Monday, May 6, 2013

Làm sao mình được thanh tịnh khi ngồi thiền?

Hỏi: Làm sao mình được thanh tịnh khi ngồi thiền? 

. (Kinh Pháp Cú kệ ngôn 85 - 86 ngày 1 tháng 6 năm 2003 tại rơom Diệu Pháp - Như Trúc chuyển biên )


TT Giác Đẳng trả lời : Thưa quý vị, tu thiền để làm cho thanh tịnh tâm ý, đó là một trong mục đích trước khi chúng ta hành thiền mà thôi. Thiền thì có nhiều loại thiền tuy nhiên có lẽ nếu không lầm thì đạo hữu nầy đang hỏi về thiền vipassana, tức là một pháp tu thiền mà chúng ta thường gọi là tu thiền tứ niệm xứ. Trong lúc chúng ta tu thiền thì chúng ta có mong là mình được thanh tịnh hay không thanh tịnh, chúng ta có mong mình được an lạc hay không an lạc, chúng ta đơn giản chỉ là tu thiền. Như trường hợp một người được dạy về tu tập quán niệm hơi thở thì chúng ta cứ quán niệm vào hơi thở, và chỉ làm công việc quán niệm vào hơi thở. Vui cũng quán niệm vào hơi thở, buồn cũng quán niệm vào hơi thở, tâm thanh tịnh cũng quán niệm vào hơi thở mà tâm không thanh tịnh cũng quán niệm vào hơi thở. Nếu chúng ta chánh niệm được trong hơi thở thì từ sự chánh niệm có khả năng hóa giải, tương tự như nếu quý vị đang oan trái với một người nào mà mình đem sự oan trái đó ra cột ngay ở trong cặp mắt của sự chánh niệm, mình thấy rõ ràng rằng mình đang có tâm oan trái, đừng xua đuổi nó, đừng sợ hãi nó, đừng bám vào nó, chỉ ghi nhận sự có mặt của tâm oan trái thôi vì khả năng chánh niệm đó tự nó có khả năng chuyển hóa mà mình không cần phải nỗ lực, không cần phải cố gắng gì nhiều. Đây là điểm rất quan trọng về pháp thiền.


Khi chúng ta tu tập, chúng ta chỉ thực hành như Ngài Ajahn Chaa thường nói “hãy gieo một hạt giống xuống, hãy bón phân, hãy tưới nước, hãy chăm sóc”, “Tiết trúng lai thời hoa mãn khai”, thời tiết đến hợp lúc, đủ điều kiện thì hoa sẽ nở. Chúng ta không mong cầu, chúng ta không đòi hỏi. Thật ra sự thanh tịnh là một kết quả của thiền định, một kết quả tất yếu, một kết quả ắt có và đủ của sự thực hành đúng theo phương pháp, nhưng đó không phải là điều mà chúng ta hướng vọng. Một người tập thiền dù là thanh tịnh hay không thanh tịnh, tất cả những thứ đó đều là đề mục của thiền định hết. Như chúng ta đọc ở trong kinh Niệm Xứ, cho dù là tâm hạ liệt hay tâm cao thượng, tâm xả ly hay tâm tham dục, nó cũng chỉ là đối tượng của thiền định, cho dù khổ lạc ưu hỷ xã thì nó cũng là đối tượng của thiền định, cho dù đó là thất giác chi hay là năm triền cái thì đó cũng chỉ là đối tượng của thiền định. Cái gì nó đến thì chúng ta đã nhận nó là đối tượng của thiền định rồi.


Như trong pháp tu tập Yonisso manassikara, hễ cái gì xảy ra trước mắt chúng ta thì chúng ta hãy dùng nó làm điểm tựa để chúng ta đứng dậy, và đây là điều thú vị của thiền vipasssana, là một cái nhìn lẳng lặng và không có lựa chọn, một cái nhìn không có đòi hỏi, một cái nhìn không có kỳ vọng lớn lao mà chính vì vậy nó trả chúng ta về với sự thanh thản. Nếu chúng ta đang ngồi thiền mà tâm của chúng ta mệt, tâm của chúng ta lo âu, tâm chúng ta vọng móng thì chỉ ghi nhận sự hiện hữu và chỉ lẳng lặng ghi nhận, ghi nhận thôi chứ không phản ứng một cách nồng nhiệt, không phản ứng một cách dằn co, cũng không phản ứng một cách lãnh đạm, mà ở đây là một thái độ hoàn toàn tỉnh táo ghi nhận sự có mặt. Khi nào mình làm được như vậy tâm của mình sẽ tự động lắng xuống và sự lắng đọng xuống ngoài ý muốn của mình, nó còn có nhiều yếu tố khác, mặc dù quý vị vừa mới vào ngồi thiền thì quý vị thấy rằng ở trong các khóa thiền vài ngày đầu mình rất khó khăn chật vật nhưng sau đó một thời gian ngắn thì mình sẽ tìm thấy được một sự lợi lạc. Một ly nước có nhiều cặn bã mà chúng ta để lâu nó lắng xuống thì nước nó trong, đừng nói chi là tâm của mình, do vậy có nhiều yếu tố để tâm được thanh tịnh nhưng một trong những yếu tố quan trọng đầu tiên là thái độ của chúng ta. Thái độ như thế nào mà đừng làm cho tâm của chúng ta vọng đọng, thái độ làm cho chúng ta đừng bấn loạn, thái độ làm cho chúng ta đừng sợ hãi hoảng hốt. Đó là thái độ bình lặng, bình lặng ở đây là sự bình lặng của chánh niệm.

Một người tu thiền với trí tu không có trí văn thì có đủ khả năng biết việc nên làm hoặc không nên làm chăng?

