Monday, March 16, 2015

Bốn Diệu Đế được giảng cho người có trí

 Đề tài: Bốn Diệu Đế được giảng cho người có trí

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 23-3-2014, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài học ngày hôm nay không đơn giản chỉ để suy tư chúng ta còn tìm thấy được nhiều qua sự thực hành. Chúng tôi chia sẻ bài giảng này từ hai điều chúng tôi đã được nghe trực tiếp: Một điều từ Ngài Payutto, bây giờ Ngài có tên là Bhramagunabhorn, chúng tôi có duyên ở với Ngài 7 ngày. Trong thời gian  7 ngày chúng tôi có thưa chuyện với Ngài về đề tài này. Và người thứ hai chúng tôi muốn nói ở tại đây là Thiền Sư U Pandita, Ngài là truyền nhân của Ngài Mahasi Sayadaw, một lần chúng tôi  được nghe Ngài giảng tại tiểu bang Massachusetts về pháp hành Tứ Niệm Xứ trong đó có bài giảng này.

 Do đó chúng tôi sẽ trình bày đề tài qua hai phương diện Pháp Học và Pháp Hành.

Trên phương diện Pháp Học. 

 Điểm thứ nhất:Trong đời sống khi nói đến trí tuệ chúng ta có thể thấy một tướng đó là sự tinh tế. Lấy ví dụ, chúng ta muốn biết một người có trí tuệ nhiều hay không có trí tuệ nhiều mình để cho người đó làm một việc gì thì ban đầu ai mới làm việc cũng lọng cọng làm không khéo. Nhưng người không có trí họ làm nhiều lần thậm chí cả đời cũng không khéo nổi,  người có trí sau một vài lần làm một việc gì họ sẽ cải thiện được và họ sẽ làm  tiến bộ hơn ở trong việc làm và càng lúc càng tinh tế.

 Chúng tôi thấy ở những quốc gia chậm tiến một cái gì người ta chế tạo thì người ta chỉ sài cái đó cả đời, nhưng ở quốc gia tiến bộ người ta thay đổi rất nhiều, một sản phẩm được chế tạo ra mỗi năm sản phẩm mới càng tốt hơn. Thì chuyện tinh tế trong đời sống là dấu hiệu làm chúng ta cải thiện được cuộc sống. Lấy một ví dụ trong đời sống hàng ngày mình cũng nấu ăn nhưng có những người nấu hoài không ngon, có những người nấu chỉ một thời gian ngắn lại ngon. Hay mình đọc kinh điển với nhiều người cả đời đọc thì đọc để nhớ kinh đó nói như vậy thôi nhưng không cảm thấy thấm thía. Thậm chí chúng tôi có nghe một vị thầy nói với chúng tôi là có nhiều người nghĩ chuyện tụng kinh không cần phải khéo nhưng thật ra tụng kinh rất cần nhiều điều khéo léo. Có những người càng tụng thì càng hay và có những người tụng cả đời cũng vậy thôi.

Ở đây, có một điều chắc chắn chúng ta thấy sự tinh tế là dấu hiệu của một người có trí, Ngài Payutto nói trong cuộc sống của chúng ta có những sự việc lập đi lập lại và chúng ta không học được bài học đó. Lấy ví dụ, thất bại hay đau khổ. Một người  không học được bài học từ sự đau khổ của mình từ sự thất bại của mình lúc nào họ cũng vấp váp cũng lập đi lập lại những lầm lỡ  họ đã có. Ví dụ như mình mới ra đời người ta nói một câu nặng hay người ta chê mình thì mình buồn mình giận đó là bình thường. Nhưng nếu mình đã sống lâu đã từng trải nhiều một vài việc nhỏ cũng làm cho mình động lòng thì thật sự mình không học được từ những bài học trước, chuyện mình học được bài học trước đó là một dấu hiệu của một người có trí. Người có trí thì trong cuộc sống họ có dấu hiệu tiến bộ, dấu hiệu thay đổi. Và sự từng trải cho người ta nhận thức tốt hơn, đặc biệt đối với sự đau khổ. Đó là điểm đầu tiên.

- Điểm thứ hai. Ở đây có một chuyện hơi khó tin người có trí khác với người không trí đó là người có trí khi mình có vấn đề như mình bị bịnh mình biết mình bị bịnh, mình có vấn đề mình biết mình có vấn đề. Trong kinh có một câu Đức Phật dạy "Người ngu biết mình ngu nhờ vậy thành người trí, người ngu tưởng mình trí thì người ấy thật là trí ngu". Tức là, mình không có đủ trí tuệ mình không có sự sáng suốt nhưng mình cứ nghĩ rằng mình khôn, mình hay mình giỏi thì thật ra mình chưa thấy được vấn đề. Bởi vậy ai nhìn thấy được tình trạng của đời sống, tình trạng bản thân của mình thì chuyện đó không dễ. 

Trong kinh Thánh Cầu, có đoạn nói: Khi Đức Thế Tôn còn là một vị hoàng tử sống trong cung vàng điện ngọc Ngài tự suy nghĩ :

"Tại sao mình bị sanh già đau chết chi phối mình lại đi tìm cái bị sanh già đau chết chi phối".

Thì cũng vậy thôi, mình đang bị sanh già đau chết chi phối đi tìm cái cũng bị sanh già đau chết chi phối thì mình tìm để làm gì?. Nhưng nếu câu đó mình đọc cho thật kỹ thì mình thấy rằng không phải ai cũng vậy, tất cả chúng ta đều có những cái khổ. Lấy ví dụ, mình thường khổ sở về mất mát tổn hại tài sản nhưng chúng ta vẫn tạo thêm tài sản. Tại vì sao? Tại vì chúng ta chưa sợ sự mất mát đó.

Có lần Đức Phật Ngài thấy bà Visakha buồn vì một người cháu rất yêu thương bị chết thì Ngài hỏi :

- "Visakha con có muốn đông đảo con cháu không?" 

Bà Visakha nói:

-"Bạch Đức Thế Tôn, Con rất muốn, con rất thương con cháu, thậm chí đông đảo cả  thành Xá Vệ này con cũng hoan hỉ". 

Thì Đức Phật dạy: 

"Trong thành Xá Vệ ngày nào cũng có người chết nếu con có con cháu đông cả thành Xá Vệ thì ngày nào cũng phải khóc cho những đứa cháu thương yêu của mình" 

Lời Đức Phật dạy rất đơn giản nhưng cho chúng ta thấy một người sống trong chỗ đau khổ mà nghĩ đến chuyện mình hết đau khổ là chuyện không dễ. Thành ra khi nói pháp Tứ Đế: Đây Là Khổ, Đây Là Nhân Sanh Khổ, đây là Sự Diệt Khổ, đây là Con Đường Dẫn Đến Sự Diệt Khổ, Đức Phật dạy  pháp này dạy cho người có trí.

Điều thứ ba: Ngài Payutto đề cập đến sự  nhận thức trên phương diện nhân quả. Sự nhận thức đó là nhận thức của người có trí tuệ. Chúng ta thấy trong xã hội người ta càng ít học Phật Pháp người ta càng mê tín, người ta chỉ nghĩ đến chuyện đơn giản mình rời đổi phong thủy, mình đổi chữ ký hay mình làm cái này làm cái kia cuộc đời mình sẽ khá hơn. Nhưng kỳ thật, một người hiểu lý nhân quả tin rằng chính hành động của mình, chính chuyện thiện, bất thiện của mình sẽ là yếu tổ để hoán chuyển cuộc sống. Đối với Đức Phật không có chuyện gì sanh ra do ngẫu nhiên, nó đều có nhân có duyên. Hạnh phúc và khổ đau đều tương tự như vậy. Khi nói đến hạnh phúc nói đến khổ đau chúng ta đều biết có nhân có duyên. Một lúc nào đó tự nhiên mình buồn, tự nhiên mình cảm thấy trống trải, thay vì sự trống trải buồn nản đó mình nghĩ  không biết tại sao mình buồn, nhưng thật ra nếu mình hiểu nguyên nhân của nó mình sẽ thấy có nguyên nhân chứ không phải là không có nguyên nhân. Và biết được cuộc sống trên phương diện nhân quả Đức Phật dạy rằng đó là cái nhìn của người có trí. 

Một yếu tố khác, Ngài Payutto đề cập pháp cho con người có trí là người có trí luôn luôn hiểu rằng để thật sự thay đổi mình phải áp dụng cái gì đó, thực hành cái gì đó chứ không thể nào một sự mơ mộng hảo mà nó đạt cho mình một cái gì hết. Ở trong đời sống mình có thể ngồi mơ và mình tin rằng mình mơ mộng thì mình sẽ đạt được nhưng trên thực tế mình phải làm cái gì đó. 

Thì trong giáo lý Bát Chánh Đạo hay là giáo lý Tứ Diệu Đế nói về Đạo Đế rất đơn giản đó là để mình có được khả năng khắc chế đối với khát ái mình phải huân tập Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Tinh Tấn,  Chánh Niệm,  Chánh Định. Những sự huân tập đó vốn chỉ tự nhiên. Một người có trí phải thấy rằng nếu mình đạt được điều gì đó mình phải làm việc đó đúng cách, đúng phương pháp. Có nhiều người bây giờ họ thích dùng chữ hên xui, lâu lâu chúng tôi cũng nói đùa là hên xui. Nhưng thật ra trong đạo Phật không có chữ hên xui, ở trong đạo Phật dạy  mình làm đúng phương pháp thì mình đạt được thành tựu, mình làm không đúng phương pháp thì mình không thành tựu được. Thành ra pháp tứ đế là pháp của người có trí.

Pháp Tứ Đế cũng hé mở cho chúng ta một ý niệm tương đối rất khó hiểu rất xa xôi. Ví dụ, Đức Phật Ngài  từng suy nghĩ nếu có một cái sanh, già, đau, chết chi phối thì nhất định phải có một cái không bị sanh, không bị già, không bị đau, không bị chết chi phối. Có bế tắc thì phải có sự khai thông. Có vấn đề bên này phải có vấn đề bên kia. Sự đánh động đó, sự khẳng định đó là thái độ của người có trí. Việc này không dễ. Chúng ta thấy một số người quá tuyệt vọng về chuyện gì đó mà tự tử, một số người luôn bi quan nghĩ cuộc đời không có gì. Nhưng thật ra cái gì cũng có giải pháp, cái gì cũng có lối thoát của nó. 

Bên Mỹ có một nghề rất lạ, thông thường người ta làm nghề đòi nợ, nhưng những người này không làm nghề đòi nợ mà làm nghề đi khất nợ. Ví dụ, có một người làm ăn buôn bán lúc đang được thời, buôn bán đang lên họ vay tiền nhà băng rất nhiều, tới khi kinh tế xuống họ nợ chồng chất, có nhiều người phải khai phá sản và phải đến toà án xin khai Chapter 11 (là Bộ Luật Phá Sản Hoa Kỳ)  để tái tổ chức cơ sở thương mại, họ được bảo vệ bởi toà án, tại vì nếu toà án không bảo vệ họ thì những chủ nợ đến xiết nợ họ và khi xiết nợ họ thì họ không làm được gì hết. Thông thường những người này có nhiều người tuyệt vọng vì khai phá sản, có nhiều người tuyệt vọng đến nỗi tự tử, có nhiều người tuyệt vọng cảm thấy cuộc đời không còn gì hết. Nhưng cũng có những người đến tìm những người đi khất nợ cho họ, thì những chuyên gia khất nợ này là những người dựa trên hồ sơ của người thiếu nợ, họ đến ngân hàng đến những chỗ cho vay tiền thuyết phục những người đó rằng: "anh này thiếu nợ như vậy bây giờ qúi vị xiết quá thì anh ta không làm được gì hết, chẳng những vậy qúi vị mất luôn chì lẫn chài thì thôi qúi vị hãy soạn ít thì giờ và anh có thể cầm cố cái  gì đó hay anh có thể cam kết cái gì đó nhưng ít nhất qúi vị còn vớt vát được" chẳng hạn . Thông thường những người làm thủ tục Chapter 11  được tái bố trí thì họ được cái lợi là họ có thời gian không phải trả nợ hay trả nợ rất ít để họ có thời gian tái bố trí lại cơ sở làm ăn của họ. Người Mỹ rất tin mình làm việc gì gặp khó khăn đều có giải pháp để giải quyết, nếu mình khôn khéo tìm được giải pháp. 

Và khi người thấm nhuần lý Tứ Đế thì hiểu có cái bị sanh, bị già, bị đau, bị chết, chi phối thì nhất định phải có cái không sanh, không già, không chết (Điều này thực sự là khó hiểu) Nhưng đúng là có một chuyện ở trên đời là mình phải nghĩ đến Niết-bàn phải nghĩ đến giải pháp giải thoát.

Cũng nói về trên phương diện Pháp Học đề cập đến giáo lý Tứ Đế sở dĩ Đức Phật gọi là giáo lý của người bậc trí, giáo lý này giống như một giáo lý bao trùm nói trên ngôn ngữ của Ngài Xá Lợi Phất giống như dấu chân tượng (dấu  chân con voi) tất cả loài thú khác trong rừng đều đặt chân mình trong lòng chân tượng thì giáo lý Tứ Diệu Đế cũng vậy, giáo lý Tứ Diệu Đế rộng lớn bao trùm giáo pháp của Đức Phật và phải có trí mới hiểu được điều này.

Những điều chúng tôi vừa mới chia sẻ với qúi Phật tử thuần trên phương diện Pháp Học. Tức là một người học hiểu về Tứ Đế người đó phải nhận thức được vấn đề của mình, người đó phải nhận thức vấn đề theo lý nhân quả, người đó phải nhận thức vấn đề ở mức độ mình chưa bao giờ nhận thức được. Ví dụ như có vấn đề khó khăn thì phải có giải pháp, có bề mặt thì phải có bề trái, có cái này thì phải có cái kia. Điều đó phải là người có trí mới nhận ra được. Và chẳng những nhận ra vấn đề mà còn nhận ra giải pháp đó cần đến phương pháp. Mình làm cái gì mình phải làm đúng phương pháp đúng cách chứ không phải nhờ vào hên xui. Như vậy là điều Đức Phật dạy giáo lý Tứ Đế là giáo lý dành cho người có trí.

Bây giờ chúng ta nói qua Pháp Hành. 

