Thursday, July 21, 2016

Kinh Tránh Né - Tăng Chi Bộ - TT Giác Đẳng

Kinh Tránh Né - Tăng Chi Bộ

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 6-4-2016

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Như chúng tôi nói có một số bài kinh trong chánh văn Phạm ngữ tương đối dễ hiểu nhưng khi dịch sang tiếng Việt khó hiểu, ví dụ ở đây mở đầu chúng ta có chữ "trừ khử sự thật cá nhân" dịch như vậy ở trong tiếng Việt không biết là đang nói cái gì.

- Tỷ-kheo trừ khử sự thật cá nhân, này các Tỷ-kheo, đã từ bỏ hoàn toàn các tầm cầu hay thân hành được khinh an, vị ấy được gọi là vị độc hành.
Và này các Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo đã trừ khử sự thật cá nhân?

Điều quan trọng trong đời sống tu tập là chúng ta tránh né những cạm bẫy, tương tự như mình làm một chuyến đi vào trong rừng kiếm củi, người đi trong rừng lâu năm họ nhắc chúng ta coi chừng rắn, những hố sụp, những gai độc chẳng hạn. Thật ra những điều đó là những điều đáng lo ngại hơn những chuyện khác. 

Đức Phật trong cái nhìn của bậc Đạo Sư Ngài dạy chúng ta biết trong đời sống tu tập có một số cạm bẫy chúng ta rất dễ rơi vào. 

1 - Đầu tiên, chữ anunapajjika là những sự thực phù phiếm hay những sự thật không liên hệ đến cá nhân. Nói một cách khác là sự khao khát để thỏa mãn tri thức. Thỏa mãn tri thức ở đây tương tự như có những người bị bịnh mọt sách cứ ôm sách vở đọc hoài, đọc hết ngày này qua ngày khác. Thật ra đọc sách cũng là một chuyện tốt nhưng nếu chỉ tập trung vào sách vở không bắt tay làm chuyện gì hết thì không có lợi gì cho đời mặc dù sách vở cũng là chuyện tốt.

Một điểm chúng ta thấy ngày hôm nay con người càng có nhiều dụng cụ nhất là viễn vọng kính  Hubble hay Chandra, hoặc giả những phi thuyền đi rất xa đi đến những nơi trước kia chúng ta chưa hề biết. Khi nhìn ra ngoài vũ trụ mênh mông chúng ta có những câu hỏi: "Phải chăng địa cầu chúng ta chỉ là một vật thể rất rất nhỏ bé ở trong hàng tỉ tỉ vật thể của vũ trụ này? Phải chăng có nơi nào đó có sự sống như chúng ta? Và chúng ta cũng hiểu được một số nguyên tắc về sự vận chuyển của vũ trụ hay hiện tượng của thiên hà. Nhưng, chúng ta tự đặt câu hỏi đến mức độ nào là ranh giới của vũ trụ? Vũ trụ lớn đến mức độ nào? Nó là vô tận hay hữu tận, vô biên hay hữu biên? Nếu chúng ta đọc những bài viết về thiên văn học sẽ thấy sự tò mò đó là vô cùng vô tận. 

Đời sống của người tu tập phải coi chừng có sự khao khát về tri thức, khao khát về sự hiểu biết. Nhưng, sự khao khát hiểu biết đó chỉ hướng vào sự thật phù phiếm nó không liên hệ đến giác ngộ giải thoát. 

Có nhiều người ngày hôm nay đôi khi biết rất nhiều thứ nhưng nấu cơm thì không biết nấu, người thân chung quanh bệnh mình không biết chăm sóc như thế nào, mình có kiến thức rất rộng rãi nhưng sự xử thế không biết sống như thế nào đó mang lại an lạc cho những người chung quanh mình. 

Tinh thần thực tiễn rất quan trọng, quan trọng đến đỗi Đức Phật Ngài ví dụ người tu phải hiểu như mình đang bị mũi tên bắn vào, việc quan trọng nhất là nhổ mũi tên đó ra chứ không phải ngồi đó để tìm hiểu ai là người bắn mình, người đó đến từ đâu, giòng họ như thế nào? v.v... và v.v... Đi tìm người bắn mình nghĩ chuyện đó cũng nên tìm lắm nhưng kỳ thực mình sẽ chết trước khi biết được những chuyện đó. Người phát nguyện bỏ tất cả đi vào chùa tu tập ăn cơm của đàn na tín thí, sống một cuộc đời tu tập thì mình nên hiểu cái gì thuộc về kiến văn phù phiếm nên có chừng mực chứ không nên là tất cả. Bệnh lớn nhất của tôn giáo là bệnh bao biện, chúng ta thường muốn từ cái nhìn của tôn giáo đi giải thích tất cả mọi chuyện ở trên cuộc đời này. Đó là một điểm sai theo trong Đạo Phật. Mục đích của đời sống tu tập không phải là trả lời cho tất cả mọi việc mọi thứ từ khoa học, kỹ thuật, văn học v.v.. mình không tìm được câu trả lời đó và mình nên tìm cái gì thiết yếu cho đời sống thật sự. Điều này không dễ dàng, người tu có thể bỏ rất nhiều thứ nhưng bệnh khao khát về tri thức đôi khi trở thành một chứng bệnh nan y bất trị, nhưng mình không chịu ngồi xuống để tu tập cứ lúc nào cũng muốn tìm hiểu.

Có một nhà Sư người Nhật sang Miến Điện tu thiền nhưng khi sang Miến Điện ông lại say sưa với nền kiến trúc chùa tháp của Miến Điện, vị này bỏ ra 8 năm như vậy đến khi gặp Ngài Tangpulu Ngài rày bỏ nhà bỏ cửa bỏ quê hương để đi mà chỉ tìm được mớ kiến thức về nghệ thuật đối với người đời có giá trị còn đối với người tu không có giá trị gì hết, người tu đến đây không phải để tìm hiểu những chuyện đó, mà quan trọng là làm sao ngồi xuống sống với hơi thở của mình, sao sống với thân tâm của mình. 

Mười điểm ở đây đề cập như thế giới thường còn hay không thường còn, tức là một ngày nào đó mọi người đều giải thoát hết và biển trầm luân cạn không còn nữa. Hay thế giới hửu biên hay vô biên, vũ trụ này có ranh giới hay không ranh giới, nếu có ranh giới thì ngoài ranh giới là cái gì v.v... và v.v... điều đó không có cần thiết. Vì vậy chúng ta phải coi chừng cái bệnh khao khát với tri thức.

2 - Điểm thứ hai Đức Phật gọi là từ bỏ tầm cầu, tầm cầu ở đây là sự truy cầu:

Dục tầm là thỏa mãn những cái gì thuộc về sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc. Ví dụ, mình xây chùa bỏ quá nhiều đầu tư vào trong đó, suốt đời làm sao mình xây ngôi chùa hoàn hảo, ngôi chùa đẹp, ngôi chùa lớn, điều đó thật sự Đức Phật Ngài không khen ngợi. Quí vị đừng hiểu lầm là chúng tôi chỉ trích người xây chùa, không phải. Có những người thật sự tốt rất tốt cho họ nếu họ phát tâm làm việc đó. Nhưng nếu mình đi tu tập mà mình quá nặng về những chuyện đó thì làm hỏng đi giá trị thật sự của đời sống phạm hạnh. Mình đi tu không phải là để xây chùa, hay đi tìm một thế giới của thanh âm làm sao cho tụng kinh thiệt là hay, hay là viết những bản nhạc đạo rất là hay. Thậm chí có nhiều vị còn cảm nhận việc tụng kinh hay là một nghệ thuật cao nhất mà họ có thể có trong chùa được. Thật ra việc đó đối với Đức Phật Ngài gọi là đó chỉ là sự thỏa mãn, là dục tầm.

Hữu tầm nghĩa là đi truy cầu mình sẽ trở thành một ai đó, mình sẽ làm trụ trì, mình sẽ làm thiền sư, mình sẽ làm người có địa vị cao có học vị cao, mình sẽ làm thế này mình sẽ làm thế kia. Ý tưởng đi truy cầu về hữu tầm có nghĩa muốn mình sẽ trở thành cái gì, mình trở thành một ai đó. Nhưng hiện tại thở vô thở ra mình không biết, hiện tại thân tâm mình ra sao mình cũng không biết, hiện tại mình bị phiền não chi phối mình cũng không biết, mình chỉ muốn là mình sẽ trở thành ai đó, gọi là hữu tầm.

3. Thứ ba: "Phạm hạnh tầm cầu được khinh an" thực ra ở đây không rõ nghĩa mạch văn. Tức là tầm cầu sự khinh an trong đời sống tu. Ví dụ quí vị ở ngoài đời mệt mỏi quá bây giờ muốn vô chùa để tìm một chốn bình an. Đi tu không phải là đi tìm một chốn bình an. Nếu một người quan niệm mình vào chùa để đi tìm chốn bình an trong đó, là mình hoàn toàn sai, sai trên thực tế và sai trên căn bản của sự tu tập. Ở đây căn bản tu tập không phải là đi tu để đi tìm sự bình yên, ở ngoài đời khổ quá mình đi chùa để bình yên, không phải. Sai ở trong thực tế là ngay cả bây giờ quí vị vô chùa thì cũng không tìm được sự bình an như ở nhà, ở nhà quí vị có thể tìm sự bình an như đói có cơm ăn nhưng nếu mình vào chùa tu thì có nhiều thứ chuyện thành ra đi vô chùa đi tìm sự bình yên là sai.

 Ngài Ajahn Jayasaro có chỉ trích một việc về một khuynh hướng thiền rất tai hại là người Mỹ ca ngợi Thiền Tứ Niệm Xứ là meditation relaxation. Relaxation tức là thư giãn, học cách nào để relax.  Thiền không phải là relax, relaxation là sự thư giãn không phải là mục đích của thiền. Thật sự điều này rất nguy hiểm là chúng ta tu tập mà chúng ta đi tìm sự thoải mái. Người tu tập không đi tìm sự thoải mái cũng không đi tìm sự hành xác. Mình không cố ý hành xác tức là không khổ hạnh cũng không có cố ý tìm sự thoải mái mà chỉ làm sao để thắp sáng chánh niệm. 

Thắp sáng chánh niệm nghĩa là sự tỉnh táo biết rõ cái gì đang xảy ra, chứ không phải là đi tìm một cái gối êm ấm để nằm, tìm một thế giới cảm thấy thoải mái bình yên, mình tu tập rồi có tiền đi tìm một miếng đất hay tìm một cái cốc nào đó có chim hót suối reo để ở, cái đó không phải là cuộc sống của phạm hạnh. Ngay cả một buổi sáng thức dậy ngồi thiền không lẽ mình đi tìm sự trong lành buổi sáng rồi mình ngồi đó cảm thấy con người mình phiêu phưởng, cái đó không phải là mục đích của phạm hạnh. 

Mục đích của phạm hạnh không phải đi tìm sự khinh an, không phải đi tìm sự nhàn rỗi. Thật sự mà nói nếu trong câu chuyện tu tập cái gì luôn là chướng ngại thì làm cho mình khổ sở nhưng cái gì thoải mái thì làm mình bị ru ngủ làm mình bị trì trệ. Nó tương tự như vầy, khi mình đi học nếu lúc nào cũng đi tìm cái vui cái thoải mái cái thích thú thì sẽ thất bại, làm việc gì cũng thất bại, có nhiều người nghĩ mình làm phước phải hoan hỉ, mình đi chùa mình phải cảm thấy yên tịnh, mình tu tập mình phải cảm thấy thanh thản không có phiền não. Những cái cày đặt trước con trâu như vậy những điều kiện mình đưa ra như vậy chỉ tự mình làm cản trở chính mình.

Tại vì sao vậy? Tại vì có kỳ vọng ở đó, có mong mỏi. Sự kỳ vọng và mong mỏi đó mới nhìn rất vô hại. Ví dụ, bây giờ cuộc đời mình phiền toái quá mình nói mình đi tu thiền hay vào chùa tu để không phiền toái. Nhưng thái độ đi tu để không phiền toái đó không phải là mục đích của phạm hạnh. Mục đích của phạm hạnh là ở trong đời sống hiện tại có chánh niệm tỉnh giác, xa hơn nữa là giác ngộ giải thoát chặt đứt phiền não. Chứ không phải vô chùa để tìm một chốn bình yên. Cái chốn bình yên mình mơ ước rất là thơ mộng rất êm đềm rất đẹp nó được minh họa như một cõi thiên thai, một cảnh giới thần tiên nào đó, cái đó nó không phải hoàn toàn là mục đích phạm hạnh. Bởi vậy đôi khi chúng ta nghe nói mình tu để kiếp sau lên thiên đàng hay cực lạc hay về cảnh giới nào đó và mình muốn đưa ra hình ảnh rất thơ mộng rất đẹp rất trang nghiêm.