Hỏi: Một người tu thiền với trí tu mà không có kiến thức kinh điển của trí văn thì có đủ khả năng biết việc nên làm hoặc không nên làm chăng? 

. (Bài giảng trong rơom Diệu Pháp, ngày 17 tháng 02 năm 2004 - Minh Hạnh chuyển biên)


TT Giác Đẳng trả lờiCó lẽ là phần đông chúng ta đều quen thuộc với ý nghĩa của trí văn và trí tu. Trong Đạo Phật có nói đến 3 thứ trí tuệ mà ở trong chữ Hán gọi là văn huệ, tư huệ và tu huệ, chúng ta thường gọi là trí văn, trí tư, và trí tu.


Văn huệ được hiểu như một thứ trí do chúng ta lãnh hội từ lời dạy của người khác, từ sách báo, tức là từ cái gì chúng ta học hỏi được từ bên ngoài. 

Tư huệ tức là trí tuệ do chúng ta suy tư thẩm nghiệm để thấy biết. 
Tu huệ tức là trí huệ do sự tu tập cho lắng đọng phiền não, do chánh niệm, do định lực những thứ đó cho phép chúng ta nhìn thấy sự vật ở một cách khác đi. Thì cả ba trí này đều có vai trò đặc biệt của riêng mỗi thứ.

Câu hỏi của chúng ta đặt ra ở đây, bởi vì có một số các quan niệm, mà quan niệm này đặc biệt là có ảnh hưởng rất lớn ở trong thiền tông. Chúng tôi nghĩ rằng ngoài thiền tông ra thì một số nền đạo học của Trung Hoa và Ấn Độ đều có nói đến điểm này, tức là đạo là ở chỗ tự nhiên. Nói đạo ở chỗ tự nhiên tức là cái gì chúng ta sống rất tự nhiên, thậm trí trong thiền học nói là đói ăn, khát uống đó là đạo. Và một người có đủ tâm an tịnh thì có thể thấy được đạo, và biết được cái gì nên làm, cái gì không nên làm.


Tuy nhiên có một gợi ý rất quan trọng ở trong tập Sớ giải về luật tạng, có thể nói đây là một trong những tập sớ giải rất quan trọng, chúng ta có bản dịch là Ðại Thiện Kiến Lực, thì thưa quí vị, vị nào đọc qua sẽ thấy đó là bộ luật rất ly chi. Trong bộ luật này có nói đến một điểm, là ngay cả những bậc thinh văn đệ tử Phật, khi đề cập đến những gì cần phải làm ở trong giới luật của hàng xuất gia, thì vị đó cũng phải học hỏi. Có rất nhiều điều luật ở trong giới luật của hàng xuất gia liên quan đến Tăng già, liên quan đến nghi luật và những thứ này không thể nào mà tự ý biết được hay tự ý chuẩn phê được.


Nói một cách khác là vị đó phải có được một sự tìm hiểu nhất định, dĩ nhiên là đối với những vị có tuệ phân tích thì đưọc sự lãnh hội, cái thấy, cái biết của vị này rất bén nhạy. Vị này có thể nghe một cách thoáng qua là có thể hiểu được, tại sao làm như vậy, tại sao không lên làm như vậy.


Nhưng căn bản thì những điều chúng ta nên làm, hay không nên làm, nó liên quan đến giới luật của hàng xuất gia, hay một số luận định khác mang tánh cách qui ướt của xã hội, mà qui ướt của xã hội thì rất cần có một số kiến thức căn bản ở bên ngoài. Ngay cả một người rất hiền thiện ở trong xã hội này, lớn lên trong một xã hội mà mình là một công dân lương thiện, nhưng không có nghĩa là chúng ta, bản thân mình là một công dân lương thiện mà chúng ta không có bỏ thì giờ để tìm hiểu những luật lệ, có những luật lệ không nằm ở trong phạm vi thiện ác tự nhiên. Chúng ta sống ở một xã hội, có những đòi hỏi một số luật định về vấn đề xây cất, mình muốn cất nhà, mình phải theo một số những luật định nào. Thì việc đó không phải vấn đề chúng ta là công dân lương thiện hay không lương thiện ra mà chúng ta nói được, vấn đề là chúng ta phải có sự tìm hiểu luật đó đã được ban hành như thế nào, và năm trước như thế nào, năm nay có thay đổi gì không, và tất nhiên việc đó chúng ta không thể lấy tâm của chúng ta ra để phán đoán được, mà chúng ta phải có một sự hướng dẫn trực tiếp, học hiểu trực tiếp từ bên ngoài.


Như vậy thì ngay cả trong đời sống tương đối rất giản dị của người xuất gia, thì trí tu và trí văn đều hết sức cần thiết, nhất là liên quan đến giới luật của người xuất gia, có những điều luật người ta tạm biết, có những điều luật tạm không biết. Cái không biết, cái biết đó lệ thuộc vào cả hai thứ. Nhưng trí văn luôn luôn là điểm hết sức cần thiết, tức là những kiến văn chúng ta học hiểu được, thu thập được từ ở bên ngoài, từ kinh điển để lại, hay từ truyền thống, từ các vị A Xà Lê. Thì bao giờ cũng vậy, chúng ta tìm thấy được một tinh thần hết sức trung đạo khi chúng ta trả lời từng câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này.


Sở dĩ chúng tôi nghĩ rằng câu này cần được nêu lên, bởi vì có đôi lúc chúng ta tìm thấy những câu phủ quyết thẳng thừng là cái học ở bên ngoài, cái kiến văn nó không có lợi ích gì nhiều, chúng ta phải tu, hễ con người chúng ta thiện, thì tự nó có đủ khả năng để thể hiện. Nhưng chúng ta quên hẳn đi rằng có một số việc nên làm hay không nên làm, đặc biệt là quan hệ ở trong Tăng chúng và trong đời sống xã hội, thì những thứ đó đòi hỏi sự hiểu biết của chúng ta về phương diện kiến thức tổng quát ở bên ngoài, những qui ước, và những qui ước này vốn cũng không có hẳn là chúng ta có thể tỏ hiểu được qua trí tu, sự tu tập của mình. Đó là vài lời góp ý của chúng tôi.