Về điểm này, trong Tam Tạng kinh điển có hai bài kinh về Tứ Niệm Xứ; một trong Trường Bộ Kinh và một ở Trung Bộ Kinh. Bài trong Trường Bộ Kinh rất dài và đầy đủ, trong đó đặc biệt đề cập đến những pháp như Tứ Diệu Đế hay Thất Giác Chi là những đề  tài của pháp quán Niệm Xứ. Như chúng ta hiểu pháp quán Niệm Xứ là mình nhận thức được thực tại qua những đề tài đã được Đức Phật Ngài giảng dạy trong kinh như 5 uẩn, 12 xứ, như Tứ Đế, Thất Giác Chi hay 5 Triền Cái chẳng hạn. Những đề tài đó thay vì từ trước đến giờ mình chỉ được nghe giảng bây giờ mình phải nhìn thấy đề tài này chính ngay trong đời sống của mình.

Chúng ta nói về sự nhận thức của Tứ Đế trong pháp hành, lấy ví dụ Đức Phật Ngài dạy:

- "Ham muốn sanh lo âu, ham muốn sanh sầu muộn, không ham muốn thì lấy đâu âu lo sầu muộn". 

Với một người hành thiền, câu nói đó phải là câu nói được thấy ngay trên thân tâm của mình. Nếu nói "ham muốn sanh lo âu" thì chúng ta phải thấy mặt mũi của nó. 

Tại sao có nhiều người hay có tật khúm núm với người nào đó, sợ hãi với người nào đó, là tại vì mình kỳ vọng, mình mong muốn điều gì đó từ người đó. Mình mong muốn từ người đó nên mình sợ người đó, mình sợ mích lòng, sợ đụng chạm, mình sợ người đó là tại vì mình cầu cạnh người đó cái gì đó. 

Hay trong đời sống mình có cái gì đó mình quá muốn, mình sợ mất, mình sợ người ta lấy đi, mình sợ thế này thế kia. Sự sợ hãi, sự bất an đến từ sự quá dính mắc  với điều gì đó. Và điều đó phải được nhận thấy ngay trong đời sống, nhận thấy trong thân và tâm của mình. Và lúc đó mình thấm thía là tại sao Đức Phật dạy: "Ham muốn sanh lo âu, ham muốn sanh sầu muộn".

Rồi chúng ta cũng nhận thức Tứ Đế trong Pháp Hành bằng tánh cách là Nhân Quả. 

Lấy ví dụ, bà Thiền Sư Ajahn Naeb, bà thường nói về danh và sắc trong đời sống. Bây giờ mình đang ngồi tự nhiên thèm uống một ly cafe rồi mình đứng dậy đi lấy ly cafe. Một người hành thiền ngay lúc đó nên nhận thức tác động giữa ý muốn và sau đó cả một quá trình của thân trên ý muốn uống cafe. Rồi chúng ta đứng dậy đi pha nhưng với một người hành thiền thì thấy rằng đó là sự liên hệ của chủ tâm của ý định và của thể hiện hành động. Khi chúng ta đọc lâu vào điểm như vậy mình thấy rằng ái dục chi phối chúng ta nhiều. Có người nghĩ rằng mình ham muốn thì nó vô thưởng vô phạt mà thật ra sự ham muốn tạo ra  căng thẳng, mình gọi stress (VN gọi là xì trét) tức là khi nào mình bị căng thẳng cái gì quá là mình tại vì mình quá mong mỏi điều đó, tại vì mình quá chờ đợi, quá hi vọng cái đó nên mình khổ. Đó cũng là cách mình hiểu giáo lý Tứ Đế.

Trong cuộc sống khi một người tu tập đạt đến chỗ yên lặng tịch tịnh thì mình bỏ ngoài tai rất nhiều điều phiền lụy, bớt đi nhiều điều phiền muộn. Điểm đó chúng ta sẽ thấy được trong ý nghĩa được Đức Phật Ngài đề cập  trong giáo lý Bát Chánh Đạo khi được thực hành sẽ cho chúng ta được nhẹ nhàng thanh thản và chúng ta sẽ cảm nhận được cái ý nghĩa của sự tịch tịnh như thế nào.

 Trong pháp hành có hai pháp đều liên hệ đến Tứ Đế và hai pháp này ở trong pháp hành đều là biểu trưng của Tứ Đế của người có trí. 

1. - Pháp thứ nhất, bình thường của một người hành giả tu tập chúng ta gọi là Yonisomanasikara tức là Như Lý Tác Ý hay Chánh Tư Niệm. Ví dụ, mình bước ra bên ngoài nói chuyện có người nào đó chê mình một câu hay họ nói anh A anh B nói xấu mình, tự nhiên mình buồn,  nhưng nếu mình có Chánh Tư Niệm mình có Yonisomanasikara tức là mình có suy nghĩ sáng suốt. Mình suy nghĩ "Chuyện khen chê là chuyện bình thường, ai cũng có bị khen chê hết",  hay nghĩ là "Người ta nghe rồi người ta nói chưa chắc chính xác" hay hoặc giả nghĩ: "chắc kiếp trước mình nói xấu người ta bây giờ người ta nói xấu mình chẳng hạn". Mình không lấy chuyện đó làm chuyện bồng bột giận dữ tại sao và tại sao thì đó gọi là Chánh Tư Niệm nó cũng là một cách nhìn lấy trí tuệ nhìn Tứ Diệu Đế . 

2. -Một trạng thái thứ hai thường đi chung với chánh niệm gọi là Sampajañña.  Sati là ghi nhận.  Sampajañña là sự rõ ràng nhận thức trong sáng rõ ràng về cái gì đang xảy ra mà không lẫn lộn. Chúng tôi lấy ví dụ như là mình bước nhanh có vấn đề hoặc mình bước chậm có vấn đề thì người hành Tứ Niệm Xứ phải biết cái đó. Hay hoặc giả, mình không muốn ngồi thiền nữa vì cảm thấy buồn ngủ cảm thấy mệt mà đáng lẽ ra phải tinh tấn thì ngay lúc đó mình không tuân phục với sự buồn ngủ làm biếng, mình bắt đầu vận dụng trí của mình để rồi đem cái làm biếng cái dã dượi đó vào trong tầm nhìn của Sampajañña, đây là lười biếng, đây là hôn trầm thụy miên, đây là triền cái v.v... Những điều đó được hành giả thấy rõ trong đời sống. Chúng ta không hành thiền thì đối với chúng ta cuộc sống bên ngoài bất quá chỉ là điểm tô, cuộc sống bên ngoài nhiều lắm là chuyện thị phi, chuyện thù tạc, nhưng với một người hành Tứ Niệm Xứ thì dầu cái đẹp cái xấu, cái hay cái dở tất cả đều là đối tượng của chánh niệm và chánh niệm rõ ràng,  chánh niệm làm cho sự việc càng lúc càng rõ ràng. Cái rõ ràng đó tương tựa như một người làm việc gì quen tay rồi thảo việc, khi thảo việc làm không bị lọng cọng nữa. Ý thức biết rõ ràng  gọi là Sampajañña hay sự nhận thức phân biệt rõ. Sự nhận thức rõ ràng đó cũng là hình thức có trí. Thật ra Sampajañña  là một thứ trí tuệ sơ đẳng của tuệ Minh Sát và Yonisomanasikara là một hình dạng trí tuệ nhận thức sự việc một cách chính xác không để mình nhận thức phiền não, cả hai cái đều là trí tuệ. 

  Bàn về điểm này cũng hơi thừa, tại vì chúng ta đã nói rất nhiều, nói đi nói lại, mà phải nhận rằng nếu chúng ta học pháp chỉ học bằng đức tin không có trí tuệ thì chúng ta thiệt thòi nhiều, vấp váp nhiều, pháp học cũng vậy, pháp hành cũng vậy cái nào cũng cần có trí tuệ, những điều đó rất là tốt cho chúng ta.

  Mấy ngày nay sự việc chuyến máy bay của Mã Lai có thể nói là một trong những bí mật lớn trong lịch sử nhân loại, chiếc boeing 777 tự nhiên biến mất. Chúng tôi có đọc một vài bài người ta đưa ra giả thuyết nó bị những người hành tinh khác đem đi hay hoặc giả bị khủng bố bắt. Người ta đưa ra nhiều giả thuyết nhưng chưa ai xác nhận rõ ràng nó ra sao. Điều chúng tôi muốn nói tại đây cái nhìn của chúng ta sự việc như thế nào? chúng ta tò mò tại vì chuyện lạ, chúng ta có động tâm rung động trong nỗi khổ của thân nhân những người trên máy bay đó hay không? Chúng ta có thể thấy sự việc bằng tâm hờ hững, chúng ta có nhìn sự việc đó vói thái độ quan tâm nhiều. Thì cho dù chúng ta thấy thế nào đi nữa nhưng nếu có một người học về Tứ Đế sẽ thấy nhiều bài về Tứ Đế áp dụng ở trên câu chuyện của chiếc máy bay đó, nhiều giáo lý Tứ Đế áp dụng được.

  Từ bài học ngoại thân chúng ta hiểu nội thân của mình. Có những người luôn luôn khổ, luôn luôn oán trách, luôn luôn bi quan, luôn luôn tiêu cực thì với một người hành thiền hay một người hiểu lý Tứ Đế nhìn sự việc khác đi. Người không hiểu giáo lý Tứ Đế nhìn thấy khổ thì rơi nước mắt, nhưng người hiểu giáo lý Tứ Đế  thì khổ cũng là một đối tượng để quán chiếu, khổ để biết. Và chúng ta có thể thấy Tứ Đế ở khắp nơi ở trong mọi trường hợp,  từ cái vui cái buồn, từ trong công sở, từ trong nhà, ở chùa, từ chuyện mình nằm ngủ một vai ý nghĩ manh nha của chúng ta trong tâm cho đến những công việc chúng ta hoạt náo bên ngoài nhất nhất những điều đó đều có thể nhìn thấy qua lăng kính của Tứ Đế. 

 Chúng tôi hy vọng lời của Đức Phật dạy ở đây một lần nữa nhắc nhở chúng ta thấy một điều đây là giáo lý dạy cho người có trí chứ không phải giáo lý dành cho người không có trí tuệ.

  Đó là vài điều chúng tôi muốn chia sẽ với qúi vị nhân bài học ngày hôm nay./. 

Wednesday, March 4, 2015

Bốn ý nghĩa của Như Lai

Bốn ý nghĩa của Như Lai - Kinh Như Thị Thuyết - (CXII) (Cat. 13) (It. 121)

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 2 tháng 5, 2014. Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Bài kinh hôm nay, một bản dịch rất đẹp về phương diện ngôn ngữ từ vựng và bài kinh này là một bài kinh chúng ta có thể xử dụng như lời kinh tụng để nhớ cảm niệm xưng tán ân đức của Đức Phật. Ý nghĩa bài học ngày hôm nay chánh văn từ ngữ "Tathàgata" hay "Như Lai" một danh từ rất quen thuộc. Đôi khi chúng ta thường gặp trong kinh điẻn đó là một danh từ Đức Phật tự xưng chính Ngài. Nhưng chúng ta cũng thỉnh thoảng tìm thấy một số các bài viết được đề cập đến như ngôi thứ ba "các đấng Như Lai", chúng ta thường dịch như vậy. Và "Như Lai" là một từ vựng tương đối có nhiều ý nghĩa được tìm thấy rải rác đó đây ngay cả trong Tam Tạng kinh điển Pali, ở trong sớ giải, trong kinh điển Phật Giáo Bắc Truyền.

Trước nhất, ở đây chúng ta nói đến một chi tiết nhỏ trên phương diện ngữ pháp. Nếu chúng ta đọc trong tiếng Phạn thì chữ "Như Lai" được viết là  "Tathāgata". Ở đây ngay cả các nhà ngôn ngữ học cũng có sự phân hai khi dịch từ này. Tathāgata có thể nói là một cách kết hợp giữa hai từ Tathà-gata có nghĩa là một người đã đến như vậy và cũng có thể là từ Tathā-āgata nghĩa là một người đã đến như vậy.

Chúng ta biết ở trong tiếng Phạn thì chữ đến và đi là gacchati và agacchati và trong quá khứ phân từ viết là gata hay là agata. Thì ngay cả từ ngữ này trên phương diện văn phạm không định đặt được xác định rõ là đây là chữ Tathāgata hay  Tathā-āgata.

Trong Anh ngữ thường họ dịch phân đôi, phân đôi ở đây là "one who has thus come " (Tathā-gata) hoặc "one who has thus gone" (Tathā-āgata).  tức là người đã đến như vậy và người đã đi như vậy.

Chữ đến và đi ở đây trở thành chữ rất thú vị.

Thì cho dù rằng hai chữ này chính xác đi nữa "đến như vậy" hay "đi như vậy" đều có ý nghĩa rất đẹp.
Trong bản chữ Hán chọn chữ "đến như vậy". Như Lai chữ lai có nghĩa là đến. Thí dụ chúng ta nói vị lai là chưa đến, đương lai là đang đến. Do vậy nếu chúng ta đọc bản dịch chữ Hán Ngài Cưu Ma La Thập sau đó Ngài An Thế Cao và Ngài Huyền Trang đều dùng theo ý nghĩa là Tathā-āgata là bậc đến như vậy gọi là "Như Lai", chữ rất đẹp.

Trong kinh Tạng Pali đặc biệt phần sớ giải không có đề cập những ý nghĩa chữ "Như Lai" trên phương diện ngôn ngữ trên phương diện phân tích ngữ pháp.

Trong bản sớ giải của Trường Bộ Kinh do Ngài Buddhaghosa biên soạn ở trong đó Ngài đã nói đến 8 ý nghĩa của chữ Như Lai.

- Ý nghĩa thứ nhất nói rằng Ngài đã đến ở trong tính cách như vậy, có nghĩa hành trình dẫn đến giác ngộ của Ngài gìống y như hành trình giác ngộ của Chư Phật những vị tu tập Balamật hạnh đạt đến Nhất Thiết Chủng Trí, bởi vì Ngài đã xuất hiện giữa cuộc đời này theo đạo lộ Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều giống như vậy do đó gọi là Như Lai. Và Ngài đã hành trình như vậy, khi đến với cuộc đời này những bước đi của Ngài như vậy. Thí dụ như khi Ngài đản sanh ra đời như thế nào ở giữa bối cảnh thiêng liêng chào đời từ thai bào của Phật mẫu và cho đến những bước đi vào đời của Ngài đều có những tánh cách tương tự như Chư Phật đời quá khứ, hiện tại, vị lai do vậy Ngài được gọi là "Như Lai".

