Thursday, March 7, 2019

Kinh Potthapàda - Phần I I I - Những gì Phật dạy và những gì Phật không day

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
9. Kinh Potthapàda 

Phần III - Những gì Phật dạy và những gì Phật không dạy

ĐĐ Huy Niệm giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 23 tháng 8, năm 2018

Minh Hạnh chuyển biên

ĐĐ Huy Niệm: Ngày hôm nay một vấn đề quan trọng chúng ta cần phải quan tâm, đó là vấn đề sanh tử một việc lớn mình cần phải lưu ý. 

Đối với những người khi còn vướng bận việc bương trải của đời sống thế tục,  sống tốt cũng có, xấu cũng có, giàu cũng có, nghèo cũng có, cảm thọ vui buồn cũng có, thăng trầm cũng có v.v... Nhưng chung qui  có một việc  không biết rõ sau khi mệnh chung  mình sẽ đi về đâu và như thế nào?

 Việc này, trong thời xa xưa có những người muốn tìm kiếm sự an ổn, tìm kiếm một nơi hạnh phúc tuyệt đối, người ta đã nghĩ đến vấn đề sau khi chết mình sẽ đi về đâu. Các giáo phái ngoại đạo thời bấy giờ cũng đưa ra nhiều tư tưởng những suy nghĩ, nhưng tất cả những việc họ nhận định phần lớn đều không có cơ sở vững chắc. 

Biết rõ như thế, Đức Phật Ngài không trả lời những câu hỏi về bản chất của cuộc sống ngay trong cái ngã, cái thân xác này, sanh mạng này là một hay là hai, còn hay không còn sau khi chết v.v... Ngài không trả lời nhưng Ngài hỏi ngược lại những sự hiểu biết của họ xem như thế nào. Thì khi được hỏi lại như vậy có thể nói rằng tất cả mọi người đều không ai trả lời được bởi vì kỳ thực bản thân họ cũng không biết rõ về điều đó, và khi không biết rõ điều gì, về mục đích gì mình đưa ra một điều xác quyết thì nó không có xác đáng. 

Trong kinh Tevijja (Tam Minh) của Trường Bộ Kinh, Đức Thế Tôn Ngài đưa ra một hình ảnh "một người muốn xây tại ngã tư đường một cái thang để leo lên lầu. Có người hỏi: "Này bạn, Ông muốn xây một cái thang để leo lên lầu, vậy Ông có biết lầu ấy là về hướng Ðông, hay về hướng Tây, hay về hướng Bắc, hay về hướng Nam? Nhà lầu ấy cao hay thấp, hay trung bình?". Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời không biết. Có người hỏi: "Này bạn, như vậy có phải Ông xây một cái thang để leo lên một cái lầu mà Ông không biết, không thấy?". Hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Sự kiện như vậy, thời  lời nói người kia là không chánh xác, hợp lý."

Ở trong phần lớn chúng sanh chỉ quan tâm đến những gì trước mắt những lợi lạc, tầm cầu những hạnh phúc trước mắt. Nhưng cũng có những người trí hướng cao hơn muốn tìm kiếm cái gì tốt đẹp hơn và mong có được  hạnh phúc thật sự mỹ mãn. Tuy nhiên trên bước đường tìm kiếm phương pháp và đạo lộ đó có thể nói rằng tất cả đều nhận định theo một nhận thức sai lầm tại dựa trên những căn cứ không xác thực. 

Về vấn đề sanh tử, vấn đề tồn tại hay không tồn tại của một chúng sanh được xem như là đã giải thoát, hoặc thế giới này có giới hạn hay không giới hạn v.v... đó là những câu hỏi không có lợi ích thiết thực cho nên Đức Thế Tôn Ngài không trả lời.

Chúng ta nên nhớ không trả lời có hai trường hợp: một trường hợp không trả lời vì mình không biết cho nên mình làm thinh. Trường hợp thứ hai không trả lời bởi vì mình biết nhưng việc đó không có cần thiết không lợi ích và có thể trả lời người nghe không được lợi lạc và người nghe cũng không hiểu gì thì như vậy sự trả lời đó nó chỉ làm thêm vô nghĩa. 