Tại sao người làm ác mà tái sanh cảnh giới lành?


Hỏi: Tại sao một người cả đời chỉ làm bất thiện nghiệp khi tử lại được tục sinh và cảnh giới tốt lành còn một người suốt đời làm thiện tu hành tinh tấn nhưng đến khi tử thì lại rơi vào cảnh giới địa ngục?

(Bài giảng trong rơom Diệu Pháp , Ngày 16 tháng 03 năm 2008 - Chánh Hạnh chuyển biên) 

TT Tuệ Siêu trả lời: Một câu hỏi đưa lên phải có sự kiện cụ thể, không thể nào chúng ta tự đưa lên một giả thuyết để hỏi. Câu hỏi này xem như là một giả thuyết, nếu muốn hỏi chúng ta có thể đưa lên một điều nào quý vị tìm thấy trong kinh điển.

Có hai ttrường hợp, một người làm thiện chúng ta không thể nói rằng làm thiện suốt đời. Một người làm thiện có thể bị cận tử nghiệp ác rồi rơi vào cảnh giới địa ngục. Một người suốt đời làm bất thiện đến khi cận tử nghiệp được sanh vào cảnh giới tốt lành. Hai sự kiện đó chúng ta phải dè dặt, nếu chúng ta khẳng định một người cả đời làm ác, làm bất thiện nghiệp khi tu lại được sanh vào cảnh giới tốt lành. Điều này chúng ta cũng nên biết rằng, nếu một người cả đời chỉ làm ác thôi, thì họ rơi vào tình trạng người chuyên làm ác như vậy không thể sanh về cõi trời được. Và nếu chúng ta bết rõ một người suốt đời chuyên làm việc thiện tinh tấn tu hành mà đến khi cận tử nghiệp sanh xuống cảnh giới địa ngục thì lúc đó chúng ta hãy nêu nên vấn đề.
Không phải một người chuyên làm việc ác hay việc thiện suốt cả đời được. Trường hợp người ác lúc cận tử nghiệp có thể sanh vào cảnh giới tốt đó là trường hợp họ chỉ thỉnh thoảng làm ác. Do đó đối với cận tử nghiệp lúc đó tâm của người này vẫn có thể khởi lên tâm thiện được dễ dàng. Chứ nêu người làm bất thiện suốt cả đời nó đã trở thành Bahulakamma tức là thường nghiệp ác. Hễ có thường nghiệp ác cận tử nghiệp không thể quyết định cho sự tái sanh được. Cũng vậy đối với người suốt đời làm thiện thì nghiệp thiện của người đó gọi là Acinnakamma, đã có thường nghiệp thiện thì cận tử nghiệp không thể nào quyết định cho sự tái sanh được.

Trong Trung bộ kinh Đức Phật Ngài dạy bốn vấn đề chúng ta phải nhớ,
Nếu trong đời sống một người đã phạm vào trọng nghiệp ác, khi chết sự tái sanh ở cảnh khổ sẽ quyết định bởi trọng nghiệp ác như giết cha, giết mẹ, giết A-La-Hán, làm thân Phật chảy máu, chia rẽ Tăng. Như vua A-Xà-Thế phạm tội giết cha là vua Bình-Sa-Vương, về sau Đức vua đến đảnh lễ Phật và sám hối lỗi lầm của mình. Đức vua trở thành người Phật tử ngoan đạo và có nhiều công lao đối với Phật Pháp. Đức vua mỗi lần đến viếng thăm Đức Phật, chỉ nghe Pháp rồi hoan hỷ đi về.

 Đức Phật tuyên bố rằng,
“ Này Chư Tỳ kheo, nếuvị vua này không phạm tội giết cha, thì chính ngay tại chỗ ngồi này, vị vua ấy đã chứng được pháp nhãn ly trần vô cấu tức đạo quả Tu-Đà-Hườn”

Trong đời sống chúng ta có làm một trọng nghiệp ác, hay một trọng nghiệp thiện thì sự tái sanh đã có quyết định rõ ràng. Tức là tạo trọng nghiệp ác thì trọng nghiệp đó sẽ cho tái sanh xuống cảnh khổ. Nếu trọng nghiệp thiện như đắc thiền chẳng hạn, sau khi mệnh chung sẽ sanh về cõi Phạm Thiên. Đó là điều cố định. Nếu một người không có trọng nghiệp ác, không có trọng  nghiệp thiện.

Nói chung trong đời sống một người  không có tạo trọng nghiệp Garukammamà người đó có Acinnakamma tức là thường nghiệp.Thường nghiệp thiện hoặc thường nghiệp ác. 

Thường nghiệp thiện là một người suốt đời làm phước, mỗi ngày thường đến chùa cúng dường bông hoa hoặc làm việc thiện, ngày nào cũng làm. Ngày nào cũng tinh tấn tu tập trở thành thường nghiệp thiện, sự tái sanh của người này ở đời sau chi phối bởi thường nghiệp thiện này. Một người có thường nghiệp ác như suốt cuộc đời làm đồ tể, họ đã quen sát sanh cho nên giờ phút lâm chung chính thường nghiệp đó chi phối mạnh và làm cho tâm của người này trở nên điên đảo và tái sanh vào cảnh giới khổ. Đó là trường hợp thứ hai do thường nghiệp làm chủ quyết định sự tái sanh.