- Ý nghĩa thứ ba được đề cập là con đường chứng ngộ đạo quả Vô Thượng của Ngài đến Nhất Thiết Chủng Trí là con đường tất cả Chư Phật đều đi giống nhau. Đức Phật là bậc chiến thắng với chân lý nghĩa là từ sự nhận biết nắm rõ sự thật Ngài trở thành bậc chiến thắng gọi là Như Lai. Đức Phật là vị biết rõ chân lý, chân lý ở đây hiểu là pháp nên gọi là Như Lai. Đức Phật là bậc tuyên thuyết chân lý hay là tuyên thuyết sự thật gọi là Như Lai.

- Ý nghĩa thứ bảy, ngôn ngữ hành động của Ngài là nhất quán, Người nói gì thì làm vậy và làm sao thì nói vậy nên gọi là Như Lai.

- Ý nghĩa thứ tám, Đức Thế Tôn là bậc tối thượng Y Vương tức là vị Thầy Thuốc chữa bệnh tối thượng trong đời này nên gọi là Như Lai

Đó là một đoạn chúng ta được đọc từ sớ giải của Trường Bộ Kinh.

Có một điểm rất thú vị về chữ "Như Lai". Trong truyền thống của Phật Giáo Bắc Truyền ngày nay chư tăng bên Bắc Tông ít có khi giảng về điều này nhưng lại là một định nghĩa rất gần có thể nói rằng rất tương đồng với Phật Giáo Nam Truyền đó là lời trình bày của Ngài Long Thọ trong tác phẩm Trung Quán Luận, phẩm Niết-bàn. Ở trong phẩm Niết-bàn Ngài Long Thọ nói rằng:
"Sở dĩ gọi là "Như Lai" bởi vì không thể nói Như Lai tồn tại sau khi viên tịch Niết-bàn. Không thể nói Như Lai không tồn tại sau khi viên tịch Niết-bàn. Không thể nói vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi viên tịch Niết-bàn. Và cũng không thể nói là không tồn tại và cũng không tồn tại sau khi Niết-bàn".
Chúng ta nói về tứ cú bách phi.

Ngài Long Thọ Ngài nói rằng một người đạt đến trạng thái như vậy gọi là Như Lai. Về điểm này chúng ta sẽ bàn ở trong một phương diện khác nhưng phải nói rằng từ "Như Lai" được Ngài Cưu Ma La Thập dịch và sau đó cả Ngài An Thế Cao, Ngài Huyền Trang xử dụng là một từ dịch rất đẹp  Tathā-āgata.

Ở đây chúng ta có thể tìm thấy những định nghĩa do chính Đức Thế Tôn từ kim khẩu của Ngài giảng về thế nào là ý nghĩa của Như Lai và đây là một bản dịch rất đẹp:

"Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A La Hán nói đến và tôi đã được nghe: Này các Tỳ Kheo,  thế giới được Như Lai Chánh đẳng giác."


 "Thế giới được Như Lai Chánh Đẳng Giác" .


 Thế giới ở đây thường là nói về ba ý nghĩa:
1. Chữ thế giới được hiểu như là cảnh giới sanh tử thì có dục giới sắc giới và vô sắc giới.
2. Chữ thế giới ở đây gồm có các hội chúng thí dụ như là Samôn, Bàlamôn, Gia Chủ, Chư Thiên, Ma Thiên, Phạm Thiên tức là thế giới nói theo quan niệm cố hữu, cách sống cố hữu của chúng sanh trong đời này.
3. Chữ thế giới ở đây được hiểu như sự vận hành của nguồn máy sanh tử đó là duyên sinh duyên hệ. Thí dụ chúng ta nói về nghiệp quả và phiền não.

Thế giới đã được Như Lai Chánh Đẳng Giác.

Chữ Chánh Đẳng Giác ở đây: Chữ Chánh là biết đúng. Chánh Đẳng Giác hay Chánh Biến Tri, chữ Biến Tri là biết tất cả, chữ Chánh là biết đúng, biết đúng và biết tất cả. Hay nói chung Chánh Đẳng Giác thí dụ như ở trong đời này các nhà khoa học họ cũng tìm ra được nhiều cái biết nhưng những cái biết đó không nhất thiết gọi là samma (Sammasambuddho)  nó không nhất thiết giải quyết những vấn đề cách thức của đời sống. Trong chúng ta có nhiều người học nhiều hiểu rộng nhưng cái học của họ chỉ để tán gẫu để luận bàn chỉ để khẩu chiến và cái biết của họ không mang lại giá trị thiết thực cho gia đình cho xã hội. Cái biết có thể khả dĩ đúng chỗ và có thể mang đến lợi lạc là sự thoát khổ như Đức Phật dạy rằng: "Như Lai dạy về sự Khổ và sự Diệt Khổ" Đức Phật không nói đơn giản về sự Khổ, Ngài còn dạy về Diệt Khổ nữa. Như vậy gọi là Chánh Đẳng Giác. Chữ sammasambuddho ở đây chúng ta hiểu như vậy. Thông thường Chánh Đẳng Giác không được hiểu là một động từ nhưng ở đây phải hiểu là một động từ "Thế giới được Như Lai Chánh Đẳng Giác".

"Như Lai không hệ lụy đối với đời"

Đức Phật Ngài không có bất cứ một hy cầu hay bất cứ một mảy may gì mong muốn ở cuộc đời này. Có lần Đức Phật Ngài cũng dạy trong Trung Bộ Kinh:

"Thế gian tranh luận với Như Lai, Như Lai không tranh luận với thế gian".

 Đức Phật là một bậc đối với tất cả hữu vi pháp Ngài không có một mảy may dính mắc thì đừng nói chi những chuyện thế tục như  hơn thua danh lợi nhân ngã bỉ thử, điều đó không có ở Đức Phật. Thật ra cuộc đời của Đức Thế  Tôn từ một ông Hoàng sống trong cung vàng điện ngọc Ngài trở thành một bậc Mâu Ni ẩn sĩ sống ở rừng sâu núi thẳm. Đức Thế Tôn sẵn sàng sống trong rừng sâu một mình nếu có chuyện cần thiết. Đức Thế Tôn Ngài từ bỏ những phương tiện của một ông Hoàng của những gì những người đệ tử những người đàn tín vua chúa trưởng giả cung cấp, Ngài đi với đôi chân trần của Ngài, và thậm chí đã có một lần Ngài nhặt những tấm vải cũ ở bãi tha ma để làm y. Đức Thế Tôn Ngài không có bất cứ một mong mỏi gì ở cuộc đời này "Như Lai không hệ lụy với thế gian".

"Này các Tỳ Kheo, thế giới tập khởi được Như Lai Chánh Đẳng Giác".

"Thế giới tập khởi" tức là những nguyên nhân tạo thành thế giới này được Đức Thế Tôn biết rất rõ, biết rất sâu kín, không phải đời này mà nhiều đời trước, không phải chỉ là mặt nổi ở bên ngoài mà sâu thẳm ở trong mầm móng của vô minh và ái dục, tất cả đều được Như Lai quán triệt liễu tri và trong từ ngữ chính xác nhất gọi là Chánh Đẳng Giác.

"Thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác".

Đức Thế Tôn không chỉ đơn giản Ngài quán triệt về sự sanh của thế giới Ngài còn quán triệt về sự diệt của thế giới. Không có một người nào cách đây 25 thế kỷ đã đưa ra những lời dạy mà lúc đó con người hoàn toàn không thể hiểu ra được, thí dụ núi Hy Mã Lạp Sơn đã có thời là biển và có thời kỳ biển cả là núi, thời đó kiến thức của loài người về những lục địa trôi, về hiện tượng địa chấn về sanh diệt của thế giới hoàn toàn chưa có. Ở trong giòng lịch sử tôn giáo của nhân loại hầu như tất cả đều nghĩ rằng trái đất này sẽ miên viễn có chăng là loài người đã đến trái đất này và trong cái thiện cái ác nó sẽ tạo nên thế giới này hỗn độn, đẹp, xấu. Và rồi một ngày ở trên trái đất này vườn địa đàng sẽ được thành lập và khi vườn điạ đàng thành lập thì nó sẽ miên viễn nó sẽ vĩnh hằng. Đức Thế Tôn không nói như vậy. Đức Thế Tôn Ngài đã nói rất rõ không phải chỉ có tấm thân của chúng ta một ngày nào đó sẽ chết đi mà tất cả những gì hiện hữu có sanh đều có diệt, sanh do duyên và diệt do duyên. Và kể cả trái đất này cho đến ngày hôm nay với sự hiểu biết về thiên văn với sự quan sát tất cả tinh cầu ở trong vũ trụ thì chúng ta thấy rằng không phải chỉ có những hành tinh như trái đất, như Thủy vương Tinh, Mộc Vương Tinh sẽ tan vỡ mà ngay cả một Thái Dương Hệ cũng sẽ bị hủy diệt, ngay cả một dãy Ngân Hà cũng sẽ hủy diệt, những Galaxy (Thiên Hà) bị tiêu diệt trong sự quan sát của những viễn vọng kính như là viễn vọng kính Hubble hay Chandra chẳng hạn. Đức Thế Tôn Ngài quán được sự sanh diệt của thế giới này.

Có những chuyện rất đơn giản khi Đức Phật Ngài dạy rằng "ba tháng nữa Như Lai sẽ viên tịch" Tôn Giả Ananda rất chấn động đã nói với tất cả xúc cảm của mình :

"Con không nghĩ rằng Đức Thế Tôn sẽ ra đi khi chưa để lại một di chúc cho Tăng chúng"

Đức Phật Ngài đã dạy Tôn Giả Ananda: "Các con còn chờ gì ở Như Lai". Sau đó trước cảm xúc mạnh mẽ lớn lao của Tôn Giả Ananda Đức Phật Ngài đã dạy:

 "Như Lai há chẳng nói cái gì có sanh thì phải có diệt".

  Bởi vì Ngài đã quán triệt được sự sanh và Ngài quán được sự diệt do vậy cái nhìn của Ngài về thế giới này rất khác với chúng ta. Mỗi chúng ta những người Phật tử khi làm việc gì từ việc chùa chiền, chuyện Giáo Hội, chuyện xa chuyện gần, chuyện bản thân hay chuyện người khác chúng ta đều nghĩ đến cái gì thật lâu dài cái gì thật là miên viễn. Nếu cái đó mình làm mà rồi nó hỏng đi thì chúng ta không chấp nhận được. Mình nghĩ đến cái gì rất là tốt, rất là bền. Mình nghĩ rằng nó phải như vậy. Nhưng kỳ thật không phải như vậy. Chúng tôi đã từng sống với một bậc danh tăng như Ngài HT Hộ Giác, Ngài có mặt, Ngài có sự đóng góp của Ngài, nhưng rồi Ngài ra đi, chúng ta khoan nói đến hình ảnh của Đức Phật, khoan nói hình ảnh của cái gì khác hon, hình ảnh của một vị trưởng lão sống gần mình, có nhiều lúc học trò đệ tử nghĩ rằng Ngài có mặt ở đó mãi mãi nhưng một lúc nào đó Ngài ra đi. Thì mới thấy rằng mình biết như vậy, mình thấy như vậy, mình vẫn còn hụt hẫn, mình vẫn còn cảm thấy bị giao động, là bởi vì sao vậy? Bởi vì tất cả quan niệm của chúng ta về thế giới này được xây dựng trên ý nghĩ rằng nếu việc đó vô thường, chỉ là tạm bợ thì không muốn làm. Hay chúng ta thường tiếc cho người đó đẹp quá sao người đó chết, giống như chỉ có những người xấu mới đáng chết người đẹp không đáng chết, người đó hiền quá sao người đó chết, giống như chỉ có người ác mới đáng chết người hiền không đáng chết, sao người đó giàu quá mà chết nhưng thật sự giàu hay nghèo gì cũng chết.

Khi chúng ta nhìn thấy được vấn đề Như Lai quán triệt sự tập khởi của thế giới, sự đoạn diệt của thế giới nó không đơn giản. Khi nói chuyện về sự tập khởi của thế giới Ngài nói do cái này có cái kia có, vô minh duyên cho hành, hành duyên cho thức, thức duyên cho sắc, sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão tử. Thì những cái nhìn đó là những cái nhìn rất kỳ vĩ, nó không đơn thuần thấy đến thấy đi. Đức Thế Tôn quán triệt được nguyên nhân sâu xa của sanh và diệt.

 "Này các Tỳ Kheo, con đường đi đến thế giới đoạn diệt được Như Lai Chánh Đẳng Giác"

 Không phải chỉ thấy được sự đoạn diệt Ngài thấy được con đường đi đến sự đoạn diệt. Điều này đơn giản, đó là hữu vi pháp có nghĩa là pháp tập khởi, sanh khởi do duyên cũng phải do duyên diệt.

"Này các Tỳ Kheo, trong toàn thế giới, Thiên giới, ma giới, Phạm Thiên giới cùng với quần chúng Samôn, Bàlamôn, Chư Thiên và loài người được thấy được nghe, được thọ tưởng, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý tư sát, tất cả đều được Như Lai Chánh Đẳng Giác do vậy được gọi là Như Lai.

 Chữ Loka là Thế Giới được nhận thức, ở đây có ý nghĩa:
 - Cảnh giới sanh tử khi chúng ta nói về dục giới, sắc giới, vô sắc giới nhưng chúng ta còn nói một phương diện khác về thế giới này, thế giới đó là một thế giới sinh động bao gồm sự sống, khuynh hướng cố hữu, hành động cố hữu, nhận thức cố hữu, thì ở đây là điều Đức Phật giảng về thế giới đó.
 - Thiên giới là thế giới của chúng sanh có rất nhiều phước.
 - Ma giới là thế giới của chúng sanh có nhiều uy lực ảnh hưởng chi phối đến chúng sanh khác, sự chi phối này nó tạo thành những nghiệt ngã của đời sống.
 - Phạm Thiên giới là những chúng sanh đạt đến chỗ thuần tịnh của thiền định.
- Quần chúng Samôn là quần chúng của những người tu tập bản thân, Bà la môn là những người cổ xúy hiển giáo tín ngưỡng.
-  Chư Thiên ở đây hiểu là chúng sanh sanh ra do phước, là người hiểu được chúng sanh sanh ra có phước một cách tương đối và có sự phấn đấu rất anh hùng trong thế gian này.