Phạm trù sinh hoạt của một vị Phật có 3 hình thức:

1 - Khi Ngài tái sanh.

2 - Khi Ngài thuyết một bài pháp nào đó nổi tiếng.

3 - Tuệ vức.

Phạm trù thứ 3 tuệ vức, trong kinh nói tuệ vức của Đức Thế Tôn thì sự hiểu biết của trí tuệ không có giới hạn. Do vậy, có thể nói có những điều Đức Phật Ngài không trả lời bởi vì Ngài thấy không có lợi ích và cũng không có cần thiết để trả lời. 

Một trong số 4 điều đối với trí tuệ phàm phu mình không nên suy nghĩ bởi vì khi suy nghĩ sẽ không làm rõ ra được mọi chuyện và hơn nữa sự suy nghĩ đó chỉ làm tâm thêm bấn loạn. Đó là

Bốn điều bất khả tư nghì (Acinteyya), bốn điều không thể suy nghĩ đối với  phàm phu:

1. Phật vức (Buddhavisayo), cảnh giới trí tuệ của Đức Phật, lãnh vực nhất thiết chủng trí của Đức Phật. Đây là điều bất khả tư nghì đối với phàm phu. Phật vức, cảnh giới trí tuệ của Đức Phật, mình đừng có suy nghĩ sự hiểu biết của Đức Phật đến mức độ nào ra sao, Ngài hiểu biết những gì, có giới hạnh hay không giới hạn, suy nghĩ đến chuyện đó mình không thể nào suy nghĩ được.

2. Thiền vức (Jhānavisayo), năng lực thiền định thần thông. Đây là điều bất khả tư nghì đối với phàm phu. Pháp này thuộc về thực chứng tu chứng,  ngồi suy nghĩ nó càng thêm phức tạp 

3. Nghiệp quả (Kammavipāko), quả dị thục của nghiệp dị thời. Đây là điều bất khả tư nghì đối với phàm phu. Ý nói đến nghiệp quả một cách chi tiết chứ không phải là mình học về nhân quả theo nghiệp, trọng nghiệp đó là thuộc về lãnh vực Kammavipāko là muốn nói đến những chi li. Chẳng hạn  chúng sanh này từ đâu đến, tại sao lại có mặt ở đây, rồi do nghiệp gì, duyên gì một cách chính xác chi tiết thì khả năng này đối với năng lực của phàm phu không thể hiểu được. 

4. Vũ trụ quan hay thế giới tư duy (Lokacintā), các hiện tượng về vũ trụ như tinh tú, mặt trăng, mặt trời... tại sao có? Đây là điều bất khả tư nghì đối với phàm phu.)

Bốn điều này không thuộc về phạm trù của phàm phu để có thể hiểu biết để thắc mắc, bởi vì hai nguyên nhân: 

 - Nguyên nhân thứ nhất là không có lợi ích. 

- Nguyên nhân thứ hai nó thuộc về năng lực của bản thân không đến thì mình không có thể nào suy nghĩ đo lường được. Nó không có lợi ích, chẳng hạn như mình suy nghĩ đến vấn đề không biết số lượng chúng sanh trong đời này hữu hạn hay vô hạn, thế giới này hữu biên hay là vô biên. 

Do nguyên nhân như vậy, Đức Thế Tôn Ngài không trả lời những câu hỏi đó, Đức Phật Ngài chỉ trả lời những câu hỏi xác thực rõ ràng trong phạm vi của người nghe thuộc về phàm trí, có thể làm được, có thể hiểu được, có thể nhận thức được, và nhất là có sự lợi ích thiết thực hiện tại, Ngài chỉ ra khổ, nguyên nhân sanh khổ, sự diệt khổ, và cách thức tu tập con đường để đạt đến sự diệt khổ.

Nói đến chuyện này, sư nhớ đến một câu chuyện của một anh cư sĩ lâm vào một hoàn cảnh khó khăn trong đời sống và anh đến hỏi sư về vận mệnh:

-  "Con không biết còn thọ bao lâu nữa? Sự khó khăn của con bây giờ sẽ còn tiếp diễn đến khi nào trong kiếp sống này, rồi chừng nào mới chấm dứt?" 

