Wednesday, March 19, 2014

Tại sao chánh mạng quan trọng với người tu tập?

Hỏi: Tại sao chánh mạng quan trọng với người tu tập?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 18-2-2014, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Pháp Đăng: Nếu nói về sự nuôi mạng. Tại sao chánh mạng quan trọng với người tu tập? Trong sự nuôi mạng, mình làm nghề gì và nghề đó thuộc về thân khẩu hay ý có trong sạch hay không? 

Thí dụ, một người người cư sĩ  làm nghề buôn bán người, buôn bán vũ khí, buôn bán chất độc, buôn bán rượu, làm nghề đồ tể là giết chúng sanh thì thuộc về tà mạng. 

Đối với Chư Tăng, là một người tu thấy được lợi nên có lời nói ướm, nói bợ đỡ, hoặc coi bói coi sao làm mai làm mối v.v...để nuôi mạng xuất gia thì gọi là tà mạng. Do tâm tham khiến cho mình kiếm vật thực bằng cách nói bợ đỡ nịnh hót hoặc là nói xu hướng theo người hoặc đưa tin đưa thư hoặc coi sao coi ngày tháng làm mai làm mối v.v...đó là việc  làm không phù hợp với người tu. Tâm  tham có mặt mình làm việc bất thiện không giữ được giới luật. Do tâm tham có si vô tàm vô quí có phóng dật, si là trạng thái mê mờ không biết nhân quả. Bây giờ mình thấy có 5 quả hiện tại này do 5 nhân quá khứ đưa đến, 5 quả hiện tại bây giờ mình muốn diệt nhân hiện tại thì mình nuôi mạng trong sạch, nuôi mạng bằng chánh mạng là đi khất thực đó là à sự nuôi mạng chân chánh nhất đối với người xuất gia.

Những người cư sĩ không làm nghề buôn bán người, buôn bán vũ khí, buôn bán thuốc độc, làm nghề đồ tể, buôn bán rượu thì Đức Phật gọi là nuôi mạng chân chánh. 

Những việc buôn bán người, buôn bán vũ khí đối với xã hội đối với pháp luật cũng là phi pháp còn đối với Phật Giáo càng nghiêm trọng hơn vì nó làm chúng sanh điên cuồng hoặc là nghề đồ tể là giết hại chúng sanh thì như vậy người làm bằng tâm tham tâm sân tạo nhân đưa đến quả luân hồi trong tương lai.

 Và người tu nuôi mạng không chân chánh thì mình sẽ làm bằng tâm bất thiện. Và khi tâm bất thiện như vậy có si vô tàm vô qúi phóng dật không ghê sợ và hổ thẹn tội lỗi do thân do khẩu. Do khẩu là nói ướm nói bợ đỡ nịnh hót nói vừa lòng người mà không nói đúng Phật Pháp hoặc coi ngày coi tháng coi sao coi hạn hoặc cầm vật của chùa như bông hoa lá những vật của chùa cho người như là trao đổi để lấy vật thực, làm như vậy là không phù hợp. Hoặc vị tu sĩ làm thầy thuốc cũng là không nuôi mạng chân chánh.  Đệ tử của Ngài Xá Lợi Phất thường có sự nịnh người ta để được vật thực đem về, Ngài nói đó là tà mạng. 

Thì chúng ta thấy tại sao việc nuôi mạng chân chánh là việc đi khất thực chánh niệm tỉnh giác để người ta bố thí cúng dường, lòng tin người ta cúng dường để người ta gieo phước duyên là do mình có tâm không tham không sân không si. 

 Đức Phật Ngài nói rằng vật thí tâm thí và đối tượng thí. Đối tượng thí càng trong sạch chừng nào thì phước mình càng lớn. Nếu đối tượng là những người không giới hạnh không sống đúng đắn thì giống như miếng ruộng không được tốt có sỏi đá sâu bọ, miếng ruộng mà gieo hột lúa bị có phèn bị thiếu nước có sỏi đá thì miếng ruộng đó trồng lúa không có kết quả. Thì đối với người tu tập giống như ruộng phước điền mà làm những nghề tà mạng giống như sâu bọ sỏi đá làm cho lúa không cao lớn người này không thực hành đúng nên bị phiền não chi phối. 

Đức Phật nói người thí có giới người nhận có giới thì phước nhiều. Người thí có giới người nhận không có giới hoặc người thí không có giới và người nhận không có giới thì Đức Phật nói trong bài kinh Phân Biệt Cúng Dường nếu cúng dường mà giống như miếng ruộng tốt thì không có sâu thì người nông dân làm ruộng có thu hoặch tốt,  người tu và người bố thí giống như gieo hột giống ngoài ruộng nếu miếng ruộng đó không bị phèn không bị sâu bọ có nước không bị sỏi đá thì miếng ruộng cho nhiều lợi tức thì cũng như vậy người cúng dường có trí tuệ biết bố thí

Trong bài kinh Tế Đàn bố thí, những vị sa môn những vị tu sĩ không bao giờ đến chỗ tế đàn chen lẫn để lấy vật thực. Nên trong lễ tế đàn không có phước phần bố thí cúng dường đến Chư Tăng là những người mà họ tu phúc họ không chen lấn không dành giựt như những người ăn xin.

 Đức Phật có nói một người bố thí cúng dường đến Chư Tăng như vậy cũng không bằng thường thí là Chư Tăng đi bát mỗi ngày bố thí mỗi ngày có phước nhiều hơn là vì nó đơn giản hơn. Thành ra khi cúng dường tứ phương Tăng, hoặc giữ giới, tu thiền chỉ, thiền quán những việc đó đơn giản hơn và nhiều phước hơn.

 Đức Phật Ngài nói do đối tượng tâm trong sạch và đối tượng có tu tập để chấm dứt luân hồi thì phước càng ngày càng trong sạch hơn dễ làm hơn và có phước nhiều hơn. Thì cũng như vậy khi nói đến người nuôi mạng chơn chánh vì đó là một trong bát chi đạo chánh mạng là một trong bát chi đạo nằm trong công đạo.

Đức Phật, Ngài khuyên người tu tập có trí tuệ thấy được nhân quả thấy việc gì làm phù hợp với người tu và việc gì không phù hợp với người tu. Người xuất gia là mô phạm của Chư Thiên và nhân loại thì phải làm gương và không thể làm những nghề giống như người cư sĩ được.

 Khi Đức Phật Ngài trở về thành Kapilavatthu, Ngài cũng đi khất thực và Ngài nói đó là hạnh của Chư Phật. Những vị tỳ khưu sống đời sống xuất gia cũng khất thực để nuôi mạng đó là sự nuôi mạng chân chánh.

Thành ra Đức Phật Ngài nói sự nuôi mạng chân chánh là quan trọng.

Tuesday, March 18, 2014

Năm sự quân bình của các căn ; tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.

Hỏi: Năm sự quân bình của các căn ; tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.

(Bài giảng trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Có một lần trong một trường thiền, một vị Thiền Sư Ngài có dạy chúng tôi một ít về A Tỳ Đàm ở trong chương trình học, lúc chúng tôi nghe pháp thì trong giờ trình pháp có một vị Tăng giảng A Tỳ Đàm theo lời yêu cầu của vị Thiền Sư. Ngày hôm sau một vị Tăng đặt lên câu hỏi rằng tại sao trong trường thiền lại có thêm môn A Tỳ Đàm? Thì Ngài Thiền Sư có lưu ý một điểm "Các anh phải quân bình". Một người tu tập thiền nhiều khi nghĩ rằng phải đi trong im lặng, và trong sự im lặng đó đôi lúc thiếu mà các vị không để ý, như vì thiếu lắng nghe, thiếu nghe pháp và thiếu sự suy tư, thiếu những gợi ý nên chi nó lại làm cho mất quân bình. Mà nếu một vị nào lúc hành thiền mà đọc sách nhiều quá, hay nghe pháp nhiều quá, thảo luận nhiều quá thì cũng là một chướng ngại. Nói chung là những thứ đó phải vừa phải.

