi chúng ta được khuôn đúc , được nuôi dưỡng trong các giá trị căn bản ấy. Tuy nhiên khi chúng ta lớn lên mà chúng ta làm gì cũng luôn tuân theo cái khuôn thước của cha mẹ chúng ta đề ra, cái này là đúng, cái kia là sai thì chúng ta không thể được coi là trưởng thành. Một người trưởng thành thật sự là một người một ngày nào đó nhận chân ra giá trị đúng, sai, phải, quấy là do tự mình hiểu biết chứ không phải vì cha mẹ tôi nói như vậy là đúng, ông bà tôi nói như vậy là đúng. Tuy nhiên khi mình còn nhỏ thì chúng ta cần những lời dạy dỗ ấy.

Do vậy, pháp đầu tiên của hành giả là giống như loài cọp, chúng sống một mình ở trong rừng, và do sống một mình trong rừng nên chúng phải có thái độ hoàn toàn độc lập, không sống theo bầy, theo đàn như một số các loài động vật khác. Có những động vật chúng sống quây quần theo bầy đàn, thí dụ như loài trâu rừng, bầy nai. v.v.. Nếu bầy của chúng chạy về hướng đông thì chúng sẽ chạy về hướng đông. Chúng chạy về hướng đông là do một con nào đó trong bầy chạy về hướng đó và rồi cả nguyên đàn chạy theo. Nhưng loài cọp thì không như vậy. Con cọp đực luôn luôn hành xử độc lập, từng con một ở trên từng lãnh địa một. Vậy, cái bản lãnh quan trọng nhất của hành giả là bản lãnh sống độc lập.

Có nhiều người không hiểu rõ đạo Phật, họ nói rằng đạo Phật sùng bái chủ nghĩa độc thân. Thật ra đạo Phật không lên án việc có gia đình cũng như lên án cuộc sống cộng đồng. Đạo Phật cũng có cộng đồng Tăng chúng, có bạn song hành như một vị thiện hữu. Tuy nhiên, đạo Phật rất chú trọng về khả năng độc lập trong cách nhìn của mình, bởi vì đến một lúc nào đó, đến một thời điểm nào đó thì hành trình của hành giả sẽ là con đường độc đạo, chỉ một người đi, và chỉ có tự thân một người đó biết nó mà thôi, chứ không thể có hai hoặc ba người được. Nói một cách khác, cha mẹ ta dạy ta như thế nào, thiện hữu dạy chúng ta như thế nào, những lời dạy của các vị thiền sư như thế nào, nó chỉ làm kim chỉ nam trong một giới hạn, một chừng mực nào đó; và khi chúng ta thực sự ra khơi, mỗi người phải tự xác chứng lấy mình chứ không phải thông qua cái giá trị do người khác đem đặt để cho mình. Đó là đặc điểm đầu tiên khi chúng ta nói về đặc điểm đầu tiên của loài cọp, và đạo Phật nói là “ sống độc cư thanh tịnh” là nói đến ý nghĩa độc lập này.

Tiếp theo đặc tánh thứ hai của loài cọp là có một tính cách khác hơn nhiều so với các loài vật khác vì nó là một động vật sống nhờ vào sự đi săn.

Cọp là một mãnh thú và các mãnh thú khác hơn những loài thú thường ở chỗ khả năng cảnh giác của chúng rất cao. Cọp là loài tấn công, do đó cọp và sư tử -khả năng cảnh giác của chúng- cao hơn những con vật khác. Những loài vật khác khi ngủ là ngủ vùi, hoặc ngay khi chúng đang chơi đùa thoải mái chúng cũng luôn ở trong tư thế dễ dàng bị tấn công. Nhưng những loài mãnh thú thì khác, thí dụ sư tử và cọp luôn luôn ở trong tư thế tấn công của một loài có cảnh giác. Tương tự như một hành giả có chánh niệm và tỉnh giác, họ biết rằng các phiền não có thể tấn công bất kỳ lúc nào, các ma chướng có thể đến với họ bất kỳ lúc nào, vì vậy họ không giải đãi, xem thường hay mất cảnh giác.

Đức Phật dạy phòng hộ các căn là Ngài muốn nói đến việc chúng ta thường có một nhận thức liên quan đến tự ngã, đây là một nhận thức gây ra phiền não. Ví dụ như có ai đãi mình món ăn ngon, luôn có cái Tôi xen trong đó “Tôi được ăn ngon”. Hay khi mình phải chịu cái cảnh lạnh lẽo thì ngoài cái cảm giác lạnh lẽo mình còn gói ghém một khái niệm “Tôi” trong đó “Tôi lạnh”. Hoặc khi chúng ta đi tham quan một cảnh đẹp thì không phải chỉ đơn thuần là để thỏa mãn con mắt mà còn để thỏa mãn cái tôi “Tôi đã thấy như vậy”.

Đối với các hành giả tu tập nhiếp hộ các căn hành giả sẽ thấy phiền não này sanh khởi từ mắt có nghĩa là nó đến từ mắt chứ không liên hệ gì đến cái Tôi, cái Ta hết. Phiền não đến từ tai, từ lưỡi, từ mũi, từ thân, từ ý cũng tương tự như vậy. Nói một cách khác, điều đó có nghĩa là hành giả có một khái niệm rất rõ ràng, chuyện nào ra chuyện đó. Chuyện của mắt thì ra chuyện của mắt, chuyện của tai thì ra chuyện của tai, chuyện của mũi thì ra chuyện của mũi, chuyện của lưỡi thì ra chuyện của lưỡi. v.v …. không có Tôi hay Ta xen trong đó. Vị hành giả chỉ thấy đơn giản vậy thôi, thấy riêng từng phần.

Nói đến chuyện tu tập thì hành giả phải có khả năng phân biệt được đâu là các cảm thọ khổ, lạc, ưu, xả và các cảm thọ đó đến từ đâu. Nếu nó đến từ xúc thì đó là từ nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc hoặc ý xúc ? Chữ xúc ở đây có nghĩa sự gặp gỡ giữa căn cảnh và thức. Và vị ấy hiểu rằng cảm thọ này đến từ mắt, từ tai, từ lưỡi, từ thân hoặc từ ý. Chỉ đơn giản vậy thôi. Vị ấy không thấy có khái niệm “Tôi, Ta” trong cảm thọ đó.Ví dụ cách đây một giờ đồng hồ, hành giả được ăn một bữa rất ngon, vị ấy biết khi thực phẩm ngon ấy chạm với lưỡi thì lưỡi hưởng thụ một cách thích thú, một cách hạnh phúc, lưỡi cảm thấy rất ngon. Và bây giờ không còn ăn nữa thì cảm giác ấy đã diệt đi, tức là vị ấy thấy sự sanh và diệt. Nếu hành giả không phòng hộ các căn thì hành giả ấy lại nghĩ rằng: Hôm nay “Tôi” có phước. “Tôi” được ăn một bữa thiệt ngon. “Tôi” thật là hạnh phúc vì được đãi một bữa ăn thiệt ngon mà nhiều người khác không có, chỉ có “Tôi” mới được ăn. Hoặc cảm thấy “Tôi” quan trọng như thế này thế kia khi được đãi ăn một bữa như vậy.