Thỉnh thoảng chúng tôi đến Đài Loan, thấy có một vài ngôi chùa người ta cố gắng để làm một cái gọi là cực lạc thế giới thì chúng tôi phải nhìn nhận rất đẹp, ở trong cực lạc thế giới đó có hoa, có kiểng, có núi, có hồ, có chùa, có tháp mọi thứ thơ mộng. Nhưng trong cái nhìn thật sự của thiền quán những cảnh giới gọi là rất thơ mộng đó nó chỉ ru ngủ chúng ta nhiều hơn là có giá trị tỉnh thức. Nói điều đó thì có lẽ là một số vị sẽ bị đụng chạm nhưng mục đích của đời sống tu tập không phải là đi tìm một cảnh giới cực lạc, không phải như vậy,  mà là cái gì đó chúng ta có khả năng thắp sáng chánh niệm tỉnh táo nhận biết, nếu chúng ta có thể ngồi xuống trong một giờ lẳng lặng nhìn hơi thở ra hay vô thì đối với Đức Phật điều đó quan trọng hơn là chúng ta tìm đến một nơi mỗi thứ đều đẹp, mỗi thứ đều tốt, mỗi thứ đều thoả mãn, cái thỏa mãn của mắt của tai của mũi lưỡi mà thôi. 

Trong câu thứ hai Đức Phật giảng: "Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã từ bỏ hoàn toàn các tầm cầu?"

Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo, dục tầm cầu được đoạn tận, hữu tầm cầu được đoạn tận, Phạm hạnh tầm cầu được khinh an. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đã từ bỏ hoàn toàn các tầm cầu.

- Dục tầm là thỏa mãn các giác quan của mình như tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc gọi là dục tầm. 
- Hữu tầm là mình mong muốn trở thành một ai đó, trở thành ông này vị kia, trở thành thiền sư, trở thành vị viện chủ, trở thành vị pháp sư, thiền sư, ngay cả muốn người ta biết mình là người tu đàng hoàng thì cũng là vấn đề. 

Ở trong trường thiền Wat Nong Pah Pong Ngài Ajahn Chah có để một câu trên con đường đi rất hay, đó là "Personal desire is not the problem". Mục đích đời sống phạm hạnh không phải để mình trở thành một vị thánh hay người cao thượng, hay mình có những ý tưởng cao thượng, mà là sự thật như thế nào mình biết rõ như vậy. Điều này quan trọng. Đời sống của mình không phải mình nói tu để mình trở nên cao quí, trở nên cao thượng hay trở nên thế này thế kia mà là cái gì nó vô thường biết nó là vô thường, cái gì khổ biết là khổ, cái gì vô ngã biết là vô ngã, mình thở vô biết thở vô, thở ra biết thở ra, tâm của mình cao thượng biết tâm cao thượng, tâm mình thấp hèn biết tâm thấp hèn. Chứ không phải mình tu là để mình muốn mình trở thành cái này, trở thành cái kia. 

Chúng tôi hy vọng rằng chúng tôi nói như vậy không làm cho quí vị lộn xộn nhưng mà: 

Đại khái: hữu tầm là chúng ta muốn trở thành người này, trở thành người kia, điều này không cần cho người tu. Người tu nên biết hiện tại tốt biết là tốt, xấu biết là xấu, điều đó mới là quan trọng, cái gì sanh biết sanh, cái gì diệt biết diệt, hơi thở vô biết hơi thở vô, hơi thở ra biết hơi thở ra. Chứ không phải mình tu để mình trở thành người cao quí hay mình trở thành thế này thế kia. Có những người nói chỉ muốn sống giản dị và đi đâu cũng đòi chỗ ở phải giản dị, ăn giản dị, cái giản dị của người này trở thành thứ cầu kỳ. Ngày hôm nay có nhiều người muốn có kiểu sống giản dị mà kiểu sống đó lại trở thành một điểm phiền cho nhiều người chung quanh. 

Chúng ta sống làm sao cho cuộc sống mình dễ nuôi đừng làm rộn ràng làm phiền người khác, không cần người ta phải chú ý đến mình, nhẹ nhàng không làm phiền ai, mình không trở thành gánh nặng cho ai, Đức Phật gọi cuộc sống như vậy là nên. Còn nếu mình đòi hỏi, và khi người ta cho mình vô nơi có nhiều màu sắc mình nói không, tôi muốn nơi không có màu sắc, người ta cho mình vật tốt mình nói không, phải đi tìm cho tôi cái gì giản dị, như vậy nó trở thành một kiểu sống một lối sống đặc biệt thì lối sống đặc biệt đó  cũng là một sự đòi hỏi. Thành ra điểm thứ nhất không phải sự trừ khử sự thật cá nhân mà là sự đi truy tìm những chân lý phù phiếm không liên hệ đến giải thoát. Đó là ý nghỉa của câu thứ nhất. 

Câu thứ hai là đi truy cầu sự thỏa mãn mắt tai mũi lưỡi thân, đi truy cầu sự thỏa mãn mình là ai, hay là đi tìm sự an tịnh. Đó là ý nghĩa của câu thứ hai.

 Câu thứ 3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thân hành được khinh an?

Thân hành được khinh an, trong kinh Phật đề cập đến thân hành là đề cập đến hơi thở, tâm hành là đề cập đến tầm hay sự đi truy cầu. Thân hành trong Phật Pháp là hơi thở rất quan trọng, nếu tu tập một lúc chúng ta sẽ nhận ra được hơi thở đi liền với nhu cầu của thân, hơi thở đi liền với trạng thái của tâm. Mấu chốt nằm ở chỗ này là tâm mình an tịnh thì hơi thở tế nhị, tâm mình phiền não thì hơi thở nặng nề. 

Về điểm này có một dịp khác chúng tôi sẽ nói. 

Trong sự điều tức, hiện tại lạc trú trong sự hoá giải trước tuế toái của cuộc sống, người tu tập hoá giải bằng sự an tịnh của hơi thở là vượt qua những lạc thọ, khổ thọ và đạt đến xả thọ, về điểm này liên hệ đến các chi thiền đây là một công phu rất lớn ở trong Phật Pháp, và là một trong những khó nhất của người tu tập tại vì nó không nằm ở trong thế giới của tri thức sự hiểu biết mà ở trong sự thuần thục của sự tu tập. Đạo Phật gọi là Samadhi. 

Khi nghe nói về giới định huệ thì chữ Samadhi. Một trong những dấu ấn để cho thấy trình độ cao của Samadhi của Định của Tam Muội đó là sự tế nhị của hơi thở. Đại khái, có nhiều sự tu tập như tu tiên, luyện tinh khí thần của Trung Hoa hay các vị Du Già, Yoga của Ấn Độ điểm này điểm kia nhưng riêng đối với Đạo Phật sự tu tập nằm ở chữ Samadhi. Giới chỉ cho kỷ cương, giới chỉ cho sự thấu triệt hiểu biết nhưng Định là công phu tu tập. Định-Samadhi là tam muội, công phu, cái công phu bản thân dựa trên hơi thở, hơi thở đạo Phật gọi là thân hành. 

Trong thế giới thân hành có nhịp đập, khi bệnh bác sĩ bắt mạch mình mà mạch nhanh quá cũng có vấn đề mà chậm quá cũng có vất đề, mạch điều hòa đôi khi nó ở  mức nhẹ nhàng. Thì mạch không phải tất cả nhưng mạch là một dấu ấn một sự biểu thị của sức khỏe, bắt mạch thì biết nhiều về sức khỏe hơi thở nhanh hay chậm, hơi thở là thân hành được xem như sự biểu thị của Samadhi.

Một người làm một cuộc cách mạng, một người không đi theo xu thế ở đây Đức Phật gọi là mạn. Thí dụ như mình tu cho dù mình tu nhiều hay tu ít cũng hay nghĩ về cái "tôi" cái "ta". Đó là điểm rất tế nhị. Đức Phật Ngài thường dạy đối với dù là sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì cũng không nên đó là "ta", là "của ta", là "tự ngã của ta". Trường hợp chúng ta hay gặp phải đó là ý nghĩ về bản thân của mình "tôi cao qúi" "tôi là người phải được trọng vọng". Lấy một ví dụ Đức Phật Ngài thường nhắc một vị tỳ kheo cho dù tu đến bao nhiêu hạ hay trở thành vị trưởng lão chẳng hạn, trở thành vị pháp sư, thì có những điều nên tâm niệm ghi nhớ thí dụ sự sống của mình phải nhờ nơi kẻ thế gian, đi khất thực thì đi bằng chân không và nhớ một điều bản thân của mình sống là do sự giúp đỡ của đàn na tín thí thì không có gì phải tự hào. Ngã tính trong đời sống là một cái gì cực kỳ tế nhị. Chữ attamana Đức Phật Ngài dùng chỉ cho ý tưởng về tôi là cái gì, chúng ta nên nhớ điều này nó ăn sâu nó tiềm tài cực kỳ sâu thẳm đôi khi mình đi đến đâu nó đi theo tới đó.

Một câu chuyện, chúng tôi nghe ông ngoại kể về người cha vợ với con rể ở chung.

 Ở bên Việt Nam miền quê buổi tối không có đèn, trời thì tối căm, câu chuyện hài hước được kể là bữa đó ở trong nhà có làm bánh rất ngon nhưng làm xong không được ăn vì chưa cúng, bánh cất trong tủ đồ ăn để chờ sáng mai cúng xong rồi cả nhà ăn. Chàng rể mới nghĩ ra một chuyện là buổi tối cả nhà ngủ  mình lén đi nhè nhẹ ra tủ ăn một vài cái, nhưng buổi tốt đen thì làm sao thấy lối đi ông mới nghĩ kiếm một sợi giây cột vào cái tủ để thức ăn rồi leo lên giường ngủ. Nhưng đầu giây bên kia cột vào cái tủ còn đầu này lúc ngủ nó rớt hồi nào không biết không có đèn pin để biết nó nằm ở đâu, anh rể mới cột vào chân anh. Việc làm của anh con rể này không qua mắt được ông già vợ, ông già vợ mới cắc cớ tháo đầu giây ở chỗ tủ đồ ăn đem cột qua cái giường của ông, ông nghĩ người con rể đi lò mò tìm đồ ăn đến gặp ông thì chắc là một phen hốt hoảng. Thì đúng như vậy, đến khi mọi người ngủ rồi thì người con rể đi tìm lấy đồ ăn thì lại đụng ông già vợ và lúc đó mới giựt mình là đầu giây này không phải dẫn đến tủ đồ ăn mà lại đụng ông già vợ, chú này sợ quá phóng chạy và lúc phóng chạy thì sự việc xảy ra là một đầu giây thì cột vô chân mình và một đầu kia lại cột vô thanh giường một cái nẹp bằng tre, ở miền quê người ta đóng giường bằng tre nó có cái nẹp, vì giựt mạnh quá cái nẹp đó xúc ra. Khi người con rể sợ quá nhảy ra ngoài ao nhảy ngang qua cái ao thì sợi giây có cái nẹp tre nó đánh trúng vào chân của mình, chú đó nghĩ ông già vợ hay quá buổi tối đen mình nhảy ngang ao trời tối căm mà ông phang mình mấy cái mà cái nào cũng trúng hết. Đó là chuyện vui, cái nẹp tre cột vào sợ giây mà sợi giây cột vô chân mình thành ra mình đi đâu cái cây cũng đánh trúng chân mình rồi nghĩ trời tối ông già giỏi quá quăng cái nào trúng cái đó. 

Chúng tôi kể chuyện này là một thí dụ về mạn trong đời sống của mình. Mình bỏ nhà đi tu đó là chuyện hay nhưng mình tự hào mình là người dám bỏ nhà đi tu, đó cũng gọi là sự kiêu mạn. Mình thấy những người khác không tụng kinh mình tự hào là mình tụng kinh nhiều, mình tụng kinh đều đặn thì đó cũng là sự kiêu mạn. Hoặc, ai tu không thành pháp sư chứ mình tu thành pháp sư đó là kiêu mạn.  Cái mạn nó giống như cái nẹp tre mà cột vào sợi giây đi đâu nó phang mình trúng cái đó là tại vì đầu kia sợi giây cột vô chân của mình. Con người mình đi tu phải cẩn thận, ngay cả trong tận cùng sâu thẳm của mình thì cái "tôi" cái "ta" cái "tự hào" liên hệ đến ngã tính nó vẫn tồn tại. Đức Phật dạy người nào cắt được ngã mạn được xem là người làm cuộc cách mạng. Chữ panitito trong chữ Hán họ dịch là "thoái khứ giả" tức là một người có khả năng trở về, thay vì mọi người họ bị lôi kéo đi còn mình có khả năng quay lại có khả năng trở về, không phải dễ dàng. Ở đây không biết tại sao dịch là độc cư, không phải là độc cư không phải là người độc cư.

Thì bốn pháp này là bốn pháp chúng ta phải rất cẩn thận, coi chừng nó vẩn tồn tại ở trong đời sống của chúng ta và chúng ta phải có khả năng để vượt qua:
1- Chúng ta phải vượt qua sự khao khát về tri thức.
2- Chúng ta vượt qua những truy cầu dù đó là dục cầu, hữu cầu hay phạm hạnh khinh an cầu.
3- Chúng ta phải đi đạt đến khả năng khai triển công phu của tam muội hay của định mà tiêu biểu là an tịnh thân hành chứng các thiền
4- Chúng ta phải có khả năng vượt qua sự kiêu mạn. 

Thật sự, trong đời sống hàng ngày những điều này không có giá trị lớn nhưng với một người tu tập thì những điều này là những điều giá trị cực kỳ lớn tại vì nó đạt tới chỗ rất tế nhị./.


Monday, June 13, 2016

Tăng Chi Bộ - Không thỏa mãn

Kinh Không thỏa mãn - Tăng Chi Bộ

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 17-11-2015

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Người tu tập là người phải đối diện với những phiền não trong tâm tư mình. Trong binh pháp có câu: "Biết người biết ta trăm trận trăm thắng". Chúng ta đối diện với phiền não cũng nên biết rõ cái mạnh của phiền não hoặc cái yếu của phiền não. 

