Saturday, April 23, 2016

Kinh Điềm Lành - Tâm Không Động

Kinh Điềm Lành - Khi xúc chạm việc đời tâm không động 

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Bud dhadhama ngày 10-5-2015, 

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài kệ sau cùng của kinh Điềm Lành nói về 4 chi pháp:

Khi xúc chạm pháp thế gian
Tâm không động, không sầu
Tự tại, và vô nhiễm
Là phúc lành cao thượng

Bài giảng hôm nay nói về pháp "Tâm Không Động"

Khi  nói: Tâm tiếp xúc với pháp thế gian không bị giao động, không sầu muộn, không bị ràng buột, không bị dính mắc là  những điềm lành tối thượng. Những pháp Không Động, Không Sầu, Tự Tại, Vô Nhiễm đều liên hệ đến câu đầu " khi xúc chạm pháp thế gian". 

Pháp thế gian là Loka Dhamma.

 Loka Dhamma được hiểu theo ý nghĩa bình thường nhất của cuộc sống. Trong thế gian này khi sanh ra đời và trở nên  thành viên của xã hội trong cuộc sống chúng ta thường phải đối diện với 8 pháp và 8 pháp gọi là Loka Dhamma là 8 pháp thế gian hay 8 ngọn gió đời: khen, chê, vui, khổ, đặng, thất, vinh, nhục.

Khen, chê:  Trong cuộc sống, chúng ta mỗi người đều có một ý kiến. Một ca sĩ hát hay, một người làm việc tốt cũng có người phê bình. Việc chê hay  khen thường vượt ngoài lẽ thật, Đức Phật Ngài dạy ở trong đời này hiếm có những bậc thiện trí, chỉ có bậc thiện trí mới thật sự khen cái đáng khen, chê cái đáng chê. Phần đông người ta khen chê theo xu hướng, dựa theo thói thường, ai khen mình cũng khen, ai chê mình cũng chê theo  hay hoặc giả có những người lập dị họ ưa khen ưa chê.

Cuộc sống của một người  trưởng thành, càng trưởng thành và càng từng trải nhiều và đặc biệt có được Pháp của Phật dạy dần dà chúng ta ý thức được rất rõ  sống không thể đặt quá nặng sự khen chê và cũng không nên để lời khen chê đó giao động trong đời sống. 

Người ta có khuyên chúng ta như vầy "Một trong dấu hiệu của người trưởng thành là người có thể có đủ khả năng bình thản trước lời khen tiếng chê". Không phải mình hoàn toàn dửng dưng nhưng ít nhất trong một căn bản nào đó mình hiểu khen và chê vốn là sự thường. Ở trong xã hội Đông Phương của chúng ta đôi khi người ta không thẳng thắn, người ta rất tế nhị, món ăn dở cũng khen ngon, cái gì không hay cũng khen là tuyệt. Chính vì vậy đôi khi lúc nào đó chúng ta nhận được một lời khen chúng ta cảm thấy rất giao động, nhưng kỳ thật thì đó là lẽ thường.

 Ví dụ, khi qúi vị chuẩn bị một món ăn cho người thân của mình với rất nhiều tâm huyết để làm món ăn đó, nhưng khi ăn món ăn đó người thân không thích ăn canh, hay không thích ăn rau sống, hoặc giả họ không thích ăn cay họ gặp món ăn mình nấu họ chê, thì không nên vì vậy mà buồn bởi vì đó là lẽ tự nhiên của đời sống.

 Cái vuông tròn, dài ngắn, rộng hẹp, thế này thế kia có thể nói chúng ta thường có hàng trăm lý do để khen để chê, và đặc biệt trong một xã hội có nhiều ý kiến, người ta nói "bá gia bá tánh." 

Nên các bậc hiền trí và dĩ nhiên đối với Đức Phật dạy thì một người có đủ sự tỉnh táo trong cuộc đời này người đó không để tâm mình quá vui trước lời khen của người khác và cũng không để tâm mình bị quá giao động trước lời chê của người khác. Khen chê là pháp của thế gian.

Ở đây, Đức Phật Ngài cũng nói đến Pháp khác gọi là "vui khổ". Vui khổ có nghĩa giữa cuộc đời này không phải cái gì cũng như ý mình. Dĩ nhiên, những người có phước thì họ có đầy đủ  nhiều niềm vui hơn nguời khác, người không có phước bị khổ, nhưng chúng ta đừng quên rằng cái vui cái khổ  chỉ là một phần bé nhỏ của sự tự nhiên của cuộc sống.

 Lấy ví dụ, chúng tôi sống ở thành phố Houston có những ngày hè rất nóng, nóng đến đỗi từ trong nhà bước ra xe mình ngán ngẩm, và có những ngày rất lạnh, lạnh tê tái, lạnh mà máy sưởi trong phòng mở mình vẫn còn cảm thấy lạnh trong xương. Đó là cái vui và cái khổ của cuộc đời sống. 

Đôi khi bên cạnh khen chê thì cái vui khổ làm tâm của chúng ta giao động và không giao động, nhưng mình phải hiểu cuộc sống là như vậy. Cái vui cái khổ chúng ta thấy ở giữa cuộc đời này hiển hiện đến đỗi chúng tôi gặp rất nhiều người  từ Việt Nam sang Mỹ,  VN nghe nói bên Mỹ vui nhưng qua đây thấy người ta làm việc nhiều thì thấy tội nghiệp cho những người bên này. Ở Việt Nam tuy cực, tuy đôi khi tiền bạc không bằng bên Mỹ nhưng sự nhọc nhằng làm việc đầu tắt mặt tối từ sáng đến chiều thì không bằng người ở bên Mỹ. 

Như vậy cũng là một thí dụ cho chúng ta thấy người nghèo cũng khổ, người giàu cũng khổ, người cô đơn có cái khổ của người cô đơn, người đông bà con có cái khổ của người đông bà con, đôi khi mình thấy người ta có bà con đông đảo thấy vui sao mình không được phước như vậy  nhưng khi có bà con đông rồi có nhiều trở ngại, bà con đông có nhiều vấn đề. Do vậy, trong cuộc sống người ta nói "sống trong chăn mới biết chăn có rận" mình sống trong hoàn cảnh nào mình biết cái vui cái khổ hoàn cảnh đó.

Một dấu hiệu cho chúng ta thấy một người tương đối được hạnh phúc đó là không đặt nặng về vui khổ nhiều quá. Khi vui thì mình thoải mái một chút, khi khổ mình học hạnh kiên nhẫn. Nhưng nếu mình lấy đó làm lớn chuyện, gặp khổ mình giẫy nảy, điều đó về lâu về dài thật sự không có tốt cho mình. Chúng ta phải học kiên nhẫn, phải chịu đựng những cái khổ lớn, phải nhẫn nại. 

Ngài Ajhan Chah có nhắc chư Tỳ Kheo: "Một trong những đặt điểm của đời sống tu là mình phải biết nhẫn nại với cái khổ, cái khổ của sự thiếu thốn, cái khổ của đợi chờ, cái khổ của nóng lạnh, cái khổ của những việc không vừa ý, mình có kiên nhẫn với cái khổ thì mình mới trưởng thành".

Bao giờ cũng vậy, khi chúng ta sống giữa cuộc đời này trước khi mình được tự tại được thoải mái với cái thăng trầm vui khổ của đời sống thì chúng ta phải học hạnh nhẫn nại, hạnh chịu đựng  với cái vất, vả chịu đựng với cái không vừa ý. Chúng ta nhớ Đức Phật dạy "cũng giống như khen chê đời thường thì cái vui khổ cũng là thường, không lấy chuyện đó làm vấn đề cá nhân tại sao tôi bị khổ người khác không bị khổ? hay tại sao chỉ mình tôi bị khổ?" Thật ra nhiều người khổ họ không than và không ai sống trong cuộc đời này được khen mà không bị chê, được vui mà không bị khổ. Chuyện đó là chuyện dĩ nhiên.

Hai pháp kế trong 8 ngọn gió đời là Đặng và Thất. Đặng và thất là được lợi và mất lợi, được một cơ hội đánh mất cơ hội, được lợi lộc không có lợi lộc.

Hai chi pháp cuối cùng là Vinh, Nhục nói về Danh tức là được quyền cao chức trọng, được địa vị và cái mất đi địa vị mất đi quyền cao chức trọng.

Chính thật ra những pháp thế gian này mới nhìn mình cảm tưởng chúng mang tính riêng lẽ, mang tánh cách may rủi hay mang tánh cách hên xui mà nó ảnh hưởng cá nhân chúng ta. Nhưng một người có đủ hiểu biết Pháp mới thấy dù khen chê, dù là vui khổ, đặng thất, vinh nhục là chuyện hiển nhiên của thế gian, hiển nhiên của cuộc đời. Nếu chúng ta chỉ muốn một thứ thì đó là ý nghĩ sai lầm. Không ai trong cuộc đời chỉ có được một thứ. Cũng giống như quả lắc đồng hồ đi về bên phải rồi nó qua bên trái, chứ nó không qua bên phải rồi nó nằm ở giữa và trở lại bên phải, không có chuyện đó. Thì trong cả cuộc đời này những pháp thế gian những pháp khen chê vui khổ đặng thất vinh nhục vốn tự nhiên, vốn phải có và vốn không tránh khỏi. Nên không phải là chỉ có một câu chuyện mà có vô số câu chuyện, thời Đức Thế Tôn còn tại thế nhắc đến khả năng hành xả khả năng giữ tâm tự tại. 

Chúng tôi nhớ hồi còn nhỏ vô trong chùa Sư Trưởng có viết một bài thơ chúng tôi còn nhớ đến bây giờ: 

Bồ Tát tâm tuy sống giữa trần. 
Tâm luôn thanh thoát mọi gian truân, 
khen chê không động lòng trí giả. 
Vui khổ đâu sờn dạ giác chánh. 
Quyền tước mất còn không tủi phận. 
Lợi danh đắc thất chẳng than thân. 
Tâm luôn hành xả trò dâu bể. 
Có thế mới thành bậc thượng nhân.