Tuy nhiên đối với một hành giả tu tập thì chuyện nào ra chuyện đó. Hễ nó sanh thì biết nó sanh, nó diệt thì biết nó diệt. Nói một cách khác là không để cho sự việc sanh khởi liên hệ đến bản ngã. Khả năng phòng hộ các căn này được hiểu và được xem như là thiện xảo của hành giả để có thể phân biệt ra ái đến từ thọ, thọ đến từ xúc, xúc đến từ sáu căn và sáu cảnh. Đó là cách vắn tắt chúng ta nói về sự tu tập phòng hộ các căn. Về điểm này thì các thiền sư dạy về Tứ niệm xứ chi li hơn, chúng ta không đào sâu nhưng điều quan trọng là chúng ta phải phân biệt được danh và sắc. Danh và sắc đối với một hành giả tu tập thì chúng trực tiếp liên hệ đến sáu căn, ví dụ cái gì mình nghe, cái gì mình thấy, mình ngửi, mình nếm, xúc chạm , cái đó gọi là sắc. Cái cảm thọ do sự xúc chạm, gặp gỡ giữa căn và cảnh , cái phản ứng thích hay không thích với sự xúc chạm, gặp gỡ đó gọi là danh. Như vậy chúng ta thấy rằng cái mà chúng ta gọi là tôi hay ta này đây thực ra chỉ là tâm và thân hay danh và sắc tương tác với nhau mà vận hành vậy thôi. Khi chúng ta thấy được mấu chốt của sự tác động qua lại giữa thân và tâm hay danh và sắc đó, chúng ta sẽ thấy rằng mọi sự đến và đi là các phản ứng do thân và tâm tác động qua lại vào nhau chứ không có một cái gọi là ngã tính ở trong đó, khi hiểu ra được như vậy thì mọi sự chúng ta cứ để tự nhiên, nó đến thì cho nó đến, nó đi thì để cho nó đi.

Chúng ta luôn vướng vào cái tự ngã hay là ngã tính. Ví dụ chúng ta nghe Paris là kinh đô của ánh sáng và ao ước được một lần đến đó. Có dịp chúng ta đặt chân đến Paris, chúng ta thấy được dòng sông Seine, tháp Effel, khi về nhà điều đó lại trưởng dưỡng thành một niềm hãnh diện, mang đến cái tự ngã: “Tôi” cũng là một người đặc biệt, “Tôi” có được may mắn đến tham quan tháp Effel, tự cảm thấy “Tôi” là người quan trọng… Hành giả hành tập là để loại bỏ cái cảm giác về một cái tự ngã này. Cái cảm giác của hành giả chỉ là cái gì đến thì để cho nó đến, cái gì đi thì để cho nó đi, chỉ đơn thuần ghi nhận hay biết, khi nó đi rồi thì mình trả mọi sự về với sự tĩnh lặng. Ngài Ajahn Chah dùng một thí dụ đơn giản để mô tả việc này đó là tâm của hành giả nó phải giống như một cái hồ nước ở giữa rừng, khi những con thú đến uống và mặt hồ khuấy động, đó là điều tự nhiên. Khi những con thú uống nước xong thì mặt hồ trở lại phẳng lặng, chứ không phải những con thú đã đi rồi mà mặt hồ cứ tiếp tục giao động hoài. Khả năng này tiếng Anh gọi là “let go”, tức là chúng ta để cho nó đi. Cái gì nó đến thì nó đến, cái gì nó đi thì để cho nó đi. Tuy vậy, việc này không hề đơn giản. Tại sao vậy? Trong cuộc sống của chúng ta, những gì chúng ta thực sự tiếp xúc, thực sự đối diện thì không nhiều, nhưng bám níu, vướng mắc của chúng ta với chúng thì lại lâu dài. Ví dụ ai đó nói với mình một câu rất nặng, câu nói nặng đó chúng ta có khi nghe chưa tới 30 giây nữa nhưng chúng ta phiền não cả … ba tháng. Cái phiền não vài ba tháng đó là do chúng ta để cái nghe đó liên hệ tới tự ngã của mình. Nếu chúng ta không để cho nó liên hệ đến tự ngã thì việc nó đến, nó đi giống như mặt hồ, chao động nhưng rồi sẽ tĩnh lặng, phẳng lặng trở lại.

Nói tóm lại, hành giả phải phòng hộ các căn như thế này: Hành giả hiểu thọ là duyên của xúc, xúc là do duyên của sáu căn, do vậy, hành giả không nghĩ rằng đây là của Ta, đây là Tự Ngã của ta. Hành giả cũng có khả năng phân chuyện nào ra chuyện đó, hiện tại là hiện tại, cái gì đã qua rồi là qua rồi, sắc là sắc, danh là danh, chứ không thấy rằng, hiện tại và quá khứ, danh và sắc kết cấu với nhau thành một thứ để cho mình phải bám níu. Tại vì sao? Bởi vì một khi hành giả nhìn thấy được sự vận hành của các căn, cảnh và thức một cách tinh tường, chính xác như thế, hành giả sẽ có khả năng buông bỏ, bởi cuộc sống là một sự nối tiếp liên tục của các căn, cảnh và thức. Nói tóm lại, nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc sanh thọ. Nhãn xúc sanh thọ, mình hiểu. Tỷ thức sanh thọ, mình cũng hiểu… Ngài Sariputta dạy rằng nếu chúng ta nghe những điều phỉ báng, nếu chúng ta biết rằng đó chỉ là một sự tiếp xúc giữa căn và cảnh thì chúng ta có thể kham nhẫn được. Điểm này là một đặc tánh giải thích tại sao hành giả khi hành thiền cần phải phân biệt cho rõ danh và sắc. Cái giá trị của sắc là cái mình thấy, mình nghe, mình ngửi, mình nếm và đụng chạm. Yếu tố đó chỉ có giá trị trong một thoáng và không nên để cho nó kéo dài. Khi chúng ta nghe, thấy, ngửi, nếm, đụng chạm thì chỉ nên đơn thuần ghi nhận chúng sanh khởi, đừng dính mắc với chúng để cho chúng trở thành những vấn đề chi phối mình sau khi chúng đã qua đi. Như vậy gọi là khéo nhiếp hộ các căn.

Với một người tu tập thì khả năng cảnh giác phải cao, phải hiểu rằng sáu căn là những cửa ngõ để cho địch tấn công. Nếu mình là một vị tướng giữ thành thì phải hiểu cái thành của mình có sáu cửa và nếu phiền não có tấn công thì chúng cũng chỉ tấn công vào sáu cửa đó thôi và như vậy mình phải thường xuyên cảnh giác.

Đặc điểm của loài cọp và các loài mãnh thú khác là chuyên về săn mồi và tấn công vì vậy chúng cũng có khả năng đề phòng sự tấn công rất cao. Người ta nói “suy bụng ta ra bụng người” , con vật đó thường tấn công những con vật thiếu cảnh giác vì vậy chính bản thân nó phải rất cảnh giác.

Đặc tánh thứ ba của loài cọp và cũng là của một số loài mãnh thú khác là chỉ săn mồi vừa đủ ăn. Nó không giết con nai này để ăn rồi giết con nai kia để chơi, tức là nó biết đi săn ở mức độ vừa phải. Nó không giống con người. Con người chúng ta khi ăn thường ham hố, có khi ăn quá độ hoặc quá no. Đời sống của mình đã đủ rồi nhưng vẫn đi tìm, tích lũy chất chứa thêm, nhưng với loài cọp thì khác. Điều này nhiều người không nghĩ đến nhưng thật ra loài vật chúng hơn loài người. Loài người của chúng ta có khi không ăn cũng giết, không ăn cũng thu thập để dành, nhưng loài vật thì không như vậy.