Trường hợp thứ ba nếu một người trong cuộc đời, không làm trọng nghiệp ác không làm thường nghiệp ác, nghĩa là thường nghiệp và trọng nghiệp không có nhưng tâm của họ vui đâu trút đó, ai làm sao họ cũng làm vậy. Trong cuộc sống hằng ngày bậc đại hiền không ra bậc đại hiền nhưng nói rằng người hung dữ cũng không phải là người hung dữ. Đối với người này giờ phút lâm chung sự tái sanh sẽ bị chi phối bởi cận tử nghiệp. Ngay trong lúc đó nếu tình cờ họ nhìn thấy Đức Phật đi ngang, như cậu Matthakundali thì sẽ sanh lên cõi trời mặc dầu suốt đời cậu ta không làm thiện và cũng không làm ác nặng nề lắm, cho nên cận tử nghiệp dễ phát sanh . Cũng vậy với một người suốt đời họ không làm được thiện nhiều hay không làm ác nhiều, đối với người đó giờ phút lâm chung có thể khởi lên ác nghiệp để sanh xuống địa ngục. Như vậy chúng ta thấy rằng nêu không tạo trọng nghiệp, không tạo thường nghiệp thì sự tái sanh ở đời kế tiếp sẽ tỳ thuộc vào cận tử nghiệp, chứ không thể tự nhiên cận tử nghiệp sanh khởi được.

Với câu hỏi này, với một người suốt một đời làm ác nhưng tại sao giờ phút lâm chung được sanh về cõi trời. Điểm này trái với kinh điển vì suốt cuộc đời làm ác sẽ tạo thường nghiệp ác. Thường nghiệp ác sẽ quyết định sự tái sanh chứ không thể nào đến lượt cận tử nghiệp quyết định. Còn nói môt người suốt đời chuyên làm thiện tinh tấn tu hành tại sao khi cận tử nghiệp lại rơi xuống địa ngục. Bởi vì nếu họ tinh tấn tu hành suốt đời là thiện sẽ tạo thường nghiệp thiện, Thường nghiệp thiện sẽ quyết định sự tái sanh chứ không thể nào đợi đến cận tử nghiệp. Chúng ta nên lưu ý ở hai điểm này.

Trường hợp cuối cùng, chúng ta cần phải hiểu rằng, nếu như người này suốt đời họ không làm thiện nổi bật, không làm ác nổi bật, cũng không quen thường làm thiện, cũng không quen thường làm ác. Giờ phút lâm chung họ bị tình trạng hôn mê bất tỉnh, nên không ó cận tử nghiệp khởi lên lúc đó thiện hay ác, bậy sự tái sanh của họ do cái gì quyết định? Đó chính là Katattakamma khinh tiểu nghiệp, là một nghiệp nào nhỏ nhặt tiểu tiết mà người đó vô tình hay tình cờ làm được trong đời sống hiện tại hoặc trong đời sống quá khứ, nó sẽ len lõi nó khởi lên.

Ví dụ tình cờ một hạt bụi  rơi vào mắt khiến chúng ta dụi mắt nhiều làm cho viêm giác mạc trở thành đau mắt, đó là do khinh tiểu nghiệp. Nhưng cái đau mắt này không phải do vi trùng hay một thương tổn nào khác, mà do sự tình cờ của một nguyên nhân rất nhỏ đó là một hạt bụi. Do vậy khi có bụi bay vào mắt chúng ta để yên đó rồi nhỏ thuốc hoặc nháy mắt trong nước cho nó trôi ra. Cái khinh tiểu nghiệp như tình cờ chúng ta làm được có khi rất nguy hiểm nhưng đôi khi cũng mang lại sự tốt lành, do đó chúng ta khó biết được.

Trong đời sống hằng ngày, chúng ta nên quyết định hai điều,  chúng ta không thể chủ động về cận tử nghiêp và khinh tiểu nghiệp. Vì cận tử nghiệp khởi lên khi chúng ta đứng gần với cái chết, nên không thể quyết định được. Khinh tiểu nghiệp chúng ta không thể biết được, lường trứoc được vì tình cờ chúng ta đã tạo quá nhiều những ác nghiệp hoặc thiện nghiệp trong qúa khứ nên không thể biết được.

Chúng ta làm chủ được hai loại nghiệp là trọng nghiệp và thường nghiệp. Chúng ta bỏ trọng nghiêp ác như đừng giết cha , giết mẹ, giết A-La-Hán, làm thân Phật chảy máu, chia rẽ Tăng. Cố găng làm trọng nghiệp thiện là cố gắng tu thiền để chứng đắc được thiền. Khi chứng đắc được thiền sắc giới thiền vô sắc giới, sau khi mạng chung chắc chắn sẽ sanh về cõi Phạm Thiên. Nếu chúng ta thấy khả năng tạo trọng nghiệp thiện không được , chúng ta hãy làm thường nghiệp thiện. Thí dụ quý vị không tu thiền chứng thiền được thì quý vị làm việc thiện như thường xuyên nghe pháp, lâu năm lâu tháng lâu ngày chúng ta được thấm nhuần Pháp, tai văng vẳng nghe Pháp của đức Phật, giờ phút lâm chung thường nghiệp đó cũng tốt.

Vào thời Phật Pháp mới du nhập sang xừ Tích Lan,  vị vua xứ này vô cùng hoan hỷ với chư Tăng, thời gian đó Phật giáo vô cùng hưng thịnh. Đức vua rất hộ độ cho chư Tăng, vua có thói quen mỗi buổi sáng trước khi lâm triều, vua ngồi chời đợi trước cửa hoàng cung để đặt bát cho các vị trưởng lão, chư Tăng đi khất thức, sau đó nhà vua mới lâm triều. Thói quen đó làm thành một thường nghiệp. Sau khi mạng chung đức vua sanh về cõi trời.