Một đặc tính của người trưởng thành hay của một vị có tiến bộ trên đường tu tập là nội tâm của người đó không giao động nhiều với những pháp của thế gian. Nếu chúng ta để nó giao động chúng ta sẽ bị chi phối nhiều bị lôi kéo nhiều. Hồi Ngài Hộ Giác còn sống Ngài thường nói với chúng tôi rằng mình đi tu mình không nên để tâm mình giống như cục bột người ta muốn nặn vuông thì vuông nặn tròn thì tròn, ý muốn nói là người ta muốn mình vui người ta khen mình một câu người ta muốn mình buồn họ chê mình một câu như vậy mình dễ bị chi phối. 

Tâm của người nào tương đối trong sự khen chê vui khổ đặng thất vinh nhục ít bị giao động Đức Phật gọi là "Etammaṅgalamuttamaṃ. - đó là dấu hiệu điềm lành dấu hiệu các tường.

Trong đời chúng tôi có gặp một vài người có được tâm như vậy, đi đâu chung có cực khổ một chút cũng chấp nhận mà vui thì cũng vui vừa chừng, có ai khen thì cười một chút và ai chê thì gật đầu chầm ngâm một chút rồi thôi không để tâm mình giao động nhiều, chúng tôi xem đó là một cái đức của sự tu tập. 

Người Trung Hoa có tác phẩm của Lão Tử là Đạo đức Kinh, kinh nói cái đức là cái bản lãnh hàm tàng ở tự thân của mình. Chúng tôi tin rằng cái đức quan trọng của người tu tập là đối với những khen chê vui khổ đặng thất vinh nhục của đời sống tâm mình tương đối tự tại,bình an, tương đối không để bị chi phối nhiều. Muốn được như vậy  chúng ta phải trải qua rất nhiều thứ để tâm không bị giao động, thật ra con người chúng ta là một sinh vật sống rất nặng về thị dục huyễn ngã tức là chấp ngã. Nói mình không chấp ngã tức là mình nói dối, nói mình chấp ngã là mình thành thật nhận rằng mình là phàm phu. Nhưng nếu mình có quán tưởng, có chuẩn bị, có sự hiểu biết, mình có bạn lành thì mình sẽ bớt đi.

Lấy ví dụ, nếu mình có sự hiểu biết thì mình hiểu rằng những điều đó vốn là phải xảy ra, cuộc đời người ta khen mình được thì người ta chê mình được. Cuộc đời có vui thì có khổ, cái gì mình có được thì mình có thể mất được, mình có địa vị có chức phận thì một ngày nào đó mình cũng sẽ mất đi địa vị chức phận, cái đó gọi là khen chê vui khổ vinh nhục đặng thất là pháp thường của thế gian, khi mình hiểu như vậy thì mình phải thường xuyên quán tưởng. Có những pháp quán tưởng giúp cho mình vượt qua những chi phối tại vì mình biết trước, không phải chỉ mình biết trước mà mình biết là nó có tính đối đãi có cái này thì phải có cái kia. 

Phật xưa rằng kiếp nhân sinh,

Lắm điều khổ lụy chẳng dành riêng ai,

Xuân xanh rồi cũng tàn phai,

Thời hoa mộng tựa xuân mai đầu cành

Tấm thân tứ đại hợp thành,

Ốm đau tất bật thường tình xưa nay,

Dù cho thọ mạng ngắn dài,

Cổ kim nào kẻ thoát tay tử thần,

Người thân ly biệt người thân,

Trăm năm bao lượt khó ngăn lệ nhoà,

Mỗi người riêng biệt thiểu đa, 

Rừng mê bể khổ phải qua một mình.

Nếu chúng ta thường tu tập pháp ngũ quán là 5 pháp quán tưởng Đức Phật dạy:

- Không ai trẻ hoài mà không già, đến tuổi nào đó chúng ta phải bị già

- Không ai khỏe mạnh hoài không bệnh,

- Không ai sống hoài không chết,

- Không ai luôn luôn sum vầy với người thân không chịu cảnh sanh ly tử biệt tức là phải chia cách với người thân của mình.

- Và mỗi chúng sanh có nghiệp riêng.

Nếu chúng ta thường quán tưởng những pháp đó chúng ta giảm thiểu đi sự giao động đối với khen chê vui khổ. Nhưng để có thể giảm đi quan trọng là mình thường tự nhắc chính mình tới lúc nó xảy ra rồi thì đôi khi tâm chúng ta bị giao động lắm.

Hồi chúng tôi còn nhỏ mới vào chùa tu mỗi lần bị ai chỉ trích chuyện gì tâm chúng tôi giao động rất nhiều hơn bây giờ, không có nghĩa bây giờ chúng tôi hoàn toàn giải thoát, không phải như vậy, nhưng đỡ hơn tại vì gặp nhiều tiếp xúc nhiều và trải qua nhiều việc thành mình cảm thấy mình bình tâm hơn.

Một ví dụ, qúi Phật tử nào có sinh hoạt ở trong paltalk, qúi vị nhớ một thời có những người thường vào trong các rơom phá phách, họ text chat chửi các vị giảng sư, lúc mới vào sinh hoạt thì cảm thấy buồn nản vì sao mình vô đây với thiện chí đóng góp lại bị chỉ trích. Nhưng sinh hoạt lâu rồi biết chuyện là như vậy đó. Ở đây mỗi người có nick riêng và họ có quyền chửi bới và nếu để tâm chi phối thì không làm việc được. Và một khi tâm mình dửng dưng với chuyện đó rồi thì dần dà nó mất tác dụng người ta không phá nhiều nữa. Đó cũng là một cách để tâm của chúng ta làm quen với khen chê vui khổ chúng ta nhẫn nại nhiều hơn trong cuộc sống. 

Thì ban đầu chúng ta tập tự chế là:

- Gặp tám pháp thế gian khen chê vui khổ đặng thất vinh nhục thì mình cũng khổ nhưng mình tự chế tức là mình không để cho bực bội, mình than vài tiếng, có chuyện mình nói vài câu, nhưng mình không đi quá đà gọi là tự chế. 

- Rồi từ từ chúng ta học hạnh nhẫn nại tức là chúng ta tập im lặng, chúng ta tập nhìn sự vật như vậy, mình tập chịu đựng im lặng với chuyện đó.

- Rồi qua thời gian nhẫn nại chúng ta bắt đầu cảm thấy từ từ đi đến chỗ chúng ta bình thản tức tâm chúng ta thanh thản hơn gặp chuyện đó thấy bình thường.

- Sau giai đoạn bình thản có thể chúng ta khởi lên đại bi tâm tức là thương xót những người như vậy, họ chửi mình nhưng mình thương xót họ vì mình thấy rằng những người đó họ cũng khổ, mình thấy những người đó họ cũng có điểm đáng thương 

Muốn hành được như vậy cũng phải mất thời gian không phải một sớm một chiều mình làm được.

Trong kinh Phạm Võng ghi; Một lần Đức Phật Ngài có một cuộc hành trình dài đi với một đoàn Tỳ Kheo Tăng. Đức Phật và Chư Tăng không phải là bạn bè mà là Thầy trò, bậc Đạo Sư. Đức Phật đi trước Chư Tăng đi một hàng dài sau lưng Đức Phật và tận phía sau vị tỳ kheo có 2 thầy trò người Balamon đi theo, người thầy dùng hết lời để chỉ trích Đức Phật và Chư Tăng, người học trò thì dùng hết lời để ca tụng. Tới chừng đến nơi dừng chân Chư Tăng mới nói hôm nay đi dọc đường có chuyện kỳ lạ có 2 người Balamon đi theo, một thầy một trò,, ông thầy thì miệt thị Đức Phật, miệt thị Pháp, miệt thị Tăng và người học trò thì lại ca ngợi đủ thứ. Đức Phật Ngài dạy rằng:

 "Người có trí khi nghe người ta ca ngợi hay chê bai không để tâm mình chi phối nhiều nên giữ tâm bình tỉnh, tâm thanh thản để có khả năng nhận ra khen và chê hợp lý hay phi lý chỗ nào, biết như vậy thôi nhưng đừng để chi phối chúng ta nhiều."

Phải nói nếu có pháp gì đó mà mình có thể áp dụng Phật Pháp trong đời sống hàng ngày thì đây chính là pháp để chúng ta áp dụng. 

Chúng tôi nhớ Ngài Ajahn Liem có nói: "Đôi khi người tu buổi sáng sớm thức dậy đến tối đi ngủ nguyên một ngày giống như một người đi qua một khu rừng, quan trọng không phải hơn thua, không phải là tự hào, không phải là thế này thế kia với khu rừng đó, khu rừng là khu rừng mình làm sao từ lúc đi vào rồi đi qua khỏi đoạn đường đó tay chân được lành lặn, không sụp hầm sụp hố, không bị gai góc làm trầy sướt". 

Thật ra đời sống tu tập của chúng ta đôi khi đơn giản như vậy, từ sáng cho đến tối chắc chắn chúng ta gặp 8 pháp thế gian khen chê, vui khổ, đặng thất, vinh nhục. Nói cách khác những cái được, cái không được, những cái thích, và không thích xảy ra và làm sao buổi sáng thức dậy có tâm thanh thản buổi tối có tâm thanh thản, buổi tối đi ngủ không để cho lời khen tiếng chê chi phối mình, không để cái vui cái khổ làm bận lòng mình, không để cái đặng danh mất danh, đặng lợi mất lợi chi phối mình như vậy là hoan hỉ, là mỗi một ngày chúng ta đi vào một khu rừng với tâm tự tại, chúng tôi thấy cũng là một cách tu. 

Ở trong cuộc sống này có thể nói rằng có rất nhiều thứ. Nhưng Đức Phật gọi "Dấu hiệu cát tường" là tâm người nào ít bị chi phối ít bị giao động, ít có bận lòng, ít có nặng lòng với những chuyện nhân ngã bị thử những thị phi chuyện này chuyện kia.

Ví như ngọn gió kiên trì 

Gió cuồng tứ hướng dễ gì chuyển lay, 

Tiếng đời chê dở khen hay

Không làm chao động đôi mày trí nhân.