Trong Pàtimokkha, lời dạy của chư Phật là phải tiết độ trong ăn uống, có nghĩa là một hành giả phải biết ăn vừa với nhu cầu của mình, nếu mình không biết dừng lại có nghĩa là chưa có bản lãnh. Trong tất cả các dục lạc thì sắc đẹp, tiếng hay v.v… thì hành giả tránh được, nhưng riêng cái ăn thì không thể vì đó là nhu cầu. Khi hành giả ăn hoặc uống, Đức Phật dạy ăn và uống phải có tiết độ. Ở đây hàm ý là ăn vừa đủ no, cái thách thức lớn nhất là đồ ăn có ngon đến đâu cũng đừng ăn quá no, cho dù là ngon miệng đến mấy đi nữa cũng không có tình trạng ăn quên thôi. Thực ra, đối với một người bình thường thì cái chuyện ăn quên thôi đó cũng là chuyện bình thường, không có gì tội lỗi, nhưng với một hành giả, việc ăn quên thôi sẽ là một chuyện lớn. Vì sao vậy? Vì cái nghị lực của mình có hay không là nằm ở đó. Ví dụ một người bị bệnh tiểu đường, bác sĩ cho biết rằng không nên ăn nhiều cho dẫu là những món ăn không có nhiều đường vì khi mình ăn quá no thì cơ thể vẫn không thể hấp thu kịp, nó sẽ đẩy lượng đường vào trong máu. Do đó, nguyên tắc của người tiểu đường là phải ăn nhiều bữa nhưng không được ăn no. Vì vậy, người bị tiểu đường nếu được dọn một bữa ăn rất ngon nhưng ăn đến một mức độ nào đó thì phải tự biết ngừng lại. Khả năng tiết chế để không ăn nữa là một sự thách thức. Tương tự, đối với hành giả thì việc tiết chế trong ăn uống cũng nói lên nghị lực của vị ấy trong sự tu tập. Có những lúc chúng ta thọ đầu đà hay tham dự các khóa thiền, cả ngày chỉ ăn một bữa chính, bữa ăn đó đôi khi rất ngon miệng vì vậy đến lúc chúng ta bảo mình phải ngừng ăn thì thật là không phải chuyện dễ. Dường như ai cũng muốn ăn cho thỏa mãn, người ta gọi là mãn khẩu, và nếu mình ăn không cho nó mãn khẩu thì mình thấy có chút gì tiếc nuối. Nhưng hành giả phải có khả năng thấy rằng đã ăn vừa đủ no thì phải biết ngưng lại.

Chúng tôi có vài lần nói về sự khác biệt giữa văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ trong việc ăn uống. Người Trung Hoa nói rằng ăn thì phải ăn cho hết, nếu ăn còn dư là có tội vì vậy khi ăn thì phải rán ăn cho hết thức ăn. Nhưng người Ấn Độ thì khác, đặc biệt trong văn hóa Phật giáo là không rán ăn mà chỉ ăn với mức độ vừa phải, nếu ăn không hết thì đổ cho chim, cho các loài vật khác ăn. Nếu cố ăn cho no, cho mãn khẩu, ăn cho phình bụng thì đó là điều không tốt. Trong Luật, Đức Phật dạy, khi ăn còn năm miếng nữa là no thì nên dừng lại, nói cách khác là ăn còn hơi lưng lững thì phải biết dừng lại. Sự tiết chế đó sẽ giúp hành giả kiểm soát được vấn đề ăn uống của mình. Về điểm này, những loài mãnh thú như cọp, sư tử – chúng ta không biết sức khỏe của chúng thực sự như thế nào- nhưng chúng có đặc tánh chung là không dành giựt quá độ như một số loài khác. Theo các nhà nghiên cứu thì các loài dã can, kên kên hay chạy theo những loài mãnh hổ này, bởi vì khi cọp hay sư tử giết một con vật để ăn, chúng chỉ ăn đủ no là bỏ đi, chứ không vì thấy các con vật khác đến rồi ráng dành phần, ráng ăn cho no. Đó là đặc tánh của con cọp. Đối với hành giả, khi nói đến ăn uống trong sự tiết độ thì cũng giống như loài cọp vậy, có nghĩa là ăn vừa với nhu cầu bản thân, ăn vừa phải chứ không ăn quá no, hay vì mãn khẩu mà ăn. Sự tiết độ này tạo cho hành giả nghị lực, và đây là một điều rất quan trọng.

Đặc tánh thứ tư mà ngài Na Tiên đề cập là cọp không biết khiếp sợ, cá tánh của nó là không biết sợ. Cọp là mãnh thú, đôi khi người ta gọi nó là chúa sơn lâm, đôi khi người ta gọi nó là mãnh hổ.

Nó có một thái độ rất rõ ràng đối với các con thú khác. Tương tự như vậy, hành giải được xem là không biết sợ trước những phiền não của mình, phải có sự hiểu biết đạt đến tinh thần vô úy. Về điểm này, trong Kinh điển gọi là tinh cần, không biếng nhác. Sự tinh cần trong đạo Phật nói đến thái độ rõ ràng trước cái nào là thiện, cái nào là bất thiện. Một người có thái độ không phân biệt giữa thiện và bất thiện, hay gọi là lấp lửng, thì gọi là không tinh cần. Thiện là thấy cái nào đúng thì quyết tâm làm, điều nào là bất thiện, sai trái thì quyết tâm từ bỏ chứ không hững hờ, lấp lửng, phải có thái độ rõ ràng. Chính thái độ rõ ràng như vậy sẽ giúp cho hành giả không nhọc nhằn trong việc tu tập và giúp cho hành giả vượt qua những cạm bẫy, trong đạo Phật gọi đó là không giải đãi, bởi vì hành giả thấy thiện và bất thiện rất rõ ràng. Ví dụ, thông thường một người mà thiếu kinh nghiệm thì người ấy không thể phân biệt được cái gì là lợi hay bất lợi, và do không phân biệt được điều này, người ấy sẽ không có thái độ dứt khoát giữa điều lợi ích nên làm và điều không lợi ích, phù phiếm không nên làm. Nhưng một khi người ấy đã có sự phân biệt thì người ấy có thái độ của người có kinh nghiệm, cái đó trong đạo Phật gọi là tinh tấn hay tứ chánh cần. Đó là thận cần, trừ cần, tu cần, bảo cần, nghĩa là người đó biết ngăn ngừa, biết diệt trừ ác pháp và biết làm cho thiện pháp sanh khởi, biết bảo dưỡng thiện pháp. Nếu hành giả còn lấp lửng, không có thái độ rõ ràng, dứt khoát giữa thiện và bất thiện tức là hành giả không có đủ tinh thần vô úy.

Tại sao dáng đi của con cọp, sư tử lại hùng dũng, đẹp hơn những sinh vật khác? Đó là vì nó có đủ sức mạnh nội tại, nói đơn giản là vậy. Một hành giả trong sự tu tập phải có một thái độ rõ ràng, mạnh mẽ với bản thân mình. Việc này đôi khi không dễ dàng cho chúng ta, bởi vì trong cuộc sống, trong xã hội ngày nay, hầu như mọi thứ đều xây dựng trên một tinh thần hòa hoãn. Ở đây không phải chúng ta muốn nói đến sự cực đoan mà muốn nói đến một thái độ dứt khoát. Không những có thái độ dứt khoát rõ ràng mà chúng ta còn biết mình phải làm gì với điều đó. Đây là đặc tánh của con cọp và là đặc tánh của một hành giả.

Nói đến bốn điều này như nhắc nhở chúng ta nhớ lại lời của Đức Phật dạy là sống độc cư một mình, khéo phòng hộ các căn, ăn uống có tiết độ, không biếng nhác tinh cần. Đó thực ra là giới bổn của chư Phật, chư Phật ngày xưa dạy điều đó. Từ tinh thần độc lập của một người sống độc cư đến tinh thần phòng hộ không để cho các căn, cảnh liên hệ đến tự ngã, cho đến cái nghị lực biết tiết chế vừa phải trong nhu cầu, tiết độ trong ăn uống và sau cùng là một thái độ rõ ràng với thiện pháp và bất thiện pháp hay biếng nhác, không tinh cần. Không biếng nhác, tinh cần là sống một cách rõ ràng, chúng ta có thể hiểu rằng đó là một cái thế của một chiếc ghế có bốn chân, nó giúp hành giả có sự thăng bằng, vững vàng và tiến tới.