Chúng ta hãy tập thói quen làm việc thiện từng ngày lập đi lập lại. Ví dụ chúng ta hãy tập thói quen mỗi buổi sáng trước khi rời khỏi giường, chúng ta ngồi bật dậy dầu chưa đánh răng rửa mặt chúng ta quán tưởng “có thân đây phải chịu sự già sự bệnh sự chết.” Chúng ta cứ suy xét như vậy cho đến khi nào nhập tâm rồi chúng ta mời bước xuống giường và đi rửa mặt. Ngày nào cũng làm như vậy sẽ trở thành thường nghiệp thiện. 
Hoặc có thói quen khi đến chùa là đem theo bông hoa để cung dường tháp xá lợi hay mang chút ít lễ phẩm cúng dường đến chư Tăng, sẽ tạo thành thói quen trở thành Thường nghiệp thiện. Thường nghiệp thiện này sẽ giúp chúng ta có nhiều lợi lạc.

Tóm lại chuyện chúng ta cho rằng một người suốt cuộc đời làm ác đến giờ phút lâm chung được sanh cõi trời hoặc một người làm thiện sanh về cõi khổ.  Câu đó chúng ta nói chưa có chứng cứ và có tính cách đi ngược lại với lời dạy của Đức Phật. Chúng ta phải thận trọng trong vấn đề này. Cái gì làm thường cận y duyên thành thói quen cái đó gọi là thường nghiệp quyết định cho sự tái sanh.

Mong rằng khi nêu lên các câu hỏi có liên quan đến vấn đề nghiệp quả, chúng ta nên dẫn chứng rõ ràng. Ví dụ như tướng cướp Angulimala giết ng ười như vậy mà chứng được quả A-La-Hán v.v. Tại sao có một anh thiện nam tinh tấn tu tập và suốt đêm nghe Pháp đến sáng, rời khỏi chùa Kỳ Viên Jetavana, ra bờ hồ rửa mặt. Vào lúc đó có tên ăn trộm chạy ngang qua ném gói đồ ăn trộm được bên anh, dân làng chạy đuổi theo thấy bógn người với gói đồ trong lúc trời tờ mờ sáng. Dân làng tưởng anh là tên trộm, đập chết. Tại sao một người tinh tấn làm phước như vậy mà phải bị chết oan ức. Như vậy chúng ta đặt câu hỏi có cơ sở , chư Tăng sẽ có cái lý trả lời cho quý vị dựa theo kinh điển.

Chánh Pháp còn phải bỏ, huống chi là phi pháp nghĩa là gì?


Hỏi:Trong kinh nói "Chánh Pháp còn phải bỏ, huống chi là phi pháp”. Kính xin chư Tăng giảng rõ câu trên.

(Bài giảng trong rơom Diệu Pháp , Ngày 03 tháng 02 năm 2008 - Chánh Hạnh chuyển biên) 

TT Giác Đẳng trả lời: Trong kinh điển Đạo Phật cho chúng ta thấy một điều rằng, Đức Phật Ngài có những lời dạy bao gồm rất nhiều lãnh vực rộng lớn của đời sống, trong nhiều phạm vi khác nhau. Do vậy khi người Phật tử học Phật, đặc biệt phải rất cẩn trọng, để chúng ta tự hỏi Đức Phật dạy câu đó trong bối cảnh như thế nào? Và chúng ta nên áp dụng như thế nào?. Ví dụ có nhiều khi quý vị nghe Đức Phật dạy rằng, một người bằng mồ hôi nước mắt của mình làm ra tài sản và hưởng dụng tài sản đó thì đó là một điều hạnh phúc, đáng tán thán. Khi nghe Đức Phật nói như vậy chúng ta nghĩ rằng Đức Phật khuyến khích chúng ta làm giàu, rồi thụ hưởng cái giàu đó. Nhưng sự việc đó chỉ đúng áp dụng cho người cư sĩ thôi, không đúng với vị xuất gia.

Hay có lúc Đức phật Ngài dạy một người nên sống với nhiều bổn phận, bổn phận đối với gia đình, bổn phận đối với xã hội . Có những khi Đức Thế Tôn ngài khuyến khích bỏ tất cả để có đời sống phạm hạnh thuần khiết như một vị ẩn sĩ một vị Muni. Tương tự như vậy, trong bài kinh Xà dụ ( Ví dụ con rắn) trong Trung bộ kinh, bài kinh mà chúng ta trích ra câu này. Trong đó Đức Phật có dùng hình ảnh chiếc bè, chiếc bè là phương tiện đưa qua sông và Ngài ân cần nhắc rằng, cái phương tiện dù cho đắc dụng, dù cho tốt nhưng không phải là cái gì chúng ta ăn đời ở kiếp, hay làm chiếc bè qua sông rồi chúng ta vác chiếc bè đi tiếp cuộc hành trình còn lại. Chiếc bè đó chỉ tốt nếu chúng ta xử dụng nó làm phương tiện qua sông, nhưng khi qua sông rồi chúng ta phải hiểu rằng chiếc bè đó không dùng được nữa.

Tương tự như vậy những thành tựu những sở chứng trong đời sống của chúng ta, tốt ở một giai đoạn nào đó, nhưng chúng ta phải có khả năng tiếp tục lên đường. Khả năng tiếp tục lên đường là không để chúng ta dính mắc, không để chúng ta bị kẹt bị chận lại với cái mình có , cái mình được, cái mình thành tựu. Đây là một điểm cực kỳ khó khăn, cực kỳ tế nhị,bởi vì con người khi sống được nhiều thứ quá đôi khi trở thành gánh nặng về sau này.