"được thấy, được nghe, được thọ tưởng, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được tư sát" tức là ở đây chúng ta nói về "thấy, nghe, quan niệm, kinh nghiệm, trải nghiệm, sự nhận thức, sự truy cầu hướng đi điều đó đều được Như Lai Chánh Đẳng Giác do vậy gọi là Như Lai".

Như vậy ý nghĩa đầu tiên của từ "Như Lai" nói về Phật trí, nói về tầm hiểu biết của Chư Phật, nói về cảnh giới hiểu biết của Chư Phật mênh mông vô lượng. Đây là chúng ta nói về nhiều điểm từ câu  "sự sanh sự diệt hay thế giới tập khởi thế giới đoạn diệt" rồi sau đó nói đến "con đường dẫn đến thế giới đoạn diệt", nói đến "khuynh hướng hiểu biết của chúng sanh trong đời này, tất cả đều được Như Lai Chánh Đẳng Giác do vậy Như Lai không hệ lụy với cuộc đời và Như Lai gọi là Như Lai".

Ở một điểm khác:

-  "Này các Tỷ-kheo, từ đêm Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác đến đêm Ngài nhập Niết-bàn không có dư y trong thời gian ấy, điều gì Ngài nói, tuyên bố, nêu rõ lên tất cả là như vậy, không có khác được. Do vậy Ngài được gọi là Như Lai".

 Ở đây, nói đến sự nhất quán và về điểm này có sự tranh luận rất lớn của Phật giáo Bắc Truyền. Phật giáo Bắc Truyền cho rằng Đức Thế Tôn Ngài đã do phương tiện giảng giải có Đại Thừa, Tiểu Thừa và về sau này thời kỳ Bát Nhã, thời kỳ Pháp Hoa thì có khi Ngài đồng ý có khi Ngài phủ nhận. Thậm chí ngày nay cũng có người nói rằng giáo lý Tiểu Thừa là giáo lý do Đức Phật giảng nhưng sau đó Đức Phật Ngài lại chỉ trích nặng nề giáo lý Tiểu Thừa. Thật ra điều đó hoàn toàn không có trong Tam Tạng Pali . Trong Tam Tạng Pali giáo thuyết giáo lý của Đức Phật mang tính nhứt quán. "Từ đêm Như Lai thành đạo và từ thời điểm chuyển Pháp Luân cho đến khi Ngài viên tịch Niết-bàn những gì Ngài tuyên bố, những gì Ngài dạy là nhất quán là tỏ rõ không có gì khác được đều là giáo lý Tứ Đế được Như Lai giảng giải ở trong kinh chuyển Pháp Luân hay là tam học Giới Định Tuệ, ở trong những giờ phút sắp viên tịch Niết-bàn đều là nhất quán như vậy gọi là Như Lai, tức là nhất quán trong lời dạy.

Một điểm khác:

 "Này các Tỷ-kheo, Như Lai nói gì làm vậy, làm gì nói vậy. Vì rằng nói gì làm vậy, làm gì nói vậy, nên Ngài được gọi Như Lai".

  Chữ "Như Lai" ở đây chúng ta nói y hành hợp nhất, cái biết và hành động, lời nói và hành động nhất quán, Ngài là bậc Minh Hạnh Túc tức cái biết và sở hành của Ngài cũng nhất quán. Đặc biệt trong cuộc đời này có một người mà hành động không thể khác hơn với lời nói đó là Đức Phật. Lấy ví dụ, tất cả chúng ta đều  ca ngợi chữ hiếu nhưng chưa chắc chúng ta đã làm giống như chúng ta nói, chúng ta ca ngợi sự thanh tịnh nhưng chúng ta không thể sống thanh tịnh như chúng ta nói, chúng ta nói về sự dấn thân, sự hy sinh cho cuộc đời nhưng chúng ta cũng không làm được một phần nhỏ cái chúng ta nói. Thường những gì chúng ta ca ngợi chúng ta nói có chất lý tưởng nhiều hơn. Tại vì sức của chúng ta không vươn tới đó. Và có thể phiền não của chúng ta còn lại nó khiến cho chúng ta sống không như những gì chúng ta nói. Nhưng với Đức Phật Ngài là một bậc đại lực đại trí cái biết của Ngài và khả năng của Ngài cuộc sống của Ngài luôn luôn nhất quán.

  Một điểm nữa:

"Này các Tỷ-kheo, trong toàn thể thế giới, Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc chiến thắng, không bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến, đại tự tại, do vậy Ngài được gọi là Như Lai".

 Không ai có thể đoạt mạng của vị Chánh Đẳng Giác, không ai có thể làm cho vị Chánh Đẳng Giác bị bắt bí không thể trả lời, không ai có thể làm gì để khiến Đức Phật bậc Chánh Đẳng Giác trở thành một người chiến bại.

  Ma vương đã từng đến dành cội bồ đoàn với Đức Phật và cuối cùng ở tại cội Bồ Đề đó Đức Thế Tôn đã an nhiên ngồi ở trên bản toạ của Ngài.

  Dạ xoa Alavaka đã từng nói: "Nếu Đức Thế Tôn không trả lời những câu hỏi của Dạ xoa Alavaka thì Dạ xoa Alavaka sẽ xé xác Đức Thế Tôn quăng qua bên kia sông Hằng.

  Đức Phật đã ung dung trả lời: "nếu người hỏi thì Như Lai sẽ trả lời nhưng không ai có thể xé xác Như Lai quăng sang bên kia bờ sông Hằng được".

Và Saccaka là một người cao ngạo biện tài đã từng tuyên bố sẽ làm cho Đức Thế Tôn run rảy với khả năng biện luận của mình và cuối cùng đã trở nên câm nín khi đứng trước Đức Phật.

   Sundarì đã từng vu cáo Đức Phật và trong sự an nhiên chánh định Đức Thế Tôn đã làm sáng tỏ sự thật.

Con voi cuồng Nàlàgiri bị phục rượu uống say đã từng tấn công Đức Thế Tôn và bằng từ tâm vô lượng Đức Thế Tôn đã chuyển hóa được voi điên.

Và nhiều câu chuyện cho chúng ta hiểu về Đức Phật là bậc chiến thắng.
 
   Thì toàn bộ ý nghĩa "Như Lai" được giảng tại đây là những ý nghĩa rất đẹp.
 
   Phật tử niệm Phật thường niệm  tên của vị Phật này tên vị Phật khác nhưng đúng ra khi chúng ta niệm Phật chúng ta niệm ân đức của Phật, niệm Phật, cảm Phật chi đức. Nhưng mỗi người đều có một cái duyên với một ân đức Phật khác nhau, có người thì rất tiến bộ khi niệm Arahan, có người rất tiến bộ khi niệm Buddho. Nhưng phải nói rằng riêng đối với bản thân của chúng tôi thì chúng tôi rất thích đọan kinh hôm nay, đoạn kinh đó trở thành một tâm kinh trở thành một điều chúng tôi thường tụng niệm khi chúng tôi đi về chiêm bái các Thánh tích Phật Giáo. Đoạn kinh này đã trở thành một điều chúng tôi thường tụng đọc khi chúng tôi đến những đền tháp những pho tượng Phật trên hành trình đi thăm viếng các quốc gia Phật Giáo. Không hiểu sao đối với chúng tôi những điều này là cái gì đi vào lòng và đọc đến thì trong lòng rất phấn khởi, rất hân hoan và cảm nhận như một giòng nước mát chảy vào lòng. Vì vậy ý nghĩa của "Như Lai" này nếu qúi Phật tử có duyên qúi vị thường trì tụng qúi vị cũng cảm thấy rất thấm thía. Chúng tôi nói rằng mỗi người có cái duyên riêng không hẳn là qúi vị hoan hỉ với đoạn kinh này mà có thể qúi vị hoan hỉ với đoạn kinh khác, nhưng riêng với đoạn kinh định nghĩa về Như Lai này đối với cá nhân chúng tôi là một khung trời cao rộng là điều gì đó rất là thấm thía

"Này các Tỷ-kheo, thế giới được Như Lai Chánh đẳng giác. Như Lai không hệ lụy đối với đời. Này các Tỷ-kheo, thế giới tập khởi được Như Lai Chánh đẳng giác; thế giới tập khởi được Như Lai đoạn tận. Này các Tỷ-kheo, thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác; thế giới đoạn diệt được Như Lai giác ngộ. Này các Tỷ-kheo, con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác; con đường đưa đến thế giới đoạn diệt Như Lai đã tu tập.


Cái gì này các Tỷ-kheo, trong toàn thế giới với Thiên giới, Mạ giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, được thấy, được nghe, được thọ tưởng, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý tư sát, tất cả đều được Như Lai chánh đẳng giác. Do vậy được gọi là Như Lai. Này các Tỷ-kheo, từ đêm Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác đến đêm Ngài nhập Niết-bàn không có dư y trong thời gian ấy, điều gì Ngài nói, tuyên bố, nêu rõ lên tất cả là như vậy, không có khác được. Do vậy Ngài được gọi là Như Lai.



Này các Tỷ-kheo, Như Lai nói gì làm vậy, làm gì nói vậy. Vì rằng nói gì làm vậy, làm gì nói vậy, nên Ngài được gọi Như Lai.



Này các Tỷ-kheo, trong toàn thể thế giới, Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc chiến thắng, không bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến, đại tự tại, do vậy Ngài được gọi là Như Lai.



Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây điều này được nói đến:



Thắng tri mọi thế giới,

Mọi thế giới như thật,
Ly hệ mọi thế giới,
Không giống mọi thế giới.
Thắng tất cả bậc trí,
Giải thoát mọi buộc ràng.
Cảm thọ tối thắng tịnh,
Niết-bàn, không sợ hãi,
Vị này đoạn lậu hoặc,
Bậc giác ngộ trí giả,
Không dao động nhiễu loạn,
Nghi ngờ được chặt đứt,
Ðạt diệt tận mọi nghiệp
Giải thoát diệt sanh y,
Là Thế Tôn, là Phật
Bậc Sư tử vô thượng,
Trong thế giới thiên giới
Chuyển bánh xe Phạm luân.
Như vậy loài Trời, Người,
Ðến quy y đức Phật,
Gặp nhau, đảnh lễ Ngài,
Vĩ đại không sanh hữu,
Ðiều phục, bậc Tối thượng,
Trong người được điều phục
An tịnh, bậc ẩn sĩ,
Những người được an tịnh.
Giải thoát bậc tối thượng,
Những người được giải thoát
Vượt qua bậc tối thắng,
Những người được vượt qua.
Như vậy họ lễ Ngài
Vĩ đại, không sanh hữu,
Thiên giới, thế giới này,
Không ai được bằng Ngài.


Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe."



Đó là vài  điểm chúng ta chiêm nghiệm về ý nghĩa của từ vựng "Như Lai". Đây là một ở trong những đoạn kinh rất hiếm hoi chúng ta tìm thấy ở trong Tam Tạng kinh điển cho chúng ta rõ nét về ý nghĩa của từ vựng chúng ta nghe rất thường, một danh từ Đức Phật tự dùng để nói về Ngài "Này các Tỳ Kheo, Như Lai đã dạy cho các con điều này Như Lai há chẳng nói điều kia". Hoặc giả, khi chúng ta đọc chữ "Như Lai" thì chúng ta biết rằng từ vựng đó đặc biệt đề cập đến Đức Phật "Tathàgata" hay " Như Lai".


Và thưa qúi vị, bài giảng đến đây xin được kết thúc./.  

Monday, February 23, 2015

Niết-bàn

Bài học: Niết bàn

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhama ngày 13-5-2014, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Hôm nay chúng ta đọc câu Phật ngôn Đức Phật dạy có hai Niết-bàn giới tức hai cảnh giới Niết-bàn: Một là Vô Dư, hai là Hữu Dư, đây là danh từ rất chuyên môn. 

Chúng ta nói đơn giản hơn:

- Hữu Dư Niết-bàn đề cập đến trạng thái một vị đã viên thành quả giải thoát đã đoạn tận phiền não gọi là phiền não Niết-bàn. Vị này không còn phiền não tham sân si. Ở đây cũng nói rõ vô minh và ái hoàn toàn không còn nữa nhưng vị này vẫn còn thân ngũ uẩn đó là hình ảnh của Đức Phật và các đệ tử của Ngài sau khi đã viên thành quả vị giải thoát. Chúng ta gọi là hữu dư Niết-bàn.

- Vô Dư Niết-bàn còn gọi là ngũ uẩn Niết-bàn, đó là mầm tương lai không có, nhưng quả quá khứ cũng đọan. Thí dụ như Đức Thế Tôn Ngài viên tịch tại Kusinārā hay Ngài Xá Lợi Phất viên tịch tại Nàlandà. Điều đó chúng ta gọi là vô dư Niết-bàn hay ngũ uẩn Niết-bàn.

Cả hai trạng thái Hữu Dư và Vô Dư đều không dễ dàng để hiểu đối với tất cả chúng ta ngay cả những nhà tư tưởng Phật học lớn. Và điều thú vị là những vị tổ của Phật giáo Đại Thừa như Ngài Long Thọ, Ngài Thế Thân, Ngài Vô Trước, đặc biệt là Ngài Long Thọ và Ngài Vô Trước đều có những linh họa về Niết-bàn rất gần với Phật giáo Nguyên Thủy. Nhưng về sau các vị thừa tiếp Phật giáo Đại Thừa đặc biệt ở Trung Hoa và Việt Nam nhìn sự việc khác đi, điều này  chẳng những ảnh hưởng lớn cái nhìn của Phật tử đối với cứu cánh giải thoát mà còn có một tác động vô cùng quan trọng trong sự phân hóa cái nhìn khác biệt của các bộ phái khi nhìn về cứu cánh của đời sống tu tập.  