Ngày xưa thì chúng tôi cũng quan niệm rằng khi người ta hành thiền thì không nên làm gì khác như là tụng kinh, cứ bỏ qua một bên không làm gì hết, khi hành thiền thì thấy không cần phải lưu tâm một số các việc như quét dọn liêu cốc, nhưng khi ở trong nhà thiền các vị Thiền Sư lưu ý rằng những điều đó có chỗ hữu dụng của nó, để cho có niềm tin vào tam bảo, để củng cố niềm tin của chúng ta được tăng trưởng, và hoặc là trong buổi tụng kinh mà tôn tượng Đức Phật ngồi trong trang nghiêm và Thiền Sư cùng Chư Tăng ngồi đó tụng bài kinh xưng tán Đức Phật, nhất là vào buổi sáng thì chúng tôi vĩnh viễn không thể quên được cảnh đó, cảnh mà buổi sáng tất cả Chư Tăng lên tụng kinh và chúng tôi nhớ ở bên trường thiền thì người ta có tụng kinh sám hối, thành kính đảnh lễ dưới chân Đức Phật , cả hàng mấy trăm người lạy xuống thì cảnh mà các vị qùi dưới chân tượng Phật để tụng xin sám hối nó là ý niệm rất mạnh. 

- Cũng tương tựa như vậy, tinh tấn nghĩa là mình chịu khó siêng năng. Ở trong các trường thiền đặc điểm là cácg trường thiền của Miến Điện hay một vài trường thiền khác ở Mỹ, thì chúng tôi thấy một số qúi vị đã khuyến khích các thiền sinh khi vào xin hành thiền thì cứ đóng tiền rồi hành thiền thôi, nhưng ở một số các trường thiền khác thì chúng tôi cũng thấy họ có một cách cũng hay đó là mỗi buổi sáng sau khi tụng kinh và trước khi Chư Tăng đi khuất thực thì tất cả Chư Tăng đều được phân chia việc làm, vị nào quét dọn tăng xá, vị nào gánh nước cho trong phòng Sư Cả, rồi vị nào chuẩn bị củi lửa để Chư Tăng nhuộm y v.v... thì có khoảng chừng một người chắp tác, việc chắp tác đó thì theo các vị Thiền Sư giúp cho chúng ta tinh tấn làm các công việc. Nhiều khi ngồi thiền lâu và chỉ ngồi không làm gì thì các căn sẽ bị mất quân bình, vì thế công việc được Chư Tăng chỉ định làm gì đó một cách rõ ràng, điều đó có lợi là dạy cho hành giả rất nhiều, và công việc đó không thái quá, ví dụ như mình được giao cho quét sân chùa hay là giao cho lau sàn thiền, v.v...... thì mình chỉ biết công việc đó tập trung vào làm. Các vị thiền sư có kinh nghiệm lâu năm qúi vị thấy rằng công việc đó không có hại cho sự hành thiền mà trái lại còn tăng trưởng sự tinh tấn. tăng trưởng nghị lực. Nên nhớ, năng lực mình không sài thì không sanh khởi được, năng lực nhiều mà chúng ta xử dụng nó thì nó mới phát triển được, như là sức khỏe nếu chúng ta ngồi hoài chúng ta không dùng sức nó yếu đi, chuyện dùng sức nhiều quá thì không nên dùng sức một cách bừa bãi, nhưng vận động tay chân một cách vừa phải thì tăng trưởng sức khỏe.

- Quân bình của niệm, thì rất tế nhị khi hành giả áp dụng trong đời sống. Sự quân bình của niệm không nên hiểu chỉ đơn giản là ngồi mấy giờ đồng hồ tập trung vào hơi thở hay là tập trung vào đề mục mình niệm, đất, nước, lửa, gió. Chánh niệm trong đời sống hàng ngày hành giả áp dụng giống một người hiểu được cách để bảo dưỡng, điều gì cần phải lưu tâm. Chúng tôi lấy ví dụ. thỉnh thoảng có những Phật tử đến chùa có con nhỏ, chúng tôi hỏi qúi vị đó rằng có con nhỏ chắc là bận rộn vì phải để ý chăm sóc con, thì vị đó trả lời rằng dù rất bận rộn trong cuộc sống nhưng vẫn phải có chút thì giờ để ý đến con cái ngay cả trong giờ ngủ, dĩ nhiên là lúc ngủ khi con nhỏ khóc mình cũng phải ngồi dậy. Thì đối với hành giả bảo dưỡng chánh niệm của mình ngoài giờ ngồi thiền thì trong lúc nói chuyện, trong lúc ăn uống, trong lúc làm việc hoặc giả là có sinh hoạt gì đó thì cũng tìm cách này hay cách khác để bảo dưỡng khả năng sống với chính mình chánh niệm chứ không có bận rộn quá rồi đánh mất đi. Ví dụ như một người tu thiền khi gặp người bạn thân lâu ngày không gặp lại, hay có chuyện gì thú vị về thế giới chiến tranh chỗ này chỗ kia bàn, chúng ta gọi là phiếm luận, khi nói chuyện phiếm như vậy một vài giờ thì làm tổn giảm đi rất nhiều chánh niệm, khi đang để tâm vào đề tài phiếm luận tức là vị đó không có bảo dưỡng chánh niệm của mình. Thì yếu tố của Niệm ở đây được hiểu như là một người bắt đầu tu tập thì dĩ nhiên người đó phải ăn uống, phải đi khuất thực hay phải đại tiện, tiểu tiện, phải tắm phải giặt cho mình, hoặc giả ngay cả làm việc nhưng ở trong giờ phút đó thì cũng phải bảo dưỡng chánh niệm của mình tức là làm sao cho Định Lực nó được có, khi nói đến quan niệm sống tức là khi chúng ta có quân bình trong mọi nỗ lực thì có nghĩa là sự trung thành, định lực có nghĩa là trung thành với đề mục đó, trung thành với đề tài đó. 

-  Chúng ta lấy ví dụ Định Lực như là kính hội tụ gom ánh sáng mặt trời mọc, nhưng định lực đó cũng được ví dụ như mình làm chuyện gì đó mà mình rất là kiên tâm bám sát lấy nó không để cho gì khác chi phối đè lên đề mục này, như hành giả tu tập đề mục hơi thở thì hành giả phải đạt đến mức độ lâu ngày luôn luôn tha thiết với hơi thở, hơi thở ra hơi thở vào, những lúc chờ đợi, những lúc rảnh rỗi không làm chuyện gì thì mình cảm thấy tha thiết với hơi thở, khi nào qúi vị thấy rằng say mê với đề mục gì đó, thì tự nhiên trong sự say mê đó tạo ra một cái rất đặc biệt dù là mình có những chi phối lôi kéo khác nhưng chúng ta cũng trở về với đề mục mà đã mình đang say mê, tại vì sao vậy? khi đó cho phép chúng ta trở về lại với cái gì cần phải trở về. 