Cách đây không lâu chúng tôi ngồi trong một trường thiền, ngày hôm đó sáng trăng. Trong lúc ngồi thiền, chúng tôi mở mắt ra, trong ánh trăng mờ ảo chúng tôi nhìn thấy gần cả hai trăm người ngồi trước mặt vị Thiền sư. Chúng tôi ngồi trên hàng chư Tăng chung với Ngài rồi ngó xuống. Chúng tôi tự hỏi một câu, giả sử trong số người đang ngồi thiền tại đây, một tuần lễ trước đó họ trúng số độc đắc, trở thành triệu phú có mấy mươi triệu đồng, không biết trong giờ phút này sau khi họ trúng số họ có ngồi đây tập trung tinh thần để ngồi thiền hay không? Câu trả lời đơn giản chắc chắn là không.

Giả sử khi chúng ta sắp nằm xuống, kề cận với cái chết sắp rời bỏ cuộc đời này. Trước đó chúng ta nhớ rằng mình trúng số có số tài sản rất lớn, liệu rằng mình có thể ra đi khỏi cuộc đời này với tâm tư thanh thản không? Ở đây chúng ta nhìn thấy một điều rằng, có những cái chúng ta xem rất được, nhưng cái được đó làm cho chúng ta kẹt lại thì về sau này nó là cái gánh chứ không phải là cái được. Có trăm ngàn thứ trong đời sống của chúng ta mà ở giây phút bắt đầu nó là cái được nhưng về sau trở thành gánh nặng. Quý vị có gia đình quý vị hiểu, người hôn phối của mình hay con cái. Ngày nào cặp vợ chồng son rất mong mỏi có con cái, nhưng sanh con ra nuôi con lớn lên có những âu lo cũng phiền luỵ con cái. Có nhiều người phải buộc miệng nói rằng “con là nợ vợ là oan gia” chẳng hạn. Bởi vì niềm vui chỉ đến một giai đoạn nào đó, một giây phút nào đó, nhưng cái gánh về lâu về dài rất nặng.

Không phải những pháp như tài sản, những pháp bất thiện mà ngay cả thiện pháp cũng vậy. Đức Phật Ngài ân cần nhắc chúng ta rằng, chúng ta dễ thoả mãn và dễ kẹt. Nói một cách khác nếu mình muốn chứng nhị thiền mình phải bỏ sơ thiền, nêu muốn chứng tam thiền phải bỏ nhị thiền. Nếu chúng ta muốn có sự tiến bộ đi tới, chúng ta phải có khả năng để rủ bỏ cái chúng ta đang có. Nếu chúng ta cứ khư khư ôm chặt lấy nó, chúng ta không thể đi tới được. Ở đây trên phương diện khả năng buông bỏ khả năng xả ly, chỉ có một vị xả ly tức là buông bỏ thật sự thì đạt đến cảnh giới vô cầu, đến cảnh giới cao siêu.

Những ai sống trong cuộc đời này, nếu có cái gì mình cảm thấy ưa thích mình bám víu, thì rất tai hại. Khi chúng tôi nghiệm những chương trình Phật Pháp trong room ở đây, chúng tôi thường nghĩ đến một việc, nhiều khi quý vị thấy chương trình Chư Tăng giảng dạy bởi nhiều vị giảng sư, giảng dạy với nhiều đề tài với nhiều phương cách khác nhau. Chúng tôi thấy rằng có những vị rất thích cách giảng của sư Pháp Đăng, có những vị thích cách giảng của sư Tuệ Siêu, cách giảng của chúng tôi. Có những đề tài quý vị thích như A-tỳ-Đàm, có vị thích môn Thiền học, môn này môn kia. Thực sự chúng tôi lấy tinh thần phổ quát của kinh điển, gồm nhiều thứ, có thể nói rằng rất đa dạng. Và chúng tôi cũng mong rằng trong cái cơ duyên chúng ta có mặt tại đây, chúng ta có học và cảm nhận được cái hay của nhiều môn học khác nhau. Chúng ta có thể cảm kích được cách giảng dạy của nhiều vị khác nhau và tất cả chúng ta có thể song hành, có thể đi tới mà không bị kẹt.

Trở lại ví dụ chiếc bè qua sông. Yếu lý cao nhất của Đạo Phật là làm sao chúng ta có khả năng buông xả, không dính mắc. Vì không dính mắc chúng ta có thể đi tới, không bị kẹt lại. Tuy nói một cách đại loại như vậy nhưng nó là một yêú lý rất sâu xa và rất khó cho chúng ta . Bởi vì trong đời sống, chúng ta nắm được cái gì thì nắm, chụp được cái gì thì chụp, dính mắccái gì thì dính mắc. Ít có ai nghĩ rằng những điều mình đang nắm bắt không phải là cái mình có mà chính là cái mà mình bị kẹt, rất khó để hiểu như vậy.

Vì vậy khi Đức Phật Ngài nói rằng, “ Chánh Pháp còn phải bỏ huống chi là phi pháp” Chữ Chánh Pháp đây là chữ Dhamma, chữ phipháp là Adhamma để Ngài nhắc lên một yếu tính rất quan trọng là, Một người tu tập phải có khả năng đi tới, nhưng chúng tôi xin thưa rằng có rất nhiều người hiểu sai về điều này. Người ta hiểu rằng nên bỏ tất cả. Chánh pháphay phi pháp đều bỏ. Chúng ta chưa có khả năng đó, bây giờ là một người đang tu tập chưa đắc đạo chứng quả chúng ta nên sống với Thiện pháp. Thiện pháp là bạn lành, Thiện pháp là nơi nương an ổn cho chúng ta. Nhiều người nhân danh đó bỏ hết tất cả. Khi chúng ta chưa có cái căn bản mà chúng ta bỏ hết tất cả thì rốt cuộc chúng ta trở thành miếng mồi ngon của Ma Vương và chúng ta không được gì hết. Người ta nói rằng, “ Mình chưa làm Thánh thì đừng bắt chước như ông Thánh”. Do đó phải rất đặc biệt cẩn trọng về điểm này. Đức Phật Ngài cũng cho chúng ta biết rằng, hành Pháp gíông như mình bắt rắn, như mình uống thuốc. Thuốc hay là một lẽ, nhưng còn phải khéo ứng dụng, khéo lãnh hội. Áp dụng đúng chỗ thì lợi lạc mà nhận thức sai chẳng những không lợi lạc mà làm cho mình thiệt thòi, làm cho mình rơi vào chỗ thối đọa.