Như tất cả chúng ta đều biết để hiểu Niết-bàn chúng ta phải hiểu Sanh Tử. Sanh Tử ở đây là sự hiện hữu của chúng ta, sự hiện hữu Đức Phật dạy chúng ta có trong giờ phút này đó là sắc thân, cảm thọ, sự trải nghiệm, sự tạo tác và nhận thức của các giác quan. Trong danh từ Phật học gọi ngũ uẩn, sắc uẩn là thành phần vật chất đó là thân của chúng ta. Thân này do tứ đại hợp thành bằng xương bằng thịt phải ăn phải uống và phải chịu bệnh tật. Ngay cả một tấm thân già nua đau bệnh nhưng chúng ta vẫn thương vẫn qúi. Có những người rất già rất bịnh vẫn chăm chút hằng giờ trước gương để làm đẹp. Có những người rất già rất bệnh nhưng bỏ thân này ra đi thì không đành không cam lòng. Cho chúng ta thấy rằng đây là thân của chúng ta nó khổ, nó là ổ bệnh tật nhưng chúng ta bỏ nó không dễ tại vì nó là của mình. 

Tương tựa như một người mua một dàn máy stereo cách đây 20 năm và thời đó dàn máy họ mua rất tốt, tốn hàng ngàn Mỹ kim để mua bây giờ dàn máy đó đã cổ lỗ xĩ đã lỗi thời không đáng giá bao nhiêu, nó kềng kàng nhưng đem quăng đi một món mình đã bỏ ra bao nhiên ngàn Mỹ kim để mua cách đây mười mấy năm thì không đành lòng.

 Chúng ta cũng vậy nếu sắc thân này cho dù giả hợp bệnh hoạn già nua chúng ta cũng không đành bỏ , cảm thọ hay trạng thái vui buồn không vui không buồn, cảm thọ đó là những cái gì dày xéo cuộc sống chúng ta rất nhiều. Cụ Nguyễn Công Trứ viết rằng "Kiếp sau xin chớ làm người Làm cây thông đứng giữa trời mà reo " Nhiều người trong cuộc sống trước những vui buồn thăng trầm cảm thấy cuộc đời nản quá chỉ mong làm sao đời sau làm cây thông reo ở giữa núi rừng bạc ngàn. Bởi vì người ta nghĩ như vậy là hạnh phúc hơn nhiều.

   Có bao nhiêu người trong chúng ta lãnh đủ thứ những chuyện vinh nhục thăng trầm, đủ thứ sự bất an nhìn một cặp thiên nga hay một con vịt lội trên bờ hồ hay con sáo tắm trên thác nước nghĩ rằng ước gì mình là chim, ước gì mình là con thiên nga bơi lội thanh thản nhởn nhơ vậy mà hạnh phúc.
   
     Chúng ta thường cảm thấy:
      - Cảm thọ làm cho mình khổ, cảm thọ nhiều khi nó thường là một vết thương không băng bó đụng đến là đau nhức. Nhưng chúng ta vẫn yêu thọ uẩn, chúng ta vẫn dính mắc vào thọ uẩn.
 
   - Tưởng uẩn, là sự trải nghiệm, sự hấp thụ, sự giáo dục chúng ta có được trong cuộc đời. Nói một cách cải lương hơn đó là dĩ vãng là quá khứ. Và khi nói về dĩ vãng quá khứ thì theo năm tháng chồng chất rất nhiều. Có nhiều người muốn sống với quá khứ và thường nhai đi nhai lại quá khứ một thời oanh liệt một kỷ niệm êm đềm. Nhưng cũng có nhiều người muốn quên đi quá khứ. Thậm chí người ta uống rượu để tiêu sầu bởi vì người ta không muốn nhớ không muốn nhắc.
   
   - Hành uẩn, là một cơ phận năng động tạo tác chủ trương thiện ác. Có nhiều thứ liên quan đến hành uẩn nhưng chính là một bộ phận của cuộc sống và cho chúng ta những quyết định nên làm thế này không nên làm thế kia. Không thể dễ dàng để chúng ta làm một quyết định và những quyết định đó tạo rất nhiều hệ lụy, nhất là tạo nghiệp. Nếu chúng ta đóng vai trò của một vị lãnh đạo thì chúng ta hiểu rằng để làm một sự lựa chọn không dễ, không dễ chút nào hết. 
   
   - Thức uẩn, là cái biết của các giác quan thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng. Nếu chúng ta sanh ra có phước thì những gì mình có như cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc, cảnh pháp tương đối tốt. Nếu  chúng ta kém phước, trong đời quá khứ đã tạo những ác nghiệp thì đúng rằng những sắc, thinh, khí, vị, súc không có khả ái. 
   
      Cho dù năm uẩn mình nói thế nào, mình nhìn thế nào thì nếu năm uẩn của ta chúng ta cũng cảm thấy mình dính mắc với nó mặc dầu nó cho chúng ta rất nhiều hệ lụy. Đức Phật dạy sự hiện hữu của chúng sanh tức là sự hiện hữu của năm uẩn và nếu một người học Phật hiểu được nguyên lý duyên khởi thì năm uẩn là quả và quả tạo ra bởi nghiệp và nghiệp tạo ra bởi phiền não, phiền não nghiệp quả là vòng luân chuyển để tạo sự hiện hữu của chúng ta. 
 
      Nói cách khác, cái gọi chúng sanh, cái gọi anh, chị, tôi, cái gọi ông này bà kia trên phương diện thuần túy Phật học đó là sự hiện hữu của năm uẩn. Và năm uẩn là sản phẩm của phiền não, năm uẩn là quả của nghiệp, và nghiệp được tác động bởi phiền não, vô minh và ái chính là đầu mối. Sản phẩm của vô minh và ái, của sự mê mờ và dính mắc, mê mờ và khao khát thì nó không thể là sản phẩm tuyệt hảo, một sản phẩm hoàn hảo như chúng ta nghĩ. 
 
Trong vòng luẩn quẩn của duyên khởi hành trình dẫn đến giác ngộ giải thoát Đức Phật đưa ra không phải nói rằng mình có thân mình khổ bây giờ leo lên lầu nhảy xuống tự tử thì hết khổ. Đức Phật không dạy như vậy. Tại cái khổ không đơn thuần là mình khổ về mắt thì mình khoét mắt, khổ về tai mình phải thọc tai cho điếc thì mình hết khổ, không phải như vậy. Vấn đề không phải giải quyết ở tại đó. Chúng tôi thấy có trường hợp cha mẹ đôi khi không có thì giờ cho con cái, con cái hư hỏng sang hàng xóm ăn cắp ăn trộm hoặc giả phá làng phá xóm, cha mẹ kêu về đánh, đánh đứa con thậm chí những trận đòn chí tử, hoặc giả là đòi giết đứa con, điều đó chỉ là một giải pháp có tánh cách bề ngoài, nhưng thật sự sâu xa một điều là cha mẹ không thể giết con được, và cha mẹ không thể làm cho con tốt hơn vì những trận đòn chí tử mà cha mẹ phải có sự giáo dục khác, sự giáo dục đó đòi hỏi có chiều dài, đòi hỏi giải quyết vấn đề tận gốc. Đứa con ham chơi lêu lổng vì nó không thích học, nó không siêng học, mình phải làm sao để cho con thích thú với việc học hành thì đó là một chuyện mà chỉ có những bậc cha mẹ có trình độ mới làm được. Thì ở đây chúng ta nói như vầy, năm uẩn tuy là khổ nhưng bảo rằng mình hủy hoại năm uẩn bằng cách đoạn mạng đi thì không có nghĩa giải quyết được vấn đề tại vì mầm mống vô minh và của khát ái vẫn còn đó. Nên Đức Phật đã dạy chúng ta con đường tu tập để đoạn trừ phiền não bằng định, bằng niệm và nhiều thiện pháp khác.

Bây giờ chúng ta nói sang một chuyện rất tế nhị. Rồi đến một ngày ở cuối hành trình hành giả nhờ vào sự tu tập đoạn tận được phiền não. Ở đây chúng ta chỉ nói đoạn tận được phiền não chứ chúng ta chưa nói đoạn tận được quả cũ, chúng ta gọi đó là hình ảnh của các bậc thánh các bậc đã đoạn tận phiền não như Thinh Văn Giác, Độc Giác và Toàn Giác.

Và câu hỏi chúng ta đặt ra: Đối với một vị sống ở trong cuộc đời này đoạn tận phiền não thì vị đó ra sao?
 Thật ra mình không mường tượng được. Ông bà chúng ta nói "lấy bụng ta suy ra bụng người", suy bụng ta ra bụng người. Cái suy bụng ta ra bụng người là mình dựa trên kinh nghiệm của mình, mình sống thì mình dựa trên nấc thang giá trị của xã hội trên danh lợi, dựa trên những đam mê những tha thiết bây giờ không có những thứ đó thì nó ra sao? "Phật dữ Phật tri, Thánh dữ Thánh tri" chuyện đó của bậc Thánh  chúng ta khó có thể hiểu, thật khó hiểu.

   Nó khó hiểu bởi vì ba lẽ: 
   
    -Thứ nhất, tất cả những gì chúng ta suy nghĩ đều dựa trên hữu vi pháp, dựa trên kinh nghiệm của quá khứ. Một bậc Thánh đã chứng đã tỏ ngộ Niết-bàn, vị đó nhìn sự việc một khác đi. Nó khó cho chúng ta hiểu về bậc Thánh là tại vì các vị hành động bằng tâm kiriya citta là tâm duy tác, tâm này là một trạng thái  thí dụ như Đức Phật thuyết pháp hay tôn giả Xá Lợi Phất, Ngài hoằng pháp Ngài dạy dỗ các vị sadi, tất cả những việc đó đều không mang dấu ấn của nghiệp của vô minh của ái dục và không tạo nghiệp. Các Ngài hoằng pháp độ sinh thuần vì tâm bi mẫn nhưng không tạo phước không tạo ra quả tại vì đối với các Ngài thì việc tạo tác nhân quả nghiệp báo để sanh tử thì không còn nữa. 
    - Thứ hai. Nói cách khác, chỉ đơn thuần trên phương diện vị Alahán hành xử bằng tâm duy tác đã là chuyện khó hiểu cho chúng ta, thật sự khó hiểu, đừng nói chi chúng ta bàn nhiều. Lấy ví dụ trong cuộc đời chúng ta khi nói về chuyện gì đó mình phải nói cho lâm li bi đát cho nhiều kịch tính. 
    Ví dụ, trong Phật giáo Bắc Truyền có hình ảnh của Ngài Mục Kiền Liên đi vào trong địa ngục thấy mẹ là bà Thanh Đề đang chịu tội khổ, người ta diễn tả Ngài đã khóc, khóc thật nhiều, cầm bát cơm dâng lên cho mẹ mà rưng rưng nước mắt. 
    Thật ra hình ảnh của một người con thấy mẹ bị khổ trong địa ngục xót xa rung động sầu não, hình ảnh đó thật sự là hình ảnh rất con người rất gần gủi và rất cảm động đối với chúng ta.
     Nhưng bây giờ giả xử như hình ảnh của một vị Alahán trong trường hợp thấy mẹ bị tội khổ như vậy nhưng trong bản tâm của một vị Alahán không mảy may có sự xúc động thì chúng ta thấy có cái gì đó lạ không giống chúng ta. 
 
      Trong kinh Pháp Cú có đề cập đến hình ảnh của một vị Sadi và vị Sadi đắc đạo chứng quả Alahán đoạn tận phiền não, vị sadi này có người mẹ, người mẹ cũng là tỳ kheo ni xuất gia và đặc biệt người mẹ rất thương người con của mình nhưng vì hoàn cảnh nên mẹ cũng đi tu và con cũng đi tu, và con chứng quả Alahán. Vị tỳ kheo ni này vẫn thường đứng đầu đường để mong được thấy người con của mình là vị Sadi nhỏ đi khất thực. Có một lần vị Sadi Alahán nghĩ rằng mình phải tế độ mẹ mình, thành ra vị này đã gặp bà mẹ là một vị tỳ kheo ni và nghiêm nghị nói với vị tỳ kheo ni là sự dính mắc đối với con sự dính mắc bằng ái dục không xứng đáng đối với một người mặc áo càsa xuất gia như vậy.
 
       Có lẽ khi chúng ta nghe câu chuyện một bà mẹ nhìn thấy đứa con đi xuất gia con còn nhỏ đi khất thực mình không nuôi được thương quá đứng lề đường trông dõi mắt để nhìn từng bước chân đứa con mình, hình ảnh đó rất cảm động. Nhưng rồi đứa con lại có thái độ rất nghiêm nghị đối với mẹ thì hình ảnh đó không cảm động chút nào hết.
  
Bây giờ chúng ta lại nghe câu chuyện Ngài Mục Kiền Liên gặp mẹ là bà Thanh Đề trong địa ngục, ngồi trên bàn chông Ngài đã khóc Ngài đã sầu não. Tại vì câu chuyện mang nhiều kịch tính điều đó cho chúng ta thấy rằng ở trong thế giới loài người chúng ta cảm nhận và cảm nhận hết không đủ, khó lắm. 
Thứ ba: Đừng nói chi phàm với Thánh, đừng nói chi Niết Bàn với Sanh Tử. Chúng ta chỉ nói đơn giản một chuyện người VN mới qua Mỹ. Ở đây chúng tôi thỉnh thoảng gặp một vài vị nhiều cái ở bên Mỹ mà ở VN hiểu không ra. Thí dụ như người bên Mỹ rất bận rộn gặp người nào ở VN qua thì dành thì giờ rất ân cần giúp đỡ việc này việc kia xong thì thôi, nhưng các vị ở VN thì nghĩ người giúp đỡ mình phải là tử tế lắm và cứ thường xuyên liên lạc gọi điện thoại nói tới nói lui làm cho những người này trốn hết, tại vì sao vậy? Tại vì cách suy nghĩ của người ở Mỹ và người ở VN rất là khác. Hay hoặc giả chúng tôi sống bên Mỹ lâu, giả sử Phật tử đến chùa mang cơm đến chư tăng trong lúc họ bận rộn và chúng tôi đến bàn ăn ngồi xuống và thấy thiếu ly nước, chỗ lấy nước kế bên ở đằng sau lưng thôi mình đứng dậy đi lấy ly nước thì mấy vị bên VN ngạc nhiên, các vị nói rằng có Phật tử sao không gọi họ lấy. Bây giờ mình sống ở Mỹ quen rồi mình thấy Phật tử đang bận lăng xăng việc này việc kia họ chưa mang nước ra thì mình đứng dậy đi lấy ly rót nước lạnh là chuyện bình thường. Ý chúng tôi muốn nói trong văn hóa đã là khó cảm thông khó có thể hiểu nhau thì đừng nói chi là giữa bậc Thánh và người phàm, giữa Niết-bàn và Sanh Tử. 
Một vị đoạn tận vô minh và ái, đoạn tận phiền não thì đời sống vị đó không dễ để chúng ta hình dung. Nhưng trong kinh nói rằng người đoạn tận vô minh và ái vị đó vẫn còn thân ngũ uẩn và tại vì còn ngũ uẩn do đó các hệ lụy của quá khứ còn lại. Thí dụ như là Ngài Rahula khi Ngài chứng Alahán  Ngài vẫn còn có dáng đẹp do phước trong quá khứ Ngài còn để lại. Hay là Ngài Cakkhupala đắc đạo quả Alahán nhưng Ngài vẫn chịu nghiệp trong quá khứ làm cho Ngài mù mắt v.v... Thì điều đó Đức Phật gọi là hữu dư Niết-bàn.
 