Càng sống càng đi càng làm việc chúng ta mới thấy chuyện khen chê thương ghét bình thường lắm, nếu nghĩ mình làm mình sống cho tất cả mọi người thương mình không ai ghét mình, người ta khen mình không ai chê mình, và mình chỉ vui không có khổ thì ý tưởng đó nông nỗi, nó nông nỗi là chúng ta đòi một thứ mà khó được, cuộc sống nó vốn là như vậy bất kỳ sự việc nào nó cũng phải có những thăng trầm những cái được cái không được

Chúng ta may mắn là con của Đức Phật và may mắn được học Phật Pháp, Đức Phật thường nhắc chúng ta nên biết bản chất tự nhiên của cuộc sống là như vậy, bởi vì nó là như vậy nên không đặt quá nặng, không quá ngây thơ nghĩ mình làm cái gì đó bằng cách này cách khác để mình bảo vệ chính mình.

Thật ra người giàu có nhiều cái được hơn người nghèo, nhưng người giàu có cái khổ của người giàu, những người có tiền thường họ dùng đồng tiền để mua những thứ họ muốn, họ mua cái tiện nghi, mua cái thoải mái, mua cái hàng rào để bao bọc, họ mua tháp ngà để sống trong đó. Khi mua tháp ngà sống trong đó nghĩ mình có tiền thì phải được như vậy nhưng rốt cuộc chúng ta sống co rút vào cũng bị chê. Có rất nhiều người giàu có tiền lên núi xây nhà đầy đủ tiện nghi xa rời mọi người nhưng không chắc mình trốn trong một thế giới nào đó trong cõi tháp ngà trong cõi riêng tư mà mình được tự tại hoàn toàn. Nó bớt cái này nhưng cũng có cái kia, con người mình càng sợ khổ, con người mình càng sợ những chi phối thì tâm mình càng yếu đuối rất là mỏng manh, và khi nó càng yếu mỏng manh thì nó dễ bị chi phối. Giống như có luật trớ trêu là có những người họ sợ ma, họ càng sợ thì họ càng cảm thấy bị yếu đuối đến một lúc nào đó họ không sợ tâm bình thường vậy thôi.

Cũng tương tự như vậy nếu cuộc sống mình rất hoan hỉ, rất nhạy cảm, rất mẫn cảm với những chuyện khen chê vui khổ đặng thất vinh nhục thì chuyện đó càng to chuyện càng chi phối mình nhiều. 

Đức Phật Ngài khuyên chúng ta nên sống bằng con mắt hiểu biết tánh tự nhiên của các pháp là như vậy.

Cách giúp chúng ta bớt khổ bớt giao động là mình giúp cho người khác, thấy người khác khổ mình lao xuống giúp cho người khác thì mình sẽ bớt khổ, những người chung quanh khổ minh sẵn sàng giúp thì mình bớt khổ. Và con người mình càng sống càng bảo vệ chính mình, càng sống mà càng muốn được cái này tránh cái kia thì  càng muốn như vậy con người mình đặc biệt càng rất mẫn cảm mà cái mẫn cảm đó cũng làm cho mình khổ. 

Bởi vậy kiến thức của Phật Pháp và sự tu tập mà có chứng minh được gì trong đời sống chúng ta là chúng ta có tiến bộ hay không đó là khả năng của chúng ta đương đầu với những ngọn gió đời, cái chi phối đến mức độ nào nếu mình gặp chuyện vui mình quá vui chuyện buồn thì mình quá buồn, người ta khen mình thì mình cảm thấy quá sung sướng, người ta chê mình thì mình như bị đạp xuống bùn thì như vậy chúng ta chưa có Phật Pháp trong lòng, tâm của chúng ta chưa vững. Cái chính của cuộc sống là không phải mình may mắn được hạnh phúc, cái chính của cuộc sống là mình có hạnh phúc mà hạnh phúc đó ít bị chi phối bởi những cái ở bên ngoài vào. Cũng đời sống nhưng có những người khổ hơn những người khác là bởi vì tâm họ dễ bị chi phối. 

Tuần vừa qua chúng tôi có một tuần lễ tu tập ở chùa, ở trong tuần lễ này có nhiều Chư Tăng giảng pháp và có nhiều Phật tử đến nghe Pháp. Khi chúng tôi đi xuống đài kỷ niệm của Ngài HT Hộ Giác có một Phật tử nói với chúng tôi một câu mà thật sự chúng tôi nghe ở trong lòng hoan hỉ, đạo hữu đó nói 

-"từ trước đến giờ đi chùa nhiều nhưng có đi dự khóa tu học nghe Chư Tăng giảng mới thấy thật ra mình tu theo Phật Pháp mình không có gìn giữ tâm mình cho được an tịnh gìn giữ tâm mình cho được an lạc. thì hầu như cái gì mình học chỉ ở ngoài da thôi". 

Chúng tôi nghe lời phát biểu của vị Phật tử trong lòng  rất vui, vui không phải vì người ta khen Phật Pháp mà mình vui, mà vui vì thấy  Phật Pháp đem lại an lạc cho qúi Phật tử. Chư Tăng vị này giảng bài kinh, vị kia giảng bài kinh nhưng trong lời giảng dạy đó cho qúi Phật tử thắm thía một điểm là sự tu tập của người Phật tử chính là chỗ nội tâm của mình, nội tâm đó có được thanh tịnh có được tự tại có được vững vàng không. 

Đức Phật Ngài dạy tâm của người ít có giao động trước những pháp  là dấu hiệu cát tường dấu hiệu tốt đẹp. 

Tưởng tượng mình sống và làm việc với người nào  mà gặp chút gì vui chút gì buồn  cũng khổ sở cũng hí hửng lên thì thật ra  rất là nguy hiểm, tại vì tâm của người đó giống cây rất mềm yếu gió thổi qua thì ngã liền. 

Chúng ta không muốn như vậy, đời sống muốn cho được vững vàng không bị giao động chúng ta cần phải tu tập. Nhưng đôi khi chúng ta không hiểu, chúng ta thấy tại sao trong Phật Pháp thường nói những chuyện bi quan, những chuyện mình không thích nghe như vô thường, khổ, vô ngã, hay sự chết. Khi mình có tu tập mới hiểu những pháp đó là tự tánh hiển nhiên của các pháp. Và  tâm của chúng ta ít có bị chi phối, tâm không bị giao động , không sầu muộn, được thanh thản được tự tại vô nhiễm đó là những dấu hiệu cát tường ./.

Thursday, April 7, 2016

Kinh Vị Ngọt - Tăng Chi Bộ - Phẩm Chánh Giác

Kinh Vị Ngọt - Tăng Chi Bộ - Phẩm Chánh Giác

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 11-11-2015.

 Minh Hạnh chuyển biên.

TT Giác Đẳng: Người VN chúng ta có chữ "Tu sĩ" để chỉ các vị sống và hoạt động liên quan đến tôn giáo. 

Trong xã hội Ấn Độ  những người làm việc tôn giáo được phân làm hai: 

-1. Các vị giáo sĩ Balamon những vị này học hỏi giáo điển lo  nghi lễ, nặng về cúng tế, người VN gọi là thầy cúng.  Nhưng chỉ giáo sĩ Balamon ảnh hưởng nhiều sinh hoạt của người Balamon vì những vị này hiểu được cách hành trì.

- 2. Tầng lớp khác là Samon tức là những vị tu sĩ nhưng khác với những vị giáo sĩ, những vị tu sĩ này được hiểu là trao dồi thân tâm để chuyển hóa bản thân mình có những tiến bộ trong đời sống tinh thần. Đức Phật và Chư Tỳ Kheo nằm trong số các vị tu sĩ gọi là Samon. Người ngoại đạo thường gọi Đức Phật là Samon Cồ Đàm.

 Ngày hôm nay thỉnh thoảng trong giới tu sĩ Phật Giáo cũng có những vị dùng chữ Samon là Phạn âm của chữ Samaṇa. Đức Phật Ngài định nghĩa  chữ Samon trong một định nghĩa tương đối khác với định nghĩa bình thường. Khi chúng ta định nghĩa chữ Samon là tu sĩ là định nghĩa thường thấy, nhưng ở đây Đức Phật định nghĩa Samon là người tu tập với sự hiểu biết về cuộc sống trong cách hiểu biết Đức Phật Ngài dạy  hiểu biết chân thực, hiểu biết chân xác về cuộc đời qua 3 khía cạnh:  VỊ NGỌT, SỰ NGUY HIỂM, VÀ SỰ XUẤT LY. 

Để thật sự hiểu những điều này, vị tu sĩ hay vị Samon cần có nhận thức rõ ràng. Đối với những chúng sanh đang sống với sự tham đắm có nghĩa  những chúng sanh đó đang hưởng vị ngọt của cuộc sống, cuộc sống không có vị ngọt người ta không tham cầu, rõ ràng  nó phải có cái gì đó người ta mới tham đắm, nhưng trong sự tham cầu đó còn có một cái khía cạnh khác chúng ta cần đề cập đến đó là sự đau khổ. 

Sự đau khổ được xem là bản chất nguy hiểm của đời sống. Ví dụ, khi đi du lịch chúng ta nhìn thấy các quốc gia phát triển rất mạnh mẽ,  những thành phố được xây cất càng ngày càng lớn, càng ngày càng qui mô, càng ngày càng tráng lệ, chúng ta hiểu người ở xứ này đang hưởng vị ngọt. Nhưng rồi chiến tranh, sự ô nhiễm của môi sinh, sự căng thẳng ở trong đời sống của con người, đó là những khía cạnh nguy hiểm có thể tạm kể ra.

 Thí dụ, trong đời sống hôn nhân có thể cho con người những niềm hạnh phúc. Chúng ta tìm thấy hình ảnh của những đôi nam nữ dắt tay nhau đi dạo phố, họ sống chung nhau với những sự ngọt ngào trong tình yêu. Đối với Phật Pháp họ đang hưởng thụ vị ngọt của đời sống. Nhưng mà rồi những phiền não, những đau khổ từ bi kịch của hôn nhân như sự ghen tuông, hay sự đòi hỏi, hay sự bực bội, hay sự ràng buột đó là sự nguy hiểm. Người ta thường thấy được một phương diện của câu chuyện, chuyện của người khác thì mình sáng nhưng chuyện mình thì quáng, đặc biệt lúc mình vui mình thấy đời màu hồng, lúc mình bi quan mình thấy toàn màu đen tối. 