Cũng có một cách ví dụ về Định Lực về say mê, người ta thí dụ như một con ngựa hay một con bò một con vật không thuần người ta cần cột nó vào trong một cái trụ và rồi cột nó lâu ngày thì nó thuần thục, thì tương tựa như vậy tâm của chúng ta cần cột một chỗ, cái cột đó ban đầu nó là một sự cố gắng nhưng dần dà thì hành giả thật sự an lạc để tìm về chốn bình an, chốn bình an là cái gì mà mình tha thiết cái gì mà đắc tâm nhất với nó, cái đó là khả năng của tuệ lực. Và tất nhiên sự quân bình của định lực nói lên chuyện mình vừa học vừa khám phá vừa nhận thức, vừa hiểu biết, những cái đó đôi lúc người ta nói rằng; ngay cả tình bạn lâu năm sống chung với nhau lâu năm mà không có sự sáng tạo thì tình bạn đó cũng không có mệt mỏi vì nó trở thành bổn phận, thí dụ mình thân thiết với ai hay mình làm công việc gì đó mang tánh cách thủ thuật mà mình không có sáng tạo thì lâu ngày công việc nó cùn đi nó hoá nhàm. 

- Thì sự sáng tạo ở trong Tuệ Lực ở trong hành thiền của hành giả đó là sự khám phá hiểu biết khi mình hành thiền lâu ngày mình tập trung vào đề mục thì mình không phải chỉ là một sự một trạng thái tuệ lực đứng lại một chỗ mà trái lại ở trong sự tu tập đó có tinh tấn có tiến bộ, bên cạnh sự tiến bộ đó thì chúng ta có sự hiểu biết, cái hiểu biết của tuệ nó là khả năng khám phá như chúng ta gọi là khả năng nhận thức, sự nhận biết do kinh nghiệm sự thành thạo. Ngay cả một người làm việc tay chân họ làm lâu ngày thuần thục thì họ có đạt đến cái khả năng mà chúng ta gọi là cái khéo, cái khéo đó là trong thủ pháp của họ, cái thủ thuật hay là trong cách làm tuy rằng nó cũng giống như người khác nhưng nó khéo hơn những người khác, là do người đó làm trong sự ưa thích và cảm thấy chấn phấn, còn nếu mình làm trong sự không ưa thích, không có sự chấn phấn thì không có nhận biết, không có thấy rõ thì lâu ngày thứ đó nó trở thành ngõ cụt bế tắc đi. 

Chúng tôi có một lần nghe một người làm việc ở trong trại gà, họ nói là khả năng lựa trứng mà có phân biệt hai hay ba loại trứng, ban đầu người không có kinh nghiệm thì họ phải nhìn phải cân nhắc, nhưng lưạ lâu ngày thì thành tinh tế đến độ khéo, làm rất nhanh rất chính xác ít có khi sai trật, họ đạt đến mức độ khéo, cái khéo đó là chúng ta có thể nói khả năng sung mãn của tuệ. Chúng tôi thấy rằng thí du như quí vị thích đọc sách mà đi vào tiệm sách chúng ta cầm quyển sách lên đọc vài ba trang sơ sơ, nhìn tựa nhìn tác giả là có thể nhận định sách hay hay la dở, nếu như có người níu áo chúng ta hỏi rằng mình lựa cuốn sách làm sao biết cuốn nào là hay dở, thì chúng tôi phải nói rằng chúng ta có cái bảo đảm, dĩ nhiên là mình phải có khiếu và phải có cái khéo, cái khéo đó chính là căn bản của Tuệ.

Nói tóm lại là năm sự quân bình của các căn tức là quân bình tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, tương đối là rất là tình khiết được tìm thấy trong sinh hoạt hàng ngày. Ý chúng tôi muốn nói rằng sau những giờ hành thiền, thì cuộc sống hằng ngày nó là sự thể hiện làm sao để cho trưởng dưỡng các căn đó, các căn đó không có cái gì thiếu hay là không có cái nào quá căng. 

Ví dụ như có người rất thích đọc kinh sách, thích nghe pháp, ngày nào cũng say sưa nghe pháp, muốn đọc những sách nói về thiền chẳng hạn thì có khi nó hơi quá nó không có lợi cho sự thực hành.

Và nếu có người hỏi rằng; là làm sao để biết được quân bình?  

Biết quân bình các căn  không phải qua kinh sách qua các vị thiền sư hướng dẫn, nhưng khi chúng ta làm thì chúng ta mới biết làm sao để quân bình. Giống như cha mẹ dạy con cái sống ở trên đời phải biết ngó trước ngó sau, phải biết tôn trọng người này tôn trọng người kia nhưng không thể nào đơn cử ra từng trường hợp được. Khi đã được gợi ý như vậy rồi bản thân của chúng ta trong cuộc đời sống va chạm đời dạy mình qua thất bại thì chúng ta mới tìm ra được cái gì là vừa phải, lúc nào là lúc nên nói, lúc nào là lúc không nên nói, thì những cái đó là tướng thủ thuật cái gì nên làm cái gì không nên làm tất cả đều do khả năng nhận thức của mình. 
Do vậy sự quân bình của các căn được xem như là một điểm mà rất ư là quan trọng đối với hành giả.

Saturday, March 15, 2014

Sống với đạo là sống với tự nhiên

Hỏi: Sống với đạo là sống với tự nhiên

(Bài giảng tại khóa tu bên Thụy Sĩ, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Nói cho cùng ba thứ là: tài sản, người thân, và xác thân này, dầu tài sản có nhiều, dầu người thân có thương yêu cách mấy và xác thân này có tô hồng chuốt lục thì cuối cùng cũng đi vào lòng đất lạnh, xa nhất là đi đến đó, không ai đi xa hơn nữa. Nhưng phước đức mà Đức Phật gọi là Thánh Sản là tài sản bậc thánh thì đi từ đời này qua đời khác. Nhưng bao nhiêu người nghĩ tới. 

Tại sao chúng ta không lo phước đức của mình, không phải là vì chúng ta ngu, chúng ta thiếu trí, không phải  vì chúng ta không có đức tin, nhưng tại vì chúng ta quá bận để đầu tư vào mắt, vào tai, vào mũi, vào lưỡi, vào thân, và vào ý. Tại sao chúng ta đầu tư vào nó, tại vì chúng ta nghĩ rằng nó vĩnh viễn phải không? nó lâu dài đúng không? Mình mua một bộ ghế đắc tiền mình mua một cách dễ dàng. Còn đi chùa làm công quả hai ngày thì chúng ta thấy khó. Đó là chuyện phước đức của mình, nhưng mua cái gì đó để thoả mãn thôi thì mình có thể dùng đồng lương của mười ngày để mua mà không tiếc tiền.

Thì như vậy có nhiều khi đầu tư vào mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, quả thật nó không phải là một đầu tư tốt, nếu chúng ta nghĩ cho kỹ, tuy nhiên chúng ta không thấy được là bởi vì hai điều Đức Phật dạy là : "Không thấy được nguy hiểm và không biết được lợi ích.

"Không thấy được nguy hiểm và không biết được lợi ích.

- "Không thấy được nguy hiểm là gì? Sự nguy hiểm đó là khi chúng ta nghĩ rằng chuyện này thoả mãn con mắt thì chúng ta sẽ không cần gì hết, nghĩa là 100% vừa ý, nhưng khi đạt được nó thì không như chúng ta nghĩ,. Có rất nhiều thứ trong đời sống mình nghĩ rằng mình mua nó, mình có nó, mình được nó thì mình sẽ không đòi hỏi gì nữa, nó là nhất ở trên đời rồi, nhưng rốt cuộc không phải như vậy. Thì  đầu tiên là thất vọng, thất vọng đi đến chỗ nhàm chán và nhàm chán rồi đi tìm một thứ khác nữa và cuộc đời của chúng ta là luôn luôn là sự săn đuổi như vậy. Nhưng rồi không thấy được nguy hiểm chưa đủ.

- Và không biết được lợi ích. Nếu chúng ta biết được người vợ nào là người vợ sẽ theo chúng ta mãi mãi trong kiếp luân hồi thì chúng ta phải lo cho người vợ đó nhiều, người vợ mà ngày xưa HT Hộ Giác hay nhắc câu ca dao là: 
"Đi đâu cho thiếp theo cùng, gian nan thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam". 