Trong trường hợp này, lúc đó sư nói:

 "Bây giờ làm sao sư có thể giám sát về tương lai của anh, cái khổ, cái khó khăn này hiện giờ sẽ tiếp diễn hay không tiếp diễn, và nó sẽ còn tiếp diễn đến bao giờ, và sự thoát khổ của anh, giai đoạn mới sung sướng hạnh phúc chừng nào mới có mặt, và nó có mặt rồi nó sẽ duy trì được hay không, duy trì đến bao giờ?  Điều đó không nằm trong năng lực của Sư, Sư không có khả năng trả lời cho anh những việc đó và hơn nữa những câu hỏi đó thật ra nó cũng không thiết thực. Điều quan trọng Sư có thể nói cho anh biết nguyên nhân tại sao anh lại bị vô hoàn cảnh như vậy, và chúng ta cần phải áp dụng những phương pháp nào để khắc phục ngay trong hiện tại và cứ như thế mình cứ tiếp tục tiếp tục làm đến đâu nó sẽ có sự chuyển biến đến đó. Bởi vì nguyên tắc của pháp hữu vi là không bao giờ thường còn, không bao giờ có sanh mà không có diệt, đó là nguyên tắc cố định". 

Đức Phật Ngài tuyên bố:  Sabbe sankhara aniccati - Các pháp hữu vi là vô thường

Chuyện pháp hữu vi thường còn là chuyện không bao giờ có, sư lấy nguyên tắc để nói cho anh ấy hiểu và sư nói: "Bây giờ anh đừng có thắc mắc đến vấn đề là mình còn khổ bao lâu, chừng nào thì vận may của mình đến, chừng nào nó mới bắt đầu rực rỡ và nó sẽ kéo dài bao lâu? nghĩ đến chuyện đó không lợi ích, vì nó không thiết thực, chỉ nên nghĩ đến chuyện đang bị như vậy và do nguyên nhân gì. Và chúng ta cần phải áp dụng những phương pháp ngay trong hiện tại để khắc phục khó khăn, giải quyết ngay trong hiện tại."

 Nghe như vậy anh cũng làm theo và từ từ trải qua một tháng sau anh quay lại kể cho Sư nghe về bối cảnh của mình, và Sư thấy rõ ràng có sự triển tiến hơn, Chẳng hạn như lúc trước trong nhà xào xáo bởi vì gia đình gặp khó khăn túng thiếu mọi bề, nhưng khi áp dụng phương pháp tri túc theo nhu cầu của bản thân thì khắc phục được và đồng thời giải quyết những vấn đề pháp lý liên quan đến những việc thiếu nợ, cộng thêm áp dụng những phương pháp tu tập về tâm lý làm cho gia đình có sự hoan hỉ và chấp nhận thực trạng, lúc bấy giờ ổn hơn sau một tháng anh quay trở lại trình bày

 - "Mỗi lần họ tới đòi nợ thì con sợ lắm, rồi con sân hận có thể dẫn đến ẩu đả, nhưng nay con kham nhẫn chấp nhận để cho người ta mắng nhiết do tâm, con có những lời nói ngọt lời giải thích, hứa hẹn sẽ trả dần dần như vậy người ta đến nhiều lần rồi người ta cũng thôi."

Anh lại tiếp tục hỏi: "Sư ơi khi nào con mới hết"

Cũng chứng nào tật đó, bịnh cũ tái phát, mục tiêu quan trọng mình đang làm thì không làm cứ đi hỏi mấy chuyện đâu đâu. 

- Sư nhắc lại với anh một lần nữa là những gì Sư đã hướng dẫn với anh để giải quyết ngay trong hiện tại nguyên nhân xảy ra khắc phục được, đã có sự chuyển biến khác, đúng không? cái áp lực về gia đình và về tâm lý cũng như về bối cảnh sống trong gia đình nó khác và từ những người liên quan cũng bớt đi áp lực hơn cho anh đúng không? 

- Dạ thưa Sư đúng rồi.

- Vậy anh còn muốn gì nữa?