Khi nói đến phiền não, một ở trong cơ sở của phiền não đó là sự hưởng thụ và chúng ta nên hiểu sự hưởng thụ đôi khi không phải là cái tội nhưng nếu ở mức độ quá độ đi quá xa thì sẽ trở nên tai hại. Tương tự như ngày hôm nay là thời đại thực phẩm hơi dư thừa, chúng tôi nhớ hồi còn nhỏ thực phẩm thiếu nên ít nghe người ta nói kiêng cử mà làm sao chỉ có thức ăn thôi, nhưng ngày hôm nay ăn uống nếu không để ý dễ lên cân vì nó tạo ra nhiều chất đường dễ tạo ra nhiều chứng bệnh, do vậy việc ăn uống cũng phải có chừng mực. 

Trong cái nhìn của Đức Phật cho chúng ta 3 chuyện chúng ta thường say đắm nghĩa là đi quá xa quá độ và điều này chúng ta phải lưu ý. Chúng tôi có đọc rất nhiều bài viết về điểm này và cũng nhận ra được, đó là, ngày hôm nay trong nghiêng cứu chung ai cũng phải nhìn nhận Đức Phật là bậc Giác Ngộ, những điều Ngài dạy quả thật không có sai chạy chút nào. Và ở đây Đức Phật dạy có 3 điều  chúng ta không bao giờ thỏa mãn. 

Atitti là không bao giờ đạt đến mức thỏa mãn hoàn toàn. 

Chúng ta cứ nói nếu chúng ta được thỏa mãn thì sẽ không đòi nữa, không phải, nó cứ đòi hoài.

1. Thứ nhất, ngủ nghỉ. Thông thường người ta nói "tham ăn mê ngủ". Thấy vậy với cái ăn có thể chúng ta ăn đến mức độ nào đó no, ăn đến mức độ nào đó thì ngán. Nhưng chúng ta phải coi chừng chuyện ngủ nghỉ, cái ngủ nghỉ là một thứ khoái lạc ở trong đời sống.

 Trong kinh đề cập đến một điểm rất tế nhị ít có người Phật tử để ý là có 2 thứ phiền não hôn trầm và thụy miên. Phiền não hôn trầm và thụy miên hết sức tế nhị, người thường không phân biệt được điểm này. Dĩ nhiên, người có tu hay không có tu đều phải ngủ nhưng cái ngủ của hôn trầm thụy miên và cái ngủ không hôn trầm thụy miên khác nhau.

Hôn trầm thụy miên là một thứ phiền não, hôn trầm là trạng thái dã dượi, uể oải, buồn ngủ không phấn chấn. Và trạng thái hôn trầm ảnh hưởng từ hai phương diện thân và tâm. Thông thường chúng ta nghĩ trạng thái dã dượi gọi là hôn trầm là do thân mình cần ngủ thì ngủ thôi chứ không có gì gọi là phiền não nhưng kỳ thật khi nội tâm chúng ta thụ động, khi nội tâm chúng ta hướng về chỗ ngủ nghỉ mà bấy giờ chúng ta không cưỡng được.

 Khi chúng ta đi hành thiền, những lúc sắp ngồi thiền có hai trạng thái thường phải để ý; một là chúng ta rất phấn chấn mong cho đến ngày ngồi thiền mang tọa cụ lên chánh điện lên thiền đường để ngồi với mọi người. Nhưng cũng có nhiều lúc tới giờ ngồi thiền chúng ta rất ngán, không ngồi thiền thì bị rày, không ngồi thiền các vị thiền sư để ý nhưng ngồi thiền thật ra lúc đó chỉ muốn về cốc để nằm hoặc muốn chung quanh không có người thì mình nằm xuống. 

Có một lần chúng tôi tu tập tại một trường thiền ở Thái Lan thời gian ngủ rất ít, đi ngủ lúc 10 giờ tối  thức dậy lúc 3:30 sáng và từ 3:30 sáng sinh hoạt cho đến tối. Thật ra thời gian đầu cảm thấy ngủ không đủ, sáng 3:30 thức dậy làm vệ sinh, 4:00 lên chánh điện tụng kinh, chấp tác, rồi đi khất thực, rồi dùng cơm, liên tục cho đến chiều nên thường có ý thích ngủ. Thì ban đầu mình nghỉ đó là hiện tượng về thân tức là thân mình thiếu ngủ thì nó ngủ thôi, nhưng có vài lần chúng tôi đi khất thực chung với vị thiền sư Ngài hỏi "Chúng tôi qua đây có trở ngại gì không?" Chúng tôi thưa với Ngài "Mọi việc rất ổn, chúng tôi rất là an lạc rất là hoan hỉ nhưng dường như vô trường thiền ít có thì giờ để ngủ nên hay buồn ngủ". Thì Ngài lưu ý chuyện buồn ngủ là một thứ phiền não rất lớn. Cuộc sống chúng ta bình thường có những chuyện tham sân si tranh danh đoạt lợi. Chuyện sân si chửi qua chửi lại mình thấy lớn nhưng kỳ thực khi đi hành thiền cái phiền não chi phối mình không phải là chuyện tranh danh đoạt lợi không phải chuyện hơn thua mà chính là hôn trầm thụy miên chính là sự uể oải buồn ngủ. 

Trạng thái hôm trầm mang nhiều tánh cách, như là thụ động, làm biếng. Ở đây chúng tôi nói làm biếng nghĩa là mình không có siêng năng. Và một điều chúng ta phải để ý phần lớn người ta bị bịnh sleep disorder (rối loạn giấc ngủ) nghĩa là con người mình hay làm ngược lại, người bị sleep disorder thường lúc mình làm việc thì muốn ngủ và lúc mình cần đi ngủ thì lại trổi dậy muốn làm việc, lên internet tìm cái này cái kia thì mắt sáng, coi phim thì mắt sáng ra nhưng để ngồi thiền để tụng kinh hay ngồi lạy Phật thì tự nhiên lại buồn ngủ người thụ động lại. Trạng thái buồn ngủ lúc đó đa phần đến từ cái mà không có cái gì để cho mình thích thú nó không có cái gì làm cho mình cảm thấy phấn khởi  và điều đó có nghĩa chúng ta chưa có được sự phấn chấn đối với cái gì mình đang làm.

 Bên cạnh trạng thái dã dượi buồn ngủ của hôn trầm còn có trạng thái khác gọi là thụy miên. Thụy miên nếu dịch cho rõ thì giống như là mê ngủ, mình có ham ăn rồi có mê ngủ, ở trong trạng thái mê ngủ là một cái gì thống khoái cái gì thích thú để mình có thể ngủ chứ không phải ngủ là vì nhu cầu. Chúng ta ngủ là vì nhu cầu là nằm xuống chỉ đơn thuần là ngủ cho vừa phải thôi. Nhưng trạng thái mê ngủ là trạng thái ham ăn mê ngủ tức là hễ ngủ không được là cứ nằm đó hưởng thụ cái ngủ của mình. Chúng tôi nói điều này không biết quí vị có chia sẻ được không nhưng nhiều lúc mang mán đâu đó cái ngủ là một thứ thỏa mãn và người ta muốn tiếp tục ngủ người ta muốn kéo dài giấc ngủ nếu có thể được. Muốn biết trạng thái thụy miên như thế nào thì để ý có những người ngủ chưa đủ chưa thỏa mãn và tiếp tục muốn ngủ nữa trạng thái đó gọi là mê ngủ . 

Ỏ đây, Đức Phật Ngài dạy tâm thái mê ngủ không bao giờ thỏa mãn, nếu chúng ta lao vào đó sống với nó càng ngày thì nó càng tệ thêm và không có nghĩa ngủ nhiều là thỏa mãn được mà là chúng ta không thỏa mãn, Atitti có nghĩa không thỏa mãn, cho dù chúng ta ngủ nhiều chúng ta cũng không thỏa mãn được.

2 Điểm thứ 2 Đức Phật dạy sự say sưa rượu không bao giờ cho chúng ta thỏa mãn được. Chúng ta phải để ý.

Say sưa cho người ta có cảm giác, cái vị thì ít nhưng cảm giác say sưa lâng lâng thì nhiều, và nhiều khi cảm giác say sưa của rượu cho người ta đến một cảnh giới mà cảnh giới đó cảm nhận cuộc sống bên ngoài khác đi. 

Ví dụ, Nga là một quốc gia có nhiều sự bất công ở trong xã hội, ngày xưa có giai cấp quí tộc và giai cấp nông dân. Người Nga một số lớn những người ở trong giới lao động thợ thuyền làm việc rất cực nhọc, rất khổ, đời sống bị chèn ép đủ thứ và do vậy phần lớn người Nga họ tìm sự khuây khỏa trong men rượu, họ uống rượu rất nhiều, loại rượu Voka là loại rượu người Nga uống rất nhiều. Thì chuyện một người uống rượu bình thường uống một hai ly khác với những người đi làm việc xong về uống gọi là say bí tỉ tức là họ uống không chỉ là một hai chung mà họ uống sao cho người họ đi vào trạng thái say sưa, cái say đó làm cho người ta cảm thấy quên đời, cái say đó người ta cảm thấy ít nhất có giây phút nào đó mình là mình. 

Người Việt Nam chúng ta có nhiều chữ để chỉ cho tình trạng này, một người bình thường uống nhiều rượu gọi là say rượu. Nhưng rồi có những người say rượu họ cảm thấy chưa thỏa mãn họ đi vào tình trạng gọi là nghiện rượu. Nghiện rượu là không có rượu thì không được tức là phải uống thường xuyên. Rồi từ nghiện rượu đi đến chỗ nát rượu tức là không có rượu thì tay chân run lẩy bẩy, buổi sáng sớm không có rượu thì con người giống như chết rồi, không có làm gì được. Và khi uống rượu vào với một người nát rượu thì nhà tan cửa nát tức là cuộc sống không bình thường chỉ còn cách là phải đi cai rượu. 

Đức Phật Ngài cho chúng ta biết đi vào con đường nghiện ngập rượu là nó hoàn toàn không thể nào thỏa mãn được tận cùng của nó chỉ có một cách phải dùng ý trí để dừng lại, và những người thân phải khuyên để dừng lại, càng lún sâu thì con người càng mất đi khả năng định hướng, mất đi khả năng để làm lại cuộc sống tại vì mình sống trong cái gọi là impregnation tức là trạng thái ngâm tẩm, đắm chìm hưởng thụ một cách quá đáng, hưởng thụ một cách không có chừng mực. Xã hội ngày hôm nay phải nói rằng về điều này lại rất nặng nề, ở Mỹ tai nạn xảy ra do người ta uống rượu lái xe nhiều hơn những tai nạn do những nguyên nhân khác, những ngày lễ người ta đi dự tiệc tùng số người chết lên cao vì chuyện uống rượu lái xe. Nhưng phải nói ở Mỹ mọi người cần lái xe để di chuyển và việc nghiện ngập vấn đề say xưa đã trở thành một thảm họa không phải chỉ cho người lái xe mà cho cả những nạn nhân nữa. 

3. Sự không thỏa mãn thứ ba. Đức Phật dạy không bao giờ thỏa mãn đầy đủ đó là nhục dục. 

Cái gì cũng vậy, sự hưởng thụ ở mức độ tương đối thì có thể không gây tác hại. Ví dụ, trong cuộc sống con người có nam có nữ, có sự liên hệ giữa nam và nữ. Nhưng một khi con người đã đắm chìm ở trong một thứ gì quá, cũng giống như về vấn đề mê ngủ hay giống như vấn đề nghiện ngập rượu chè thì vấn đề hưởng thụ nhục dục có thể dẫn đến tình trạng quá độ.

 Như ngày hôm nay chúng ta nghe nói rất nhiều trường hợp càng ngày con người càng có nhiều cách thỏa mãn mà nó rất bất bình thường nó đi quá xa và vì vậy nó tạo ra không biết bao nhiêu vấn đề của cuộc sống. Cái vấn đề cuộc sống con người đơn giản phải biết nó ở chừng mực nào đó, cuộc sống con người lớn lên ai cũng muốn xây dựng cuộc đời tương đối là ổn. Nhưng chính vì những đam mê và những đam mê không tự chủ được dẫn đến sự đổ vỡ của gia đình dẫn đến sự đổ vỡ của trăm muôn ngàn thứ trong cuộc sống. Ngày nay hơn bao giờ hết con người chúng ta nên hiểu trong sự tự do của một thời đại, trong sự cở mở, trong sự cho phép của truyền thông của internet v.v... thì con người có nhiều phương cách để tìm đến để kích dục và để thỏa mãn dục vọng nhưng thỏa mãn nghĩa là thỏa mãn nhứt thời chứ nó không có gì thỏa mãn mãi mãi được. 

Nếu không có đủ ý trí đủ sự hiểu biết dừng lại ở mức độ nào đó thì chúng ta sẽ rơi vào ở trong một giai đoạn hầu như quá lậm, và chúng ta không thể có cuộc sống bình thường, cái cuộc sống gọi  bình thường nói theo chúng ta là cuộc sống quân bình là chúng ta tương đối có khả năng sống chừng mực. Cái đó không phải là dễ dàng.