Chúng ta nói Vô Dư Niết-bàn. Nếu sự hiện hữu của 5 uẩn làm sản phẩm của vô minh, của ái, của phiền não, của nghiệp, chấm dứt vô minh và ái thì không còn sanh tử. Đa số Phật tử đều thấy sanh tử trầm luân là điều Đức Phật Ngài dạy chúng ta phải giải thoát nhưng khi không còn sanh tử trầm luân nữa thì chúng ta sẽ ra sao? Đây là điều có nhiều người luận bàn, cái gì sẽ xảy ra sau khi một vị A la Hán viên tịch Niết-bàn. Vị đó còn tồn tại hay không tồn tại, vị ấy còn hiện hữu hay không hiện hữu. Thậm chí trong lời tựa của cuốn sách "Đọc kinh Pháp Cú Nam Tông " của HT Trí Quang, HT cũng nói là HT không tin một vị Alahán sau khi viên tịch Niết-bàn chấm dứt 5 uẩn, nói chấm dứt 5 uẩn tức là đoạn kiến. HT nói rằng Đức Phật đã từng làm cha làm mẹ làm thầy làm bạn để độ chúng sanh thì sau khi viên tịch Ngài cũng sẽ trở lại làm cha làm mẹ làm thầy làm bạn để độ chúng sanh.

 Chúng tôi hoàn toàn hiểu tại sao một số các vị suy tư và nghĩ như vậy. Nhưng chúng ta thử lấy 3 thí dụ.
  
1.Thí dụ thứ nhất, mình đang bị nhức răng bây giờ có người đề nghị một phương pháp để trị bịnh nhức răng  như lấy gân máu ở chân răng chẳng hạn. Chúng ta đặt vấn đề là sau khi hết nhức răng rồi thì mình sẽ ra sao? Thật ra không cần đặt vấn đề như vậy, nếu bịnh thì mình cứ chữa thôi, bịnh thì bịnh thôi không cần phải đặt vấn đề mình sẽ ra sao. Đó là một thí dụ

Thí dụ thứ hai, một đứa nhỏ đi học, nó muốn biết là đi học lớn lên sẽ thành ông gì bà gì và mình hết còn thơ dại nữa, không còn nhút nhác nữa thì mình sẽ ra sao, rất khó. 

Thứ ba: Một học giả người Tích Lan viết một đoạn rất thú vị đó: ở trong thế giới trẻ con cái đẹp là những món đồ chơi, con gái thì có búp bê, con trai có xe tăng vũ khí bằng nhựa bằng mủ. Cha mẹ dẫn đứa con đến trường để học và nói rằng một ngày nào đó con sẽ lớn lên thành người tốt thì đứa con đó hỏi rằng khi con thành người tốt phải chăng con có nhiều đồ chơi hơn, thì cha mẹ nói những thứ con chơi bây giờ đến lúc đó không còn giá trị gì nữa. Rất khó khăn để cho một đứa nhỏ nghĩ đến cái gọi là tương lai tươi sáng mà không có những món đồ chơi đó tại vì những món đồ chơi đó là tất cả là sự khao khát ở trong cuộc sống đối với một đứa nhỏ, nhưng với người lớn thì nó không có nghĩa gì hết.

Thì, Hữu Dư Niết-bàn đã khó để cho chúng ta hiểu rõ, để chúng ta mường tượng nói gì đến Vô Dư Niết-bàn. 

Nên phương cách Đức Phật Ngài đề ra cho chúng ta là chúng ta phải thấy rõ sự khổ, thấy rõ nhân sanh khổ, thấy rõ sự diệt khổ và thấy rõ con đường đưa đến sự diệt khổ. Một thí dụ chúng ta nghe trong kinh một người bị mũi tên bắn không cần phải hỏi dài dòng,  vấn đề quan trọng làm sao để rút mũi tên ra. Nếu chúng ta ý thức được khổ trong đời sống này, ý thức thật rõ, thật kỹ về Vô Thường, Khổ, Vô Ngã thì chúng ta chấp nhận Niết-bàn ở trong tri kiến của chúng ta Niết-bàn là cái gì vượt qua ngoài những thứ đó. Vì vậy, Đức Phật đặc biệt Ngài chú trọng đến tính cách thực tiễn. Thực tiễn ở tại đây là chúng ta phải nhìn nhận mình đang có khổ và từ cái nhìn nhận mình đang có khổ chúng ta tìm phương linh dược, tìm phương cách để trị cái khổ đó. Nói cách khác là cái nhìn qua giáo lý Tứ Đế. 

Không dễ dàng để một người phàm chúng ta hình dung được điều đó. Riêng đối với bản thân của chúng tôi thì chúng tôi có hai điều đơn giản thôi:
1. Một là Giác Ngộ.
2. Hai là Giải Thoát.

 Giác ngộ tức là khả năng nhận ra bản chất chung thực của các pháp, nó là Vô Thường thì mình nhận nó là Vô Thường. Nó là khổ mình nhận nó là Khổ. Nó là Vô Ngã mình nhận nó là Vô Vgã. Đó là giác ngộ.
 Và sự giải thoát là nguyện ước khả cầu giải thoát ở đây tức là giải thoát những nỗi đau khổ ở trong cuộc sống chúng ta có những bất an khổ đau. 

 Như mấy hôm nay chúng tôi đi tụng kinh đám tang một người phụ nữ có 7 đứa con nuôi lớn lên thành người trong cuộc sống bao nhiêu vui buồn bây giờ nằm đó thì trở nên vô nghĩa, bây giờ nằm đó nó không có ý nghĩa gì hết. Tại vì một khi thức lìa bỏ thân này thì thân này nằm ở trên mảnh đất nằm, ở trong quan tài giống như khúc gỗ vô dụng. 

Do vậy, Đức Phật Ngài dạy chúng ta rất rõ ràng nếu chúng ta nhìn thấy Sự Khổ và Nhân Sanh Khổ thì chúng ta đủ để tha thiết với sự Diệt Khổ và Con Đường Dẫn Đến Sự Diệt Khổ. Khi chúng ta hiểu như vậy, khi chúng ta nhận thức như vậy thì chúng ta có thể mường tượng được thế nào là Niết-bàn.

 Qúi vị nhớ một điều rằng Đức Phật chưa bao giờ khuyến khích chúng ta phải thấy được Niết-bàn qua ngôn từ. Mà Ngài nói rằng chỉ có những vị Đoạn Sanh Tử mới thấy được Niết-bàn như là trong bốn tầng thánh vức chẳng hạn.

  Đó là vài điều chúng tôi muốn chia sẻ bài học hôm nay về Vô Dư và Hữu Dư Niết-bàn ./. 

Thursday, February 5, 2015

Ba tiêu chí của cuộc sống

Hỏi: Ba tiêu chí của cuộc sống - Kinh Như Thị Thuyết (LIV) (Tik. I, 5) (It. 48)

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, ngày 30-3-2014, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Đối với tất cả những người tu tập, chúng ta đều biết hoài bảo hay trí hướng trở nên rất quan trọng, ảnh hưởng sâu xa vào đời sống của mình. Đặc biệt đối với một người hành thiền. Ngày hôm nay chúng ta nói về ba sự tầm cầu và sự tầm cầu trong bài kinh đề cập đến chữ "esanà" có nghĩa là hoài bảo  là trí hướng, là sự mong mỏi. Thật ra, khi chúng ta đi vào ý nghĩa của những điều này rất cần để chúng ta trả mình về một thế giới tương đối rất riêng tư bớt đi nghĩa lý để có thể hiểu và có thể áp dụng được những gì Đức Phật dạy ở trong đời sống của chúng ta.

Trước nhất, chúng ta nói về Dục Tầm Cầu. Dục tầm cầu là một sự đi truy tìm, mong mỏi điều gì để thỏa mãn thị dục. Thị dục trong đời sống chúng ta có rất nhiều thứ. Ví dụ như, ăn ngon, mặc đẹp, cuộc sống có đầy đủ những khoái lạc về vật chất. Và phải nói rằng ở trong thế giới ngày hôm nay, thế giới chúng ta sống ở tại đây là một thế giới đặc biệt rất tinh vi về sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc.

Chúng tôi nhớ hồi còn nhỏ  định nghĩa thế nào là đẹp, thế nào là ngon, thế nào là thơm, thì những định nghĩa đó giản dị, giản dị đến nỗi nhiều khi mình không thể hình dung ra được cái gì là cái ngon ở trong đời sống. Một tô canh chua, hay một chén nước tương ớt chan vô cơm mình gọi là ngon. Nhưng trong xã hội tiêu thụ chỉ mới mấy mươi năm thôi nhìn lại thì định nghĩa gọi là ngon tinh tế hơn nhiều. Từ đông sang tây, từ quốc gia này sang quốc gia khác cái gọi là ngon và đặc biệt là tiêu chuẩn  trên thế giới này thì chúng ta phải nhận rằng càng ngày càng trở nên rất tinh tế. Sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc, những thứ đó có thể làm cho chúng ta cảm thấy thích, cảm thấy bằng lòng, cảm thấy đam mê. Nhưng mà rồi, nếu nó trở thành cái tiêu trí để chúng ta theo đuổi thì có lẽ suốt cuộc đời của chúng ta lúc nào cũng nghĩ mình sẽ thoả mãn thị dục của chính mình. 

Vấn đề của thị dục là chúng ta không biết bao nhiêu là tận cùng, bao nhiêu là đủ. Một người thích uống trà ngon không phải mình được uống một hai bình trà ngon là mình hết uống, không phải mình uống một hai tách trà ngon mình sẽ thoả mãn mà nó tạo ra một cảnh giới khó có thể đo lường được. Với một hành giả đang tu tập ở trong trường thiền khi nghĩ đến đồ ăn ngon điều đó sẽ dẫn đến một hành trình không có chỗ chấm dứt được. 

Bản thân của chúng tôi, ngày đầu tiên đến Thái Lan vào trong trường thiền Wat Pah Nanachat cảm giác của chúng tôi về chỗ ở thật sự đơn sơ, một am thất ở nơi rất vắng, quả thật đúng nghĩa của chỗ tu thiền. Nhưng mà, thưa qúi vị, chỉ có được một buổi thôi, ngày hôm sau chúng tôi đi vào trong làng để khất thực, theo qui luật của chùa ai cũng phải đi khất thực ngay ngày hôm sau, khi đó chúng tôi mới khám phá ra một điểm lôi cuốn rất lớn tại chùa của Ngài Ajahn Chah, tất cả các chùa của Ngài đều ăn một ngày chỉ một bữa, không có bữa điểm tâm, cách của Ngài tổ chức vào buổi sáng Chư Tăng uống một chút nước mino hay càfê sữa, uống xong mới đi khất thực, sau khi xong khất thực trở về giao thực phẩm cho nhà bếp, khoảng 8 giờ rưỡi lên phước xá nghe Ngài Cả nói pháp cho quí vị Phật tử. Sau khi nói pháp xong đến giờ tụng kinh.  Chư Tăng  tụng kinh đến 9 giờ thì thọ trai tức là dùng cơm, đó là bữa cơm duy nhất trong ngày lúc 9 giờ sáng. Đến 4 giờ chiều Chư Tăng dùng nước và như vậy cho đến ngày hôm sau. Nhưng có một vấn đề chúng tôi phải nhìn nhận đó là mặc dầu ăn một ngày một bữa nhưng thức ăn ở Thái Lan rất ngon, người Phật tử cúng dường Chư Tăng rất đầy đủ và thức ăn rất phong phú, người nào chịu ăn cay một chút hay thích ăn chua một chút thức ăn có nhiều đó là chưa kể trái cây, đồ ngọt thì nhiều lắm. Khi chúng tôi ở chùa Wat Pah Nanachat hầu như ngày nào cũng có những người Phật tử từ thành phố Bangkok đến chùa. Chuyện Chư Tăng đi khất thực một lẽ Phật tử cúng dường thêm thức ăn nhiều lắm. Một lần chúng tôi phải gặp Ngài Thiền Sư để thưa với Ngài: "Con cảm thấy những thức ăn ở đây có sức chi phối con rất lớn", và Ngài dạy chúng tôi ngưng ăn ở tại giảng đường ăn mà ăn tại phước xá và từ đó chúng tôi chỉ ăn thức ăn khất thực, nhưng dù thức ăn khất thực đi nữa nó cũng trở lên một cái gì rất đầy đủ rất hấp dẫn tại vì Phật tử cúng dường rất nhiều. 

Chúng ta phải nói một điều ở trong sự trống vắng của đời sống tu tập, ở bước ban đầu khi chúng ta vẫn chưa thấy được  giá trị thật sự của việc hành đạo, một điều chúng ta thường nghĩ là chúng ta thoả mãn thị dục của chúng ta, thị dục ở đây là cái ăn cái mặc. Đặc biệt là thức ăn và những gì làm chúng ta thỏa mãn ở trong 5 dục Đức Phật gọi là sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc. Những thứ đó trở thành một cái gì đó chi phối lôi kéo chúng ta đi. Chúng ta thấy có nhiều vị lớn tuổi không làm gì hết chỉ chuyên nghiên cứu làm sao uống trà ngon là được, hay nghiên cứu về rượu làm sao uống rượu ngon là được, những điều đó nó trở thành một nhu cầu lớn và điều đó qúi vị phải để ý nhiều nhất. Điều đó Đức Phật gọi là Dục Tầm Cầu.