Và  Sư nói thêm:

- Vậy thì anh đừng đòi hỏi nhiều cứ tiếp tục áp dụng phương pháp như vậy và bước đi từng bước, bước đi từng bước một và rồi bước đi tới đâu thì câu trả lời nó sẽ hiển lộ ra ngay chỗ đó.

Câu chuyện cho đến này thời gian đã trải qua một khỏang  mấy năm rồi, hiện giờ gia đình đã an ổn, đã có chiều hướng tốt hơn rồi đã tự tích lũy tài sản được.

Trở lại vấn đề trong trường hợp có những vấn đề áp dụng ngay trong hiện tại có lợi ích thiết thực rất đơn giản gần gủi dễ hiểu và có thể làm được đó là: khổ, bây giờ mình đang có những rắc rối đối với bản thân mình, mình đang còn có mặt ở trong cuộc đời này đón nhận những thứ buồn vui v.v.... đủ thứ, những thứ khổ đủ bề. Và nguyên nhân tại sao lại như vậy, Đức Phật Ngài cũng chỉ rõ ra, Ngài cũng cho biết do lòng ham muốn của bản thân mình, ham muốn nhiều khổ nhiều, và Ngài cũng chỉ cho phương pháp tu tập rất rõ ràng, và  ngay trong hiện tại khi chúng ta áp dụng những cách thức này kết quả hiện lộ ngay tại chỗ đó.

Lấy ví dụ như sau, thái độ của một người Phật tử khi chưa tu thiền trước đây đã có những lỗi lầm, chưa biết như thế nào là giới, như thế nào là bố thí v.v... bây giờ mình giữ giới sám hối những điều đó. Người Phật tử bình thường ngay trong hiện tại chúng ta ngăn ngừa chặn đứng những cái khổ chưa sanh, chúng ta không để những bất thiện sanh khởi, và những gì mình đang phải gánh chịu do nhân quá khứ tạo thì mình kham nhẫn hoan hỉ chấp nhận, không vì đó mình tiếp tục sát sanh trộm cắp v.v...
Như vậy có phải là việc giữ giới của mình nó làm hai phận sự ngăn ngừa ác pháp chưa sanh và có thể giải quyết được những khó khăn ngay trong hiện tại, khi mình tiếp tục giữ giới như vậy và làm từng bước từng bước mình làm tới đâu kết quả sẽ hiển lộ rõ ràng ngay tại đó, kể cả trong việc giữ giới thôi cũng cho được khía cạnh thiết thực hiện tại nói gì đến việc tu tập của một hành giả trong việc tu tập thiền chỉ và thiền quán.

Bây giờ mình đừng bận tâm nhiều đến những gì mình đã làm bởi vì khi mình nghĩ đến những chuyện đó cũng không lợi ích gì, nhân đã tạo chúng ta không thể nào thay đổi được. Chúng ta chỉ có thể thay đổi được là chúng ta chấn chỉnh ngay trong hiện tại, trong quá khứ mình đã tham sân si mình đã tạo những ác nghiệp về thân khẩu ý ngay trong hiện tại mình thay đổi thái độ tâm của mình đi đứng nằm ngồi có chánh niệm tỉnh giác v.v... thì như vậy mình chặn đứng được cơ hội sanh khởi của ác bất thiện pháp, đồng thời chấp nhận trả quả khổ mình đã tạo nhân trong quá khứ ngay trong hiện tại không làm cho lớn chuyện hơn.

Như vậy trong thái độ tu tập kể cả từ việc giữ giới cho đến việc chuyên tu thiền chúng ta thấy đều có hiển lộ khía cạnh này. Điều này rõ ràng, rất xác thực.

 Đức Phật Ngài chỉ trả lời những vấn đề thiết thực hiện tại đây là khổ, đây là nguyên nhân sanh khổ, đây là con đường và đây là sự chấm dứt, khi mình bước đi tới đâu thì nó sẽ có sự hiển lộ đến đó rất rõ ràng. 

 Và đến khi nào chúng ta từng bước tu tập quán xét về khổ, về nguyên nhân sanh khổ, và tu tập đạo đạt đến nơi an toàn, mình sẽ tự hiểu những câu hỏi những sự thắc mắc của mình trước đây nó không có lợi ích gì, cho dù có thể mình biết được hơn những điều trước đây mình chưa biết nhưng mình cũng sẽ tận hiểu ra một điều là những vấn đề đó thật ra cũng không liên quan gì đến mình và nó không thiết thực hiện tại, nó không thể giải quyết được những vấn đề mình đang cần, mình đang bị.