Thì ở đây, Đức Phật dạy chúng ta về 3 điều không thể nào thỏa mãn, Ngài đặc biệt lưu ý nó là những thứ phiền não đến từ sự hưởng thụ và sự hưởng thụ này mang đặc tính ngâm tẩm, chìm đắm, quá lậm trong đó.

 Chúng ta đọc  giáo lý duyên khởi sẽ thấy một hệ lụy đơn giản là có 6 căn tiếp xúc với 6 cảnh:

- Xúc duyên cho Thọ là do tiếp xúc với các cảnh nên có cảm thọ, và cảm thọ tại đây không đơn giản như chúng ta nói Khổ Lạc Ưu Hi Xả mà cảm thọ ở đây đôi khi có một thứ cảm giác đặc biệt. Thí dụ như một người mê ngủ thích chuyện ngủ nghỉ khi họ nằm xuống họ cảm giác khoái lạc đặc biệt. Rồi một người đam mê về rượu nghiện ngập những dân nhậu chẳng hạn những người say sưa nhậu nhẹt trong cái say sưa đó họ cũng có một cái cảm thọ và cái cảm thọ đó khiến cho họ đắm chìm.

- Nhưng trong cái Thọ đó duyên cho Ái là sự thích thú.

- Nhưng Ái dẫn đến Thủ, Thủ ở đây là sự bám lấy không buông, uống rượu đến mức nghiện rượu hay nát rượu thì có nghĩa không có buông được. Một người đam mê nhục dục dẫn đến sự hưởng thụ nhục dục mà nó đi quá xa tầm thường thì họ không có bình thường nữa họ tạo ra rất nhiều chuyện không cho phép bởi xã hội. Hay một người quá đắm chìm trong ngủ nghỉ có thể họ đánh mất đi khả năng minh mẫn, khả năng phấn chấn để làm những việc khác mà chỉ chìm đắm trong sự ngủ nghỉ.

Ở đây, khi chúng ta nói đến "Ái duyên cho Thủ" chúng ta hiểu nó không đơn thuần chuyện đó mình thích hay chuyện đó mình đặc biệt ưa chuộng mà chữ "Thủ" ở đây là một sự đắm chìm, một sự nghiện ngập, một cái gì đó nó quá đà, quá chớn, quá độ. Cái "quá" đó để lại không biết bao nhiêu hệ lụy của đời sống và nó thể hiện thành những hạnh nghiệp chúng ta gọi là "Thủ duyên cho Hữu".

 Khi Đức Phật đề cập đến 3 việc ở tại đây không nhất thiết đối với tất cả mọi người đều giống nhau nhưng với người khi đã tự dấn vào những lãnh vực này nên hiểu đôi lúc nó vượt ngoài khả năng tự chủ và nên để ý.

Tại các thiền viện người ta nói sự phấn đấu chống lại chuyện mê ngủ hay buồn ngủ hay ưa thích ngủ nghỉ đôi khi không dễ dàng giống như chúng ta nghĩ. Nhiều người ngồi thiền buồn ngủ có nhiều vị họ để hộp quẹt trên đầu khi ngủ gật hộp quẹt rớt xuống họ thức tỉnh, hay có người dùng cây kim may loại kim may bao bố cầm trên tay lúc buồn ngủ họ lơi ra nó rớt xuống đâm vào lòng bàn tay làm tỉnh thức. 

Chúng tôi học cách trấn áp cơn buồn ngủ từ ngài Ajahn Pasanno; ở trong lúc buồn ngủ quá mình rời khỏi am thất của mình tức là chỗ ở của mình trong đêm, nơi am thất mình tu không có điện chung quanh, trời tối ban đêm lúc mình đi nhà vệ sinh hay đi đâu cần có đèn pin, nếu có đèn pin mình mới biết ở dưới chân mình có rắn rít có bồ cạp hay không còn nếu mình đi không có đèn pin buổi tối rất dễ sợ, nhưng buồn ngủ quá mình nhắm hướng đi không cầm đèn thì khi đi như vậy người mình tỉnh lại, đó là một cách.

 Chúng ta phải có ý trí, đầu tiên ý thức là những chuyện ngủ nghỉ, say sưa, nhục dục mình hưởng thụ bao nhiêu cũng không đủ, và khi mình biết bao nhiêu cũng không đủ thì mình phải dừng lại ở mức độ nào đó. Giống như ngày hôm nay có nhiều người bị bịnh đi shopping, mỗi khi đi shopping họ cảm thấy hạnh phúc, nhưng một lúc nào đó họ hiểu được đi mua bao nhiêu cũng không thỏa mãn được bắt buộc họ phải dừng lại. Cái ý thức được thắp sáng trong lòng mình "như vậy là vừa đủ rồi, ngưng lại" đó là một điểm chúng ta có thể làm được.

Một việc khác chúng ta có thể làm được, chúng ta có thể hiểu khi mình bị chi phối bởi những thứ đó nhiều quá thì mình không thể làm được chuyện gì khác được. Lấy ví dụ, những lần chúng tôi đi xa đến những nơi sái giờ thì tới giờ sinh hoạt trong room rất buồn ngủ những lúc đó chúng tôi vẫn thường phấn đấu cơn buồn ngủ là đi rửa mặt hay làm việc gì đó và tự nhủ "nếu mình không cố gắng thì ngày hôm sau nó cũng buồn ngủ tiếp tục nó có thể tệ hơn", vì mình cố gắng thì từ từ mình sẽ dành lại được sự tự chủ của mình. Như bây giờ chúng tôi đang rất buồn ngủ vì khác giờ nếu chúng tôi bỏ room không sinh hoạt và leo lên giường ngủ thì ngày mai nó cũng trở lại giống như vậy, tại vì mình chiều nó, cách làm tốt nhất là mình tự phấn đấu tới giờ đó cứ thức cứ làm, đôi khi mở mắt không lên nhưng vẫn cố gắng làm.

 Cái quan trọng ở trong cuộc sống là cái ý trí của mình, mình phải tin vào ý trí mình hơn là tin vào phiền não. Nếu mình không tin vào ý trí thì mình sẽ bị phiền não sai xử. Những lúc cảm thấy con người mình yếu đuối hay cảm thấy con người mình không có nhuệ khí không có sự tinh tấn lúc đó mình tự đặt câu hỏi là ý trí mình ở đâu. Mình sống mà không có sự phấn đấu thì đời sống mình sẽ lui sụt, và mình thấy rất rõ cuộc sống phải có sự phấn đấu với những phiền não.

 Đức Phật dạy tại đây, khuynh hướng của con người là muốn thỏa mãn sự ham mê ngủ nghỉ, ham mê say sưa trong rượu, ham mê trong nhục dục nếu chúng ta không đủ trí tuệ và không đủ ý trí nói mình phải dừng lại ở mức độ nào đó nó vừa phải, không nên đi quá đà, không nên đi quá xa, vì càng đi thì càng lún sâu, càng lậm, và càng lậm thì chúng ta sẽ mất hết tất cả thứ khác, không có khả năng tự chủ, không có khả năng làm việc nữa. Thì thường là những con người không phấn đấu một lúc nào đó tự nhiên mình không còn là mình nữa, mình không tự chủ được nữa, và nó sẽ đi quá đà. 

Do vậy, rất cần để chúng ta nói với chúng ta rằng những thứ đó nó không bao giờ thỏa mãn mình, không bao giờ thỏa mãn, bao nhiêu cũng không đủ. 

Có lần chúng tôi ngồi nghe một vị cư sĩ, người này tương đối rất thành công ở trong công ăn việc làm, thấy người ta mở nhà hàng cũng muốn mở nhà hàng, và vị này mở 4,5 nhà hàng và nhà hàng nào cũng thành công và cứ làm và cứ thấy tiền vô. Tiền vô là một lẽ nhưng người thì cực, làm nhà hàng thì cực. Có một đêm người đó ngủ nằm suy nghĩ tuy mình làm thành công trong việc kiếm ra tiền mình thỏa mãn nhưng mình làm một lúc mình quên vợ quên con, quên gia đình, quên đi chùa, quên Phật Pháp, vị này ngày xưa có tu ở chùa Ngài Hộ Giác, và bây giờ vị này nói mình không thể chạy theo hoài được có một lúc nào đó mình phải dừng lại. Đó là thắp sáng ý trí của mình. Con người mình cứ chạy đuổi theo danh lợi hơn thua. Riêng cuộc sống nội tại thì mình có những thứ hưởng thụ mình nghĩ mình sẽ đến chừng mực nào đó nhưng mà nó cũng không thỏa mãn được.

Thì Đức Phật dạy chúng ta phải bừng dậy phải trội dậy như trong kinh kể về vị tướng Santati ông là một danh tướng của vua Ba Tư Nặc đi đánh giặc chiến thắng và trên đường trở về ông ngồi trên thới voi trong niềm kiêu hãnh của vị tướng thắng trận khải hoàn trở về, Đức Phật Ngài đã độ ông cho ông thấy được niềm kiêu hãnh đó đối với ông là cao điểm mà ông cảm thấy trân trọng nhất trong cuộc đời đó là kiêu hãnh của cái chiến thắng nhưng mà điều đó không dẫn đi về đâu hết.

Cuối cùng chúng ta phải nói rằng thì nó như vậy đó, đến lúc mình cảm thấy nó không có đủ khả năng để dừng lại thì chúng ta phải đẩy mạnh ý trí của mình bằng trí tuệ bằng ý thức của mình. Ở trên đời này hơn nhau hay không hơn nhau là người biết dừng lại, hơn nhau hay là thua nhau ở chỗ là người có chừng mực hay không? Khả năng chừng mực mà biết vừa phải không phải dễ dàng.

Đó là vài điều chúng tôi muốn chia sẻ với quí Phật tử trong buổi sinh hoạt ngày hôm nay./.

Wednesday, May 18, 2016

Suy Tư và hành động - Kinh Tăng Chi Bộ

Suy Tư và hành động - Kinh Tăng Chi Bộ

Bài học được giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 15-5-2012

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài học hôm nay cho chúng ta cái nhìn chung thực và rõ ràng về điều người ta thường tranh luận giữa pháp học và pháp hành. Có người cho rằng học nhiều thì vô ích do đó chỉ nên hành thôi. Ở trên thực tế Đức Phật Ngài không đề cập đến vấn đề học và hành như cách chúng ta nói, Đức Phật Ngài nêu nên hai sức mạnh:

1. Sức mạnh của tư sát (chữ tư sát ở đây là suy tư và quán sát).
2. Và sức mạnh của sự tu tập.

 - Trước nhất là chúng ta nói về sức mạnh của suy tư và quán sát. 

Trong nhiều bài kinh, như kinh Hạnh Phúc Đức Phật Ngài có đề cập đến đa văn hay là đúng thời nghe pháp hay đúng thời đàm luận pháp.

Như vậy, kiến thức đầy đủ cũng tốt miễn là kiến thức đó được chân chánh, do có kiến thức chân chánh chúng ta mới làm đúng, kiến thức chân chánh  có những khả năng hoán chuyển rất lớn trong đời sống của chúng ta. 

Chúng tôi lấy một ví dụ là trong bốn Pháp Niệm Xứ, pháp Niệm Xứ chúng ta biết thuộc pháp hành nhưng có cái gọi là pháp quán niệm xứ. Pháp Quán Niệm Xứ là chúng ta nhìn thân và tâm này, qua thân và tâm đó chúng ta suy niệm về những thể tài của Pháp như 5 Triền Cái hay Tứ Diệu Đế, Thất Giác Chi v.v 

Thì nếu một người muốn suy tư về pháp Quán Niệm Xứ người đó cũng phải có tri kiến có kiến văn của cả hai pháp học và pháp hành chứ không đơn thuần chỉ ngồi nhìn thân tâm là đủ.

Do vậy, biết chính xác của chúng ta là biết về nhân quả, để biết về nhân quả Đức Phật Ngài dạy chúng ta biết quán sát về nhân quả và quán sát về nhân quả là một trong cơ sở của chánh kiến từ những việc làm đơn giản ở trong đời sống hàng ngày. Thí dụ như mình thấy người nào sống bằng tâm sân hận độc ác thì người đó chịu quả khổ. 

Nhưng chúng ta có thể nghiệm lấy như Khổ và Nhân Sanh Khổ hay Sự Diệt Khổ và Con Đường Đưa Đến Sự Diệt Khổ những điều đó cũng mang tánh nhân quả hay mang tính tác động do có cái này nên cái kia sanh khởi. Thì trong lý Thập Nhị Duyên Khởi hay là trong lý Tứ Đế hoặc giả trong lý Nghiệp Báo đều là hệ luận mang tính tư sát. Mang tính tư sát tức là chúng ta quán xét  quan sát và suy tư. Từ sự quan sát và suy tư này chúng ta chợt nhận ra những đầu mối liên hệ với nhau.