Thậm chí còn câu nói bi đát hơn nữa có người vợ nào đó ngày xưa than rằng: 

"Chàng ơi phụ thiếp làm chi, thiếp như cơm nguội phòng khi đói lòng." 

Nghe bi đát phải không? Nhưng nếu âm đức của chúng ta mà nói được với chúng ta thì nói với chúng ta câu nói:

"Chàng ơi phụ thiếp làm chi, thiếp như cơm nguội phòng khi đói lòng." Lúc nào hữu sự đến chúng ta cần phước đức lắm. Kinh hạnh phúc Đức Phật Ngài nói rằng: 
"Ở xứ nên ở mà công đức trước đã làm thì quả là phước lành cao thượng." 

Trong kinh Pháp Cú Đức Phật Ngài dạy:
"Người trước đã tạo phước bây giờ phước nghiệp trổ giống như người đi xa mới về được thân nhân đón tiếp." Không có thân nhân nào đón tiếp mà nồng ấm hơn là phước đức của mình. Có người sống ở đời chỉ mơ ướt có một tình thương thôi mà không có được tình thương, cô đơn đến như vậy là vì họ thiếu phước đức. Có một đại văn hào của Nga, ông sống vào thế kỷ thứ 18, ông đã có một câu nói rất chua xót phước phần của ông, ông nói rằng: 
"Tôi sẵn sàng bỏ tất cả danh vọng, tất cả sự việc, tất cả tiền tài mà tôi có để đổi lấy người đàn bà mà mỗi ngày khi tôi trở về nhà người đó ân cần lo lắng cho tôi một chút cơm nước và lời thăm hỏi." 

Cô đơn đến mức đó và chúng ta có rất nhiều người cô đơn như vậy. Chúng tôi đã gặp những người lớn tuổi già sống tại Hoa Kỳ chỉ cần có một chút tình thương thôi, họ cần đến đỗi mà họ đi chùa chúng tôi hỏi rằng:
"Bác Bảy, hôm nay ai đưa bác đến chùa, bác khoẻ không." 
Thì bà nói với người Phật tử khác: "Bữa nay tôi đi chùa Thầy hỏi tôi một tiếng tôi mừng quá." Tại sao  vậy? tại vì bà rất là cô đơn.

Chúng ta cũng sẽ đi qua những nỗi cô đơn khác trong cuộc đời, tại sao hôm nay những người khác ân cần với chúng ta, tại vì qúi vị đẹp, tại vì qúi vị có thể giúp họ trong lúc họ hữu sự, tại vì qúi vị có thể thù tạc qua lại với người đó, qúi vị có thể nói làm những người đó vui lòng bằng những lời nói của qúi vị, nhưng một lúc nào đó khi mà qúi vị không đáp ứng được những nhu cầu đó thì qúi vị cũng sẽ cô đơn như vậy. Do vậy chúng ta nên hiểu ở trong cuộc đời rằng phúc đức là người bạn tốt nhất. 

Người Hoa Kỳ có câu nói như vầy:
"Tiền bạc là người bạn trung thành nhất, tiền không phụ rãy chúng ta bao giờ." 

Nhưng người Phật tử nói một câu nói còn nhiều hơn thứ đó nữa; đó là: "Phúc đức là người bạn trung thành nhất."

Một người có đức không sức mà ăn, có phần không cần gì lo. Không có phước đức thì tiền vào tay này lọt qua tay kia, sanh ra cũng trong cuộc đời mà bần hàn thiếu thốn, có những người gặp từ may mắn này đến may mắn nọ, gặp từ thành công này đến thành công nọ, nhưng có những người gặp từ bất hạnh này đến bất hạnh khác thì vì thiếu phước.

Do vậy đừng phụ rãy người vợ thứ tư, và biết những điều nào là điều chúng ta nên đặc trọng tâm vào trong cuộc đời. 

Thật ra cái gì làm vừa lòng con mắt cũng giai đoạn thôi, con mắt dĩ nhiên một lúc nào đó nó sẽ mờ đi, xác thân này một lúc nào đó sẽ bỏ lại. Nhưng không cần phải chờ lâu đến như vậy, cứ để ý cái thích và cái không thích của chúng ta đối với sắc, đối với thinh, đối với vị, đối với xúc,đối với pháp. Nghe có món ăn nào đó chúng ta phải đi tìm cao lương nào mỹ vị nếu quí vị làm vua. Thậm chí có người phải bỏ mạng vì miếng ăn, nhưng mà rồi ăn được một chút thôi. Cái đẹp đó trở về thoả mãn chút thôi. 

Một người có trí để tu tập thì không cần đi đâu xa. Món gì đó mà qúi vị thấy thích mua, làm như Ngài Ajahn Cha là khoan mua đã, hỏi trong lòng mình muốn đến mức độ nào rồi sau đó đi mua không sao, mua về rồi hỏi lại ngày hôm nay chúng ta thích nó đến mức nào, rồi ngày mai hỏi lại mình thích đến mức nào, rồi ngày mốt mình thích đến mức nào, qúi vị thấy nó sẽ xuống xuống và một lúc nào đó có ai xin cho liền, tại vì sao vậy? tại vì tâm ý vô thường.

Đừng trách chính mình đó là chuyện tự nhiên của con người, người tu không trách ai hết, không than trời, không trách đất và không mặc cảm tội lỗi, nhưng người tu hiểu cái tự nhiên của đời sống, cái tự nhiên đó là hoa buổi sáng nở buổi chiều tàn, cái tự nhiên đó là trời ngày rồi đêm, đêm rồi ngày, xuân hạ thu đông, con người vui rồi buồn, thích rồi không thích. 

Do vậy có người nào đó thương chúng ta thì chúng ta đừng nghĩ rằng tại mình đẹp quá người ta thương mình, hay mình dễ thương quá người ta thương mình, và có nhiều khi nghĩ rằng mình lạ quá người ta thương mình, nhưng mà rồi mình quen quá người ta hết thương mình. 

Và có một vật gì đó chúng ta thấy ngon quá thì đừng nghĩ rằng món này là món cao lương mỹ vị ở trên đời, tại vì chúng ta chưa ăn thôi, ăn lúc rồi ngán. Đó là tự nhiên của con người. 

Sống với đạo là sống với tự nhiên đó, chấp nhận cái tự nhiên đó, chấp nhận cái vô thường đó, chấp nhận ở trong cái tự nhiên mình sẽ không buồn đâu. Một người nào đó họ đang thương mình, họ đang ân cần với mình bây giờ họ không thương mình nữa thì chuyện đó bình thường thôi, ngày xưa họ thương họ có lý do của họ và bây giờ họ không thương không ân cần nữa thì họ cũng có lý do của họ. 

Ngài A Xà Chí gọi là "Các pháp do duyên sanh thì cũng do duyên mà diệt." Pháp nào cũng do duyên sanh và do duyên mà diệt, chúng ta không kiểm soát được chuyện đó. 

Chúng ta sống với tất cả tự nhiên đó và đem tự nhiên đó đi vào trong lòng của mình để đạt được sự thanh thản bình an thật sự của tâm hồn. Khi nào mình sống gần với đạo và khi nào mình cảm nhận được tự nhiên với đời sống tâm hồn của chúng ta bình thản, rất là bình thản. Bình thản đến độ tại sao trời sáng và trời chiều, trời tối qúi vị không buồn, tại vì tự nhiên như vậy, trời ban ngày và đêm là cái tự nhiên của trời. Có những người ở Việt Nam mới qua thấy tuyết đẹp quá thì mừng và khi tuyết tan dơ quá thì bực mình, mùa đông lạnh quá thì chúng ta nói sao trời lạnh quá, nhưng qúi vị ở đây quen thì sao, trời mưa thì mặc trời mưa, tại vì sao vậy, đó là chuyện tự nhiên của trời đất, nhưng trời đất có tự nhiên của trời đất, chúng ta có tự nhiên của chúng ta, cái thương cái ghét, hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, cụ, thích không thích, gắng bó, chia lìa, tất cả những điều đó là do duyên. 