Ở đây cũng như vậy, thế giới này thường hay vô thường, hữu biên hay vô biên v.v... vấn đề đó thật ra không liên quan gì đến mình, chính vì vậy Đức Phật Ngài không trả lời những câu hỏi này, Ngài chỉ đưa ra những lời khuyên những câu trả lời xác thực có lợi ích thiết thực hiện tại chúng sanh phàm phu có thể nghe hiểu được một cách rõ ràng, và trong phạm vi khả năng của chính bản thân mình.

 Đối với việc tu tập, khi người Phật tử học pháp và nghe pháp nhiều cộng thêm sự thực hành, bước đi từng bước, từng bước, nhất là trong việc tu tập nội tại thì từng bước đi của mình tới đâu sẽ có câu trả lời rất rõ ràng ngay tại điểm mình đặt chân đến, cũng giống như một người đi trong đêm tối không biết phương hướng, không biết bây giờ phải đi đâu, đường ra ở chỗ nào, và chừng nào mình sẽ đi ra khỏi nơi này. Mình đừng hỏi những câu đó và cái mình biết rất chắc chắn là những bước đi của mình ngay trong hiện tại đang có một ánh đèn cầm trên tay giúp cho mình ngay trước mắt không bị vấp đá, không đạp vô sình lầy, không bị vướng vào những chướng ngại như vậy là tốt lắm rồi. Đến khi nào đó khi mình đã đặt chân đến nơi nào đó rồi mình nhìn lại quãng đường mình đi và những hoài nghi những băng khoăng thì lúc bấy giờ mình sẽ hiểu ra được là những câu thắc mắc của bản thân mình trước đây đều không có lợi ích, bởi vì có trả lời đi nữa ngay trong thời điểm đó cũng không được gì cho bản thân mình. 

Đó là ý nghĩa của phân đoạn thứ ba chúng ta học của bài pháp ngày hôm nay. 

- Đức Phật Ngài không trả lời những câu hỏi vượt ngoài sức hiểu của phàm phu là điều thứ nhất. 

- Thứ hai, nó không có lợi ích, không liên quan gì đến mình, Ngài chỉ trả lời những câu hỏi về những pháp tu tập thiết thực giúp cho chúng ta ngay trong thời điểm chúng ta đang đi, những khó khăn đang phiền não thì mình hãy thoát ngay trong hiện tại, đang khổ bây giờ mình phải làm sao và như vậy nó sẽ có lợi ích thiết thực rõ hơn. 

Và có từng bước như vậy  đến một lúc nào đó mình mới đi được đến nơi cuối cùng bởi vì tất cả những vấn đề này thuộc về phạm vi tự thân phải tu tập mỗi bản thân của mỗi người phải áp dụng để thực hành chứ mình không ngồi suy nghĩ mà giác ngộ được. Mình không ngồi suy nghĩ được cảnh giới Niết-bàn như thế nào, mà mình phải tu tập để có thể chứng ngộ chuyện đó, chỉ khi nào mình đi trên con đường đó thì mình mới đến được nơi đó. 

Đó là phần trình bài đoạn 3 của bài kinh ./.

Xem tiếp phần IV

Kinh Potthapàda - Phần IV - Ba Thứ Ngã Chấp và Sự Hiện Hữu - TT Giác Đẳng

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
9. Kinh Potthapàda [bản ngã và linh hồn]

Phần IV: Ba Thứ Ngã Chấp và Sự Hiện Hữu

TT Giác Đẳng giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma, phần IV, ngày 24-8-2019.

Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Cuộc đàm luận của Đức Phật và Potthapàda chúng ta đã thảo luận được 3 phần, hôm nay nói phần cuối của một cư sĩ tên Citta là vị huấn luyện voi, vị này về sau xuất gia.