Vì vậy, khi nói về hạnh tu như cọp, ngài Nàgasena (Na Tiên) hàm ý nói đến một điều là sự thuần tánh của con vật, nghĩa là nó sanh ra như vậy, bản năng nó như vậy và cái thái độ nó như vậy. Hành giả tu tập đến một lúc nào đó cũng phải có những đặc tánh đó khi đương đầu với phiền não.

Khi nói về hạnh tu như cọp, ở đây chúng ta nên nói thêm là trong mỗi nền văn hóa có một cái nhìn khác nhau. Thí dụ con dơi trong xã hội Tây phương tượng trưng cho loài ma quỷ, nhưng con dơi trong văn hóa Trung Hoa được cho là phúc, tượng trưng cho phước. Con ngỗng trong văn hóa Tây phương tượng trưng cho sự lãng mạn nhưng con ngỗng trời trong đạo Phật lại tượng trưng cho sự giải thoát. Đức Phật đưa ra hình ảnh ngỗng trời rời ao. Trong nền văn hóa Trung Hoa, Việt Nam nói đến ong, bướm hút mật thì tượng trưng cho sự không đàng hoàng của người đàn ông, nhưng ong hút mật trong Kinh điển đạo Phật là hình hảnh tự lợi và lợi tha của vị Tỳ kheo trì bình khất thực:

“Như ong đến với hoa

Không hại sắc và hương

Che chở hoa, lấy nhụy

Bậc Thánh đi vào làng”

Kinh Pháp cú 49

Tương tự, trong nền văn hóa của chúng ta, phần đông chúng ta đều sợ cọp nhất là những người sống trong làng mạc xa vắng. Chúng ta thường nói dữ như cọp để ám chỉ một người bản tánh hung dữ.

Tuy nhiên trong xã hội Ấn Độ thì cọp là loài mãnh thú rất thường thấy, và ngài Nàgasena nhân đó mới nói lên những đặc tánh, có thể nói là rất nổi bật của loài cọp, để giúp chúng ta liên tưởng đến những pháp tu mà Đức Phật gọi là những thiện xảo của một hành giả trên đường tu tập.

Mỗi người rồi một ngày nào đó cũng phải ra đi, phải đối diện với cái chết. Hôm nay, nhân nói đến điều này, tôi muốn nhắc lại thời điểm mà Hòa thượng Hộ Giác nằm trên giường bệnh. Hình ảnh một người trong giây phút cuối cùng của cuộc đời mà bên cạnh mình bao quanh là chư tăng, phật tử, những người rất thương mến mình là một cảnh hiếm thấy. Tuy nhiên hình ảnh này cũng cho chúng ta thấy sự vô hộ, vô chủ của cuộc sống. Cho dù lúc đó bao quanh ngài là bao nhiêu người thương, bao nhiêu người thân thì ngài vẫn phải ra đi một mình, ngài phải đối diện với cái chết một mình và ngài phải tự cứu lấy chính mình, những người khác nhiều lắm là tụng cho ngài một câu Kinh, đọc một vài đoạn Kinh Tứ Niệm Xứ hay là những lời cầu phước cho ngài, nhưng hơn ai hết, chính ngài, ngài phải tự ra đi.

Con người thường hay nghĩ rằng mình sẽ được sự hỗ trợ của người thân, chăm sóc của xã hội trong giây phút cuối đời, nhưng Đức Phật rất nhiều lần nói với chúng ta rằng trong cuộc hành trình sanh tử luân hồi thì mỗi người chúng ta , ngay cả hai chị em sinh đôi, hai người đã gắn bó với nhau suốt cả cuộc đời, dù vậy khi đi qua nhịp cầu sinh tử thì ai cũng phải đi một mình. Đó là độc lộ trường thiên tức là con đường dài mà mỗi người phải đi một mình. Đừng bao giờ nghĩ rằng người này sẽ nâng đỡ cho người kia, người kia sẽ nâng đỡ cho người nọ. Tại sao trong dòng lịch sử của loài người, con người hay thờ phượng Thượng đế, con người hay sùng bái các đấng thiêng liêng cao cả? Tại vì con người rất sợ đi một mình, con người muốn có một đấng thiêng liêng nào đó giúp ta đi qua những nhịp cầu đó. Nhưng cái khác biệt lớn nhất của đạo Phật với các tôn giáo khác đó là đức Phật dạy rằng “ các đấng Như Lai chỉ là bậc Đạo Sư, các con phải tự nỗ lực”. Điều này có nghĩa rằng Đức Phật, Ngài sẽ không nắm tay chúng ta, không đem kiệu đến để rước chúng ta, trái lại Đức Phật dạy rằng những gì Như Lai cần làm cho các con, Như Lai đã làm rồi, tức là những lời dạy của Ngài, chúng ta phải biết dùng những lời dạy của Ngài để mà trang bị cho hành trang lên đường.

Khi chúng ta đọc lên bốn điều sống độc cư một mình, khéo phòng hộ các căn, ăn uống có tiết độ, không biếng nhác tinh cần trong giới bổn, ở đây là nói xuyên qua bốn đặc tánh của loài cọp, chúng ta phải hiểu rằng tự mình phải trang bị, tự mình phải có bản lãnh và tự mình phải chấp nhận. Chúng sẽ đối diện với cái chết vậy chúng ta phải chuẩn bị như thế nào trong cuộc hành trình đó.

Chúng tôi xin nhắc lại một điều, có thể nói là không bao giờ quên được. Vào ngày thứ sáu đầu tháng mưới hai (01/12), ngài Hòa thượng Hộ Giác được đưa vào bệnh viện. Sau khi chụp hình phổi, ngài nằm trong phòng dành cho người lớn tuổi để chờ kết quả. Ngài nằm trên giường để chờ bác sĩ khám bệnh, chúng tôi đứng bên cạnh và cầm tay ngài, thấy da của ngài bị thâm đen do dấu của các ống chích lấy máu. Chúng tôi nhắc lại hình ảnh của ngài Ànanda xúc động khi nhìn thấy da của Đức Thế Tôn nhăn nheo do lớn tuổi, ngài Ananda nhớ lại trước đây Đức Phật có ba mươi hai tướng trượng phu. Chúng tôi nhắc lại hình ảnh này thực sự chúng tôi không có ý muốn ví hòa thượng với Đức Phật nhưng chúng tôi liên tưởng đến thời Hòa thượng còn trẻ, ngài là một người nổi tiếng về phúc tướng, nhưng giờ đây da ngài nhăn, có những suy thoái như vậy. Khi chúng tôi nhắc lại hình ảnh này, ngài Hòa thượng Hộ Giác nói rằng: Đức Phật dạy

“Người nay như lá úa,

Diêm chúa đang chực chờ,

Hành trình không quán trọ,

Dặm trường thiếu tư lương”

và sau đó ngài đã đọc câu Phạn ngữ của bài kệ đó và nói rằng đọc bài Kệ này mới cảm thấy thấm thía.

Thực ra con đường của ngài cũng là con đường đi của tất cả chúng ta, tất cả chúng ta không thể tránh được cuộc hành trình đó.