Friday, March 14, 2014

Có thứ tà kiến nào không thuộc thường kiến và đoạn kiến chăng?

Hỏi : Có thứ tà kiến nào không thuộc thường kiến và đoạn kiến chăng?

(Câu hỏi được hỏi trong rơom Diệu Pháp , Chánh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu : Trong 62 tà kiến, chấp về tà kiến quá khứ có 18 điều năm phần, chấp về vị lai có 44 điều năm phần. Trong đó chúng ta thấy những hình thức tà kiến không thuộc về thường kiến và đoạn kiến. Đó là trường hợp chúng tôi gọi là vô ký kiến hay là ngụy biện. Với một người ngụy biện, tức là nói trườn uốn như con lươn, không nói thẳng vào vấn đề, mà họ luồn lách qua một vấn đề khác, như vậy cũng được xem như là tà kiến. Nói rõ hơn vô ký kiến hay ngụy biện có 4 nguyên do, chúng ta nghe những điều này chúng ta sẽ biết rằng nó không nằm trong thường kiến hay đoạn kiến nhưng cũng kể thuộc về tà kiến bởi vì nó chấp sai.

Vô ký kiến hay là ngụy biện do 4 nguyên do:

1/ Do thấy không có xác thật, vì e vọng ngữ nên nói không xác thật. Có rất nhiều trường hợp trong đời sống chúng ta thường hay vấp phải điều đó tức là vì chúng ta không thấy thật, không biết thật nên chúng ta nói một cách mơ hồ, không đi thẳng vào vấn đề, sợ e rằng mang tiếng vọng ngữ. Cách nói như vậy, nhận thấy không xác thực như vậy, nói thì cũng có lý nhưng xét cho cùng thì là ngụy biện hay vô ký kiến.

2/ Cũng vì do thấy không xác thật, nhưng sợ nếu nói như nói khẳng định mọi người sẽ nói mình chấp, nên nói không quyết định, không có lập trường. Đây cũng là một loại hình tà kiến nhưng thuộc ngụy biện kiến.

3/ Cũng do nhận thấy không xác thật, nhưng vì sợ bị hỏi gạn lại, nên nói không quyết định chắc thật, và cách nói như vậy cũng được xem như một loại hình tà kiến, nhưng không được kể vào thường kiến hay đoạn kiến bởi vì không có sự quyết định.

4/ Cũng do thấy không xác thật, nhưng vì sợ người ta nghĩ rằng mình dốt nên nói cách này hay cách khác cũng bằng cách không quyết định.
Bốn tà kiến này cũng gọi là Bất định kiến. Vì rằng là bất định kiến nên không kể vào đoạn kiến hay thường kiến.

Trong câu hỏi này chúng tôi chỉ trình bày cho thấy rằng quan niệm về tà kiến, thông thường chúng ta hay nói về thường kiến và đoạn kiến là hai tà kiến nhất định, có sự tương phản một cách rõ rệt một cái có và một cái không. Trong bài kinhPhạm Võng khi nói đến 62 tà kiến, có những trường hợp mặc dầu không phải là thường kiến, không phải là đọan kiến nhưng trường hợp đó cũng là tri kiến hoang vu không đúng với sự thật nên cũng được xem là một loại hình tà kiến.

Ở đây nếu phải trình bày hết tất cả những gì được nói đến 62 tà kiến có lẽ chúng ta sẽ không có nhiều thời gian, nên chúng tôi chỉ trưng dẫn ra bốn sự kiện thuộc về vô ký kiến hay ngụy biện hay bất định kiến. Đó là câu trả lời của chúng tôi.

Thursday, March 13, 2014

Định nghĩa Giới là gì?

Hỏi: Định nghĩa Giới là gì?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Thật ra không phải chỉ có đạo Phật mới nói đến giới luật mà trong nhiều tôn giáo khác cũng có nhắc đến giới luật. Trong bối cảnh tôn giáo xứ Ấn Độ thời Đức Phật ra đời, Giới có rất nhiều nghĩa. Đức Phật nói yếu tính của Giới hay nghĩa lý thật sự của Giới là chủ tâm từ bỏ, sự chủ tâm không làm cái gì đó.

Chúng tôi lấy ví dụ trong room chúng ta có mặt tại đây, khi vào trong room có một số luật nhất định, luật về phát biểu, luật về text chat, hay luật làm sao để trung thành với nội dung mà vị chủ room đưa ra chẳng hạn. Chúng ta phải nói rằng những nguyên tắc này đôi khi rất tối thiểu nhưng chính nguyên tắc này được mọi người thọ trì chúng ta mới có thể làm tốt được. Còn vào room ai muốn làm gì thì làm chúng ta không thể làm trong room sinh hoạt tốt được. Nó gíông như mình lái xe trên đường, tuy rằng những luật đều là do ước định, nghĩa là con người đặt ra luật đó. Nhưng chính nhờ luật đó tai nạn được giảm thiểu và chúng ta lái xe được vững lòng, ví dụ đoạn đường đó ai ưu tiên và ai không ưu tiên. Sự công bằng ở đây không phải là mọi người đều bình đẳng với nhau. Công bằng ở đây, nếu ai đi trên đường ưu tiên thì người đó được ưu tiên và ai đi trên đường không ưu tiên thì người đó phải nhường. Chúng ta gọi đó là luật dù trời mưa trời nắng, dù có cảnh sát hay không có cảnh sát. Như vậy mới an toàn và sự đi lại của chúng ta mới gọi là tạm ổn. Những người không theo luật này, thứ nhất người đó tự đẩy mình ra ngoài cuộc chơi, đẩy mình ra ngoài xã hội chúng ta gọi là sống ngoài vòng pháp luật.

Giới là một bước đầu, một người chưa tu tập cao siêu như thiền định, một người chưa có trí giác như một người muốn thành tựu về tuệ thì Giới là cái gì đầu tiên của Giáo pháp mình có thể nắm được. Nắm được ở đây không phải chuyện gì mình cũng có thể làm được hết. Có một số việc nhất định là mình không thể làm. Chúng tôi lấy ví dụ một người Phật tử giữ năm giới hay giữ bát quan trai giới, trong cuộc sống hằng ngày chúng ta có rất nhiều sinh hoạt, nào là đi chợ, xã giao, nói chuyện điện thoại v.v…Trong số những việc chúng ta làm hằng ngày có một số việc chúng ta nhất định không làm, không thể làm được. Ví dụ như chúng ta giữ giới không sát sanh, nếu mình giết con vật có thức tánh, và đối tượng đó là con vật có thức tánh, mình biết con vật có thức tánh , mình sẽ không làm tổn hại loài đó, mình sẽ không cướp đi mạng sống của loài đó. Chúng ta gọi đó là Giới.

Giới này cụ thể hơn luân lý vì luân lý có tính rất mơ hồ. Ví dụ như nói anh em huynh đệ phải đùm bọc, phải thương với nhau. Điều đó như là một lời khuyên mang tính cách mơ hồ. Hỏi thương như thế nào là thương? Nhưng giới rất rõ ràng. Trong chữ Hán người ta dùng chữ Giới lễ tức là từ bỏ có nguyên tắc, có một cái gì rất cụ thể để mình nắm được. 
Con vật có thức tánh, 
Biết con vật có thức tánh, 
Cố ý giết 
Ráng sức giết 
Con vật chết vì sự ráng sức giết đó
Năm chi phần đó cộng lại là sát sanh. Nhìn vào năm chi phần này chúng ta thấy rất rõ. 