Bây giờ chúng ta thử ôn nhắc một bài kinh khác, bài kinh này được Đức Phật Ngài giảng trong Tăng Chi Bộ kinh, trong bài kinh đó Đức Thế Tôn Ngài đặc biệt nói đến sức mạnh của chánh kiến. Chánh kiến tức là thấy biết chân chánh hay thấy biết đúng đắn. Dĩ nhiên, sự thấy biết này đến từ sự tư sát mà ra, nó đến từ sự quán sát suy tư mà ra. Đức Phật Ngài cho biết có rất nhiều trường hợp có chánh kiến những pháp thiện chưa sanh được sanh những pháp thiện đã sanh rồi được tăng trưởng, và những ác pháp chưa sanh không sanh và những ác pháp đã sanh rồi thì bị tàn lụn hay đoạn diệt đi. Nhưng cũng trong bài kinh đó Đức Thế Tôn Ngài dạy những đoạn rất thú vị, thí dụ Ngài dạy chúng sanh có chánh kiến sau khi thân hoại mệnh chung thì sanh về cõi an lạc, và chúng sanh có tà kiến sau khi thân hoại mệnh chung sanh vào cõi khổ. Do hiểu sai chấp sai chúng sanh sanh vào đọa xứ và do hiểu đúng thấy đúng chúng sanh sanh vào cõi an lạc.

Đức Phật Ngài đưa ra hai trường hợp chúng ta cũng tìm thấy trong bài kinh đó là Đức Phật dạy người nào có chánh kiến thì nhìn vấn đề một cách khéo nhìn - yonisomanasikāra -  khéo tác ý hay như lý tác ý hay khéo suy tư. Người nào có tà kiến thì người đó rơi vào tình trạng không khéo suy tư không khéo tác ý nhìn mọi vấn đề thiển cận hơn. Nếu chúng ta nhìn vấn đề như lý tác ý thì chúng ta không rơi vào trong trường hợp nhìn vấn đề một cách tiêu cực quá hay là nhìn vấn đề với ác tâm ác ý về những người khác hay là chúng ta nhìn vấn đề một cách không thiện xảo khiến mình phải buồn phiền. Rồi nếu chúng ta có được như ý tác ý thì chúng ta nhìn vấn đề một cách tích cực hơn. Thì như vậy ở đây chúng ta thấy một khía cạnh khác là năng lực của sự quán sát.

Cũng trong bài kinh đó Đức Phật Ngài nói là: "phàm có tư tâm sở hay có chủ tâm tạo tác nào, có ướt nguyện nào, có pháp hành nào mà đi với chánh kiến thì đều dẫn đến an lạc. Nếu một người có cái nhìn đúng thấy đúng thì cái ướt nguyện mà người đó có cái hành động mà người đó có đều được hướng theo hết tại vì nó ảnh hưởng bởi chánh kiến." 

Chúng ta chỉ trích một đoạn như vậy từ đoạn đó thì chúng ta thấy được sức mạnh của suy tư và quán sát có ảnh hưởng lớn đến đời sống của chúng ta. Về điểm này rất nhiều người không coi quan trọng lắm, ví dụ như khi họ muốn hành thiền hay họ muốn tu tập một pháp gì cao siêu hay  muốn thay đổi đời sống của họ thì họ chỉ muốn có ai đó cho công thức nhỏ và từ công thức nhỏ đó họ có thể có những thành tựu lớn nhưng họ lại coi thường giá trị của chánh kiến giá trị của sự tinh sát. Nói một cách khác là họ lười suy nghĩ họ lười tìm hiểu và do lười suy nghĩ lười tìm hiểu này cuộc sống có nhiều trì trệ nhất định. 

Chúng tôi có một vài dịp được sống và được tiếp xúc với những vị hoan hỉ ở trong Phật Pháp, họ hoan hỉ với cái gì họ đang làm. Cái chung chung mà chúng tôi nhận thấy nhất là những vị xuất gia sống trong chùa những vị đó đều có một khả năng chung đó là khả năng tư sát, khả năng quán sát và suy tư. Khả năng quan sát và suy tư một cách thiện xảo một cách đúng thì nó làm cho con người tốt hơn.

Trong tất cả mọi trường hợp tính hời hợt phần lớn tạo nên cái nhìn sai và phiến diện. Người ta nói rằng con người sống ở thế kỷ này chúng ta quá bận rộn do quá bận rộn chúng ta ít có thì giờ để sống và sống có chiều sâu thường là chúng ta sống hời hợt. Trong sự hời hợt chúng ta suy nghĩ vội vàng kết luận vội vàng và chúng ta dễ tạo ra những lầm lẫn từ sự vội vàng đó. Nghe lầm ắt nói lại lầm, một thông tin chúng ta ghi nhận được chúng ta cũng không có thì giờ để phân tích cặn kẽ để tìm hiểu xem nó có chính xác nó có tốt hay xấu, con người mà sống hời hợt quá không chịu suy tư và quán sát thì rất dễ rơi vào trong những trường hợp tự mình biến mình thành nạn nhân của những tin đồn của những lời đàm tiếu. Đôi khi chúng ta không đủ kiên nhẫn để lắng nghe người khác, con người mà thiếu sự suy tư và quán sát đôi khi chúng ta sống giống như sống ở trong một văn phòng chúng ta không có thì giờ để đào sâu để thẩm thấu. Bởi vì sao vậy? Bởi vì cuộc sống hời hợt quá. 

Đức Phật dạy về chữ tư sát ở đây chúng ta nên hiểu ở trong rất nhiều góc cạnh như hồi nãy chúng tôi có nhắc một đoạn trong Tăng Chi Bộ kinh Đức Phật Ngài nêu lên 6 điểm và chúng ta phải nhìn đặt lại giá trị của sự tư sát, bởi vì Đức Phật Ngài nói do có chánh kiến người đó có như lý tác ý, không có chánh kiến người đó không có như lý tác ý, do có chánh kiến thì phần lớn những tư tâm sở tức là chủ tâm tạo tác cái ước muốn v.v của chúng ta  đều đi theo cái nhìn đúng đó, do có chánh kiến khi thân hoại mệnh chung chúng sanh sanh vào cõi an lạc bởi vì thấy đúng thọ trì đúng.

Bài kinh này riêng đoạn đầu đã cho chúng ta thấy giá trị của  pháp học, đó là khả năng suy tư miễn là sự suy tư đó dựa trên lý nhân quả. Đức Phật Ngài giảng pháp Ngài nêu rất rõ, Ngài cho chúng ta biết giữa thân hành, khẩu hành, và ý hành của mình nhân quả đời này và đời sau người này đạt đến sự tư sát một cách chân chánh một cách hiền thiện.

Bây giờ chúng ta nói sang một khía cạnh khác sau đó chúng ta trở lại toàn bộ đề tài này.

- 2. sức mạnh của sự tu tập 

Sức mạnh của sự tu tập, một người bình thường có thể nói "mình chịu khó đọc kinh sách nghe pháp như vậy mình cũng tu rồi mình đâu cần tu gì khác" Nhưng sự tu tập ở đây Đức Phật Ngài đề cập đến khả năng tôi luyện. Khả năng tôi luyện khác hơn là chúng ta hiểu bình thường ở trong đời sống. Để nói về khả năng tôi luyện này chúng tôi cũng nói đến 5 pháp triền cái hay là 5 pháp ngăn ngại trong đời sống chúng ta, từ 5 pháp triền cái này chúng ta sẽ hiểu được một phần giá trị của sự tu tập. Theo Đức Phật thì tâm của chúng sinh đặc biệt ở trong dục giới có 5 pháp làm cho chúng ta thường bị xáo trộn bị phiền não:

 1. Tham dục: Tham dục là cấu uế của tâm làm mất đi khả năng tỉnh táo của mình, chúng ta đuổi bắt những gì mà mình thích, 

2. Sân hận: Sân hận là sự bực bội khó chịu và căng thẳng, điều hơn nữa là sự bực bội khó chịu đó tồn đọng tiếp tục ở trong lòng của chúng ta tạo cho chúng ta trạng thái nóng nảy bực bội không được an lạc. 

3. Hôn trầm thụy miên: Hôn trầm thụy miên hay hôn thụy hôn trầm là trạng thái dã dượi buồn ngủ uể oải làm chúng ta mất đi sự phấn chấn mất đi khả năng tỉnh táo bén nhạy với hoàn cảnh.

4. Hoài nghi: Hoài nghi là trạng thái lưỡng lự phân vân. Sự lưỡng lự phân vân là tại vì một phần do thói quen, một phần do chúng ta không biết được vấn đề chúng ta thiếu sự quyết định một cách nhanh chóng. Thì sự lưỡng lự phân vân làm cho chúng ta ngần ngừ chập chờn không làm được quyết định gì hết. Chúng tôi lấy ví dụ, trường hợp một người lái xe tới ngã rẽ nhưng  không làm quyết định rẽ bên này hay bên kia, ở bên Mỹ tại những ngã rẽ họ thường để mấy thùng phi bên trong đựng nước khi nào người ta lỡ đụng vào thì thùng nước bị vỡ ra nó giảm đi độ công phá do sức mạnh đụng và người ta vẫn đụng rất là thường tại vì người ta không biết là chạy bên này hay chạy bên kia rốt cuộc không chạy đi đâu mà đụng vào giữa. Thí dụ này chúng ta cũng hiểu được một phần của sự lưỡng lự phân vân.

5. Sau cùng trạng thái giao động gọi là trạo hối hay phóng dật, sự giao động  là tâm tư yếu tán loạn.
Thì 5 pháp là; tham dục, sân hận, hôn trầm, hoài nghi, phóng dật là 5 pháp ngăn ngại. Khi chúng ta nhìn vào 5 pháp này chúng ta sẽ thấy được tại sao tâm tư của chúng ta thường không an lạc, bởi vì sanh làm người làm chúng sanh ở cõi dục giới nhất là chúng sanh không có đoạn tận phiền não, thì 5 pháp này luôn luôn quấy nhiễu và tạo cho chúng ta những sự nhiệt não ở trong lòng. Để đối trị 5 pháp này không đơn giản chỉ suy tư hay chỉ học hay nghiên cứu mà chúng ta có thể đoạn tận 5 pháp này. 

Bởi vì ở đây Đức Phật Ngài cũng giảng rất rõ tường tận, lấy ví dụ như hành giả ngồi niệm hơi thở hay hành giả tu tập một đề tài nào đó thì trong sự tu tập đó hành giả phát triển 5 chi phần trong kinh gọi là Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc và Định.

 - Tầm là khả năng hướng tâm. Chúng tôi lấy ví dụ là mình quen cái gì thì mình dễ hướng tâm đến cái đó, nếu quí Phật tử chưa quen với paltalk buổi sáng vào  thấy mình bị chi phối bị lấn cấn nhiều thứ rồi mình mới từ từ mới vào trong paltalk được, còn một người ngày nào cũng vào quen paltalk chúng tôi lấy trường hợp như bản thân của chúng tôi và các vị giảng sư hay các vị trong ban điều hành nếu máy computer đã mở sẵn thì chỉ cần nửa phút là có thể vào trong room một cách dễ dàng và rất dễ dàng để tập trung vì công chuyện đã quen thuộc với chúng ta. Thì nói cách khác, nếu chúng ta thực hành cái gì lâu ngày bền bỉ chúng ta rất dễ hướng tâm đến, một hành giả hành thiền về hơi thở lâu ngày quen  để ý như hành giả vừa ngồi xuống là có thể tập trung vào hơi thở ngay, trong khi một người không quen họ phải mất thời gian dài chừng vài phút mới bắt đầu hướng tâm đến hơi thở được và khả năng trở về với hơi thở, khả năng hướng đến hơi thở, khả năng hướng đến đề mục và hướng một cách nhanh chóng chúng ta gọi là tầm. 

- Tứ là khả năng áp sát dán sát vào đối tượng. Có khi mình có khả năng hướng đến tức là mình muốn nghĩ về hơi thở thì mình nghĩ vào hơi thở hay là mình muốn tập trú vào cái gì thì mình tập trú được liền nhưng mình không có khả năng bám sát, trong kinh thí dụ Tầm giống như con ong bay hướng về cái hoa nhưng mà Tứ là khả năng con ong bay chung quanh cái hoa để quan sát, Tứ ở đây là khả năng cột tâm hay quán sát hay hướng tâm để hoà quyện hay bám sát đối tượng tức là Tứ.

- Hỉ là trạng thái hân hoan, hỉ này là hỉ của định lực không phải hỉ bình thường. Trong kinh lấy ví dụ hỉ giống như một người khát nước mà thấy được ly nước.

- Lạc trạng thái Lạc ở đây được hiểu như một sự hưởng cảnh hay thật sự là an lạc do sự hân hoan do sự tu tập mang lại. Thật ra lạc và hỉ đến từ khả năng do cách ly những  phiền não. Chúng tôi lấy ví dụ, nếu chúng ta thường bị chi phối bởi tham dục hôn trầm thụy miên thì chúng ta không có được trạng thái nhẹ nhàng hân hoan như pháp hỉ và an lạc chúng ta nói ở đây. 

- Định là khả năng tập trung nó chịu trách nhiệm cho độ bền nghĩa là con người tâm của chúng ta thường buông cái này bắt cái kia gìống như con khỉ truyền cành, nhưng định là khả năng chúng ta có thể tập trú một cách bền bỉ liên tục từ chập tư tưởng này qua chập tư tưởng khác cùng một đối tượng chúng ta gọi là định.

Thì 5 chi phần này đối trị 5 triền cái:

 - Ví dụ Tầm là khả năng hướng tâm thì đối trị được hôn trầm.

- Tứ, khả năng chi thiền tứ thì đối trị hoài nghi là sự bám sát lấy đối tượng cho nên nó diệt trừ được. 

- Hỉ sự hân hoan thì đối trị sân. 

- Lạc là sự hưởng cảnh thì đối trị trạng thái giao động.