Quán thân bất tịnh đắc dụng trong trường hợp nào?


Hỏi: Quán thân bất tịnh đắc dụng trong trường hợp nào?

(Bài giảng trong rơom Diệu Pháp, ngày 26 tháng 7 năm 2003 - Minh Hạnh chuyển biên )

TT Giác Đẳng trả lời: Khi chúng ta đề cập đến pháp quán bất tịnh thì cũng giống như những pháp tu thiền khác: Thứ nhất là cái gì hợp với căn tánh của mình thì điều đó tốt cho chúng ta hơn là cái gì không phù hợp với căn tính của mình. Có những người nặng tánh về sân, tánh họ hay phiền muộn hay giận dữ thì đề mục quán bất tịnh không hợp với họ nhiều. Tuy nhiên ở đây chúng ta nói rằng đề mục quán thân bất tịnh, hay quán tử thi hài cốt rất có lợi cho những hành giả đang tu tập phải vận dụng tâm tư của mình để đương đầu với những ham muốn về nhục dục.

Hơn thế nữa cách quán thân bất tịnh hay quán tử thi quán hài cốt v.v... rất lợi trong trường hợp chúng ta nặng về ngã tính hay nặng về sự dính mắc sắc thân của mình. Có nhiều người rất trọng về sắc đẹp của họ, họ rất trọng hình tướng ngoại hình của họ. Có những người rất dính mắc vào bản thân của họ. Như Ngài Na Tiên dạy rằng cái gọi là một chiếc xe long xa (xe vua) thì nó là kết cấu của nhiều bộ phận. Cũng như vậy, thân thể của chúng ta, gọi là anh A anh B, vua Milanda, tỳ kheo Nagasena vẫn là tất cả do kết cấu của nhiều bộ phận của nhiều cơ thể.

Phải nhìn theo truyền thống Phân tích tông, là truyền thống có thể chia chẻ, biện biện, thay vì nhìn một cách đại lượt thì chúng ta nhìn vào từng chi tiết và trong chi tiết đó có thể có khả năng xoá những ảo giác cho chúng ta về "Tôi" về "Ta" về tự ngã. Và trường hợp quán thân bất tịnh, trong trường hợp quán tử thi quán hài cốt giúp cho chúng ta rất nhiều. Không những chỉ có sự ham muốn về sắc dục, chúng ta còn tìm thấy ở đó những hiệu năng rất lớn để giảm thiểu những tính nặng về ngoại hình, nặng về "Tôi" về "Ta", điều đó cũng giúp chúng ta rất nhiều. Phải nói rằng những phương pháp này không phải dễ dàng để ứng dụng, một người thực tập phương pháp này nên tiếp xúc với một vị Thầy có nhiều kinh nghiệm.

Ngài Tangpulu Sayadaw. Ngài là vị bổn sư truyền tỳ kheo giới cho chúng tôi. Ngài là một vị thiền sư, Ngài chuyên môn về pháp quán 32 thể trược (pháp quán bất tịnh). Những lần bên cạnh Ngài nghe thuyết về pháp quán bất tịnh thì chúng ta mới thấy rằng pháp quán đó để nhập tâm để đem vào trong đời sống của chúng ta, không phải là chuyện đơn giản như đọc trong sách, mà đòi hỏi một số những thủ thuật cần thiết để chúng ta có thể gắng chặt tâm tư vào đề mục ./.

Mục Đích Cuối Cùng Của Sự Tu Tập Là Gì?


Hỏi: Mục đích cuối cùng của sự tu tập tức là cứu cánh phạm hạnh của Đaọ Phật là gì.?

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, ngày 11 tháng 8 năm 2003 - Minh Hạnh chuyển biên )

TT Trí Siêu trả lời: Mục đích cuối cùng của sự tu tập tức là cứu cánh phạm hạnh của đạo Phật, là cùn căn mạt kiếp

Ỡ đây thưa quí vị thực sự thành ngữ gọi là "Cùn căn mạt kiếp", thành ngữ này người ta thường dùng để nói chuyện ở bên ngoài, rủa xả người này người kia, những người họ ghét bỏ, họ mong muốn cho ngừơi khác cùn căn mạt kiếp. Tức là nói đến người ấy ngóc đầu không nổi, không được sự giàu có hay sung túc. Nhưng trong thành ngữ này chúng ta xét ra để phân tách kỹ thì ở đây rõ ràng cùn căn mạt kiếp lại là mục tiêu cứu cánh của phạm hạnh của việc tu tập. Vì sao vậy?

Tất cả những phiền não có ba căn, ba căn phiền não đó tức là căn tham (Lobhamūla), căn sân (Dosamūla), căn si (Mohamūla). Căn tham căn sân căn si là ba căn phiền não, chính do ba căn phiền não này đưa đẩy chúng sanh tạo những tội lỗi để rồi phải chịu khổ trong cảnh trầm luân sanh tử, nhất là sanh xuống bốn đường ác đạo mãi mãi phải bị luân hồi do ba căn phiền não đó.

Là người tu đạo Phật, mục đích của chúng ta phải làm sao được cùn căn. Cùn nghĩa là mòn, mòn hết chẳng hạn như cây cuốc cùn hay con dao cùn, chữ cùn ở đây không có g, chữ cùn là cùn căn, chúng ta hiểu theo ý nghĩa của từ Phật học có nghĩa là làm cho mất đi, làm cho lụt đi những căn phiền não là tham sân si.