Đúng ra thái độ đối với giới là một thái độ đầu tiên của sự phân biệt về cái gì tốt cái gì xấu, cái gì nên làm, hay không nên làm. Chúng ta gọi là một người đã bắt đầu đối thoại với chính mình. Một người đã bắt đầu đặt rõ vấn đề với đời sống mình. Nếu trong cuộc sống của chúng ta không có những nguyên tắc, cái nhà sẽ thành cái chợ và cuộc sống của chúng ta rất hoang dã. Dĩ nhiên có nhiều người tôn trọng điều này một cách rất tuyệt đối, có nhiều người mang tính uyển chuyển linh động. Nhưng nếu chúng ta đưa tất cả những nguyên tắc của đời sống mà không có những hướng dẫn cụ thể, đời sống của chúng ta không biết sẽ đi về đâu.

Lúc nhỏ chúng tôi đi vào trong chợ. Cái chợ là chỗ thập phương bá tánh đến, nghĩa là người tứ xứ đến chợ và trong chợ bày bán hàng hoá la liệt. Trong tuổi thơ chúng tôi nhớ rằng đó là một đám đông lớn vào buổi sáng, dần dà đi với mẹ ra chợ buôn bán chúng tôi thấy rằng trong chợ có cái luật nhất định. Chỗ đó là chỗ của mình, mình đóng tiền lệ phí hằng ngày thì mình được quyền ở chỗ đó. Nó phải có luật lệ nào cho phép mình đi trễ mình vẫn còn chỗ đó không ai chiếm dụng chỗ của mình được. Và trong chợ có một nguyên tắc của mua của bán, có những lịch sự. Dĩ nhiên có những người đi ra ngoài cái lịch sự đó nguyên tắc mua bán đó, có thể là họ ăn gian nói dối v.v…Nhưng căn bản vẫn có một số nguyên tắc nhất định trong sự trao đổi hàng hoá, như nguyên tắc về tiền bạc, nguyên tắc về cân, cân nặng cân nhẹ v.v… Tất cả những điều đó.

 Người trung Hoa sớm nhận ra điều này gọi đó là chữ Lễ. Lễ -Nghĩa nhưng Lễ rất quan trọng , trong Lễ là một định đặc cho nguời ta thấy rằng cái gì nên làm cái gì không nên làm, cái gì hợp tình cái gì hợp lý trong cách thờ vua, thờ cha thờ mẹ, trong cách đối xử với nhau đối với láng giềng, và thế nào là đạo của người quân tử. Nói chúng chữ Lễ trong văn hoá Trung Hoa rất quan trọng.

Trong đạo Phật cái gọi là Giới cũng là một cách giúp cho hành giả nhận ra được mình có thể làm được cái gì đó với bản thân mình. Có nhiều người nói rằng, “Mình không thể ngồi thiền được, mình không thể đọc kinh được , mình không thể nghe pháp được”. Nhưng căn bản ai cũng có thể làm được một số việc như giữ ngũ giới, giữ bát quan trai giới. Chính sự giũ giới này cho mình thấy được mình có khả năng nói chuyện với chính mình. Bây giờ đối với chính bản thân chúng ta mà chúng ta không có khả năng nói rằng, “À, mình làm được hay không làm được, điều này mình không nói được”. Như vậy, chứng tỏ rằng mình rất bất lực với chính mình. Một khi mình thấy được có một số điều phải tuân thủ và cuộc sống nhất định phải sống trong khuôn khổ, trật tự, thời gian đầu cảm thấy rất khó chịu, dần dà trở thành một thói quen và lâu ngày người ta tìm được sự an lạc, một sự an lạc thật sự, không phải chỉ an lạc với chính mình mà còn an lạc ở chỗ mình sống chung với những người có giới.

Monday, March 10, 2014

Phải chăng Đạo Phật nói đến chiều rộng,nói đến pháp học thì có rất nhiều kinh điển, có rất nhiều lãnh vực để chúng ta tìm hiểu quan trọng hơn là pháp hành?

Hỏi: Phải chăng Đạo Phật nói đến chiều rộng,nói đến pháp học thì có rất nhiều kinh điển, có rất nhiều lãnh vực để chúng ta tìm hiểu quan trọng hơn là pháp hành?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Ðẳng giảng : Ngày hôm nay quan niệm về giáo dục người ta thường nói nhiều về sự thu thập kiến thức, càng nhiều càng rộng thì điều đó nói lên kiến văn quảng bác và có giá trị đặc biệt.  Chính vì vậy nền tân giáo dục đã nhấn mạnh rất nhiều về những bằng cấp học vị, được xem như  những thành tụ để đo đạt thế nào là một người có kiến thức rộng rãi hay là kiến thức hẹp hòi.  Tuy nhiên đối với Ðạo Phật chúng ta lại được biết trong quan niệm về giáo dục Đạo Phật theo một quan niệm hoàn toàn mới, và chính quan niệm này cũng đã là những nét chấm phá rất lớn của Thiền học khi đem đối chiếu với nền Phật học truyền thống của Phật Giáo Bắc truyền.

        Có những vị học kinh điển rất  nhiều, nhưng sự học nhiều và hiểu về kinh điển, quả thật chỉ hiểu về sơ lượt, cho đến khi người ta thật sự nếm được hương vị của giáo pháp, thật sự thiết lập đời sống của mình ở trên giáo pháp, điều này không nhất thiết phải là một vị học nhiều hiểu rộng, mà chỉ  người hành pháp có thật tu thật chứng, và thật sự làm những gì mình tin tưởng thì điều đó mới mang một giá trị thật sự.

         Nên trong truyền thống của Ðạo Phật, mặc dù chúng ta có những học vấn truyền thống mang tính cách trường lớp, ví dụ như  những lớp học ở tại Thái Lan về Phạn ngữ, về Pháp và Luật, hay  những trường tại Tây Tạng, chúng ta có chương trình 17 năm tại Garden Shatse, hoặc giả chúng ta có nhiều trường Phật học được tổ chức khắp nơi trên thế giới, trong đó phải kể rằng Nhật Bản và Nam Hàn ngày nay có một số lượng lớn các trường đại học Phật Giáo.  Nhưng những trường đại học này không nói được giá trị về sự tu tập và chứng đắc của Ðạo Phật. Đây là một điểm rất lạ, tương tựa như một người đi du lịch, họ có thể đi rất nhiều nơi, và họ có thể tiếp xúc với rất nhiều người khác nhau, nhưng chưa chắc họ đã thật sự hưởng thụ văn hoá nào mà ở mức độ chiều sâu của nó, trong khi có những người tuy rằng họ không đi nhiều nơi, nhưng họ có thể tiếp cận với một số người nào đó bằng tâm thái, bằng thần thái rất đặc biệt vì vậy họ cảm nhận được một cách sâu sắc. Có thể nói trường hợp này chúng ta gặp đuợc rất nhiều người, và trong cuộc đời lưu lạc có thể nói rằng họ đã 5 lần 7 lượt, từ Bắc vô Nam, rồi từ miền Nam ra nước ngoài, rồi đi định cư tại đệ tam quốc gia.  Cuộc đời họ có thể tiếp xúc với rất nhiều trường hợp, nhiều cảnh huống, nhiều sự việc, nhưng chúng ta không cảm thấy rằng họ có cảm nhận sâu sắc về hoàn cảnh xảy ra chung quanh họ.