 Đức Phật dạy, một người sống hiểu biết là người thấy được cả hai vị ngọt và sự nguy hiểm. Và một vị tu sĩ một vị Samon thật sự phải thấy cả ba: thế nào là vị ngọt, thế nào là nguy hiểm và cũng thấy được sự xuất ly một phương thức vượt ra ngoài 2 điều đó. 

Chúng ta lấy một ví dụ, mình sống ở trong một xã hội có nhiều tiện nghi vật chất, mình mua được chiếc xe vừa ý, mình rất thích, đó là vị ngọt. Nhưng trong vị ngọt đó cũng có sự nguy hiểm, có cái mình vừa ý thì cũng có những hệ lụy của nó, có những phiền hà, mình có được chiếc xe tốt  cũng lo lắng. Vì vậy cần có sự xuất ly tức là phương cách nào đó để  sống đạt đến một cảnh giới tương đối nhẹ nhàng không bị chao đảo bởi cả hai vui và khổ,  vị ngọt và nguy hiểm của vấn đề.

 Điều này thể hiện một thứ bản lãnh, bản lãnh đó là bản lãnh có thể giải thoát được, có thể vượt lên trên được không bị dính liú vào những việc phiền hà những  vui những buồn.  Nếu chưa có khả năng xuất ly để tâm của chúng ta trở thành bình đạm với mọi sự việc Đức Phật dạy  người đó chưa đủ sự hiểu biết và chưa đủ sự sống của một vị Samon.

 Nói cách khác, trong cái nhìn của Đức Phật chúng sanh thường tình có hưởng thụ tức là có vị ngọt, có khổ đau, có sự nguy hiểm và vượt qua khỏi những điều đó tức là có phương cách để xuất ly. Một vị tu sĩ đúng nghĩa vị tu sĩ phải có sự hiểu biết chân thật, nếu không hiểu biết về vị ngọt người đó sẽ nhìn một cách phiến diện cũng như chỉ nghĩ tới sự nguy hiểm, biết chỉ một chiều, biết chỉ một mặt không đủ và đồng thời vị này cũng phải có khả năng để vượt ra khỏi điều đó. 

Ví dụ, trong sự tranh luận. Vị ngọt của sự tranh luận là làm cho người ta có cảm giác thoả mãn, thoả mãn mình đúng, thoả mãn mình hay. Nhưng sự nguy hiểm của tranh luận là dẫn đến hơn thua, dẫn đến thù oán. Và khả năng xuất ly tức là khả năng làm sao để mình không bị cuốn hút vào sự tranh luận đó. Nếu một vị tu sĩ lúc nào cũng tranh luận hơn thua về sự hành trì, về tông phái, về thế này thế kia. Vô chùa tu chưa biết mình đạt được sự giải thoát gì nhưng qua sự tu tập của mình đầu tiên là tạo sự so đo, tạo thành một sự luận chiến tức là tạo phiền phức trong việc phải phân bua về đúng, sai, phải, quấy và làm cho mình trở lên phiền hà khổ não, là do chúng ta không hiểu sự xuất ly. Một vị tu sĩ thật sự phải hiểu được tại sao chúng sanh tham đắm vào cái gì đó? tại vì nó có vị ngọt, tại sao chúng ta khổ? tại vì nó có sự nguy hiểm, nhưng vị đó còn phải hiểu khả năng xuất ly làm sao đừng để cho  bị vướng vấp nhiều quá, đừng bị cho bị kẹt vào thế giới đó.

Chúng tôi vừa  đưa ra một thí dụ rất thường thấy trong giới tu sĩ. Mình chưa làm cho tâm được ổn định đã tự bị lôi cuốn vào những tranh luận; đây là pháp môn đúng, kia là pháp môn sai, mình tu cao, người kia tu thấp v.v..  Một khi tâm bị vướng vấp vào những chuyện đó mình không thể nào thanh thản, không thể nào định tỉnh, không thể nào sống với cuộc sống tinh thần. Đời sống đi tu, vị Samôn thật sự không phải ngồi đó để tranh hơn thua với người khác, đời sống tu sĩ thật sự không phải là đời sống để mình chứng tỏ mình cao hơn người khác, không phải, mà là khả năng bản lĩnh vượt ra khỏi những hệ lụy và những hệ lụy rất thường tình. Nếu mình vẫn tiếp tục đắm chìm trong hệ lụy đó tức là mình đang sống trong sự nguy hiểm của cuộc sống.

 Nhưng sống với sự nguy hiểm của cuộc sống mà không hiểu sự xuất ly thì Đức Phật Ngài chưa gọi người đó là một vị tu sĩ thật sự, vị Samon thật sự. 

Đức Phật Ngài cho thấy một điều, một vị Samon một vị tu sĩ thật sự phải có khả năng chứng đạt chánh trí thắng trí. Thắng trí là trí tuệ thù thắng trí tuệ vượt lên trên. Chứng đạt và an trú mục đích của Samôn hạnh. 

Chứng đạt được mục đích chính của đời sống tu là gì? Mục đích chính của đời sống tu không phải mình tu rồi mình làm trụ trì, mình có ngôi chùa lớn, mình có địa vị, mình có chức vụ. Thật sự mục đích chính của đời sống Samon hạnh  là thành tựu những giai đoạn tu tập nội tại, sự tu tập nội tại đó đủ làm cho vị đó sáng suốt, an lạc, và giảm phiền não. Nếu không thấy được điều này thật sự chúng ta xa rời mục đích của Samôn hạnh. 

Giống như một học sinh đến trường ngày nay nhiều người quá quan trọng quần áo mặc gì cho đẹp để hãnh diện với bạn bè, họ quá quan trọng vào chiếc xe, quá quan trọng vào những thú vui chơi. Nhìn bên ngoài thấy những vị đó hay nhưng thật ra mục đích của đời sống sinh viên hay đời sống đi học không phải chuyện mình đua đòi hơn thua với bạn bè, mà mục đích làm sao mình học được thật sự tốt, có điểm cao, có sự tiến bộ để hoàn tất công việc học của mình. Đời sống tu tập cũng đơn giản như vậy. Nếu một học sinh trong thời gian đi học không thấy được vị ngọt không thấy được sự nguy hiểm  và không thấy được giải pháp cho vấn đề, dễ bị lôi cuốn và những chuyện không đâu vào đâu hết.

Chúng tôi đọc một vài bài báo gần đây  họ nói về những cậu ấm con nhà giàu, cha mẹ rất giàu, và muốn chứng tỏ sự giàu có bằng cách đốt tiền bằng cách tiêu pha cực kỳ phung phí. Thật sự những điều đó làm cho người ta hãnh diện thoả mãn mình giàu mình có tiền. Nhưng với một người còn trẻ  thật sự hiểu biết thì đó không phải là điều để hãnh diện. Mình may mắn sinh ra trong gia đình giàu có tiền để tiêu pha phung phí điều đó không có gì hãnh diện nhiều. Điều đáng hãnh diện là mình còn trẻ cha mẹ tuy giàu nhưng mình biết tập trung, biết lo chuyện học hành, biết trao dồi nhân cách của mình. Nhưng ít có người nghĩ được như vậy.

Đức Phật Ngài dạy rất rõ, đời sống của một vị tu sĩ không phải là chiếc áo, không phải vai trò địa vị hay gì đó làm cho một vị tu sĩ trở thành vị tu sĩ thật sự, vị tu sĩ thật sự là thành tựu thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Samôn hạnh. Mục đích Samon hạnh là tâm giải thoát và tuệ giải thoát.  

Xuyên qua nhiều lời dạy Đức Phật Ngài đã rất rõ ràng, bản thân của Ngài khi chưa thành tựu chánh đẳng chánh giác khi chưa thành Phật thì Ngài nhìn cuộc đời này cũng là cái nhìn cuộc sống phải có ý trí nhận thức được có vị ngọt, đúng là nó có vị ngọt, nhưng mà rồi nó có nguy hiểm làm chúng sanh đau khổ, Ngài nghĩ đến  con đường xuất ly. 

Và bây giờ Ngài là một vị Phật khi trình đạt giáo pháp khi hướng dẫn người ta tu tập Ngài cũng khẳng định tương tự như vậy, thế nào là một vị Samon? thế nào là một vị tu tập thật sự? Vị tu tập là vị có hiểu biết về vị ngọt của cuộc sống, hiểu biết sự nguy hiểm của cuộc sống, hiểu biết về sự xuất ly. Không hiểu được điều đó  cuộc sống mình nghèo nàn, phiến diện, và chưa gọi là đủ để tự tại trong cuộc đời này. 

Câu chuyện tại trường thiền 

Các vị thiền sư thường nhắc nhở ngay cả với một hành giả đang tu tập vẫn có vị ngọt và sự nguy hiểm đuợc tìm thấy nhưng ở mức tế nhị hơn. Chúng tôi nhớ có một vài trường thiền như trường thiền của Ngài Axàphạ ở Thái Lan, khi bước vào trường thiền cảm giác đầu tiên sẽ rất thích thú, trường thiền được xây trên một mảnh đất rất rộng với nhiều cây cao bóng mát và đặc biệt rất nhiều hoa sứ đã được trồng từ hơn 60 năm về trước bây giờ nó trở thành những cội hoa sứ già gốc to, có hoa màu nửa vàng nửa trắng và mùi thơm hoa sứ thoang thoảng. Hầu như 4 lần chúng tôi trở lại trường thiền này vào nhiều thời gian khác trong năm chúng tôi có cảm tưởng như hoa sứ nở 4 mùa. 

Trường thiền được chăm sóc quá kỹ càng, những am thất được thiết kế tiêu chuẩn quá đẹp do vậy chúng tôi có cảm tưởng như trường thiền biến thành một khu resort một nơi nghỉ hè, những người đi tu học ở tại đây thức ăn không phải trả tiền được cung cấp mỗi ngày rất dồi dào, am thất không có điện nước nhưng tương đối cao thoáng đẹp thoải mái và những con đường đi lại có hoa cỏ có cây cao bóng mát. 