 - Định hay là giác tâm thì đối trị tham dục. Tham dục khiến chúng ta chạy đuổi bắt cái này phan viên cái kia nhưng mà riêng về định thì nó khiến chúng ta ở yên một chỗ, an trụ một chỗ. 

Những chi phần này không phải chúng tôi đưa ra ở tại đây làm cho qúi vị thấy khác về giá trị của sự tu tập. Sự tu tập ở đây tức là khả năng có thể giảm thiểu, có thể bào mòn, có thể đoạn diệt những phiền não. Và phiền não được liệt kê ở tại đây rất căn bản,. Như chúng ta nói tham dục, sân hận, hôn trầm, hoài nghi, phóng dật là những pháp ngăn ngại nhiều thứ trong đời sống và chỉ có việc phát triển những chi thiền Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc, Định mới đối trị được 5 phiền não này.

 Khi chúng ta nhìn vào 5 chi thiền Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc, Định chúng ta hiểu là những pháp này cần được tu tập mới có được chứ không đơn giản là sự suy tư  sự quan sát mà thôi. 

Sự tu tập ở đây cái là gì đó đi ngược lại với thói quen của mình. Thói quen của mình là bình thường mình hay tìm cái này, mình thích tìm cái kia, bây giờ mình không còn đi tìm cái mình thích mà mình ngồi xuống tập nhìn vào hơi thở tập nhìn vào cảm thọ của mình, mình sống ngược lại. Hay  thói quen của mình thông thường mình hướng ngoại ,mình thích vô internet, mình thích đọc báo, thích nghe radio, thích nói chuyện phiếm bây giờ mình ngồi xuống tập trung vào hơi thở của mình. Hoặc giả thông thường tâm của chúng ta có thói quen là phản ứng bây giờ mình tu tập rồi mình sống ngược lại thói quen thay vì mình phản ứng mình chỉ lẳng lặng nhìn nó và sau đó trở về lại với hơi thở. 

Thì sự tu tập này là sức mạnh thứ hai có tánh cách làm chúng ta thay đổi đời sống nội tại của mình.

Trong bài kinh Phước Nghiệp Sự  về ba pháp căn bản làm phước là bố thí, trì giới, tu tiến thiền định. Thì pháp thứ ba nên đưọc hiểu là những pháp hành giúp chúng ta tăng trưởng các chi thiền và giảm thiểu các triền cái, chúng ta gọi là sự tu tập. Và muốn giảm thiểu những pháp triền cái này đòi hỏi sự tôi luyện chứ không có đơn thuần suy tư mà được. Chúng tôi lấy 2 thí dụ mình nhìn rất rõ đó là định và niệm. Định tức là khả năng tập trung, tập trung liên tục bền bỉ trên một đối tượng chúng ta gọi là định. Niệm ở đây là khả năng quán sát cho pháp đó rõ ràng.

Bài kinh này chỉ nói có hai đoạn là sức mạnh của tư sát tức là sự suy tư và quán sát và sức mạnh thứ hai là sức mạnh của sự tu tập. Chúng tôi muốn dùng cơ sở của 2 bài kinh, một bài kinh hồi nãy chúng tôi nói trong Tăng Chi Bộ kinh là Đức Phật Ngài nói do chánh kiến nên chi những thiện pháp chưa sanh được sanh những thiện pháp đã sanh thì được tăng trưởng, ác pháp nào chưa sanh không sanh những ác pháp đã sanh bị đoạn diệt. Tức là chánh kiến hổ trợ cho chánh tinh tấn. Nhưng mà rồi Đức Phật Ngài đi xa hơn cũng trong bài kinh đó Đức Phật Ngài dạy do có chánh kiến nên một chúng sanh có tư tâm sở hay có chủ trương tạo tác hay có ướt nguyện thì tư tâm sở đó ướt nguyện đó đều là hiền thiện hết. Do có chánh kiến sau khi thân hoại mạng chung tâm thái của chúng ta nhờ có chánh kiến nó sẽ hướng đến cõi an lạc, do đó chúng ta sanh vào cõi an lạc, tuy nhiên đó là sức mạnh của tư sát. Sức mạnh của tư sát là mang lại chánh kiến mang cái hiểu rõ nhân quả. 

Nhưng với đoạn thứ hai Đức Phật Ngài dạy sức mạnh của sự tu tập thì chúng ta nghiệm cho kỹ về 5 triền cái và sự đối trị 5 triền cái:

 Tứ đối trị hoài nghi
Hỉ thì đối trị sân hận
Lạc thì đối trị trạo hối
Và nhất tâm (Định) thì đối trị tham dục.

Những pháp Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc, Định này do sự suy tư mà ra và nó cần sự tôi luyện, càng tu tập chúng ta càng có được 5 pháp này. Ví dụ như Phật tử hàng ngày có thể ngồi thiền  trong một giờ hay trong những khoá thiền hành giả sẽ thấy  5 pháp này dần dà sẽ trở thành một cơ sở của sự tu tập, khả năng hướng tâm, khả năng áp chặt tâm trên đề mục, khả năng hân hoan, khả năng thẩm thấu an lạc, và khả năng tập trú thì 5 khả năng là Tầm Tứ Hỉ Lạc Định có thể giúp cho chúng ta giảm thiểu từ từ hoặc giả là bào mòn đi 5 triền cái mà chúng tôi vừa kể. 

Thì ở đây, chúng ta nhìn thấy 2 sức mạnh tuy khác nhau nhưng lại bổ xung cho nhau và cũng có thể bình thường chúng ta chỉ thấy một sức mạnh chúng ta nghĩ là đủ nhất là sức mạnh của sự thấy biết trên quan sát của suy tư.

Ở trong một bài giảng khác Đức Phật Ngài cũng dạy 3 loại trí: Trí do nghe do học là trí văn, do suy tư gọi là trí tư,  trí tu là do tu tập. Hai loại trí đầu  có thể nằm ở trong sự quán sát và trí tu nằm ở trong sự hành thiền. 

Vì vậy, Đạo Phật nói đến pháp học và pháp hành, cái sức mạnh lớn là sức mạnh của tư sát sức mạnh của sự tu tập. Biết suy tư là một nghệ thuật sống, nói đến đoạn này chúng tôi nhớ Hermann Hesse một văn hào đã dựng lên tác phẩm rất nổi tiếng là Siddhartha được dịch là câu chuyện giòng sông, ở trong đó có đề cập đến một trong khả năng của vị Samon mà Tất Đạt từng kể cho Kiều Lan nghe đó là khả năng nhịn đói và khả năng suy tư, suy tư ở đây không phải là miên man mà suy tư ở đây là khả năng quán sát.

 Và trong Kinh Đại Bát Niết Bàn của Trung Bộ Kinh, Đức Phật Ngài nói là "do không biết Tứ Diệu Đế mà Như Lai và các con đã luân hồi từ vô lượng kiếp" thì một cách nhẹ nhàng chúng ta dễ dàng nhận thấy con người của chúng ta đã có quá nhiều tiền kiếp để lại những thói quen và những thói quen nhất định những thói quen đó khiến cho chúng ta tiếp tục trôi lăn trong khổ ải. Và sự tu tập là sống ngược lại với thói quen, tập quán, hay phong tục. Cái thói quen coi vậy nó không dễ sợ bằng cái thói quen của thường thân y duyên, thói quen của bản thân.

Thì bài kinh này nhắc chúng ta 2 sức mạnh; sức mạnh của tư sát và sức mạnh của sự tu tập. Một người hiểu giá trị của hai sức mạnh này thì biết sự khai dụng sức mạnh này đúng thời đúng lúc, biết như vậy sẽ giúp chúng ta rất  nhiều trong đời sống.

Để kết thúc buổi giảng bài kinh này chúng ta có thể nói như vầy là, riêng với một người tu tập thì pháp học cũng quan trọng và pháp hành cũng quan trọng, khả năng tư sát quan trọng và nỗ lực tu tập cũng ảnh hưởng lớn đến con người của mình. Rất nhiều trường hợp chúng ta chuyển hóa nội tâm chúng ta thay đổi nhờ chánh kiến, nhờ sự hiểu biết chân chánh, nhờ sự tư sát nhưng cũng phải nhấn mạnh thêm một điểm là hầu hết tất cả chúng ta đều cần đến sự tu tập phát triển những chi thiền như là Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc, Định để làm giảm thiểu sự chi phối của 5 triền cái. Được như vậy chúng ta an lạc, được như vậy thì chúng ta tăng tiến, và được như vậy thì chúng ta sẽ nhận ra cái giá trị thật sự của giáo pháp. 

Nếu chúng ta chỉ nhận thấy sức mạnh của tư sát thì chúng ta quá nặng về pháp học chúng ta quá nặng sự suy tư,  nhưng chúng ta không có đủ điều kiện phát triển định và niệm, nhờ vào sự hiểu biết giá trị của sự tu tập và áp dụng sự tu tập do đó chúng ta có khả năng tăng trưởng Định và Niệm. Nói ngôn từ  thì nó xa xôi lắm nếu chúng ta có hành thiền thì một vị thiền sinh ngay trong sơ cơ cũng đã cảm nhận điều là chúng ta tu tập bởi vì chúng ta thiếu hai chất liệu quan trọng là Định và Niệm, Định tức là khả năng tập trung, Niệm tức là khả năng ghi nhận quán sát hay là chánh niệm đối với việc gì đang xảy ra một cách rõ ràng một cách liên tục một cách bền bỉ. Thì hai cái Định Niệm này không đơn giản do sự suy tư mà ra được, cả hai cái Định Niệm này nó phải do sự tu tập mà ra, thì chúng ta thấy cái lợi thế của cả hai sức mạnh này và từ đó chúng ta phát triển đúng mức ./. 

Tuesday, May 10, 2016

Như thế nào để không cảm thấy cô đơn khi thiếu vắng tình thương

Câu hỏi: Một người từ thuở nhỏ cho đến lớn không có được tình thương của cha mẹ vì không sống gần cha mẹ đời sống như vậy rất lẻ loi cô đơn thì làm thế nào để tâm hồn được an lạc khi cảm thấy cô đơn và lẻ loi ?

Câu hỏi được giảng trong lớp Diệu Pháp thời giảng kinh Pháp Cú 2003 kệ ngôn 110 , Minh Hạnh chuyển biên 

TT Giác Đẳng: Thật ra đời sống cảm xúc đối với một số chúng ta nó là một nỗi ám ảnh rất dễ sợ. Nhưng thật ra chỉ cần có một số thái độ tích cực thì chúng ta sẽ giảm bớt đi cảm giác đó rất nhiều, nó có thể thay đổi. 

Có thể nói rằng đó là trường hợp rất tự nhiên khi tuổi thơ của chúng ta thiếu vắng tình thương, sự chăm sóc và sự quan tâm của người lớn. Dĩ nhiên, tùy vào cá tánh của mỗi người, nhưng một trong những đề nghị thường có hiệu quả nhất đó là sự tích cực trong đời sống hàng ngày của chúng ta trong việc an ủi cứu giúp cho kẻ khác. 

Không có điều gì hữu hiệu cho chúng ta bằng khi chúng ta cô đơn thì chúng ta hãy giúp những người khác bớt đi nỗi cô đơn của họ, khi chúng ta cảm thấy lẻ loi thì chúng ta hãy mang sự ấm cúng cho người khác.

Có một cái gì rất kỳ lạ ở trong đời sống của chúng ta là chúng ta thường có khuynh hướng để giải quyết những vấn đề của mình nhưng càng lúng túng vấn đề của mình thì chúng ta càng tập trung vấn đề của mình thì chúng ta lại không giải quyết được nhiều thay vào đó chúng ta đi giải quyết vấn đề cho người khác, thấy như vậy vấn đề của chúng ta tự lành lặn đặc biệt là trên phương diện cảm xúc. 

Chúng tôi biết có rất nhiều người vượt qua những trở lực tinh thần của họ, lấy ví dụ như là họ có làm một việc gì đó mà họ hết sức hối hận bứt rức. Chẳng hạn lúc cha mẹ còn sinh tiền họ không chăm sóc cha mẹ được tốt và thay vì chỉ ngồi đó để hối hận thì họ bắt tay vào để giúp đỡ cho những người khác làm thế nào để có thể sống một đời sống xứng đáng hơn có hiếu hạnh hơn. 

Về điểm này chúng tôi nhận thấy họ vượt qua sự hối hận của họ rất hữu hiệu là bởi vì họ đã có thể giải quyết vấn đề mà không bị ám ảnh của chủ thể ám ảnh chủ quan của đời sống. 

Khi chúng ta giúp đỡ người khác để giảm bớt nỗi cô đơn hay giảm bớt sự đau khổ thì chúng ta được khách quan cái nhìn sáng suốt cái nhìn tỉnh táo và trong cái nhìn này nó sẽ tự nó giúp chúng ta chuyển hóa được xúc cảm nội tại. 

Hầu như Đạo Phật nói nhiều về tinh thần đại bi, nói nhiều về sự phục vụ cho tha nhân nhưng chúng ta đừng quên rằng phục cho tha nhân nó không phải là lý tưởng đơn thuần mà phục vụ tha nhân nó còn có khả năng chuyển hóa đời sống nội tại của mình nữa. 

Rất là nhiều việc trong đời sống hàng ngày chúng ta càng cố gắng để nghĩ đến nó thì nó càng sa lầy nó càng trì trệ, thay vào đó chúng ta hãy tạm quên đi cái chuyện "là tôi" "của tôi" "vì tôi" mà chúng ta hãy bắt đầu làm việc gì đó cho người khác và vì người khác. 