Điều thứ hai chi phối chúng ta rất nhiều, đó là Hữu Tầm Cầu. 

Chữ "hữu" Đức Phật Ngài dạy chúng ta ở đây, chữ hữu trong Phật Pháp mang nhiều ý nghĩa. Khi chúng ta nói đến hữu tầm cầu là chúng ta mong mỏi trở thành một ai đó với cương vị gì đó. Thí dụ, hồi còn nhỏ mình là một người vô danh tiểu tốt thì mình không quan trọng chức vụ, không quan trọng địa vị và cũng không quan trọng người khác nghĩ mình là ai. Nhưng khi lớn lên ở một tuổi nào đó, ở một giai đoạn nào đó tự nhiên mình sẽ cảm thấy rất sung sướng, cảm thấy rất vui khi người ta biết đến mình là người giữ chức vụ này, chức vụ kia, là người này, là người kia. Mình trở thành một người nào đó, mình trở thành một ai đó, điều đó trở nên ăn sâu vào trong tâm của mình. Khi có mình rất vui và khi mất mình rất khổ, tại vì chúng ta rất nặng lòng với định nghĩa mình là ai. Chính về điểm này khiến cho chúng ta nặng với danh nặng với lợi, cái nặng này nó trở thành một gánh nặng cho đời sống của mình.

Chúng ta còn nói đến một thứ khác, ở đây Đức Phật gọi là Phạm Hạnh Tầm Cầu. 

Phạm hạnh tầm cầu này được xem mình tu là để mình được một kiểu nào đó, được một cung cách nào đó, được một cái hạnh nào đó, và cái đó trở thành cứu cánh đối với mình. Như thời gian gần đây chúng tôi đọc câu chuyện về ông đạo dừa. Ông Đạo Dừa là một người tu rất là khác với kiểu cách riêng của mình. Người đi tu thì có nhiều người rất thích bày vẽ, rất thích đặt nặng một kiểu nào đó ở trong cuộc sống. Ngày xưa ở bên Nhật người ta đã ban ra một luật để cấm các nhà Sư trong việc chuẩn bị cách chết, có nhiều vị muốn chết ở trong cái chết rất là thiêng liêng rất đặc biệt như chết trong tư thế ngồi hay chết xác không bị mục rữa, các vị chuẩn bị cái chết rất là kỹ. Qúi vị nghe thấy cũng lạ người ta chuẩn bị cái sống chứ ai chuẩn bị cái chết, nhưng có thời gian các nhà Sư Nhật họ rất quan trọng họ chết như thế nào để thấy họ có nội hàm, chết như thế nào để thấy họ có đức tu, và chết như thế nào để thấy họ hiển thánh, họ trở thành cái gì rất đặc biệt. Thật ra phạm hạnh tầm cầu  nó cũng đi với một kiến giải, một kiến chấp đặc biệt ở trong đời sống.

Ở đây, chúng ta nói đến ba hoài bảo hay ba ước vọng của cuộc sống, về điều này Đức Phật Ngài dạy cho chúng ta hai điều rất rõ: 
1. Điều thứ nhất, cứu cánh của đời sống phạm hạnh hay đời sống tu tập nó vượt lên trên cả hai quan niệm thiện và ác. 
2. Điều thứ hai, ngay trong đời sống hiện tại này chúng ta phải nhận thức được tất cả bằng chánh niệm, chánh trí. Chánh niệm ở đây là chúng ta thấy rõ cái gì đang xảy ra, thấy được tâm tư của mình. Nhiều người trong chúng ta rất hãnh diện, rất tự hào vì mình đi guốc trong bụng người khác, nhưng chuyện đó không quan trọng, cái quan trọng là làm sao biết rõ mình đang muốn cái gì và khi chúng ta thấy được ý muốn đó lâu ngày những thứ đó sẽ không có trở thành một cái gì đó ám ảnh và chi phối chúng ta nhiều. 

Thành ra, nếu chúng ta đi sâu vào đời sống tu hành, đặc biệt trong giới tu sĩ thường hay dính mắc một trong ba thứ tầm cầu đó: 

- Hoặc giả một người vào chùa lâu thời gian ban đầu có bao nhiêu hạn chế khiến cho mình mong mỏi được thoả mãn cái này được thoả mãn cái kia về thị dục, chúng ta gọi là Dục Tầm Cầu. 

- Cũng có người rất nặng về Hữu Tầm Cầu. Mình đi tu rồi có khi ăn không cần, có khi gia đình không cần, có khi quyền lợi không cần nhưng rất cần cái danh. Chưa có thời đại nào như thời đại hôm nay, từ vị lớn đến vị nhỏ, đi đâu một vị tu sĩ cũng giới thiệu đủ thứ chức vụ và chúng tôi có cảm nhận một điều rằng đôi khi một người tu sĩ không chức vụ gì hết thì người ta cảm thấy người ta nhẹ thể. Thật ra đó chỉ là hư danh thôi, tất cả chỉ là hư danh. Và cũng phải nói trong thời buổi điên đảo vọng tưởng trăm chuyện thì những chức vụ đó là hư ảo. Chúng tôi lấy ví dụ là cách đây 3, 4 chục năm danh vị Hoà Thượng, một vị được tấn phong lên Hoà Thượng hay Thượng Tọa là chuyện rất lớn, nhưng ngày nay chuyện đó trở nên rất bình thường, một người trên 40 tuổi xưng là Thượng Toạ, trên 60 tuổi thì xưng là Hoà Thượng. Thì khi mình đi tu nặng về danh nó cũng là vấn đề. 

- Và có những vị đi tu chỉ thích làm theo cái hạnh nào đó, thí dụ như mình muốn người ta biết đến mình sống khổ hạnh, mình muốn người ta biết đến mình là mình sống chuyên về niệm Phật, mình muốn người ta biết đến mình chuyên về một cái hạnh nào đó. Nhưng đối với Đức Phật, cái đó không phải là cứu cánh của cuộc sống phạm hạnh, cái cứu cánh của đời sống tu tập nếu vị nào đọc ở trong bài kinh Cetanasutta là bài kinh số 45 ở trong Tương Ưng Bộ kinh, Đức Phật định nghĩa rõ một vị thật sự sống vượt ngoài những tuế toái đó là vị sống với chánh tri kiến, sống với chánh niệm và sống với một ý thức trọn vẹn về cái gì cần làm, nên làm ở trong giờ phút này.

Chúng tôi lấy ví dụ, chúng ta ở đây đang làm việc trong rơom Phật Pháp, cũng thời tích cực làm việc trong sự tích cực làm việc đó có thể chúng ta có được ba thứ:

 1. Một là chúng ta làm việc vì Dục Tầm Cầu. Chúng ta mong muốn được nghe được thấy những âm thanh những hình ảnh rất thân thương, rất quen thuộc, rất khả ái. Chúng ta gọi là Dục Tầm Cầu

  2. Và cũng có thể chúng ta làm việc ở đây vì Hữu Tầm Cầu. Bởi vì chúng ta làm việc tích cực dấn thân để mong rằng người đó biết mình là ai, mình ở địa vị nào đó, mình được sự nể trọng sao đó. Gọi là Hữu Tầm Cầu. 

  3. Nhưng cũng có những vị muốn làm việc đó như để thể hiện cái hạnh của mình, cái này là cái thật sự mình làm, cái này là cái mình nghĩ rằng quan trọng nhất trong cuộc đời của mình.

    Thì cả ba điều đó đều nằm trong thế khiến chúng ta quên đi chánh niệm. Chúng ta có thể làm, chúng ta có thể hành động, chúng ta có thể thể hiện. Nhưng cái thể hiện hành động đó chúng ta hiểu được mức độ tương đối, mức độ vừa phải, mà chúng ta không nhìn thấy ở đó sự tuyệt đối, không phải là cứu cánh của chúng ta. 

    Thật ra điều này khó lắm, rất khó để trong cuộc sống chúng ta sống bằng chánh niệm. Hễ con người nhập cuộc làm việc gì thì chúng ta cứ nghĩ rằng mình phải sống chết với điều đó, đó là tất cả. Cũng như ở trong tình yêu, trong công ăn việc làm, ở trong sự dấn thân của chúng ta, một người nào đó, một điểm nào đó, một công việc nào đó, thì thường nó làm cho chúng ta nghĩ rằng cái đó là tất cả, cái đó là mục đích tối hậu và chúng ta chỉ biết có điều đó thôi, chúng ta không muốn biết điều khác nữa mà chúng ta chỉ muốn biết điều đó. Những thứ đó thật sự là chúng ta thất niệm, thật sự là chúng ta không có quán chiếu, không biết rõ.

Khi Đức Phật trở về thành Ca Tỳ La Vệ lần đầu tiên có 7 vị, trong đó có 6 vị hoàng tử giòng Thích Ca và Ngài Upali là người thợ hớt tóc và trong số 6 vị hoàng tử đi xuất gia có Ngài Anuruddha là một vị rất lỗi lạc nhưng trong sự tu tập thì quả thật Ngài bị chướng ngại. Và Ngài đem chuyện đó nói với Ngài Xá Lợi Phất, ở trong câu nói Ngài trình bày: "Này Hiền giả tôi đã chứng ngộ điều này. tôi đã chứng ngộ điều kia". Tôn Giả Xá Lợi Phất đọc tư tưởng đó Ngài nói: "này Hiền giả, khi nói tôi chứng cái này, tôi chứng cái kia, nó là sự kiêu mạn sanh khởi". 

Chúng ta thường có những hi cầu có một sự mong mỏi mình sẽ đóng một vai nào đó, trở thành một người nào đó quan trọng trong cuộc  đời. Thật ra nói cho cùng tất cả những điều chúng ta biết được trong cuộc sống nó đều rất tạm, nó đều phù du. 

Một lần Ngài HT Hộ Giác bệnh, chúng tôi ở trong bệnh viện với Ngài và lúc đó bác sĩ họ đã chuẩn bệnh Ngài xong, chúng tôi cầm tay của Ngài thoa bóp, một phần là trưởng lão, phần nữa đôi khi chúng tôi cảm tưởng chúng tôi xoa bóp tay chân của Ngài như một cử chỉ nói lên sự quan tâm của chúng tôi đối với Ngài. Và hôm đó chúng tôi thấy da của Ngài trổ đồi mồi, nhăn nheo. Chúng tôi nói với Ngài rằng: 

- "Bây giờ con xoa tay cho Ngài con nhớ khi Ngài Ananda khi xoa tay cho Đức Phật thấy tay Đức Phật giống như vậy thì Đức Phật Ngài nói rằng sự vô thường".

 Ngài Hộ Giác Ngài hiểu chúng tôi nghĩ cái gì vì câu chuyện đó Ngài đọc nhiều lần lắm, Ngài nói trong kinh Pháp Cú Đức Phật Ngài dạy 

 - "Thân ta như lá úa, diêm chúa đang trực chờ. Đường dài không quán trọ, dặm trường thiếu tư lương" 

 Và Ngài cũng nhắc với chúng tôi rằng câu đó đọc chánh văn Pali nghe thắm thía và Ngài đọc bằng tiếng Pali. 

 Thì lúc nói chuyện với Ngài và nhìn Ngài chúng tôi có cảm nhận một điều; Ngài đã sống qua một cuộc đời, ở trong cuộc đời đó có đủ thăng trầm, có đủ vinh nhục, có rất nhiều những giai đoạn. Nhưng khi Ngài nằm ở trên giường bệnh trong tuổi già, trong tuổi giống như ngọn đèn leo lét sắp tắt. Thì thưa qúi vị, những địa vị, những danh vọng, những cái này cái kia nó không quan trọng mà chúng ta thấy quan trọng nhất đó là Chánh Trí và Chánh Niệm. Chánh Trí và Chánh Niệm đó là khả năng có thể nhìn, có thể thấy mà không có tha thiết với những điều vốn tạm bợ. 

Thật sự về điều này rất khó để tất cả chúng ta có thể tỉnh táo ngay trong giờ phút hiện tại và sự tỉnh táo thấy biết rõ Đức Phật gọi là sati sampajañña  là biết rõ ràng. Theo các nhà sớ giải sự biết rõ ràng cũng gọi là trạng thái bujjhati tức là giác niệm hay tỉnh giác biết rõ. Chúng ta cứ tưởng tượng rằng ở trong cuộc tu có những thứ rất hấp dẫn nó chi phối chúng ta rất nhiều và chúng ta nghĩ rằng nó là tất cả. Có nhiều vị tha thiết với những chuyện ăn, có người tha thiết chuyện mặc, có người tha thiết với danh, có người tha thiết với lợi, và họ dở sống dở chết với cái đó, không có cái đó họ sống không được, không có cái đó thì họ chịu không nổi, không có cái đó thì họ khổ. Cho dù đó là Dục Tầm Cầu, Hữu Tầm Cầu, Phạm Hạnh Tầm Cầu thì đối với Đức Phật chúng ta phải vượt lên trên sự tầm cầu đó bằng chánh niệm trong hiện tại. 

Có một lần Đức Phật ngồi trong hội chúng Tỳ Kheo và lúc đó Ngài đang im lặng, Tôn Giả Xá Lợi Phất ngồi không xa Ngài bao nhiêu, trong lúc Thế Tôn không nói gì hết thì Ngài Xá Lợi Phất nhìn vào hơi thở ra hơi thở vào, Đức Phật Ngài đọc được tư tưởng đó Ngài mới dạy Chư Tỳ Kheo rằng đó là hình ảnh của một vị Tỳ Kheo, Đức Phật muốn tất cả chư Tỳ Kheo biết và thực hành đó là an trú chánh niệm
. 
Chánh niệm ở đây là không đi tìm nó, không đặt nặng nó trở thành một cứu cánh của đời sống, nó không trở thành mình phải là thế này phải là thế kia. Bởi vì chúng ta có vẽ vời bao nhiêu đi nữa chúng ta muốn trở thành bao nhiêu người đi nữa thì nó cũng không bằng chúng ta ngồi xuống nhìn hơi thở  ra hơi thở vào. Cái khả năng có thể nhìn vào hơi thở ra hơi thở vào, cái khả năng ý thức biết được thân và tâm của mình ở trong từng chập từng phút nó đang sanh đang diệt đối với Đức Phật điều đó quan trọng.