Nhưng phải nói rằng chặng cuối của cuộc hành trình của ngài Hòa thượng là tương đối đẹp vì ngài còn tỉnh táo, còn nhớ lời Đức Phật dạy, vì ngài còn đủ kham nhẫn và chấp nhận ra đi một mình. Nhưng nếu ở đoạn cuối cuộc đời mà ngài nghĩ rằng đau quá phải rên la, trong lúc này mình phải cần đến người này, cần đến người kia, tại sao người này không thương mình, tại sao người kia không lo cho mình… Và như vậy là ngài chưa chấp nhận sự vô thường. Tất cả chúng ta đều phải đối diện với điều đó một mình và lúc đó thì danh lợi, hơn thua, được mất trong đời chẳng còn ý nghĩa gì hết. Giây phút đó chỉ có mỗi một mình ta đối diện với cái chết và chúng ta thực sự sống với chính mình, lúc đó chúng ta cần một cái tinh thần độc lập hơn bao giờ hết. Tinh thần độc lập đó, đôi khi trong Kinh điển gọi là khả năng của một người biết sống một mình, và biết sống một mình không phải là chuyện dễ.

Hôm nay nhân dịp hai cô Ánh Hoa, Ánh Nguyệt sang Hoa Kỳ và đến chùa Pháp Luân đây, tôi xin được nói vài lời như để hoàn tất một điều mà chúng tôi đã hứa hơn 32 năm trước là sẽ nói về hạnh tu như cọp.

Cầu mong cho chúng ta, tất cả những Phật tử ở trong hoàn cảnh nào cũng nhớ rằng Đức Phật đã cho chúng ta rất nhiều và không những Đức Phật đã cho ta rất nhiều mà nếu chúng ta khéo, chúng ta còn hưởng được cả một gia tài rất lớn do Ngài để lại. Ít nhất qua lời của Ngài dạy, chúng ta biết suy nghĩ, biết làm thế nào để an tâm, tĩnh trí. Nếu nghĩ được như vậy thì cuộc sống- cho dù chúng ta ở đâu, cho dù là sống một mình- chúng ta vẫn cảm thấy nó đẹp và đầy đủ chứ không nghèo khổ, thiếu thốn. Dù ở trong hoàn cảnh nào, chúng ta cũng cảm thấy ấm áp là bởi mình được hưởng một gia tài rất lớn, đó là Giáo Pháp của Đức Phật.

Biên tập: Song Ánh

Hiệu đính: Tỳ kheo Pháp Nhiên

Theo: Thiền Viện Phước Sơn

Thursday, August 27, 2015

Bài giảng của TT Giác Đẳng trong Đại Học Hè 2015

(Xin lưu ý: Tất cả những bài chuyển biên chúng tôi hoan hỷ với những ai tải về trang web nhà, để tôn trọng người chuyển biên xin đề rõ tên người chuyển biên) 

Đề tài: Khi mình gặp chuyện khó khăn,, bị những phiền não, buồn phiền, căng thẳng, đau khổ, tủi thân v.v... chúng ta nên làm gì? đặc biệt trong trường hợp cá nhân của chúng tôi. 

Bài giảng trong lớp Tu Học Đại Học Hè 2015 tại chùa Pháp Luân, Minh Hạnh chuyển biên 

TT Giác Đẳng: Qua những biến động liên quan đến nội tình Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất dẫn đến việc chúng tôi xin từ chức Quyền Chủ Tịch Điều Hành. Trong mấy hôm nay chúng tôi nhận được nhiều cuộc gọi điện thoại của qúi Phật tử hầu hết là những người lo và quan tâm đến chúng tôi, hỏi han an ủi và ủng hộ tinh thần chúng tôi ở trong những lúc khó khăn này.

 Có một điều, và có một số người hỏi chúng tôi khi mình gặp chuyện khó khăn,, bị những phiền não, buồn phiền, căng thẳng, đau khổ, tủi thân v.v... chúng ta nên làm gì? đặc biệt trong trường hợp cá nhân của chúng tôi. Chúng tôi nhân buổi sinh hoạt hôm nay chia sẻ với qúi Phật tử một vài điều về điểm này.

Nói chung, bản thân chúng tôi một vị tu sĩ thì ở trong bất cứ hoàn cảnh nào mà khó khăn chúng tôi thường dùng Phật Pháp để làm giảm thiểu hoặc hóa giải những phiền lụy ở trong lòng mình. 

Chúng ta nói đến 2 phương diện: Phương diện cảm xúc, phương diện lý trí.

1- Phương diện cảm xúc.

Phương diện cảm xúc là một phương diện trong Phật Pháp chúng ta rất ít khi để ý, có nhiều Phật tử nghĩ Phật Pháp nặng về lý trí không nặng về cảm xúc, và cảm xúc không có chỗ đứng nhiều trong việc thực hành trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Nhưng kỳ thực,  nếu chúng ta nhìn về một phương diện nào đó thì Pháp cũng có đề cập những phương cách thực hành trong lúc khó khăn để chúng ta tìm sự bình tỉnh an ổn tinh thần trên phương diện cảm xúc. 

Ngài Ajahn Jayasaro nói phương pháp niệm như niệm Phật, niệm pháp, niệm thí, niệm giới, niệm về Chư Thiên nặng sự an ủi về cảm xúc hơn. 

Chúng tôi nhớ Ngài Ajhan Sumedho là một vị Tăng người Mỹ kể lại kinh nghiệm của Ngài khi ở trong rừng sâu, ở một mình, gặp thú dữ hay trong hoàn cảnh Ngài sang Anh quốc hoằng pháp gặp khó khăn Ngài thường dùng câu:

Buddham saranam gacchami, 
Dhammam saranam gacchami, 
Sangham saranam gacchami 

Nghĩa là: 

Con nương tựa với Phật, 
Con nương tựa với Pháp,
Con nương tựa với Tăng. 

Người VN chúng ta hay thường dịch là: Con qui y Phật, con quy y Pháp, con quy y Tăng. Thì giống như mình từ một người xa lạ trở về quy y tức là mình hồi đầu quy ngưỡng theo Phật. Nhưng thật ra trong câu tiếng Phạn không có nghĩa như vậy, trong tiếng Phạn nghĩa là mình nương tựa Phật, nương tựa Pháp, nương tựa Tăng và trong hoàn cảnh nào mình cũng nương tựa được.

Ngài nói khi Ngài đọc câu đó Ngài cảm thấy mình vững lòng. 

Niệm Chư Thiên. Có nhiều người nghĩ đến tu tập, thí dụ hôm nay mình đi chùa nghe Pháp, tụng kinh, hay làm phước xong mình hồi hướng phước đến Chư Thiên. Và trong lúc khó khăn thì mình cầu Chư Thiên gia hộ mình. Đó cũng là một cách cho mình cảm xúc được quân bình.

Chúng ta niệm thí, niệm giới, niệm sự chết cũng là cách để mình quân bình cảm xúc. 

Niệm thí. Cách này chúng tôi thấy Ngài HT Hộ Giác Ngài áp dụng. Ví dụ như khi mình giận người nào đó, hay người nào đó đối xử xấu với mình thường mình gặp người đó mình không muốn nhìn mặt, không muốn nói chuyện với người đó. Nhưng chúng tôi thấy rất nhiều lần có những vị Thầy công kích đả kích Ngài Hộ Giác, khi họ đến chùa Ngài lấy gói trà ngon nhất pha để đãi vị đó. Nhiều khi chúng tôi nghĩ Thầy đó nói mình như vậy sao mà Ngài lại hậu ý, trà ngon mang về từ Đài Loan mắc tiền Ngài đem ra pha đãi họ uống. Nhưng Ngài Hộ Giác Ngài có bí quyết để gìn giữ đời sống Ngài an lạc là khi mình cho người ta cái gì thì cho cái tốt nhất dù người đó là kẻ thù của mình  thì ít nhất trong lòng mình dễ chịu hơn là mình thắc mắc mình chửi  với họ. Thành ra khi nào qúi vị có giận ai thì cứ thử theo cách của Ngài. Mình tử tế với người đó một chút, cho người ta ăn ngon hay mời một ly cafe ngon, ly trà ngon, cái gì ngon cho người ta. Ở trong sự ban bố ban tặng của mình cũng làm cho mình dễ chịu hơn. Nhưng chúng tôi nói là chuyện đó không bảo đảm, phải là người có bản lãnh lắm mới có thể làm được.