Có một lần chúng tôi đến đó nghe một vị Sư đệ tử đời thứ ba của Ngài Axàphạ hướng dẫn. Vị này nói ngay cả trong thiền viện người ta cũng dễ dàng để dính mắc với vị ngọt. Vị ngọt ở đây là cảm giác rất thanh thản, rất nhàn hạ, rất đẹp, rất hữu tình của những con đường đi lại của hoa sứ của am thất. Nhưng mà rồi cũng có sự nguy hiểm, sự nguy hiểm ở tại đây là hành giả cũng có thể tự mình sống trong một thế giới mà nó quá tế nhị, nó quá thanh thản, nó quá tốt để con người hưởng sự nhàn hạ sanh ra dính mắc rồi sanh ra không tinh tấn, nó có sự nguy hiểm.

 Vị này nhắc nhở một người tu tập là phải thấy được bịnh của mình, mình sống có khi nay bịnh mai đau hay có những thay đổi về tâm lý lúc vui lúc buồn và phải nhận ra được sự vô thường của thân và tâm để tinh tấn tu tập. Nếu chúng ta vào trong trường thiền ở trong một khung cảnh thoải mái dễ chịu  không khéo chúng ta chỉ hưởng được sự nhàn hạ hay hoặc giả chúng ta sẽ bị rơi vào sự nguy hiểm khi tâm của chúng ta bị phiền lụy về những cái không được như ý. Và khả năng của một hành giả ở trong trường thiền là phải đối diện, phải tiêu hóa, phải hóa giải được những phiền hà hệ lụy. Trong mọi cuộc sống bắt buộc chúng ta phải đối diện với trạng huống tương tự. 

Câu chuyện tại Mỹ. 

Chúng tôi qua Mỹ năm 1980, khi đó được lái xe một mình đi đến nơi này nơi khác ở trong miền Nam California, cảm thấy hạnh phúc, thấy thật sự mình được tự do, thật sự sống trong xã hội tiến bộ. Nhưng, trong thế giới đó cũng có bao nhiêu thứ nguy hiểm,  phiền lụy giữa con người với con người, giữa những nhu cầu. Cũng có người thấy nước Mỹ như  một thiên đường, cũng có nhiều người nghĩ ở Mỹ có vị ngọt. Thí dụ, một người đi làm chỉ một ngày ở Mỹ  họ có thể mua một chiếc xe đạp, ở Việt Nam không cách gì đi làm chỉ một ngày mua được chiếc xe đạp, thậm chí ở đây có nhiều người chỉ đi làm một giờ cũng đủ mua một chiếc xe đạp, hoặc có người đi làm một ngày mua được cái TV. Ngày xưa lúc chúng tôi còn nhỏ ở VN cái TV trắng đen là tài sản lớn của đời người không dễ gì mua được, bây giờ đi làm mua được cái TV. Tuy nhiên ở bên Mỹ lại có bao nhiêu bi kịch, đủ thứ bi kịch từ trong gia đình ra ngoài xã hội chứ không phải đơn giản chỉ có vị ngọt không có sự nguy hiểm. Và để sống giữa cuộc đời này, giữa hai mặt nguy hiểm và vị ngọt mình có thể tồn tại ở trong sự thanh thản, có thể có những giây phút thắp một nén nhang trước bàn Phật, tụng một thời kinh, ngồi thiền, hoặc giả chúng ta đang ngồi đây để cùng nhau đọc lại những lời Đức Phật dạy, suy niệm lời của Đức Phật dạy, có những giây phút tương đối không bị vướng vấp bị kẹt vào những chuyện bên ngoài, thì không đơn giản. 

Câu chuyện cổ tích

Chúng tôi nói về một chuyện giản dị nhất đó là chuyện cổ tích. Thi dụ, ngày xưa chúng ta hiểu những câu chuyện cổ tích bà mẹ dạy con đi đường phải cẩn thận, em bé thì ngây thơ và con đường đi rất đẹp có hoa có bướm, nhưng cũng có sự nguy hiểm, có những loài lang sói, có những con sói  như vị phù thủy nó có thể dụ em bé, cuối cùng bắt em bé. Đôi khi trong một chừng mực nào đó đời sống của chúng ta giống như một em bé nhỏ ngây thơ đi lang thang ở đời trên con đường nhìn thấy bao nhiêu thứ hoa thơm cỏ lạ, có hoa có bướm đẹp, cũng có những nguy hiểm đang trực chờ phải làm sao đi đến nơi về đến chốn, phải làm sao để không  bị rơi vào sự nguy hiểm. Đó là điều trong chuyện cổ tích chúng ta thường đọc.

Sáng hôm nay chúng ta thức dậy bắt đầu một ngày mới, ngày mới có thể cho chúng ta niềm vui vị ngọt nhưng chúng ta đừng quên có bao nhiêu nguy hiểm đang trực chờ. Khả năng kéo tâm tư của mình về thực tại, khả năng ý thức được vô thường bất toại và vô ngã trong đời sống, khả năng để sống tỉnh táo tỉnh thức với cái vui cái buồn với vị ngọt của nguy hiểm, khả năng đó là khả năng của vị hành giả tu tập của đời sống Samon hạnh. Khả năng để có thể bình tâm  để giữ tâm mình bình đạm trước những xáo trộn và những chi phối về vị ngọt của đời sống điều đó không phải là chuyện đơn giản. Chúng ta thường vui rất nhiều và khổ rất nhiều, chúng ta thường đưa mình lên tận mây xanh tận đỉnh cao của vị ngọt rồi chúng ta bị lôi xuống vực thẳm của khổ đau. Đời sống đôi khi có sự xáo trộn cực kỳ nó xé chúng ta thành hai ba mảnh đời và nó đưa chúng ta vào một hành trình vô định, và chính chúng ta đôi lúc giống như một con thuyền hay một chiếc lá bị cuốn theo giòng cuồng lưu và bản thân mình không thể cầm tay lái được.

 Thì ở đây Đức Phật Ngài luôn luôn nhắc chúng ta đời sống Samon và bản lãnh của Samon là khả năng có đủ sự hiểu biết về vị ngọt, về nguy hiểm, về xuất ly, vị đó có khả năng thành tựu được thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích Samon hạnh trong đời sống này. 

 Đức Thế Tôn đặc biệt Ngài giảng bài kinh này với một cách trình bày Samon hạnh. thế nào là một vị Samon thật sự, và qua đó Đức Phật cũng đề cập đến 3 điểm của một người tu đúng nghĩa, một vị Samon đúng nghĩa, một vị Samôn theo Đức Phật dạy là một người có khả năng hiểu biết vị ngọt của đời sống, sự  nguy hiểm của đời sống, và sự xuất ly của đời sống, thành tựu được thắng trí chứng đạt và an trú mục đích của đời sống Samon ngay  trong hiện tại này ./.

Monday, March 21, 2016

Tôn Giả Ratthapala - Tăng Chi Bộ - Chương 1

Tôn Giả Ratthapala  - Tăng Chi Bộ - Chương 1 

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 22-2-2016, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Thời Đức Phật còn tại thế tại một vùng đất những người dân có duyên lành đặc biệt với thiền Tứ Niệm Xứ hay Thiền Quán, vùng đất  tên  Kuru. Vùng đất đó ngày nay người Ấn Độ đặt thủ đô là Tân Đề Ly, nơi này vẫn còn có bia ký của vua A Dục đánh dấu nơi Đức Thế Tôn đã thuyết trình kinh Đại Niệm Xứ. Người Kuru đặc biệt mỗi khi gặp nhau thường hỏi nhau "anh chị có thực hành Tứ Niệm Xứ không? có đạt được tiến bộ gì không?" Và việc hành thiền đã trở nên một sự  thực hành rất phổ cập tại đây. 

Tại Kuru một lần Đức Thế Tôn về thuyết pháp, một số đông các vị Balamon đến đảnh lễ Đức Thế Tôn và nghe Ngài thuyết pháp họ rất hoan hỉ, sau khi nghe pháp xong họ đảnh lễ Đức Phật đi về, riêng một thanh niên trẻ tuổi ở lại không về, thanh niên đó đúng với chữ trong kinh thường đề cập kulaputta nghĩa là một thiện gia nam tử trong từ chữ Hán. Thiện gia nam tử chỉ cho một người xuất thân từ trong một gia đình gia giáo còn trẻ có đầy đủ những điều kiện tốt đẹp của đời sống nhưng lại là một người được hấp thụ đầy đủ về giáo dục và rất có thiện tâm, Ratthapala là một thiện gia nam tử như vậy. 

Thanh niên trẻ tuổi đó đến trước Đức Phật đảnh lễ Ngài và khẩn khoản xin được xuất gia bởi vì vị này sau khi nghe pháp hiểu rằng chỉ có đời sống xuất gia mới có thể thực hành phạm hạnh viên mãn được, đời sống gia đình rất khó. Đức Phật Ngài rất hoan hỉ, Ngài dạy  trước khi xuất gia cần phải về nhà xin phép cha mẹ. Ratthapala đảnh lễ Đức Phật  và bạch sẽ làm tất cả những gì cần làm để có được sự chấp thuận của cha mẹ cho đi xuất gia. 

Thanh niên Ratthapala trở về nhà thưa với cha mẹ về ý định của mình mong cha mẹ chấp nhận. Phản ứng đầu tiên Ratthpala tìm thấy ở cha mẹ là sự phủ quyết, sự phản đối mạnh mẽ. Cha mẹ Ratthapala nói: "Con là con trai duy nhất của ta, con muốn tạo phước thì đây là tiền, đây là của, con muốn làm phước như thế nào cũng được nhưng con không thể đi xuất gia được, tại vì con là con độc nhất trong gia đình". 

Với một sự phản đối mạnh mẽ gần như không có cách gì có thể lay chuyển, công tử Ratthapala đành phải dùng cách tuyệt thực. Ratthapala đã ngồi một chỗ không ăn không uống và nói: " Con sẽ không ăn không uống và sẽ không rời chỗ này cho đến khi được phép của cha mẹ đi xuất gia". 