Thì những điểm này sẽ có kết quả rất tốt. Nhưng đó là một đề nghị ,chúng tôi mong rằng đề nghị có thể giúp cho qúi đạo hữu được 

Saturday, April 23, 2016

Kinh Điềm Lành - Tâm Không Động

Kinh Điềm Lành - Khi xúc chạm việc đời tâm không động 

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Bud dhadhama ngày 10-5-2015, 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài kệ sau cùng của kinh Điềm Lành nói về 4 chi pháp:

Khi xúc chạm pháp thế gian
Tâm không động, không sầu
Tự tại, và vô nhiễm
Là phúc lành cao thượng

Bài giảng hôm nay nói về pháp "Tâm Không Động"

Khi  nói: Tâm tiếp xúc với pháp thế gian không bị giao động, không sầu muộn, không bị ràng buột, không bị dính mắc là  những điềm lành tối thượng. Những pháp Không Động, Không Sầu, Tự Tại, Vô Nhiễm đều liên hệ đến câu đầu " khi xúc chạm pháp thế gian". 

Pháp thế gian là Loka Dhamma.

 Loka Dhamma được hiểu theo ý nghĩa bình thường nhất của cuộc sống. Trong thế gian này khi sanh ra đời và trở nên  thành viên của xã hội trong cuộc sống chúng ta thường phải đối diện với 8 pháp và 8 pháp gọi là Loka Dhamma là 8 pháp thế gian hay 8 ngọn gió đời: khen, chê, vui, khổ, đặng, thất, vinh, nhục.

Khen, chê:  Trong cuộc sống, chúng ta mỗi người đều có một ý kiến. Một ca sĩ hát hay, một người làm việc tốt cũng có người phê bình. Việc chê hay  khen thường vượt ngoài lẽ thật, Đức Phật Ngài dạy ở trong đời này hiếm có những bậc thiện trí, chỉ có bậc thiện trí mới thật sự khen cái đáng khen, chê cái đáng chê. Phần đông người ta khen chê theo xu hướng, dựa theo thói thường, ai khen mình cũng khen, ai chê mình cũng chê theo  hay hoặc giả có những người lập dị họ ưa khen ưa chê.

Cuộc sống của một người  trưởng thành, càng trưởng thành và càng từng trải nhiều và đặc biệt có được Pháp của Phật dạy dần dà chúng ta ý thức được rất rõ  sống không thể đặt quá nặng sự khen chê và cũng không nên để lời khen chê đó giao động trong đời sống. 

Người ta có khuyên chúng ta như vầy "Một trong dấu hiệu của người trưởng thành là người có thể có đủ khả năng bình thản trước lời khen tiếng chê". Không phải mình hoàn toàn dửng dưng nhưng ít nhất trong một căn bản nào đó mình hiểu khen và chê vốn là sự thường. Ở trong xã hội Đông Phương của chúng ta đôi khi người ta không thẳng thắn, người ta rất tế nhị, món ăn dở cũng khen ngon, cái gì không hay cũng khen là tuyệt. Chính vì vậy đôi khi lúc nào đó chúng ta nhận được một lời khen chúng ta cảm thấy rất giao động, nhưng kỳ thật thì đó là lẽ thường.

 Ví dụ, khi qúi vị chuẩn bị một món ăn cho người thân của mình với rất nhiều tâm huyết để làm món ăn đó, nhưng khi ăn món ăn đó người thân không thích ăn canh, hay không thích ăn rau sống, hoặc giả họ không thích ăn cay họ gặp món ăn mình nấu họ chê, thì không nên vì vậy mà buồn bởi vì đó là lẽ tự nhiên của đời sống.

 Cái vuông tròn, dài ngắn, rộng hẹp, thế này thế kia có thể nói chúng ta thường có hàng trăm lý do để khen để chê, và đặc biệt trong một xã hội có nhiều ý kiến, người ta nói "bá gia bá tánh." 

Nên các bậc hiền trí và dĩ nhiên đối với Đức Phật dạy thì một người có đủ sự tỉnh táo trong cuộc đời này người đó không để tâm mình quá vui trước lời khen của người khác và cũng không để tâm mình bị quá giao động trước lời chê của người khác. Khen chê là pháp của thế gian.

Ở đây, Đức Phật Ngài cũng nói đến Pháp khác gọi là "vui khổ". Vui khổ có nghĩa giữa cuộc đời này không phải cái gì cũng như ý mình. Dĩ nhiên, những người có phước thì họ có đầy đủ  nhiều niềm vui hơn nguời khác, người không có phước bị khổ, nhưng chúng ta đừng quên rằng cái vui cái khổ  chỉ là một phần bé nhỏ của sự tự nhiên của cuộc sống.

 Lấy ví dụ, chúng tôi sống ở thành phố Houston có những ngày hè rất nóng, nóng đến đỗi từ trong nhà bước ra xe mình ngán ngẩm, và có những ngày rất lạnh, lạnh tê tái, lạnh mà máy sưởi trong phòng mở mình vẫn còn cảm thấy lạnh trong xương. Đó là cái vui và cái khổ của cuộc đời sống. 

Đôi khi bên cạnh khen chê thì cái vui khổ làm tâm của chúng ta giao động và không giao động, nhưng mình phải hiểu cuộc sống là như vậy. Cái vui cái khổ chúng ta thấy ở giữa cuộc đời này hiển hiện đến đỗi chúng tôi gặp rất nhiều người  từ Việt Nam sang Mỹ,  VN nghe nói bên Mỹ vui nhưng qua đây thấy người ta làm việc nhiều thì thấy tội nghiệp cho những người bên này. Ở Việt Nam tuy cực, tuy đôi khi tiền bạc không bằng bên Mỹ nhưng sự nhọc nhằng làm việc đầu tắt mặt tối từ sáng đến chiều thì không bằng người ở bên Mỹ. 

Như vậy cũng là một thí dụ cho chúng ta thấy người nghèo cũng khổ, người giàu cũng khổ, người cô đơn có cái khổ của người cô đơn, người đông bà con có cái khổ của người đông bà con, đôi khi mình thấy người ta có bà con đông đảo thấy vui sao mình không được phước như vậy  nhưng khi có bà con đông rồi có nhiều trở ngại, bà con đông có nhiều vấn đề. Do vậy, trong cuộc sống người ta nói "sống trong chăn mới biết chăn có rận" mình sống trong hoàn cảnh nào mình biết cái vui cái khổ hoàn cảnh đó.

Một dấu hiệu cho chúng ta thấy một người tương đối được hạnh phúc đó là không đặt nặng về vui khổ nhiều quá. Khi vui thì mình thoải mái một chút, khi khổ mình học hạnh kiên nhẫn. Nhưng nếu mình lấy đó làm lớn chuyện, gặp khổ mình giẫy nảy, điều đó về lâu về dài thật sự không có tốt cho mình. Chúng ta phải học kiên nhẫn, phải chịu đựng những cái khổ lớn, phải nhẫn nại. 

Ngài Ajhan Chah có nhắc chư Tỳ Kheo: "Một trong những đặt điểm của đời sống tu là mình phải biết nhẫn nại với cái khổ, cái khổ của sự thiếu thốn, cái khổ của đợi chờ, cái khổ của nóng lạnh, cái khổ của những việc không vừa ý, mình có kiên nhẫn với cái khổ thì mình mới trưởng thành".

Bao giờ cũng vậy, khi chúng ta sống giữa cuộc đời này trước khi mình được tự tại được thoải mái với cái thăng trầm vui khổ của đời sống thì chúng ta phải học hạnh nhẫn nại, hạnh chịu đựng  với cái vất, vả chịu đựng với cái không vừa ý. Chúng ta nhớ Đức Phật dạy "cũng giống như khen chê đời thường thì cái vui khổ cũng là thường, không lấy chuyện đó làm vấn đề cá nhân tại sao tôi bị khổ người khác không bị khổ? hay tại sao chỉ mình tôi bị khổ?" Thật ra nhiều người khổ họ không than và không ai sống trong cuộc đời này được khen mà không bị chê, được vui mà không bị khổ. Chuyện đó là chuyện dĩ nhiên.

Hai pháp kế trong 8 ngọn gió đời là Đặng và Thất. Đặng và thất là được lợi và mất lợi, được một cơ hội đánh mất cơ hội, được lợi lộc không có lợi lộc.

Hai chi pháp cuối cùng là Vinh, Nhục nói về Danh tức là được quyền cao chức trọng, được địa vị và cái mất đi địa vị mất đi quyền cao chức trọng.

Chính thật ra những pháp thế gian này mới nhìn mình cảm tưởng chúng mang tính riêng lẽ, mang tánh cách may rủi hay mang tánh cách hên xui mà nó ảnh hưởng cá nhân chúng ta. Nhưng một người có đủ hiểu biết Pháp mới thấy dù khen chê, dù là vui khổ, đặng thất, vinh nhục là chuyện hiển nhiên của thế gian, hiển nhiên của cuộc đời. Nếu chúng ta chỉ muốn một thứ thì đó là ý nghĩ sai lầm. Không ai trong cuộc đời chỉ có được một thứ. Cũng giống như quả lắc đồng hồ đi về bên phải rồi nó qua bên trái, chứ nó không qua bên phải rồi nó nằm ở giữa và trở lại bên phải, không có chuyện đó. Thì trong cả cuộc đời này những pháp thế gian những pháp khen chê vui khổ đặng thất vinh nhục vốn tự nhiên, vốn phải có và vốn không tránh khỏi. Nên không phải là chỉ có một câu chuyện mà có vô số câu chuyện, thời Đức Thế Tôn còn tại thế nhắc đến khả năng hành xả khả năng giữ tâm tự tại. 

Chúng tôi nhớ hồi còn nhỏ vô trong chùa Sư Trưởng có viết một bài thơ chúng tôi còn nhớ đến bây giờ: 

Bồ Tát tâm tuy sống giữa trần. 
Tâm luôn thanh thoát mọi gian truân, 
khen chê không động lòng trí giả. 
Vui khổ đâu sờn dạ giác chánh. 
Quyền tước mất còn không tủi phận. 
Lợi danh đắc thất chẳng than thân. 
Tâm luôn hành xả trò dâu bể. 
Có thế mới thành bậc thượng nhân.

Một đặc tính của người trưởng thành hay của một vị có tiến bộ trên đường tu tập là nội tâm của người đó không giao động nhiều với những pháp của thế gian. Nếu chúng ta để nó giao động chúng ta sẽ bị chi phối nhiều bị lôi kéo nhiều. Hồi Ngài Hộ Giác còn sống Ngài thường nói với chúng tôi rằng mình đi tu mình không nên để tâm mình giống như cục bột người ta muốn nặn vuông thì vuông nặn tròn thì tròn, ý muốn nói là người ta muốn mình vui người ta khen mình một câu người ta muốn mình buồn họ chê mình một câu như vậy mình dễ bị chi phối. 

Tâm của người nào tương đối trong sự khen chê vui khổ đặng thất vinh nhục ít bị giao động Đức Phật gọi là "Etammaṅgalamuttamaṃ. - đó là dấu hiệu điềm lành dấu hiệu các tường.

Trong đời chúng tôi có gặp một vài người có được tâm như vậy, đi đâu chung có cực khổ một chút cũng chấp nhận mà vui thì cũng vui vừa chừng, có ai khen thì cười một chút và ai chê thì gật đầu chầm ngâm một chút rồi thôi không để tâm mình giao động nhiều, chúng tôi xem đó là một cái đức của sự tu tập. 

Người Trung Hoa có tác phẩm của Lão Tử là Đạo đức Kinh, kinh nói cái đức là cái bản lãnh hàm tàng ở tự thân của mình. Chúng tôi tin rằng cái đức quan trọng của người tu tập là đối với những khen chê vui khổ đặng thất vinh nhục của đời sống tâm mình tương đối tự tại,bình an, tương đối không để bị chi phối nhiều. Muốn được như vậy  chúng ta phải trải qua rất nhiều thứ để tâm không bị giao động, thật ra con người chúng ta là một sinh vật sống rất nặng về thị dục huyễn ngã tức là chấp ngã. Nói mình không chấp ngã tức là mình nói dối, nói mình chấp ngã là mình thành thật nhận rằng mình là phàm phu. Nhưng nếu mình có quán tưởng, có chuẩn bị, có sự hiểu biết, mình có bạn lành thì mình sẽ bớt đi.

Lấy ví dụ, nếu mình có sự hiểu biết thì mình hiểu rằng những điều đó vốn là phải xảy ra, cuộc đời người ta khen mình được thì người ta chê mình được. Cuộc đời có vui thì có khổ, cái gì mình có được thì mình có thể mất được, mình có địa vị có chức phận thì một ngày nào đó mình cũng sẽ mất đi địa vị chức phận, cái đó gọi là khen chê vui khổ vinh nhục đặng thất là pháp thường của thế gian, khi mình hiểu như vậy thì mình phải thường xuyên quán tưởng. Có những pháp quán tưởng giúp cho mình vượt qua những chi phối tại vì mình biết trước, không phải chỉ mình biết trước mà mình biết là nó có tính đối đãi có cái này thì phải có cái kia. 