Ở đoạn đầu bài kinh, nói về cư sĩ Citta nêu lên câu hỏi: “trong ba ngã chấp là   thô phù ngã chấp (chấp ngã lả tự thể vật chất) , ý sở thành ngã chấp (chấp ngã là thành phẩm của tư duy) ,  vô sắc ngã chấp  (chấp linh hồn phi vật chất) phải chăng khi cái nầy có thì hai cái kia không có?  

Chữ thô phù ngã chấp là mình tự nhận cái gì thuộc về ngoại hình "Tôi" là người đẹp, "Tôi" là người sang trọng bởi vì "Tô"i đi chiếc xe mắc tiền sang trọng, "Tôi" là người thời trang bởi vì "Tôi" mặc quần áo hàng hiệu". Ở đây "Tôi" là thô phù chỉ cho cái gì đối lập với cái gì của tâm thức.

Trường hợp, trong đời sống chúng ta, mình chụp một tấm hình đẹp hay mình có một tướng cách như thế này diện mạo thế kia, mình nhận đó là "Tôi". Cái "Tôi" đó thuộc về thân xác, thuộc về vật chất , cái "Tôi" đó thuộc về thô.

Có một cái "Tôi" và cái "Ta" khác gọi là bản ngã liên quan đến ý sở thành. Ví dụ, như "Tôi là một người thông minh", chúng ta nói về sự nghiệp, chúng ta nói về thế giới mình sống, "Tôi là một nhà thơ, tôi là một nhà văn", thì tất cả điều đó là ý sở thành. 

Ý sở thành ở đây tức là sự nhận thức của tâm thức thế giới ở trong đó do tâm biến hiện. Thường là những người chấp vào ý sở thành có hơi trội hơn thay vì chỉ chấp vào diện mạo hay chấp vào xe mình đi, quần áo mình mặc, thì người này lại chấp vào "Tôi" là một nhà thơ có những thi phẩm để lại cho đời hay "Tôi" là một nhà chính trị được quần chúng ủng hộ v.v... những cái đó là một thế giới riêng, thiên địa biệt hữu, một thế giới riêng trong đời này, và trong thế giới riêng đó mình cảm nhận "Tôi" là như vậy, nó đủ tất cả mọi thứ về nhân ngã bỉ thử, mọi thứ về hơn thua v.v......
vô sắc ngã chấp. Còn có một cái "Tôi" nghĩa khác, "Tôi" là một cái gì thuộc về linh hồn, cái đó không thuộc về vật chất, không thuộc về thân, nó là cái gì hằng cửu và nó thuộc về tưởng, tâm thuộc về tưởng về nhận thức, rất là khó xảy ra. Và với 3 điều này, Citta hỏi Đức Phật: Phải chăng khi mình có cái này thì không có cái kia, thí dụ mình nói:

-  "Tôi là một người đẹp"

Thì chấp bản ngã chúng ta chính là ở thân xác chứ không phải là ở linh hồn.

Nếu chúng ta nói cái "Tôi là ở linh hồn" thì chúng ta không chấp vào bản ngã là thân xác. 

Thì Đức Phật Ngài dạy là đúng như vậy, khi cái này có mặt thì cái kia không có tại vì cái ngã có trọng điểm nào đó khi nói về "Tôi" mình đặt trọng điểm ở tại đó. 

Về việc này cũng dễ hiểu, trong mỗi cuộc sống đôi khi người ta có những ưu tiên, thí dụ như ở tuổi nào đó người ta có ưu tiên về ngoại hình, ở tuổi nào đó người ta ưu tiên về sự nghiệp, ở tuổi nào đó người ta ưu tiên về tâm tính, mình thấy rất rõ, hay ngay cả trong một ngày nhiều khi chúng ta có thô phù ngã chấp, rồi nhiều khi chúng ta có ý sở thành ngã chấp, có nhiều khi chúng ta có vô sắc ngã chấp. Nhưng khi có cái này thì không có cái kia.

 Đây là điểm vô cùng thú vị, bởi vì chúng ta khi vầy khi khác nên cái ngã đó là một cái ngã mơ hồ, cái ngã đó là cái ngã huyển hoặc, cái ngã đó là không có thật. 

Tại vì sao chúng ta khi vầy khi khác?

Tại vì chúng ta có mặt trong nhiều cảnh giới khác nhau. 