Ban đầu cha mẹ Ratthapala nghĩ cứ để yên như vậy một lúc thì đói khát  Ratthapala chắc chắn sẽ bỏ cuộc. Nhưng mà không, từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều, từ chiều đến tối Ratthapala vẫn ngồi yên bất động. Bấy giờ bà cụ  xót xa, tại vì chưa bao giờ thấy con mình nhịn đói nhịn khát trong một thời gian dài như vậy, hai ông bà lại nghĩ một điều  bây giờ phải nhờ những người bạn. Ratthapala có rất nhiều bạn bè bởi vì là một thanh niên trẻ  giàu có hoạt bát do đó bạn bè đông, Ông bà gọi những người bạn đến, những người bạn này được yêu cầu khuyên nhủ Ratthapala thay đổi ý định. Nhưng mà rồi khuyên nhủ không được, không ai có thể thay đổi ý tưởng của   Ratthapala.

Cha mẹ của vị công tử nhận ra một điều chỉ còn một cách duy nhất cho vị này đi xuất gia rồi sau đó tìm cách để kéo trở về. Cha mẹ Ratthapala cũng nghĩ rằng  cho Ratthapala xuất gia cũng còn có hi vọng Ratthapala không chịu được những gian khổ của đời sống không nhà không gia đình và sẽ trở về với đời sống thế tục.

Cuối cùng công tử Ratthapala đạt được yêu cầu đó là sự đồng ý của cha mẹ cho đi xuất gia. Ratthapala trở lại gặp Đức Thế Tôn, Đức Phật Ngài đã cho phép thọ đại giới. Rất nhanh chóng sau đó không lâu với sự  hướng dẫn chỉ dạy của Đức Phật Ratthapala thành tựu quả vị viên mãn giác ngộ giải thoát trở thành vị Alahán.

 Nhưng câu chuyện mang đầy kịch tính của  vị tỳ kheo trẻ tuổi Ratthapala không dừng lại ở đó, chúng ta được Tôn Giả Ananda tiếp tục kể lại.

Có một lần Tôn Giả Ratthapala đi ngang căn nhà  nơi mình đã lớn lên từ thời thơ ấu. Cha của Tôn Giả Ratthapala đang ngồi phía trước cửa thấy ở xa có một vị Samon khất thực mang bình bát đi đến, ông nổi cơn giận, ông nghĩ trong lòng chính do những ông thầy tu này mình mất đi đứa con yêu qúi. Ông quay lưng vào trong nhà, ông nói với những người gác cổng: "Thấy ông thầy tu từ xa đi đến không? Chính vì ông thầy tu như vậy ta mất một đứa con do đó khi nào ông thầy đi ngang qua các ngươi phải to tiếng chửi".

Vì  ông chỉ thấy Ratthapala từ xa do đó chưa nhận  ra đó là con của mình, và vì quá bực ông đã ra lệnh cho những người khác chửi bới xỉ vả cũng vì ông không biết đó là con của mình. Những người gác cổng phải nghe lời ông chủ khi Ngài Ratthapala đi ngang nhà họ dùng nhiều lời thậm tệ chửi mắng Ngài. 

Tất nhiên, là một vị Samon một vị Alahan khi bị người khác chửi mắng đó không phải việc làm cho Ngài xao xuyến. 

Một chuyện xảy ra là khi Ngài đi ngang qua nhà đến một bãi cỏ tương đối lớn, Ngài gặp một người nữ tỳ đang bưng một thau cháo đi đổ. Gia đình của Ngài Ratthapala rất giàu có, người Ấn Độ ít khi nấu ăn dư thừa, thường họ nấu canh rất kỹ nhưng những gia đình giàu có thường mời người này người kia đến và để có đủ số thức ăn cho tất cả mọi người họ thường nấu dư,  đó là dấu hiệu của gia đình giàu có, và có một điều khác nữa người ta không ăn thức ăn qua đêm lý do thời đó không có tủ lạnh những thức ăn nấu với sữa  để qua đêm thường bị hư nên thức ăn thừa đổ đi cũng là dấu hiệu của người giàu có. Và khi đem đổ người ta không đổ trong nhà vì sợ nó hôi, họ đổ xa. Thì Ngài thấy một người gia nhân ở trong nhà của mình trước kia muốn đổ bỏ cháo Ngài mới nói: "này chị, nếu phải đổ bỏ cháo này thì hãy đổ vào bát của tôi" . Tại vì Ngài biết cháo đó vẫn còn ăn được người ta muốn đổ đi là tại vì ở trong nhà không muốn ăn đồ cũ. Ngài nói: "cứ đổ vào bát của tôi". Người nữ tỳ nhìn lên thấy Ngài bởi vì nghe được giọng nói của Ngài người tỳ nữ nhận ra đó chính là thiếu gia, chính là vị thiếu chủ mình đã từng chăm sóc khi còn là một cư sĩ. 

Người nữ tỳ sớt cháo vào trong bình bát của Tôn Giả một cách lễ độ và nhanh chóng chạy về nhà gặp mẹ của Ngài Ratthapala thưa với bà cụ: "Thưa Tôn Mẫu, Tôn Mẫu có biết là công tử đã trở về không?" 

Khi nghe người nữ tỳ nói như vậy mẹ của Ngài Ratthapala nói với người nữ tỳ:  "Nếu thật sự là Ratthapala về thì con sẽ không còn là người ở đợ trong nhà của ta nữa". Ý muốn nói nếu Ratthapala thật sự trở về thì bà sẽ cho tiền người nữ tỳ trở về lập nghiệp để trở thành một người có đời sống tự lập độc lập không còn thân phận người nữ tỳ nữ. 

Câu nói đó thể hiện thể hiện tình thương bao la của bà mẹ, mừng lắm, vui lắm khi được nghe đứa con trở về. Bà đi đến cha của Ngài Ratthapala hỏi: "Ông có biết con trai mình trở về không?" Khi ông nghe nói con trai mình đã trở về ông vội chạy ra đường và đi theo hướng người nữ tỳ nói, từ xa ông thấy một vị Samon ngồi dựa vào bức tường, mau chóng ông nhận ra đó là đứa con trai của mình Ratthapala đang ngồi trong sự thanh tịnh yên lặng thọ thực, thực phẩm đó chính là phần cháo trong nhà  biểu người nữ tỳ đem đổ. 

Ông chạy đến nói: "Này con thân yêu, có phải con đang ăn cháo bị đổ bỏ không? Đây là nhà của con tại sao con không vào nhà?" Câu nói đó của người cha nói lên đủ tất cả sự thương yêu của bậc cha mẹ đối với đứa con của mình.

Ngài Ratthapala từ tốn trả lời: "Đối với đời sống Samon chỗ nào cũng là nhà".

Câu nói đó là một câu nói rất hay về sau này có một nhà thơ viết câu này thành một bài thơ rất đẹp:

 "Trong trời đất nơi nào không quán trọ,
 tâm tư vô danh lai khứ cũng vô danh."

Chúng ta có câu nói  "bốn biển là nhà". Nhưng câu nói ở đây,  với vị Samon  đã xuất gia rồi thì không có nhà, đã từ bỏ gia đình rồi thì không có nhà nữa. Thật ra một sự khác biệt giữa vị tu sĩ Bàlamon và Samon. Đời sống Samon là đời sống từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sống không nhà. 

 Ngài Ratthapala nói Ngài có đi ngang nhà nhưng không nhận được thực phẩm, chỉ nghe những lời chửi mắng thôi. 

Cha của Ngài nói bây giờ hãy về nhà tại vì lúc đó không biết, bây giờ hãy về nhà. 

Tôn Giả Ratthapala nói hôm nay thọ thực như vậy đã đầy đủ rồi, Ngài nói hôm nay Ngài ăn cháo vậy là đủ rồi. 

Cha của Ngài nói "vậy ngày mai đến nhà dùng cơm". Đó là lời mời trai tăng và Tôn giả im lặng, sự im lặng là cách nhận lời của những đệ tử Phật, và  chính Đức Phật cũng đã như vậy. 

Cha của Tôn Giả Ratthapala lập tức trở về nhà gọi những người trong nhà chuẩn bị những gì cần thiết. Ông cho dọn dẹp trang trí nhà rất đẹp, nhà đã giàu đã đẹp rồi bây giờ phải làm cho đẹp thêm, đặc biệt trong nhà được trang trí bằng hai đống vàng đống bạc. Ngày xưa người ta không dùng tiền giấy như chúng ta bây giờ,  họ dùng vàng và bạc. Và vàng và bạc được chất thành đống lớn được những tấm màn để che lại giống như một cách để trang trí. Cha của Ngài cũng gọi những người vợ cũ của Ratthapala, trước khi Ratthapala đi xuất gia cha Ngài cũng đã tìm những mỹ nữ những người đẹp về đề làm vợ cho đứa con trai của mình. Ông dặn những người vợ này hãy trang điểm thật đẹp, mặc đẹp với những bộ quần áo đẹp ngày xưa đã từng được Ratthapala ưa thích. 

 Đêm đó Ngài ngủ ở ngoài rừng dưới một cội cây. Sáng hôm sau Tôn Giả Ratthapala từ chỗ nghỉ của mình đi đến ngôi nhà xưa  để làm theo lời hứa với người cha đến để nhận thực phẩm trai tăng. Khi Ngài Ratthapala đến trong nhà đã soạn một chỗ ngồi giống như ở trong nhà thường mời các vị Balamon đến ăn cơm. Người Ấn Độ rất quen thuộc với nghi thức này, thỉnh thoảng họ mời các vị tu sĩ đến nhà dùng cơm, cho đến bây giờ cũng như vậy, những vị đi học ở Ấn Độ lâu lâu cũng được các người Balamon mời đến nhà ăn cơm. 

 Khi Tôn Giả ngồi xuống, cha của Ngài gọi các gia nhân kéo những tấm màn lêm, khi hững tấm màn được kéo thì hiện ra những đống vàng ngọc ngà châu báu thật lớn, lớn đến nỗi Ngài sống trong gia đình giàu có mà Ngài chưa thể tưởng tượng là trong nhà có tiền bạc nhiều như vậy, lâu này cha của Ngài chưa bao giờ mang vàng bạc ra chất đống nhiều như vậy.  