Niệm sự chết. Cách này Ngài Hộ Giác Ngài cũng chỉ chúng tôi một cách rất hay. Ngài nói: bình thường mình không qúi con mắt của mình, nhưng bây giờ tình cờ mình bị chuyện gì đó làm mù mắt thì lúc bị mù mắt mình nghĩ tất cả các tai nạn khác trên thế gian này không có quan trọng, đặng danh mất danh, đặng lợi mất lợi, làm sao cứu được con mắt chứ con mắt mình đui rồi khổ quá. Nhưng lúc mình có con mắt  mình không thấy con mắt quan trọng nhưng giả xử như chúng ta bị đui mắt rồi không đọc báo được, không nhìn mặt người thân được, không vào internet được, không lái xe được thì lúc đó mình nói rằng ở trên đời cái gì mình cũng đánh đổi được miễn sao có con mắt sáng thôi. Thì Ngài dạy rằng mình nên nghĩ đến chuyện tệ hơn. 

Chúng tôi có quen với một Phật tử, vị này hưởng được tài sản thừa kế của ông cha bà mẹ ở VN, có căn nhà ở Sàigòn chết để lại cho 3 đứa con. Trước khi gia sản  để lại thì 3 người rất thương nhau, ở VN buôn bán rồi lâu lâu qua Mỹ thăm và người bên Mỹ thì về VN thăm. Cho đến khi vì chuyện chia căn nhà đó anh em không nhìn mặt nhau và hầu như trở nên kẻ thù của nhau. Ông ở Mỹ có tiền, ông bỏ ra số tiền rất lớn để kiện tụng với đứa em ở VN. Khi ông kiện tụng ông thắng kiện thì khoản 3 tuần lễ sau ông về Mỹ. Rồi trong người ông có triệu chứng gì đó và đi Bác sĩ thì phát hiện ra ông bị ung thư gan. Chúng tôi được mời đến để tụng kinh. Tại vì trước khi chuyện xảy ra bịnh ung thư gan ông vẫn thường kể cho chúng tôi về mấy người em ở VN dành  gia tài. Khi chúng tôi đến ngồi nói chuyện với ông và thật sự khi gặp ông đã muộn rồi, bụng ông cứng lên, đang làm chemotherapy để trị ung thư gan. Lúc đó chúng tôi hỏi ông một câu là: "Bây giờ ông đang bịnh mà nghĩ chuyện tài sản kiện tụng ở VN hơn thua có ý nghĩa gì không?" Thì ông nói với chúng tôi: "Con nói thiệt với Sư bây giờ có cho vàng cũng không có ý nghĩa gì". Chúng tôi gặp anh thì hai ngày sau anh mất. 

Niệm sự chết nó ảnh hưởng chúng ta rất quan trọng trong đời sống, khi mình nghĩ đến cái chết rồi thì mình không đặt nặng những chuyện hơn thua những chuyện lợi danh được mất trong đời sống.

Thì những pháp như niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm Chư Thiên chúng tôi tin rằng  có tánh cách về cảm xúc.

2 - Phương diện lý trí.

Bây giờ chúng ta nói về phương diện lý trí. Phương diện cảm xúc là chúng ta nói cái vui, cái buồn, cái khổ, cái phẫn nộ của chúng ta. Bây giờ chúng ta nói về phương diện lý trí tức là mình có một chút sáng suốt mình ngồi suy niệm, mình có chút bình tỉnh mình suy niệm. Và dĩ nhiên là chúng ta suy niệm về những lời Phật dạy. 

Trước nhất, chúng tôi  chia sẻ về một câu kinh Đức Phật. Một lần Đức Phật Ngài ở thành Vương Xá Ngài ngồi với Chư Tỳ Kheo, vào khoản 11 giờ khuya, chúng tôi đoán vậy là cũng hơi khuya một chút, thì có tiếng tru của con giả can. Giả can là tiếng Hán, trong tiếng Việt chúng ta dịch là chó rừng, ngày xưa chó rừng nhiều lắm, bây giờ chúng ta tạm gọi là chó hoang. Thì tiếng tru của nó đau khổ lắm. Đức Phật Ngài đang ngồi đó nghe tiếng chó tru Ngài hỏi chư Tỳ Kheo:

"Này chư Tỳ kheo, các Thầy có nghe tiếng con giả can tru trong đêm trường không?"

Các vị Tỳ Kheo chắp tay: "Bạch Đức Thế Tôn con có nghe'. 

 Đức Phật lại hỏi: "Các Thầy có biết tại sao con giả can tru không? Đó là một con giả can già trên người có ghẻ, và trên người có ghẻ trời ban đêm lạnh làm nó nhức nhối chua xót, tại vì nó nằm không yên ngủ không yên thì nó mới tru lên như vậy". 

Và Đức Phật dạy: "Này Chư Tỳ Kheo, một người sống bị danh lợi chi phối, đặng danh mất danh, đặng lợi mất lợi, đêm trường thao thức trằn trọc khổ đau thì giống như con chó bị ghẻ đó".

Qúi vị nghe đau khổ phải không? Thật sự đời sống chúng ta đôi khi cũng trải qua như vậy, giống như con chó ban đêm bị đau khổ vì nhức nhối. 

Điểm đặc biệt trong Phật Pháp trên phương diện lý trí không phải bao giờ cũng áp dụng được, nhưng ở trong mọi hoàn cảnh thay vì mình nhìn chuyện đó như thế này như thế kia theo quan niệm của mình thì mình nên nhìn vào chính bản tâm của mình, mình khổ như thế nào. Thật sự mình thấy cái khổ mà Đức Phật Ngài nói khổ giống như con chó ghẻ ban đêm bị đau thì không ai trong chúng ta muốn điều đó, mình không muốn mình bị như vậy. Và có nhiều khi điểm tốt nhất là mình nên nhả nó ra, mình nên buông nó ra, tại vì giữ cái khổ để làm gì, mình thấy con chó ban đêm nó tru tréo nó đâu có hạnh phúc gì đâu. Thật ra cái khổ chính do ở mình. 

Thành ra, ở trong cách sống của người Phật tử, ở trong cách tu đó là trong mọi hoàn cảnh mình nên nhìn vào nội tại của mình để xem mức độ mình phiền não, mức độ mình khổ đau ra sao. Nó là một bài học rất lớn, nó là cái gì đó  cho chúng ta. Đạo Phật gọi là "Chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc" tức là những lúc đó chúng ta cảm thấy mình mạnh mẽ lắm, mình  có quan niệm thế này, quan niệm thế kia, nhưng sau đó rồi chỉ là chuyện một cơn mê một sự u mê mà thôi. 

Hồi trước chúng tôi có thời gian làm việc cho bên cảnh sát Houston, họ nhờ chúng tôi trong vai trò vị tu sĩ đi thăm một số người tù VN phạm pháp, chúng tôi đi 3,4 lần, thì chúng tôi gặp những em thanh thiếu niên, thật tội nghiệp, các em đi chơi đi khiêu vũ rồi trong lúc dành giựt bạn trai bạn gái rồi nổi giận muốn tỏ ra là mình mạnh, mình hay, ra xe lấy súng lấydao đánh nhau, bây giờ ở tù thì lúc mình làm chuyện đó mình nghĩ là mình hay mình giỏi nhưng lúc mình ở tù thì thấy sao lúc đó mình dại quá. Tại ở trong đời sống đạo Phật Đức Phật Ngài dạy là sự chuyển mê khai ngộ, là ở trong lúc xảy ra chuyện mình phải bình tỉnh mình thấy chuyện đó không phải giống như mình nghĩ, mà nó là hệ quả rất là lớn và cái hệ quả đó dẫn bao tang thương, mà lúc đó mình nghĩ mình anh hùng hay lúc đó mình nghĩ thế này thế kia nhưng thật sự không phải vậy. 