Phật xưa rằng kiếp nhân sinh,

Lắm điều khổ lụy chẳng dành riêng ai,

Xuân xanh rồi cũng tàn phai,

Thời hoa mộng tựa xuân mai đầu cành

Tấm thân tứ đại hợp thành,

Ốm đau tất bật thường tình xưa nay,

Dù cho thọ mạng ngắn dài,

Cổ kim nào kẻ thoát tay tử thần,

Người thân ly biệt người thân,

Trăm năm bao lượt khó ngăn lệ nhoà,

Mỗi người riêng biệt thiểu đa, 

Rừng mê bể khổ phải qua một mình.

Nếu chúng ta thường tu tập pháp ngũ quán là 5 pháp quán tưởng Đức Phật dạy:

- Không ai trẻ hoài mà không già, đến tuổi nào đó chúng ta phải bị già

- Không ai khỏe mạnh hoài không bệnh,

- Không ai sống hoài không chết,

- Không ai luôn luôn sum vầy với người thân không chịu cảnh sanh ly tử biệt tức là phải chia cách với người thân của mình.

- Và mỗi chúng sanh có nghiệp riêng.

Nếu chúng ta thường quán tưởng những pháp đó chúng ta giảm thiểu đi sự giao động đối với khen chê vui khổ. Nhưng để có thể giảm đi quan trọng là mình thường tự nhắc chính mình tới lúc nó xảy ra rồi thì đôi khi tâm chúng ta bị giao động lắm.

Hồi chúng tôi còn nhỏ mới vào chùa tu mỗi lần bị ai chỉ trích chuyện gì tâm chúng tôi giao động rất nhiều hơn bây giờ, không có nghĩa bây giờ chúng tôi hoàn toàn giải thoát, không phải như vậy, nhưng đỡ hơn tại vì gặp nhiều tiếp xúc nhiều và trải qua nhiều việc thành mình cảm thấy mình bình tâm hơn.

Một ví dụ, qúi Phật tử nào có sinh hoạt ở trong paltalk, qúi vị nhớ một thời có những người thường vào trong các rơom phá phách, họ text chat chửi các vị giảng sư, lúc mới vào sinh hoạt thì cảm thấy buồn nản vì sao mình vô đây với thiện chí đóng góp lại bị chỉ trích. Nhưng sinh hoạt lâu rồi biết chuyện là như vậy đó. Ở đây mỗi người có nick riêng và họ có quyền chửi bới và nếu để tâm chi phối thì không làm việc được. Và một khi tâm mình dửng dưng với chuyện đó rồi thì dần dà nó mất tác dụng người ta không phá nhiều nữa. Đó cũng là một cách để tâm của chúng ta làm quen với khen chê vui khổ chúng ta nhẫn nại nhiều hơn trong cuộc sống. 

Thì ban đầu chúng ta tập tự chế là:

- Gặp tám pháp thế gian khen chê vui khổ đặng thất vinh nhục thì mình cũng khổ nhưng mình tự chế tức là mình không để cho bực bội, mình than vài tiếng, có chuyện mình nói vài câu, nhưng mình không đi quá đà gọi là tự chế. 

- Rồi từ từ chúng ta học hạnh nhẫn nại tức là chúng ta tập im lặng, chúng ta tập nhìn sự vật như vậy, mình tập chịu đựng im lặng với chuyện đó.

- Rồi qua thời gian nhẫn nại chúng ta bắt đầu cảm thấy từ từ đi đến chỗ chúng ta bình thản tức tâm chúng ta thanh thản hơn gặp chuyện đó thấy bình thường.

- Sau giai đoạn bình thản có thể chúng ta khởi lên đại bi tâm tức là thương xót những người như vậy, họ chửi mình nhưng mình thương xót họ vì mình thấy rằng những người đó họ cũng khổ, mình thấy những người đó họ cũng có điểm đáng thương 

Muốn hành được như vậy cũng phải mất thời gian không phải một sớm một chiều mình làm được.

Trong kinh Phạm Võng ghi; Một lần Đức Phật Ngài có một cuộc hành trình dài đi với một đoàn Tỳ Kheo Tăng. Đức Phật và Chư Tăng không phải là bạn bè mà là Thầy trò, bậc Đạo Sư. Đức Phật đi trước Chư Tăng đi một hàng dài sau lưng Đức Phật và tận phía sau vị tỳ kheo có 2 thầy trò người Balamon đi theo, người thầy dùng hết lời để chỉ trích Đức Phật và Chư Tăng, người học trò thì dùng hết lời để ca tụng. Tới chừng đến nơi dừng chân Chư Tăng mới nói hôm nay đi dọc đường có chuyện kỳ lạ có 2 người Balamon đi theo, một thầy một trò,, ông thầy thì miệt thị Đức Phật, miệt thị Pháp, miệt thị Tăng và người học trò thì lại ca ngợi đủ thứ. Đức Phật Ngài dạy rằng:

 "Người có trí khi nghe người ta ca ngợi hay chê bai không để tâm mình chi phối nhiều nên giữ tâm bình tỉnh, tâm thanh thản để có khả năng nhận ra khen và chê hợp lý hay phi lý chỗ nào, biết như vậy thôi nhưng đừng để chi phối chúng ta nhiều."

Phải nói nếu có pháp gì đó mà mình có thể áp dụng Phật Pháp trong đời sống hàng ngày thì đây chính là pháp để chúng ta áp dụng. 

Chúng tôi nhớ Ngài Ajahn Liem có nói: "Đôi khi người tu buổi sáng sớm thức dậy đến tối đi ngủ nguyên một ngày giống như một người đi qua một khu rừng, quan trọng không phải hơn thua, không phải là tự hào, không phải là thế này thế kia với khu rừng đó, khu rừng là khu rừng mình làm sao từ lúc đi vào rồi đi qua khỏi đoạn đường đó tay chân được lành lặn, không sụp hầm sụp hố, không bị gai góc làm trầy sướt". 

Thật ra đời sống tu tập của chúng ta đôi khi đơn giản như vậy, từ sáng cho đến tối chắc chắn chúng ta gặp 8 pháp thế gian khen chê, vui khổ, đặng thất, vinh nhục. Nói cách khác những cái được, cái không được, những cái thích, và không thích xảy ra và làm sao buổi sáng thức dậy có tâm thanh thản buổi tối có tâm thanh thản, buổi tối đi ngủ không để cho lời khen tiếng chê chi phối mình, không để cái vui cái khổ làm bận lòng mình, không để cái đặng danh mất danh, đặng lợi mất lợi chi phối mình như vậy là hoan hỉ, là mỗi một ngày chúng ta đi vào một khu rừng với tâm tự tại, chúng tôi thấy cũng là một cách tu. 

Ở trong cuộc sống này có thể nói rằng có rất nhiều thứ. Nhưng Đức Phật gọi "Dấu hiệu cát tường" là tâm người nào ít bị chi phối ít bị giao động, ít có bận lòng, ít có nặng lòng với những chuyện nhân ngã bị thử những thị phi chuyện này chuyện kia.

Ví như ngọn gió kiên trì 

Gió cuồng tứ hướng dễ gì chuyển lay, 

Tiếng đời chê dở khen hay

Không làm chao động đôi mày trí nhân.

Càng sống càng đi càng làm việc chúng ta mới thấy chuyện khen chê thương ghét bình thường lắm, nếu nghĩ mình làm mình sống cho tất cả mọi người thương mình không ai ghét mình, người ta khen mình không ai chê mình, và mình chỉ vui không có khổ thì ý tưởng đó nông nỗi, nó nông nỗi là chúng ta đòi một thứ mà khó được, cuộc sống nó vốn là như vậy bất kỳ sự việc nào nó cũng phải có những thăng trầm những cái được cái không được

Chúng ta may mắn là con của Đức Phật và may mắn được học Phật Pháp, Đức Phật thường nhắc chúng ta nên biết bản chất tự nhiên của cuộc sống là như vậy, bởi vì nó là như vậy nên không đặt quá nặng, không quá ngây thơ nghĩ mình làm cái gì đó bằng cách này cách khác để mình bảo vệ chính mình.

Thật ra người giàu có nhiều cái được hơn người nghèo, nhưng người giàu có cái khổ của người giàu, những người có tiền thường họ dùng đồng tiền để mua những thứ họ muốn, họ mua cái tiện nghi, mua cái thoải mái, mua cái hàng rào để bao bọc, họ mua tháp ngà để sống trong đó. Khi mua tháp ngà sống trong đó nghĩ mình có tiền thì phải được như vậy nhưng rốt cuộc chúng ta sống co rút vào cũng bị chê. Có rất nhiều người giàu có tiền lên núi xây nhà đầy đủ tiện nghi xa rời mọi người nhưng không chắc mình trốn trong một thế giới nào đó trong cõi tháp ngà trong cõi riêng tư mà mình được tự tại hoàn toàn. Nó bớt cái này nhưng cũng có cái kia, con người mình càng sợ khổ, con người mình càng sợ những chi phối thì tâm mình càng yếu đuối rất là mỏng manh, và khi nó càng yếu mỏng manh thì nó dễ bị chi phối. Giống như có luật trớ trêu là có những người họ sợ ma, họ càng sợ thì họ càng cảm thấy bị yếu đuối đến một lúc nào đó họ không sợ tâm bình thường vậy thôi.

Cũng tương tự như vậy nếu cuộc sống mình rất hoan hỉ, rất nhạy cảm, rất mẫn cảm với những chuyện khen chê vui khổ đặng thất vinh nhục thì chuyện đó càng to chuyện càng chi phối mình nhiều. 

Đức Phật Ngài khuyên chúng ta nên sống bằng con mắt hiểu biết tánh tự nhiên của các pháp là như vậy.

Cách giúp chúng ta bớt khổ bớt giao động là mình giúp cho người khác, thấy người khác khổ mình lao xuống giúp cho người khác thì mình sẽ bớt khổ, những người chung quanh khổ minh sẵn sàng giúp thì mình bớt khổ. Và con người mình càng sống càng bảo vệ chính mình, càng sống mà càng muốn được cái này tránh cái kia thì  càng muốn như vậy con người mình đặc biệt càng rất mẫn cảm mà cái mẫn cảm đó cũng làm cho mình khổ. 

Bởi vậy kiến thức của Phật Pháp và sự tu tập mà có chứng minh được gì trong đời sống chúng ta là chúng ta có tiến bộ hay không đó là khả năng của chúng ta đương đầu với những ngọn gió đời, cái chi phối đến mức độ nào nếu mình gặp chuyện vui mình quá vui chuyện buồn thì mình quá buồn, người ta khen mình thì mình cảm thấy quá sung sướng, người ta chê mình thì mình như bị đạp xuống bùn thì như vậy chúng ta chưa có Phật Pháp trong lòng, tâm của chúng ta chưa vững. Cái chính của cuộc sống là không phải mình may mắn được hạnh phúc, cái chính của cuộc sống là mình có hạnh phúc mà hạnh phúc đó ít bị chi phối bởi những cái ở bên ngoài vào. Cũng đời sống nhưng có những người khổ hơn những người khác là bởi vì tâm họ dễ bị chi phối. 

Tuần vừa qua chúng tôi có một tuần lễ tu tập ở chùa, ở trong tuần lễ này có nhiều Chư Tăng giảng pháp và có nhiều Phật tử đến nghe Pháp. Khi chúng tôi đi xuống đài kỷ niệm của Ngài HT Hộ Giác có một Phật tử nói với chúng tôi một câu mà thật sự chúng tôi nghe ở trong lòng hoan hỉ, đạo hữu đó nói 

-"từ trước đến giờ đi chùa nhiều nhưng có đi dự khóa tu học nghe Chư Tăng giảng mới thấy thật ra mình tu theo Phật Pháp mình không có gìn giữ tâm mình cho được an tịnh gìn giữ tâm mình cho được an lạc. thì hầu như cái gì mình học chỉ ở ngoài da thôi"

Chúng tôi nghe lời phát biểu của vị Phật tử trong lòng  rất vui, vui không phải vì người ta khen Phật Pháp mà mình vui, mà vui vì thấy  Phật Pháp đem lại an lạc cho qúi Phật tử. Chư Tăng vị này giảng bài kinh, vị kia giảng bài kinh nhưng trong lời giảng dạy đó cho qúi Phật tử thắm thía một điểm là sự tu tập của người Phật tử chính là chỗ nội tâm của mình, nội tâm đó có được thanh tịnh có được tự tại có được vững vàng không. 

Đức Phật Ngài dạy tâm của người ít có giao động trước những pháp  là dấu hiệu cát tường dấu hiệu tốt đẹp. 

Tưởng tượng mình sống và làm việc với người nào  mà gặp chút gì vui chút gì buồn  cũng khổ sở cũng hí hửng lên thì thật ra  rất là nguy hiểm, tại vì tâm của người đó giống cây rất mềm yếu gió thổi qua thì ngã liền. 

Chúng ta không muốn như vậy, đời sống muốn cho được vững vàng không bị giao động chúng ta cần phải tu tập. Nhưng đôi khi chúng ta không hiểu, chúng ta thấy tại sao trong Phật Pháp thường nói những chuyện bi quan, những chuyện mình không thích nghe như vô thường, khổ, vô ngã, hay sự chết. Khi mình có tu tập mới hiểu những pháp đó là tự tánh hiển nhiên của các pháp. Và  tâm của chúng ta ít có bị chi phối, tâm không bị giao động , không sầu muộn, được thanh thản được tự tại vô nhiễm đó là những dấu hiệu cát tường ./.