Người cha nói với Tôn Giả Ratthapala bằng tất cả sự thương yêu của người cha: "Này con Ratthapala, đây là tiền tài là gia sản của mẹ, của cha, của tổ tiên, con có thể hưởng thụ vật chất những gì con muốn và đồng thời làm các công đức làm các việc phước đức, con hãy rời bỏ đời sống xuất gia hoàn tục để hưởng thụ các tài vật và làm các phước thiện". 

Ý người cha muốn nói chỉ cần Ratthapla hoàn tục tất cả tài sản này giao hết cho Ratthapala  có quyền hưởng thụ và cũng có thể làm phước nếu  qúi đạo, thi dụ như qúi đời sống hiền thiện thì Ratthapala có thể làm công đức được.

 Ngài Ratthapala đã nhẹ nhàng nhưng rất rõ ràng Ngài nói : "Thưa gia chủ, nếu thật sự gia chủ có thể làm theo lời của bần đạo đem tất cả vàng bạc châu báu này đổ xuống giữa giòng sông Hằng tốt hơn, bởi vì chính những thứ tài sản này làm cho gia chủ sầu bi khổ ưu não nhiều.""

 Ngài nhìn từ góc cạnh của người xuất gia do sự giàu có hưởng thụ con người sanh ra phiền não và sống trong phiền não thì sanh sầu bi khổ ưu não." 

 Khi nghe Ngài nói như vậy những người vợ cũ của Ngài chạy đến ôm chân Ngài hỏi: "Thưa phu quân có phải vì một thiên nữ nào đó phu quân sống phạm hạnh không?"

  Ý muốn nói có phải vì Ngài mơ ước sanh về cõi trời để sống với một thiên nữ nào, hay nói cách khác vì một người nào đó đẹp hơn những người vợ cũ Ngài đi xuất gia chăng, sống phạm hạnh chăng?. 
  
  Ngài Ratthapala không nói không phân bua nhiều, Ngài nói: "Này các chị, không phải vì thiên nữ nào mà chúng tôi sống phạm hạnh". 
  
  Những người vợ nghe Ngài Ratthapala kêu mình bằng chị thì mấy vị đó xỉu liền ngã ra bất tỉnh là tại vì chưa bao giờ Ngài Ratthapala gọi những người vợ bằng chị hết. 
  
  Kế đó Tôn Giả Ratthapala nói với cha của Ngài: "Này gia chủ nếu Ngài muốn bố thí đồ ăn thì xin cứ cho đồ ăn và xin đừng phiền nhiễu". 
  
  Người cha thấy Ngài dứt khoát như vậy bèn nói với những người trong nhà  dọn thực phẩm cho Ngài ăn. Những người trong nhà mang thức ăn rất ngon, thức ăn thượng vị được chuẩn bị rất kỹ lưỡng để cúng dường Ngài Ratthapala.
  
   Sau khi thọ thực xong Ngài Ratthapal đứng dậy và Ngài  nói một bài kệ, bài kệ rất đẹp, bài kệ được Tôn Giả Ananda nghe và trùng tuyên lại, bài kệ này lẽ ra dịch là thơ thì rất là hay. Bài kệ đã ảnh hưởng của chúng tôi, bài kệ này đã đi vào trong tuổi thơ của chúng tôi. Thật ra khi TT Tuệ Siêu và chúng tôi còn nhỏ vào chùa đọc những bài kinh này có thể những bài kinh đọc rất  sớm từ lúc mới vô chùa, bài kệ đã để lại một ấn tượng rất lâu dài rất đẹp.
  
Hãy nhìn hình bóng trang sức này, 
Một nhóm vết thương được tích tụ, 
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều, 
Nhưng không gì kiên cố, thường trú. 

Hãy nhìn dung mạo trang sức này, 
Với các châu báu, với vòng tai, 
Một bộ xương được da bao phủ, 
Được y phục làm cho sáng chói. 

Chân được sơn với son với sáp, 
Mặt được thoa với phấn, với bột, 
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu, 
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác. 

Tóc được uốn bảy vòng, bảy lớp, 
Mắt được xoa với thuốc, với son, 
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu, 
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác. 

Như hộp thuốc trang hoàng mới mẻ, 
Là uế thân được điểm thời trang, 
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu, 
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác. 

Người thợ săn đặt bày lưới sập, 
Loài nai (khôn) chẳng chạm bén chân, 
Ăn lúa xong, chúng ta lên đường, 
Mặc cho kẻ bắt nai than khóc. 

  Ngài đọc câu kệ như vậy với phong thái thoát tục nhẹ nhàng.
  
   Sau đó Tôn Giả Ratthapala rời khỏi ngôi nhà của mình, nơi đó có cha có mẹ có những người vợ cũ có cả một gia sản khổng lồ bạc vàng châu báu. Ngài đi đến một vườn có cây cao bóng mát, là một công viên do vua Koravya tạo nên để thỉnh thoảng đến nghỉ mát. 
   
   Cũng trong bài kinh này lại có thêm một phần đối thoại, phần đối thoại này không mang nhiều kịch tính nhưng lại có ý nghĩa rất đẹp và ý nghĩa này cũng thường được các vị Giảng Sư nhắc lại.
   
    Hôm đó vua Koravya muốn đi đến vườn, đây là một khu vườn nhiều nai  với cây cao bóng mát thỉnh thoảng nhà vua đến để săn bắn. Những vị vua giàu có họ thường có một khu rừng riêng  những khu rừng đó người ở bên ngoài không được phép đến săn bắn, chỉ có nhà vua lâu lâu đến đó để săn bắn, đi săn bắn chỉ là thú vui của các vị vua. 
Hôm đó nhà vua đến khu vườn để săn có một người thợ săn đi theo nhà vua, khi đến vườn nai người thợ săn nhận ra Ngài Ratthapala và thưa với nhà vua là ở trong vườn nai đã chuẩn bị sẵn sàng cho nhà vua đi săn nhưng tại vì trong vườn nai có Tôn Giả Ratthapala đang thiền định ở dưới một gốc cây. 
Lời nói của người thợ săn có 2 ý nghĩa: một là trước khi nhà vua đi săn thì người thợ săn đi dò thám trước thấy hôm nay có những con nai sẵn sàng để bắn, và điểm thứ hai người thợ săn cũng thưa rằng ở tại đó có một vị samon, vị samon này thợ săn biết là Tôn Giả Ratthapala. Bởi vì khi Ngài Ratthapala đi xuất gia chấn động cả kinh thành, con trai của một gia đình giàu có là một vị công tử kiến văn quảng bác và có tương lai sáng lạng từ bỏ gia đình sống đời sống không gia đình nên rất nhiều người biết Ngài, và hôm nay thì ở trong chiếc áo của vị Samon Tôn Giả Ratthapala đang ngồi thiền định ở trong rừng người thợ săn có hàm ý rằng vì sự có mặt của Ngài nên chuyện đi săn là không hợp lý. 
Vua Koravya là một vị vua có đạo đức, khi nghe người thợ săn nói như vậy vua nói người thợ săn hôm nay mình đi vào rừng như vậy là đủ rồi đừng săn bắn, hãy đem những thức ăn ngon đem đến cúng dường cho Tôn Giả (Vì khi đi săn tùy tùng của nhà vua mang theo thức ăn ngon để nhà vua dùng).
Nhà vua cùng đoàn tỳ tùng đi đến chỗ Tôn Giả Ratthapala và nhà vua thấy phong thái của Tôn Giả nhà vua cũng hiểu đó là một vị công tử giàu đi xuất gia nên nhà vua sai mang nệm  da rất đẹp của vua để xuống mời Tôn Giả ngồi, nhưng Tôn Giả từ chối và Tôn Giả nói đủ rồi. 
 
Câu đầu tiên vua Koravya hỏi Tôn Giả  Ratthapala:

- Thường thường người ta đi tu do 4 điều suy vong:
 1. là lão suy vong tức là già rồi, tức là khi còn trẻ thì oanh liệt bây giờ già mình không còn oanh liệt tự nhiên mình nản mình đi xuất gia.

 2. Bệnh suy vong. Là con người mình không được khỏe, mình mang bệnh thì mình đi tu cho rồi.

  3. Tài sản suy vong. Mình đến thời nào đó tự nhiên công ăn việc làm thất bại, tán gia bại sản nản đời người ta đi tu.
  
  4. Thân tộc suy vong.  Gia đình vì lý do gì đó tan nát bị chết vì thiên tai hoả hoạn hay gì đó, bây giờ tứ cố vô thân nên đi tu. 
  
Nhà vua nghĩ người ta đi tu do  4 sự suy vong: lão suy vong, bệnh suy vong, tài sản suy vong, thân tộc suy vong. 

Ở đây, không có chuyện vì thất tình giống như chuyện tình Lan và Điệp rồi đi tu bởi vì ở bên Ấn Độ chuyện đó không có. Ở Ấn Độ một người giàu có khi nào họ muốn cưới vợ thì cưới vợ thôi chứ không đến đỗi phải đi tu như vậy. Ở đây chuyện thất tình đi tu không có nói mà nói người bị già,  bị bệnh, bị tài sản khánh kiệt, hay bị gia đình tan nát nên đi tu. 

Nhà vua cũng nói thêm về những quan niệm của mình sau đó nhà vua nói nếu dựa trên 4 điều này Tôn Giả không có điều nào trong đó hết, Tôn Gỉa còn rất trẻ, rất khỏe và gia đình rất giàu có, và gia đình còn đầy đủ cha mẹ đầy đủ người thân, không có 4 suy vong đó tại sao lại đi tu. 

Ít bao giờ có một người hỏi, sau lời hỏi đó lại là một lời trình bày rất li chi cặn kẽ như nhà vua. Có lẽ nhà vua thấy vị này còn trẻ tuổi khỏe mạnh giàu có gia tộc đông đảo lại đi xuất gia phải có cái gì đặc biệt nên nhà vua đã hỏi rất cặn kẽ.