 Đức Phật Ngài có dạy chúng ta hai câu trong kinh Pháp Cú phẩm Yamaka-Song Yếu : 

"Những người tranh chấp, không hiểu biết là mình  sẽ bị tiêu diệt. Ai hiểu được điều này, thì tất cả sự tranh chấp sẽ lắng dịu.  Người khác không hiểu biết, ở đây ta bị hại, ai hiểu được điều này tranh luận tự nhiên tiêu" 

Hai bên chửi nhau, hai bên tranh dành nhau, mình tưởng đâu là mình ngon, mình thắng người bại nhưng ruốt cuộc cả hai đều kéo nhau vào chỗ diệt, chúng ta thấy rất nhiều, nhiều thứ trong đời sống này. 

 Đức Phật Ngài có dạy một câu nghe thì không có đẹp nhưng nếu chúng ta nghiệm lại thì rất đẹp, kinh Pháp Cú như vầy là

Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi 
Ai ôm hiềm hận ấy,
Hận thù không thể nguôi.

Nó mắng tôi, đánh tôi,
Nó thắng tôi, cướp tôi 
Không ôm hiềm hận ấy,
Hận thù sẽ tự nguôi.

 Thật sự câu này không đơn giản là một câu nói bình thường của Đức Phật mà câu đó Đức Phật Ngài dạy chúng ta chưa có hiểu được bản chất của sự luân hồi, bản chất của kiếp sống này. Và bởi vì chúng ta không hiểu được bản chất đó do vậy mình sống bằng quan niệm nhân ngã bỉ thử là mình với người. Và khi cái nhân ngã bỉ thử tôi với người khác như vậy điều đó nó chất chồng bao nhiêu phiền lụy. Để vượt khỏi nhân ngã bỉ thử này thì cái nhìn của chúng ta phải thoáng hơn và nó phải đại quang hơn chứ không thể nào nhìn khi mình gặp chuyện gì phiền mình nói là ông đó hại tôi, ông đó chửi tôi, ông ấy xấu, ông ấy thế này thế kia, mình nghĩ chuyện đó mà mình vượt qua, không có.

Thì làm sao để chúng ta vượt qua cái nhìn đó, làm sao chúng ta vượt qua cái nhìn mà người ta đánh người ta mắng? Để chúng ta có một cái nhìn đại quang một cái nhìn chung của đời sống Đức Phật Ngài khuyên chúng ta nên nhìn với bản chất của đời sống. 

Chúng tôi lấy thí dụ, nếu chúng tôi gặp những phiền lụy, chúng ta nghĩ người kia họ xấu với mình, người kia có ác ý với mình, muốn hại mình và người kia họ làm xấu, cái nhìn mình với người như vậy ở trong cách nói người ta gọi là nhân ngã bỉ thử, mình và người. 

Nhưng bây giờ mình thử nhìn bằng cách này. Trong Trung Bộ Kinh Đức Phật Ngài hỏi:

"Này chư Tỳ Kheo, thế nào là bản chất nguy hiểm của các dục?"

Đức Phật Ngài tự hỏi và Ngài trả lời bằng cách đon giản: 

"Này các Tỳ Kheo, do các dục nên cha tranh chấp với con, con tranh chấp với cha, anh tranh chấp với em, em tranh chấp với anh, vợ với chồng, chồng với vợ tranh chấp với nhau và cả thế giới này đi vào chỗ điên đảo cùng cực"

Thì khi chúng ta nói đến cái nhìn vượt lên sự bình thường, Đức Phật nói bản chất nó như vậy, ở trong chỗ nào danh lợi chức quyền thế này thế kia thì nó luôn luôn hứa hẹn sự cấu xé, sự đánh nhau, sự dành giựt, nó là bản chất tự nhiên của nó.

Có một vị Alahán khi vị Thầy dùng cán quạt làm chảy máu con mắt của Ngài và vị Thầy xin lỗi, thì vị Alahán nói rằng: 

"Thưa Sư Phụ, đây không phải lỗi của Sư Phụ, không phải lỗi của con, mà là lỗi của sự luân hồi". 

Câu nói rất là ý vị, mình phải nhìn vấn đề, không thể nào trong những chuyện đó mà nó không có hụt hẵn, không có trục trặc, không có lời qua tiếng lại, bản chất nó là như vậy. Khi chúng ta có cái nhìn đại quang như vậy thì chúng ta sẽ vượt lên trên cái gọi là nhân ngã bỉ thử: nó mắng tôi, nó đánh tôi, nó chửi tôi, nó cướp tôi. Nếu chúng ta vượt lên trên nó thì ít nhất chúng ta làm tắt đi sự hận thù trong lòng. Nhưng chuyện đó không phải là chuyện dễ.

Ngày xưa khi còn ở trại tị nạn, chúng tôi tình cờ đọc một bài viết của một vị linh mục. Khi chúng tôi ở trại tị nạn với tình trạng khan hiếm báo nên báo nào đem đến cũng đọc, đọc ngấu nghiến. Lúc đó chúng tôi đọc một bài báo trên tờ Dân Chúa,  ở trong đó vị linh mục viết gửi cho 2 tín đồ mới cưới nhau. Vị linh mục viết rằng: 

"Thật ra khi bắt đầu cuộc hôn nhân xây dựng tình yêu ai cũng nghĩ rất là đẹp và có cái ngọt ngào, một hương vị tất cả mọi người tha thiết, đều mong đợi, nhưng 2 con nên nhớ  ở trên căn bản cuộc sống  nó luôn luôn chứa đầy những vui, khổ, hay, dở, tốt và xấu,  2 con phải chuẩn bị cho tất cả những thứ đó chứ không thể nghĩ mình chỉ chờ có một thứ mà thôi". 

Chúng tôi nghĩ đó là lời viết rất hay. Ở trong đời sống chúng ta tại sao chúng ta tức, tại sao chúng ta bực? Là tại vì sự kỳ vọng chúng ta chỉ có một chiều thôi, mọi việc phải tốt. Qúi vị đi chùa, qúi vị đâu mong ai làm phiền mình, đúng không, qúi vị đi chùa là mong tất cả mọi người rất là lịch sự, rất là hiền hoà, rất là dễ thương, nhưng mình đi chùa gặp người không lịch sự mình đâu muốn ở lại "ủa sao chùa kỳ vậy!" Nhưng thật sự không phải vậy. Cuộc sống dầu trong chùa ngoài chợ hay ở đâu cũng có mặt này hay mặt khác, có cái này có cái kia. Nhưng chúng ta không chịu đưa cái nhìn vượt lên trên điều đó để chấp nhận  hình ảnh chung. 

Bởi vậy hồi nãy chúng tôi nói là Đức Phật dạy: "Này các Tỳ Kheo, thế nào là nguy hiểm các dục? Nguy hiểm các dục là cha tranh chấp với con, con tranh chấp với cha, anh với em, em tranh chấp với anh, vợ với chồng, chồng với vợ". Tại vì sao vậy? Tại bản chất nó là như vậy. Ba anh em rất thương cha thuơng mẹ nhưng đến khi để tài sản lại ba anh em kéo nhau ra tòa và không nhìn mặt nhau, chuyện đó là chuyện rất bình thường của đời sống và Đức Phật Ngài nói đó là bản chất của đời sống. Nếu chúng ta nghiệm được điều đó, chúng ta thấy được điều đó thì chúng ta sẽ có thể vận dụng lý trí của mình. Nhưng không phải lúc nào cũng có thể vận dụng lý trí của mình được.