        Trái lại chúng ta cũng gặp những người có một cuộc sống rất bình dị, họ lớn lên tại một miền quê hẻo lánh của một quốc gia nào đó, nhưng sự cảm nhận của họ với các sự việc chung quanh rất xâu sắc, họ có thể nói về những lời chiêm ở trong làng, họ có thể nói về cảnh trí của quan cảnh mặt trời mọc, mặt trời lặng như thế nào, và thậm trí họ có thể hiểu một cách rất sâu sắc về những người sống ở trong làng như thế nào.  Thì như vậy cho chúng ta thấy rằng cái lượng và cái phẩm nó không nhất thiết là tương đương với nhau, có nhiều khi người ta chú trọng về lượng mà không chú trọng về phẩm và đặc biệt ở trong giá trị tinh thần, Ðức Phật Ngài cho chúng ta biết rằng điều này là một thực chứng thực hơn bất cứ điều gì khác mà chúng ta được biết.

        Ở trong sự tu tập, đôi lúc một người chỉ thọ trì một pháp tu, hay thọ trì một cảnh giới nào đó, như chúng tôi có dịp được sống gần những vị chỉ chuyên về trì luật thôi. Nếu một người nào đó trong chúng ta nghe nói ngày hôm nay mà chỉ ôm bộ luật Thiện Trí chẳng hạn, để tu tu tập thì chúng ta mường tưởng đó là một người có một cuộc sống hết sức khắc khe, tỉ mỉ, người đó chỉ sống bó gối ở trong khung trời hạn hẹp. Nhưng mà không thưa quí vị, khi chúng ta ở gần những vị đó, chúng ta mới cảm nhận được cái niềm tin, chúng ta mới cảm nhận được sự lãnh hội, chúng ta mới cảm nhận được sự xâu sắc của một người thọ trì về luật..

     Dĩ nhiên chúng ta không thể có cái gì đó để có thể đo đạt khả năng sâu sắc của một người đã tiếp xúc thật sự với lời dạy chân thật của Ðức Phật như thế nào, nhưng chúng ta có thể thấy rõ rằng có những người học rất nhiều, có những người hiểu rất rộng, nhưng người đó lại không nếm được hương vị của chính pháp, đối với người này thì chính pháp chỉ là gánh nặng, đối với những người này thì chính pháp là khu vườn lớn mà họ phải bỏ ra quá nhiều thì giờ để mà bảo trì, thậm trí Ðức Phật Ngài dùng hình ảnh giống như người mục đồng chăn bò cho người khác, dĩ nhiên đàn bò càng lớn thì mình chăn càng cực khổ, tuy nhiên dù cực khổ đến đâu thì mình chỉ chăn bò cho người khác, chứ bản thân của mình lại không hưởng được bao nhiêu. 

       Nên chi, khi chúng tôi nói đến quan niệm giá trị của Ðạo Phật, thì phải nói rằng có rất nhiều điểm làm cho con người phải ngạc nhiên,  không may rằng trong việc canh tân Ðạo Phật, trong  việc chúng ta nói đem Ðạo Phật vào trong cuộc đời ngày hôm nay, thì càng lúc người ta càng chú trọng đến bằng cấp, đến học vị và những chương trình học Phật mang tính cách trường lớp, thật ra thì điều này nó vẫn có giá trị nhất định của những thứ này, nhưng bên cạnh đó chúng ta cũng lấy làm buồn mà thấy rằng khi người ta quá chú trọng đến trường lớp, thì người ta quên rằng Phật Pháp là một cái gì mà có thể cảm nhận một cách sâu sắc, không những cảm nhận một cách sâu sắc mà còn sống với điều đó nữa.

       Do vậy chúng ta phải đặt trở lại vấn đề rằng ở trong Đạo Phật nếu chúng ta nghĩ đến chiều rộng, nghĩ đến pháp học thì phải nói rằng có rất nhiều kinh điển, có rất nhiều lãnh vực để chúng ta tìm hiểu. Nhưng bên cạnh đó chúng ta đừng quên rằng có những pháp hành, ví dụ như một người thọ bát quan trai, một đêm hành trì đầu đà, hay một khoá thiền hay những giờ giấc tụng kinh, niệm Phật, hoặc giả  có cái gì đó khiến chúng ta gắng bó với đạo, chúng ta sống gần với đạo và chúng ta thật sự thể hiện được đạo bằng chính cuộc sống của mình, thì những lúc đó mới là lúc thật sự sống với những gì mình tin tưởng hơn là chỉ một niềm tin ở bên ngoài. Và quan niệm này đã khiến cho Đức Phật mở ra một chân trời mới, ở trong chân trời mới này Đức Phật Ngài đã cho phép nhiều người từ nhiều tầng lớp khác nhau ở trong xã hội để trở thành những vị Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, và có thể những vị cư sĩ, những nam cư sĩ, nữ cư sĩ hành trì mà không có phân biệt nhiều về giai cấp, về địa vị học vấn của họ. 

Saturday, March 8, 2014

Bậc hiền trí nói lời lợi ích. Nói những điều có lợi ích là như thế nào?

Hỏi: Bậc hiền trí nói lời lợi ích. Nói những điều có lợi ích là như thế nào? 

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu: Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo môi truờng sống, tùy theo tư duy của mỗi nguời, chúng ta nhận xét lời có lợi ích và lời không có lợi ích. 

Ví dụ như, sinh viên  vào giảng đuờng, khi nghe vị giáo sư giảng giải về môn học của mình thì nguời sinh viên đó sẽ nhận thức đuợc đây là lời nói có lợi ích. Một bệnh nhân khi đến một vị bác sĩ và đuợc lời khuyên của vị bác sĩ đó khiến cho bệnh nhân nầy cảm thấy an tâm và lạc quan khi chữa trị căn bệnh của mình, thì như vậy lời nói của vị bác sĩ đuợc bệnh nhân xem như là lời nói có lợi ích. Trong cuộc sống cũng vậy, chúng ta có thể đánh giá rất nhiều lời nói có lợi ích, khi chúng ta làm ở bất cứ ngành nghề nào, và có những nguời khuyên nhắc chúng ta những điều thuận lợi cho ngành nghề của chúng ta thì đó cũng đuợc xem như là lời nói có lợi ích. 

Do vậy, "nói lời lợi ích, có giá trị hơn cả ngàn lời vô ích", về khía cạnh chung chung, ý nghĩa chung chung thì chúng ta có thể áp dụng trong bất cứ truờng hợp nào ở cuộc sống của chúng ta. Khi gặp mặt nhau, chúng ta nói những điều gì khiến cho nguời khác nghe xong mà họ thu thập đuợc những điều hay, những điều có lợi cho cuộc sống của họ về mặt vật chất cũng như tinh thần, như vậy lời nói đó đuợc xem như lời nói lợi ích. Và nếu đuợc nghe một lời nói lợi ích thì quả thật lời nói đó có giá trị hơn cả ngàn lời nói vô ích.

Lời nói vô ích ở đây đuợc đánh giá như thế nào? Nói một cách chung chung thì lời nói vô ích là lời nói rỗng không, chẳng có ý nghia và chẳng có tác dụng cho chúng ta. Ở đây khi chúng ta đề cập đến lời nói có lợi ích giá trị hơn cả ngàn lời nói không có tịnh lạc, không lợi ích

Tuy nhiên, chúng ta nên hạn chế cái gì thuộc về hiệp thế bỏi vì nguời Phật tử lúc nào cũng nhắm đến mục đích giải thoát. Sự tịch tịnh, sự tịnh lạc trong đạo hạnh là điều tốt đẹp nhất, và do đó lời nói lợi ích ở đây đuợc xem như là lời nói có liên hệ đến giới hạnh, liên hệ đến sự tinh tấn, liên hệ đến sự viễn ly, liên hệ đến sự thiểu dục, tức là ít có sự ham muốn, liên hệ đến sự tri túc là biết đủ, liên hệ đến sự giải thóat, liên hệ đến tri kiến giải thóat.