Và mục đích của chúng ta khi nào chấm dứt được tham sân si lúc đó chúng ta mới giác ngộ, lúc đó chúng ta mới mạt kiếp. Tại sao vậy? chữ mạt kiếp ở đây tức là không còn một kiếp sống nào nữa , chữ mạt kiếp ở trong danh từ thông thường chúng ta nói là "nghèo mạt kiếp" tức là nghèo không còn cái gì nữa, không còn có gì nữa cho dù rằng đó chỉ là một mảnh áo ba bốn đời mặc cũng không có nữa người ta gọi là mạt kiếp.

Còn ở trong Phật giáo nếu chúng ta lấy ý nghĩa này thì hễ khi nào chúng ta còn tiếp tục tái diễn lối sống thì như vậy là chúng ta còn khổ đau. Do đó chúng ta phải làm như thế nào đó để đoạn tận, để tận cùng các căn tham sân si, rồi từ chỗ đó chúng ta mới mạt kiếp, là không còn một kiếp sống nào nữa tiếp diễn , không còn kiếp sống luân hồi nữa.

Vậy ý nghĩa cùn căn mạt kiếp chúng ta lấy trong ý nghĩa từ Phật học như thế. Cho nên thành ngữ gọi cùn căn mạt kiếp đó nếu chúng ta dùng trong ý nghĩa là mục tiêu của đạo Phật hay là cứu cánh của phạm hạnh, đó thật là một thành ngữ mô tả một cách chính xác về mục tiêu cứu cánh này.

Và ở đây chúng tôi chỉ xin trả lời một cách tóm tắt, và câu trả lời như thế.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Thức là gì?


Hỏi: Thức là gì? vì sao nói thức là chủng tử luân hồi ? 
(Câu hỏi được hỏi trong rơom Diệu Pháp , ngày 09 tháng 02 năm 2003 )
 Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Ðẳng trả lời: Chữ thức hay chử vinnàna được dùng trong kinh Phật hay trong A Tỳ Ðàm thì ý nghĩa khác nhau, nhưng khi nói thức là chủng tử của luân hồi thì chúng ta có thể nói rằng chữ thức tương đương với chữ tâm.

Chữ tâm ở đây chúng ta nhấn mạnh rằng cuộc sống của chúng ta có hai phần là thức và tâm, do đó chúng ta thường gọi chung là tâm, và tâm thức là nơi chuyên chở tác ý hay là tư tâm sở, chúng ta muốn nói đến tâm thiện và tâm bất thiện tạo nghiệp và những tâm này chính là nơi chúng ta lãnh hội và cảm nhận chủ trương tạo tác và cũng ở trên đó có những tâm quả và những tâm quả đó được hình thành và sự liên tục của giòng tâm thức nói nên sự tồn tại của giòng luân hồi.

Bây giờ câu hỏi rằng thức là gì, nếu chúng ta định nghĩa một cách đơn giản thì điều đó đồng nghĩa với tâm, khi chúng ta nói đến tâm thức là sự biết cảnh nhưng chúng ta nói nên sự vận hành của một phần con người của chúng ta mà phần đó không thuộc về vật chất .

Và thưa quí vị ở tại đó chúng ta nói đến chủ trương tạo tác, chúng ta nói đến vinnàna, chúng ta nói đến tâm sở thiện hoặc tâm sở bất thiện như là tham, tà kiến, ngã mạn, sân hoặc hối , hay là si, vô tàm ,vô quí, phóng dật, hoài nghi, hôm trầm v.v... và những tâm sở như tín ,niệm, tàm ,quí , vô sân, hành xả v.v.. những thứ đó đều là thuộc tánh của tâm, và đặc biệt ở trong tâm bao hàm đến cái mà trong A Tỳ Ðàm gọi là chủ trương tạo nghiệp, chủ tâm này tạo ra quả trong tương lai, thì như vậy trong giòng tâm thức mà Ðạo Phật đề cập đến đóng bốn vai trò.

Vai trò thứ nhứt là tâm thức chịu trách nhiệm về sự liên tục của đời sống thân của chúng ta khi trút hơi thở cuối cùng thì hầu như nó không còn giá trị nào, nó chỉ là một cái xác chết, một cái tử thi. Nhưng tâm thức thì tồn tại ở trong một điều kiện liên tục chứ không có gián đọan như thân, thành ra tâm chịu sự trách nhiệm liên tục, tâm là chủ trương tạo tác do đó gây ra nghiệp, tâm cũng là chỗ chiêu cảm nghiệp.

Chiêu cảm nghiệp ở đây chúng ta muốn nói là tâm quả tức là một sự cảm thọ một con người làm việc ác, nói ác , nghĩ ác, thì tâm quả của họ không thể nào là tâm thiện được, mà tâm đó đựơc chiêu cảm .

Và sau cùng tại sao thức là chủng tử luân hồi, thưa quí vị là vì ở trong cái mà chúng ta gọi là thức ở đó nó chứa đựng những thuộc tánh thiện và bất thiện, điều này nó quyết định những cảnh giới ở trong tương lai, là cảnh giới an lạc hay khổ đau, vì vậy thức là chủng tử của luân hồi và chúng ta nhớ rằng theo trong Ðạo Phật thì sự tiếp nối của đời sống chúng ta gọi là "patisandhi" citta tâm phục sinh, đời sống từ một cảnh giới này qua cảnh giới khác qua kiếp khác, thì đó chính tâm mới là yếu tố quan trọng để bắt đầu và chấm dứt một kiếp sống. Câu trả lời xin được chấm dứt ở đây. 

. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.