 Nên chi, trong truyền thống Phật Giáo thì sự vô  cầu, vô tranh, vô trước là những từ ngữ được nhắc đi nhắc lại rất nhiều, chúng ta sống vốn luôn luôn đi với sự truy cầu:  
 -"Ra đi khắp bốn phương trời,
 Tìm ai mỏi mắt trọn đời không kham,
Ta về gặp lại tình ta,
Dấu chân viễn mộng cũng là phù du".

 Chúng ta đã là một người như vậy từ thời nhỏ lớn lên mình luôn luôn đi truy cầu, truy cầu cái gì mình thích, mình luôn luôn truy cầu, truy cầu là mình sẽ trở thành một người nào đó, hay truy cầu mình sẽ làm việc gì đó trong đời sống tu tập của mình. Nhưng mà đối với tất cả thì Đức Phật dạy chánh niệm mới là quan trọng. Bởi vậy chúng ta có làm gì đi nữa thì chúng ta phải trở về với ý thức là mình đang cỡi rô bôt, đang bước bằng chân phải, đang bước bằng chân trái, mình đang thọ khổ hay thọ lạc, tâm mình đang định tỉnh hay là phân tán. Những điều đó rất quan trọng, và đặc biệt thiết yếu đối với người tu tập hơn là sự đuổi bắt. Chúng ta có thể đi đuổi bắt cả cuộc đời nhưng mà rồi chúng ta không tìm ra được chân lý thật sự, không tìm ra được cứu cánh thật sự. Thậm chí chúng tôi thấy một điểm như vầy là có những người suốt cuộc đời họ giống như một nhân vật trong một cuốn phim nào đó, họ bỏ ra cả cuộc đời chỉ đi trả thù, suốt cuộc đời họ chỉ có tranh chấp, suốt cuộc đời họ để ra sẽ chống lại một ai đó và cái đó nó là lý tưởng nó là cứu cánh. Thật ra nó không là lý tưởng là cứu cánh, chúng ta sanh ra đời để hận thù, sanh ra đời để chống người này chống người kia, đó không phải là cứu cánh của người con Phật. Cứu cánh của người con Phật là thắp sáng được ý thức thực sự thân mình như thế nào, tâm mình như thế nào. Và khi chúng ta thắp sáng được ý tưởng đó, thắp sáng được chánh niệm đó, thắp sáng được chánh trí đó thì dần dà chúng ta sẽ làm được như lời Đức Phật dạy:

 - "Này chư Tỳ Kheo, bậc Thanh Văn được nghe và thấy như thế rồi liền sanh tâm nhàm chán đối với sắc thọ tưởng hành thức, do nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham tâm được giải thoát, khi tâm được giải thoát vị ấy biết rõ sanh đã tận phạm hạnh đã thành những gì nên làm đã làm và không còn tái sanh nữa". 

Bài học này thật ra là bài học rất lớn, chúng ta vẫn thường đưa ra những gì rất dao to búa lớn, đưa ra những gì rất hấp dẫn, đưa ra cái gì để chúng ta đuổi bắt nhưng trên thực tế tất cả những điều đó chỉ làm cho chúng ta mất đi khả năng quán chiếu hiện tại.

 Có một lần chúng tôi gặp  một anh Phật tử tên Steven đi dự hai khóa thiền ở thiền đường IMS. Sau khi tham dự hai khóa hành thiền anh muốn trở thành thiền sinh thật thụ, anh mua một ngôi nhà ở trong khu tương đối rất yên tịnh, dọn một phòng thờ Phật rất đẹp, ở trong phòng thiền đó được trang trí rất đầy đủ gồm toạ cụ kể cả bộ quần áo mặc để hành thiền anh cũng lựa rất kỹ dệt bằng cotton và bông hoa rất là kỹ kể cả mọi thứ đều rất là kỹ như là một thiền sinh chính hiệu. nhưng mà rồi có một lần anh thỉnh một Thiền Sư người Anh là Ngài Amaro đến nhà, sau khi nghe pháp thì anh mới hỏi Ngài Amaro "chỗ con sắp xếp ở đây Ngài thấy có thích hợp cho sự tu tập không?" Thì Ngài Amaro trả lời rằng "lẽ ra thì nó lý tưởng lắm nhưng nếu anh chấp rằng chỉ có trong nhà này, chỉ có trong bối cảnh này, chỉ có trong bộ đồ này, chỉ trong khung cách này anh mới tu thiền được, anh mới tu tập được thì anh có vấn đề". Anh nghe như vậy anh rất thất vọng, tại vì anh nghĩ rằng anh cố gắng làm theo một thiền sinh thật thụ. Nhưng mà thưa quí vị, nói cho cùng tất cả sự truy cầu đó đều là sự đóng khung, và sự đóng khung đó khiến cho anh không tu tập được. Có nhiều sự tu tập ở trong đời, mình tu tập ở giữa chợ, mình tu tập ở trong hoàn cảnh khó khăn, mình tu tập ở chỗ không ra cái gì hết, có nhiều khi mình không là ai hết cũng như một thi sĩ nói rằng "xin đại nguyện giữa vô cùng sa mạc lấy muôn thân đảnh lễ Phật lên đường". Lấy muôn thân đó thật sự là một mình có thể lên đường bất cứ giờ phút nào. 

 Bài học ngày hôm nay,  chúng ta nói về ba sự truy cầu của cuộc sống và khi nói ba sự truy cầu ở đây ý nghĩa rất rộng. Chúng ta tha thiết theo đuổi và nghĩ rằng đó là cứu cánh, đó là tất cả, đó là điều chúng ta mong mỏi trong cuộc sống. Nhưng kỳ thật thì đối với người Phật tử điểm chính của chúng ta đó là thắp sáng Chánh Niệm, thắp sáng Chánh Trí và thấy rõ được hiện tướng thực tướng của thân tâm mình. Và chúng ta không có kỳ vọng, không truy cầu một cái gì đó nó trở thành lý tưởng hoàn toàn của chúng ta. Cũng như tất cả chúng ta đang sống ở trong giây phút này cho dù qúi vị đang ở Hoa Kỳ, đang ở Âu Châu, đang ở Việt Nam, cho dù buổi sáng hay buổi chiều, cho dù khoẻ hay không khỏe, với giờ phút chúng ta có được và chúng ta hãy đem tất cả chánh niệm ý thức mình đang hiện hữu, đây là thân, đây là tâm, đây là hơi thở vô, đây là hơi thở ra, đây là pháp Đức Phật chúng ta đã nghe. Nhưng chúng ta không nhất thiết ngồi đây để tưởng tượng rằng vốn mình sẽ trở thành thế này mình sẽ trở thành thế kia. Bởi vì tất cả sự truy cầu thường dẫn chúng ta đến rời xa với thực tại 

Sunday, February 1, 2015

Người tu tập cầu giải thoát có cần thể hiện hạnh bố thí chăng?

Hỏi: Người tu tập cầu giải thoát có cần thể hiện hạnh bố thí chăng? 

Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma. Ngày 11-1-2015, Minh Hạnh chuyển biên

TT Pháp Tân: Trong kinh Đức Phật Ngài dạy trong sự tu tập có ba loại phước, đó là: phước vật, phước đức và phước trí.  

 Trong giai đoạn tu của một người tu tập có loại phước như phước vật, bồi bổ phước vật rồi bồi bổ phước trí cũng như bồi bổ phước đức. Như mười công đức thiện sự chư Phật tử  chúng ta cũng thường nghe từ việc bố thí, trì giới, rồi tham thiền, cung kính phục vụ, tùy hỉ phước, hồi hướng phước và thính pháp, thuyết pháp chánh tri kiến, đó là mười việc làm tạo nên ba loại phước là phước đức, phước vật và phước trí. 

  Đối với người cư sĩ có những điều kiện thuận lợi để bố thí, tùy vào mỗi một người, tùy vào những hoàn cảnh đời sống khác nhau nhưng có những điều kiện thuận lợi để bố thí cúng dường. Vì người cư sĩ có công việc làm tạo ra tài sản bằng bàn tay lao động chính đáng của mình tạo ra.
  
   Đức Phật Ngài dạy trong kinh Thi Ca La Việt, một người cư sĩ tạo ra tài sản chia làm 5 phần, là trả nợ cũ  cho vay nợ mới, đền ơn cha mẹ ông bà, nuôi cha mẹ ông bà, nuôi con cái cháu chắc, nuôi những người thân của mình, rồi lo chi dụng cho đời sống hàng ngày, để dành tiếp đãi một phần là chôn của để dành, tạo phước để dành hoặc để dành của  trong tương lai. Khi nói chia tài sản ra làm 5  trong đó có một phần là bố thí cúng dường để tạo phước cho mình, người cư sĩ có những thuận lợi là do tạo ra những của cải tài sản nên chúng ta có thể dể dàng bố thí cúng dường. 
   
   Trong kinh Tăng Chi, công chúa Sumana hỏi Đức Phật: "có khác chăng giữa hai người xuất gia đồng niềm tin, đồng chí tuệ, đồng giới hạnh giống nhau nhưng một người có bố thí một vị không bố thí có khác nhau ở chỗ nào?" 
   
   Đức Phật Ngài dạy rằng: "vị có bố thí vị đó sẽ được những vật dụng thí dụ như được những người đàn tín mời đi trai tăng cúng dường những vị đó sẽ được y áo cũng sẽ được những thuận lợi trên phương diện vật chất. Còn vị không bố thí sẽ bị thiếu đi những điều đó". 
   
   Chúng ta chưa kể những nhân chúng ta gieo làm cản trở phước. Chẳng hạn như chúng ta thấy trong những đệ tử của Đức Phật có vị đệ nhất về tài vật là Ngài Sivali Ngài có đầy đủ những tài vật đi đâu dù Chư Tăng ở trong rừng trong một đoạn đường vắng không có xóm làng thôn ấp nhưng nếu có Ngài Sivali trong đoàn thì Chư Tăng không bao giờ bị thiếu thốn về vật thực, tức là do phước của Ngài Sivalilớn vậy. Nhưng ngược lại, một vị cả một buổi ăn cũng không được no đó là Tôn Giả Losaka, Tôn Giả bị đói là do quả của đời trước có thể một là do không bố thí hoặc do cản trở hay hủy hoại vật thực của một vị Alahán nên bị quả đói trong nhiều kiếp, kiếp cuối cùng mặt dù đã chứng quả vị Alahán nhưng vẫn bị đói không có một bữa no cuối cùng thì Ngài Xá Lợi Phất biết được điều đó Ngài mới cho dùng một bữa cơm cuối cùng rồi Ngài Losaka tịch diệt. 
   
   Đó là chúng tôi nói hai mảnh đời cuả hai vị Thánh, một vị đầy đủ về vật thực, một vị thiếu thốn về vật thực. Thì ở đây, hạnh bố Đức Phật Ngài dạy chung, dạy cho những ai biết tu. Trong mười pháp độ Balamật có pháp bố thí Ba la Mật. Thì bây giờ muốn tu để đạt được sự giải thoát, mình tu ở vai trò một người cư sĩ hay tu ở vai trò của một bậc xuất gia thì hạnh bố thí vẫn cần thiết cho đời sống tu tập của mình.
   
   Người ta có câu "Tại gia thí tài, xuất gia thí pháp". Thí pháp thì tạo phước trí có thể là nhân để tạo phước trí. Nhưng thí tài là nhân tạo phước vật. Nếu mình tạo phước vật thì mình có nhiều thuận duyên hơn như trường hợp chúng tôi đã nói khi nãy Đức Phật trả lời công chúa Sumana là :"cả hai vị xuất gia cùng đồng niềm tin, đồng giới hạnh, đồng trí tuệ thì chuyện đắc đạo đắc quả giống như nhau nhưng về một vị có bố thí cúng dường thì vị đó sanh trong đời nhiều kiếp sẽ đầy đủ vật dụng hơn, còn nếu như vị không bố thí cúng dường thì vị đó sẽ thiếu thốn vật thực thiếu thốn về tài vật v.v... 
   
   Thì ở đây, nếu như mình có nhiều thuận lợi về vật chất tuy rằng vật chất của cải cũng chỉ là vật tạm thôi, mình hiểu trong lý của Phật giáo nó cũng là vật ngoài thân, nó cũng chỉ là một phương tiện nhưng nếu như mình có được những sự thuận lợi đó giống như chúng tôi thường nói câu "lấy củi đậu nấu đậu" tức là mình có phước thì mình bố thí cúng dường để mình tạo những sự thuận lợi nữa để mình tu tập thêm nữa. Vì vậy cho nên việc tu tập chúng tôi nghĩ rằng dù một vị xuất gia hay một vị tại gia hạnh bố thí là hạnh rất cần thiết.
   
    Nhưng nói về người cư sĩ thì có những sự thuận lợi hơn. Người cư sĩ tạo ra tài sản bởi vì: Một là  có tinh cần, có sự siêng năng để tạo ra tài sản. Hai là có phước để giữ được tài sản, hay có được sự thuận lợi để giữ được tài sản, đó là nhờ mình có phước.
 Cho nên, tu tập bố thí cúng dường để tạo phước, vừa là tập hạnh xả ly cho chính mình và vừa tạo phước cho chính mình để có những sự thuận lợi ở trong đời sống hiện tại, cũng như là đời sống tương lai. Trong đời sống luân hồi mình cầu đạo giải thoát mình nhờ có hạnh bố thí. 
 
Tuy nhiên, trong mười thiện sự thì thiện sự nào mình có thể làm được thì mình vẫn phải làm chứ không nhất thiết phải là hạnh bố thí là dành cho người cư sĩ mà bậc xuất gia cũng có. Nhưng người cư sĩ có những sự thuận lợi do phương diện vật chất tạo ra của cải vật chất có thể bố thí cúng dường một cách dễ còn Chư Tăng xuất gia sống nhờ phước nhờ sự hộ độ của những người đàn na tín thí nhưng Chư Tăng thì thí pháp, và nếu Chư Tăng có tài vật thì đó là một sự thuận lợi để Chư Tăng bố thí cúng dường đến Tăng Chúng đó là cái điều cần thiết  ./.