Chúng ta khổ có hai mặt, khổ về mặt vật chất và khổ về mặt tinh thần hay gọi là khổ thân và khổ tâm. Khổ thân là sự khổ về già, bệnh và chết, hay là thiếu ăn thiếu mặc, trời nắng nóng hay trời mưa uớt át, gió lạnh thì những cái gì thuộc về cảm xúc, cảm thọ khổ thuộc về thân thì cái đó chúng ta gọi là khổ thân. Còn về khổ tâm tức là những sự khổ ảnh huởng về mặt tinh thần, tâm buồn bực âu lo phiền muộn, bất an, hoang mang sợ hãi, tâm trạng đó gọi là khổ tâm. Mặc dù chúng ta có thể giúp đỡ cho nguời khác về vật chất, phần lớn nguời ta chỉ nghĩ rằng giúp đỡ về mặt vật chất sẽ thiết thực hơn. Tuy vậy, chúng ta không thề phủ nhận một điều rằng những lúc chúng ta âu lo, phiền muộn, có những nỗi ám ảnh sợ hãi, bấy giờ nếu chúng ta đuợc nghe một lời khuyên hữu ích, hữu hiệu, một lời khuyên có giá trị sẽ tác động tâm lý chúng ta, sẽ đem lại cho chúng ta một sự hy vọng hay một tư tuởng lạc quan, một sự an vui; chúng ta không thể phủ nhận điều đó. Do vậy, trong đời sống có khi chúng ta chỉ cần một lời nói khuyên nhủ, khuyến khích, động viên cũng đủ rồi.

Khi tu tập có nghĩa là chúng ta phải áp dụng cả hai mặt, khi chúng ta tiếp xúc với nguời khác và chúng ta có tâm tiếp độ nguời khác, chúng ta có thể tùy cơ hội, tùy truờng hợp mà tiếp độ về vật chất hay tinh thần chứ không có một cái gì cụ thể. Giúp lời chứ không ai giúp của. Quả thật vậy, khi chúng ta nghèo khổ thì nguời ta đến khuyên  chúng ta đừng buồn, hãy sống an phận như vậy, không ai giúp tiền của cho nguời đó thoát khỏi cảnh nghèo. Nếu  suy xét cho kỹ thì trong đời sống của chúng ta, có đôi lúc không cần của mà cần lời, và cũng có đôi lúc chúng ta cần một trạng thái tinh thần hơn là sự kiện vật chất. Chính điều nầy nói lên rằng khi chúng ta cần trạng thái an lạc về tinh thần, thì một lời khuyên hữu hiệu, một lời khuyên lợi lạc nghe xong đuợc chứng đạt quả vị giải thóat thì lời nói đó quả thật quý báu.

Như truờng hợp của cậu Pala, con trai út của ông truởng lão Cấp Cô Độc, cậu ta nghe theo lời cha khuyên đi đến chùa cố gắng thọ trì Tam Quy và Ngũ Giới để rồi trở về nhà lãnh tiền thuởng. Một thời gian sau, ông Cấp Cô Độc khuyên con mình hãy đến chùa để nghe Đức Phật thuyết pháp, ‘con mà nghe đuợc một câu pháp nào có thể thuyết lại, nói lại cho cha nghe thì cha sẽ thuởng cho con gấp muời lần số tiền thuởng hàng ngày’. Cậu Pala vì ham tiền nên đi đến nghe Đức Phật thuyết pháp. Một vài lần cậu ta định sau khi nghe xong một câu pháp, nhớ đuợc một câu pháp để đem về nói cho cha nghe thì cậu ta sẽ đứng dậy bỏ ra về. Và Đức Thế Tôn đã dùng phương tiện giúp cho cậu ta ngồi lại lắng tai nghe pháp, sau đó cậu ta chứng đắc quả Tu Đa Huờn. Ngày hôm sau khi ông Cấp Cô Độc thỉnh Đức Phật về trai tăng luôn tiện để phát thuởng cho đứa con trai của mình, cậu Pala lấy làm hổ thẹn truớc mặt bậc đạo sư và xin sám hối với bậc đạo sư. Đức Thế Tôn biết rõ cậu Pala đã chứng quả Tu Đa Huờn, do đó Ngài đã thuyết một bài pháp và Ngài nhắn nhủ rằng với quả vị mà Pala đa đạt đuợc, quả vị đó quý báu hơn cả ngai vàng của Đế Thích hay là ngai vàng của vua Chuyển Luân Vương. Lời nói đó đuợc một vị thuyết giảng như là Đức Phật hay chư vị A La Hán thì quả thật lời nói nầy đáng giá hơn cả ngàn ngàn câu nói.

Trong cách Đức Phật thí dụ  giúp cho chúng ta hiểu đuợc cách sống trong việc tu tập: 

1 - Một là, chúng ta luôn luôn đón nhận những lời nói tốt đẹp của bậc thiện trí thức đã răn dạy, trình bày cho chúng ta. Những lời nói của các bậc thiện trí thức chúng ta không lắng tai nghe và không lĩnh hội đuợc thì giống như chúng ta đuợc một nguời chỉ cho kho tàng mà không chịu chấp nhận, chúng ta lo đễnh bỏ qua. Như vậy rất là uổng phí.

2. Thứ hai là truờng hợp khi chúng ta đối đãi, tiếp xúc với nguời khác, chúng ta biết rõ rằng một lời nói lợi lạc, hữu ích có giá trị hơn cả ngàn lời nói vô ích, vì đem lại lợi lạc cho nguời khác chúng ta chỉ nên nói những lời nói hữu ích mà thôi. Và những lời nói hữu ích đó sẽ giúp cho nguời khác đuợc sự an vui, tinh tấn, hay xóa bỏ đi những mặc cảm để rồi họ tiến hóa trên đuờng tu tập. Đây cũng là phuớc báu lớn lao. Khi chúng ta tu tập, chúng ta đừng nghĩ rằng chúng ta chỉ im lặng, thân tu tập là đủ, vì trong tam nghiệp, tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp, chúng ta cũng biết lời nói là khẩu nghiệp và nếu như lời nói đó là lời nói tốt, lời nói hữu ích, lời nói có giá trị đạo đức thì lời nói nầy sẽ đem lại phuớc báu cho nguời nói, cho nguời đã trình bày lời nói đó. Trừ ra đối với Đức Phật và chư vị A La Hán, là những bậc vô lậu giải thoát, là những vị những gì nên làm đã làm, sau đời sống nầy không còn đời sống khác, thì đối với các Ngài cho dù các Ngài có nói nhiều những lời nói đem lại hữu ích, lợi lạc cho quần sanh đi nữa thì các Ngài cũng không cần đến quả báo của những lời nói đó, do vậy đuợc xem như không thành tựu khẩu nghiệp, dù cho đó là lời nói tốt. Nhung đối với kẻ phàm phu chúng ta, trong đời sống tu tập, chúng ta không thể so sánh với Đức Phật, hay chư vị A La Hán là chúng ta bất cần, không tạo khẩu nghiệp tốt, điều nầy thật không nên. 

Do đó, nguoi Phật tử nên có những lời nói hữu ích khi nói chuyện với nguời khác. Và nguợc lại khi nguời khác nói những lời hữu ích đến ta thì ta cũng phải đón nhận một cách trân trọng vì những lời nói hữu ích đó nghe đuợc thì chúng ta sẽ đuợc tịnh lạc, sẽ đuợc an vui. Bởi vậy cho nên cho dù mình nghe hay mình nói những lời nói lợi ích thì bao giờ cũng có giá trị cả.