 Cái hay của Tôn Giả Ratthapala là Ngài cũng dùng 4 điều để trả lời cho nhà vua, nhà vua đã nêu lên 4 điều người đời thường đi xuất gia Ngài Ratthapala cũng nói lên 4 điều vì sao Ngài đi xuất gia.

Lời đầu tiên của Ngài Ratthapala Ngài nói rằng: Có 4 điều được Đức Thế Tôn giảng dạy, Đức Thế Tôn là bậc Trí Giả, kiến giả, là bậc Alahan Chánh Đẳng Chánh Giác, do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe 4 điều giảng dạy ấy tôi xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình. 

 Ngài trình bày: 
1.  điều đầu tiên là "Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt". Thế giới này dù là đẹp, là xấu, là nhỏ, là lớn, là thực vật, động vật thì tất cả những gì hiện hữu trên thế giới này đều có chung cuộc đó là sự hoại diệt theo luật sanh diệt. "Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt".

2. Điều thứ hai Ngài nghe từ Đức Phật, ngài hiểu, Ngài nhận thức  hoàn toàn đó là "Thế giới là vô hộ vô chủ".

3 Điều thứ ba. "Thế giới là vô sở hữu ra đi bỏ tất cả".

4. Điều thứ tư. "Thế giới là khiếm khuyết, nô lệ cho tham ái".

 Khi chúng ta nói: 

 - "Thế giới là vô thường đi đến chỗ hủy diệt" ý muốn nói tất cả mọi thứ đều có chung cuộc là sự hoại diệt. 
 - "Thế giới là vô hộ vô chủ" là không ai làm chủ, không ai có thể bảo vệ được bởi vì nó đi theo tự tánh riêng của nó.
 - "Thế giới là vô sở hữu ra đi bỏ tất cả", cái gì mình tích tập, cái gì mình có được, cái gì mình thủ đắc mình ra đi thì bỏ hết tất cả. 
 - "Thế giới là nô lệ cho tham ái" mỗi chúng ta có bao nhiêu cũng không đủ và tiếp tục nô lệ cho lòng  tham của mình. Đó là khiếm khuyết nô lệ tham ái. 

  Ngài Ratthapala đã nghe được, học được điều này từ chính Đức Thế Tôn 4 điều này.

 Phần chánh kinh Ngài giảng cho vua Koravya:

  Điều đầu tiên thế nào là  thế giới là vô thường đi đến hủy diệt:    
– Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào ? Khi Ngài 20 tuổi, hay 25 tuổi, Ngài có thiện nghệ về voi, thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc?
Thì nhà vua xác nhận là có 

Thưa Đại vương. Ngày hôm nay Đại Vương còn có sự mạnh khỏe trẻ trung thời còn trai tráng không? 

nhà vua Koravya trả lời:

– Không như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, nay tôi đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung, gần 80 tuổi thọ. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Ratthapala, tôi nghĩ: "Ở đây, ta sẽ bước chân", nhưng tôi lại bước chân tại chỗ khác.

  - Chính liên hệ với nghĩa này, này Đại vương, Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt", và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
  
Nhà vua hỏi tiếp:

Khi nói "Thế giới này vô hộ vô chủ". Nhưng thưa Tôn giả Ratthapala, ở vương quốc này, có đội quân voi, cũng có đội quân ngựa, cũng có đội quân xa, cũng có đội quân bộ, nếu chúng tôi gặp nguy khốn thời các đội quân bảo vệ chúng tôi. Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ", ý nghĩa của lời nói này, cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala ?

Nhà vua thấy mình được bảo vệ kỹ càng tại sao thế giới lại vô hộ vô chủ. 

Tôn Giả Ratthapala mới hỏi rằng:

– Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào ? Đại vương có mắc chứng bệnh kinh niên nào không ?

Nhà vua nói là nhà vua có bệnh. 

Và nhà vua có những người thân không?

- Dạ có.

- Khi nhà vua bệnh nhà vua có người thân thì trong lúc nhà vua đang đối diện với bệnh tật đang đối diện với cái chết thì nhà vua nghĩ rằng những người thân thuộc đó, những bạn thân đó những người trong hoàng thân quốc thích những người nhà vua rất thương yêu họ cũng rất thương yêu nhà vua họ có chia sẻ được cái bệnh của nhà vua không?, có làm cho nhà vua khỏi chết không? 

Thì nhà vua trả lời thành thực là không. 

Như trong kinh Pháp Cú có câu nói: 

Một khi thần chết hiện về 
Nào ai có thể chở che cho mình
Thân nhân dẫu có chí tình
Ngậm ngùi chỉ biết đứng nhìn khóc thôi.

Ở đây Ngài Ratthapala dùng hình ảnh khi nhà vua bị bệnh thì những người thân của ông dầu có thương đến đâu cũng không làm gì được và chính vì ý nghĩa đó Đức Phật dạy "thế giới này vô hộ vô chủ". 

Nhà vua đồng ý với điều đó. Nhà vua hỏi tiếp:

- Trong vương quốc này rất giàu có, bản thân của nhà vua và nhiều người hãnh diện thấy mình có rất nhiều tại sao nói thế giới này vô sở hữu ra đi bỏ tất cả.

Ngài Ratthapala một lần nữa lại nhắc rằng tất cả tài sản và vàng bạc sau khi mất đi thì sẽ bỏ lại trao tay cho người khác không ai mang theo được, nhà vua cũng đồng ý.

 Sau cùng Ngài giải thích về "thế giới là khiếm khuyết nô lệ cho tham ái". Ngài Ratthapala hỏi nhà vua về một tâm trạng là "nhà vua đã có một vương quốc phú cường nhưng khi nghe nói phía Đông, phía Nam, phía Tây, phía Bắc có những quốc gia nhỏ đất đai màu mỡ ,có vàng bạc châu báu, nhưng nền quốc phòng yếu. Nhà vua có ý định đến xâm chiếm mở mang bờ cõi không?"

 Nhà vua trả lời là có.

 Không biết bao nhiêu là đủ, mình có vương quốc giàu có rồi nhưng nghe người ta có được mình vẫn muốn chiếm đoạt thì Tôn Giả Ratthapala gọi đó là "Thế giới là khiếm khuyết nô lệ cho tham ái".

Khi nghe Tôn Giả Ratthapala trình bày 4 điều này nhà vua đặc biệt hoan hỉ phát tâm trong sạch. Ở tuổi gần 80 tuổi nhà vua đã có rất nhiều nhưng chính ở tuổi 80 nhà vua lại học hiểu được những điều gọi là lẽ thật của cuộc sống mà chúng ta gọi là chân lý vi diệu. Chân lý đó không có gì dấu diếm hay không minh bạch mà là nó rất rõ ràng, thì đó là một điều vi diệu. 

Sau khi Tôn Giả Ratthapala giảng cho nhà vua nghe xong thì Ngài đọc một bài kệ:

Ta thấy người giàu sang ở đời, 
Có của vì si không bố thí. 
Vì tham, họ tích tụ tài vật, 
Và chạy theo dục vọng càng nhiều. 
Dùng bạo lực, chinh phục quả đất, 
Vua trị vì cho đến hải biên, 
Không thỏa mãn bờ biển bên này, 
Và chạy theo bờ biển bên kia. 
Vua cùng rất nhiều loại người khác, 
Ái chưa ly, mạng chung đã đến, 
Bị thiếu thốn, không bỏ thân họ, 
Không thỏa mãn lòng dục ở đời. 
Quyến thuộc tán loạn, khóc người ấy: 
"Than ôi, người ấy không bất tử ! ". 
Mạng thân người ấy vải bao phủ, 
Họ đốt lửa làm lễ hỏa thiêu. 
Bị thọc với cây, người ấy cháy, 
Độc mảnh vải, bỏ tiền của lại. 
Ở đây, quyến thuộc cùng thân hữu, 
Không nơi nương tựa cho kẻ chết. 
Kẻ thừa tự, nhận mang tài sản, 
Riêng con người, theo nghiệp phải đi, 
Tiền của đâu có theo người chết, 
Cả vợ con, tài sản, quốc độ. 
Tài sản không mua được trường thọ, 
Phú quý không tránh được già suy, 
Kẻ trí nói đời này thật ngắn, 
Thật vô thường, biến đổi luôn luôn. 
Kẻ giàu, kẻ nghèo đều cảm xúc, 
Người ngu, kẻ trí đồng cảm thọ, 
Kẻ ngu bị ngu đánh nằm ngã, 
Bậc trí cảm xúc, không run sợ. 
Do vậy, trí tuệ thắng tài vật, 
Nhờ trí, ở đây được viên thành. 
Không thành mãn trong hữu, phi hữu, 
Kẻ ngu tạo tác các ác nghiệp. 
Nhập thai thác sanh thế giới khác, 
Người ấy luân hồi, tiếp tục sanh, 
Kẻ thiểu trí chắc hẳn phải là 
Nhập thai và sanh thế giới khác. 
Như kẻ trộm bị bắt khi trộm, 
Ác tánh hại mình do tự nghiệp, 
Chúng sanh cũng vậy chết đời khác, 
Ác tánh hại mình, do tự lực. 
Dục vọng nhiều loại, ngọt, khả ái, 
Nhiễu loạn tâm dưới nhiều hình thức, 
Thấy hoạn nạn trong dục trưởng dưỡng, 
Nay tôi xuất gia, tâu Đại vương ! 
Như quả từ đây, người bị rụng, 
Cả già lẫn trẻ, khi thân hoại, 
Do thấy chính vậy, tôi xuất gia, 
Hạnh Sa-môn phải là tối thắng. Thưa Đại Vương.

Với bài kệ này Tôn Giả kết thúc cuộc đối thoại với vua Koravya, 

Đức Thế Tôn về sau này khi nhắc lại một người xuất gia với niềm tin tối thắng ở trong số đệ tử của Ngài là Tôn Giả Ratthapala một khi nghe pháp một khi lãnh hội pháp và quyết tâm đi xuất gia rồi thì rất khẳng khái, rất cương quyết, rất quyết đoán ở trong nỗ lực của mình làm sao để sống phạm hạnh và Ngài đã sống phạm hạnh một cách viên mãn ./.