3.- Và điều thứ ba. 

Chúng tôi nghĩ trong sự đối diện hay đương đầu với những khổ đau phiền muộn của cuộc sống mỗi người nên vận dụng nội lực của mình để thấy được chuyện vui hay khổ, căn bản là do mình. Đừng đổ thừa  người khác. Nếu mình tiếp tục đổ thừa người khác thì mình sẽ toàn trách móc. Qúi vị thấy mình trách móc người ta từ ngày này qua ngày khác nhưng rồi cũng không đi đến đâu hết. Các vị Thiền Sư thường nói  mỗi khi mình bị khổ, thí dụ ai nói chuyện gì làm cho mình bực mình thì mình nhớ rằng tại vì mình không khéo tu, đơn giản như vậy. Trời mưa cái nhà bị dột, mình ngồi trách ông trời làm mưa, không nên, mà tại cái nhà không khéo lợp. qúi vị đồng ý không, qúi vị ngồi trách ông trời làm mưa. Cũng vậy khi mình khổ là do mình không khéo tu. Cái nhà không khéo lợp mà cái nhà không khéo lợp thì mình lợp cái nhà lại, chúng tôi nghĩ có lý hơn là ngồi trách móc người khác.

4. - Và một điều sau cùng chúng tôi xin thưa với qúi Phật tử. 

Bà Dorathy Carnegie có chia sẻ một chuyện, hồi nhỏ chúng tôi có đọc cuốn sách tên là "Luyện tinh thần" do bà Dorathy Carnegie và cụ Hiến Lê dịch: "Nên nghĩ đến điều tệ hại nhất, khi sự việc xảy đến mình hãy nghĩ điều tệ hại nhất  ở mức độ nào, và khi mình đón nhận sự tệ hại nhất thì mình sẽ không có lo lắng buồn phiền nữa. 

Chúng tôi tin rằng một trong những bí quyết của cuộc sống Đức Phật Ngài dạy cho chúng ta đó là chuẩn bị tinh thần. Sự chuẩn bị tinh thần nào tốt nhất, ví dụ Đức Phật Ngài dạy chúng ta 5 pháp quán: 

Phật xưa rằng kiếp nhân sinh
Những điều khổ lụy chẳng dành riêng ai
Xuân xanh rồi cũng tàn phai
Thời hoa mộng tựa sương mai đầu cành

Không có ai trẻ mãi mà không già, nếu may mắn mình sống thì chắc  chắn tuổi già sẽ đến và khi tuổi già đến thì có nhiều thứ khác nó không có ý nghĩa nữa, những chuyện như là danh lợi không còn quan trọng nữa, rồi: 

Tấm thân tứ đại hợp thành
Ốm đau tật bệnh thường tình xưa nay

Lúc nãy chúng tôi thưa với qúi vị, bình thường còn khỏe mình còn hơn thua mình còn nói mình thế này thế kia nhưng mà lỡ mình khám phá mình bị ung thư hoặc bịnh này bịnh kia rồi thì tất cả cái khác trở thành vô nghĩa.

 Dù cho thọ mạng ngắn dài
Cổ kim nào kẻ thoát tay tử thần

Khi mình sắp chết rồi thì những thứ khác trở thành vô nghĩa, nhưng phải nói như vầy khi nói về cái chết.

Người thân ly biệt người thân
Trăm năm bao lượt khó ngăn lệ nhòa

Cái khổ sanh ly tử biệt nó lớn hơn bất cứ chuyện gì khác. Ở trong đời chúng tôi mỗi lần cha mất, mẹ mất và chúng tôi cũng tin rằng qúi Phật tử mỗi lần chia tay với những người thân của mình. Có nhiều khi mình chia tay đau nhứt là mình không biết làm cái gì. Chúng tôi cũng phải thú nhận với qúi Phật tử một điều rằng khi Ngài Hộ Giác còn sống chúng tôi không để ý cho đến bây giờ thỉnh thoảng chúng tôi lái xe ở đây lên đường 59 đi ngang bệnh viện Southwest Memorial Hospital tự nhiên chúng tôi nghĩ đến Ngài, chúng tôi vẫn nghe trong lòng có cái gì đó, không biết giờ này Ngài ở đâu, làm gì, Ngài đang có mặt ở trong đời mình bao nhiêu năm bây giờ tự nhiên Ngài tan biến không còn nữa. Nhưng trong đời sống mình phải chia cách với người thân mình, không thể sống gần người thân mình mãi mãi. Và Đức Phật cũng dạy quán là 

Mỗi người riêng nghiệp thiểu đa
Rừng mê bể khổ phải qua một mình

Cho dù mình có nắm níu nhau như thế nào, mình làm chuyện gì đi nữa, mình phải nhớ rằng chuẩn bị vali để đi một mình, hình ảnh tây balo không biết sao nhưng tất cả chúng ta dầu là có người thân có người này người kia mình phải đi một mình, phải chuẩn bị hành trang ra đi, chúng ta phải đi một mình bởi vì Đức Phật Ngài nói là:

Một khi thần chết hiện về
 Nào ai có thể chở che cho mình 
Thân nhân dẫu có chí tình, 
Ngậm ngùi chỉ biết đứng nhìn khóc thôi.

Người thân có thương cách mấy cũng chỉ đứng nhìn khóc thôi. Khi chúng ta  nhìn những điều đó thì tâm của chúng ta nhẹ nhàng.

Nếu mà chúng tôi nói điều này mà qúi Phật tử có thể chia sẻ được thì chúng tôi rất là vui, đó là, thực sự Phật Pháp là phương thuốc nhiệm màu nếu chúng ta áp dụng trong đời sống, phương thuốc đó cho chúng ta rất là nhiều ở trong cuộc sống này và điều quan trọng là mình có xử dụng được hay không, Đức Phật để lại cho chúng ta một di sản rất lớn, di sản vô giá. 

Chúng tôi nhắc một câu sau cùng ở trong Tăng Chi Bộ Kinh để kết thúc bài học hôm nay và dĩ nhiên câu kinh này nó có giá trị có thấm thía hay không là tùy mỗi người, có thể bây giờ chúng ta không thấy giá trị, Đức Phật Ngài dạy trong Tăng Chi Bộ Kinh như vầy: 

"Này các Tỳ Kheo, sự mất mát này là sự mất mát nhỏ nhoi  đó là sự mất mát danh, sự mất mát lợi, sự mất mát người thân. Này các Tỳ Kheo, sự mất mát này là sự mất mát lớn lao đó là sự mất mát của trí tuệ"

Đức Phật Ngài dạy: Sự mất mát trí tuệ là sự mất mát lớn lao, và sự mất mát của danh của lợi của người thân đôi khi mình thấy nó  lớn chứ thật ra nó không lớn. Ở trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta để tâm chúng ta u mê mất đi trí tuệ thật sự điều đó còn nguy hơn những mất mát khác. Có thể chúng ta không tin lời Đức Phật dạy, tại vì mình nghĩ rằng cái chức vụ nó lớn, mình nghĩ quyền lợi nó lớn, mình nghĩ rằng người thân nó lớn. Nhưng Đức Phật Ngài nói rằng: Này Chư Tỳ Kheo, sự mất mát này là sự mất mát nhỏ nhoi, đó là mất mát danh, mất mát lợi, mất mát người thân so với sự mất mát của trí tuệ, này các Tỳ Kheo, sự mất mát của trí tuệ là sự mất mát to lớn"./.