Và ở đây, Đức Phật Ngài lại nêu lên về vấn đề thời gian là mình có mặt trong quá khứ, có mặt trong hiện tại, có mặt trong tương lai. Điều này có nghĩa là một vị Sadi lớn lên làm Thượng Tọa, rồi sau này làm Hoà Thượng, thì nói vị Sadi đó là tu sĩ cũng phải, là Thượng Tọa cũng phải, là Hoà Thượng cũng phải, nhưng 3 cái đó khác nhau, lúc là sadi khác, là Thượng Tọa khác, là Hoà Thượng khác, nếu là cái này thì không phải là cái kia, nếu là cái kia thì không là cái nọ, như vậy cho chúng ta thấy cái tính mơ hồ, chúng ta nắm một cái, chúng ta chụp một góc gọi đó là "Tôi" là "Ta" thì thật sự nó không đúng, cái gọi là "Tôi" là "Ta" theo thường thức nó là một tổng hợp của một tiến trình ở trong đó có xấu, có tốt, có hay, có dở, có nặng, có nhẹ, có lớn, có bé, có lúc thành công, có lúc thất bại.

Nếu chúng ta nhìn thấy cái gọi là "Tôi" là một tổng thể của một tiến trình quá khứ hiện tại vị lai, tiến trình đó có khi là vật thể, có khi chúng ta nói là sự nghiệp, có khi chúng ta nói đến tâm thức, thì như vậy chúng ta thấy khái niệm về "Tôi" vốn là khái niệm rất mong manh rất giả hợp. Như trường hợp chúng ta nói đến sữa, sữa người ta lấy ra từ con bò con dê ban đầu, rồi từ sữa tạo ra curd là một loại giống như yogurt, rồi từ curd tạo ra bơ, rồi nó có một loại chất sánh lại chúng ta gọi là cheese hay còn gọi là pho mai, nói chung chúng ta gọi là dairy product. Thì mặc dầu tất cả là từ sữa nhưng pho mai không phải là sữa, curd không phải là sữa, cheese không phải là sữa, bơ không phải là sữa nhưng nó là sản phẩm của sữa trong từng giai đoạn. Thì như vậy đó là sự chuyển hóa sự thay đổi, đó là sự đắp đổi từ dạng này qua dạng khác, điều này khiến cho chúng ta dễ có những ngộ nhận, bởi chúng ta nghĩ rằng nó đi từ lúc này sang lúc khác, nhưng mỗi thứ đều khác như chúng ta thấy bơ không giống như phô mai, sữa không giống phô mai nhưng tất cả đều từ dairy product nó đến từ một tiến trình.

Trong kinh điển Phật giáo thời xa xưa Đức Phật Ngài đề cập đến giáo lý duyên khởi, giáo lý duyên khởi là một cái gì rất khó hiểu thời bấy giờ, giáo lý duyên khởi mình nhìn thấy là một không phải, mà là hai cũng không phải, chúng ta nói là một là hai cũng không phải mà nó là cùng trong một tiến trình, và nếu chúng ta nhìn kỹ hơn thì nó đúng là một sự kết cấu của nhiều cái. 

Như khi người ta quay phim, bây giờ trong digital gọi là frame, bao nhiêu cái frames thí dụ 30 cái frames trong một giây thì tạo thành hình di động. Một cuốn phim ở Hollywood quay hồi xưa là do nhiều bức hình được chiếu liên tục chiếu nhanh tạo nên một hình thể di động, hình thể di động đó chúng ta gọi là di động nhưng thật sự chỉ là do chiếu nhiều trên một loạt ảnh và những tấm hình đó liên tục làm cho mình có cảm nhận nó di động, đó là một sự khám phá của loài người. 

Thì đời sống của chúng ta cũng vậy, đời sống của chúng ta vốn là một sự kết nối của nhiều tiến trình sanh diệt, Đạo Phật gọi là giáo lý duyên khởi, thành ra không hiểu giáo lý duyên khởi mà chấp thì đã sai mà nói thì càng sai, nói rằng "Tôi" ở trong quá khứ và "Tôi" bây giờ là một thì sai mà nói là hai cũng sai, tại vì cùng là một tiến trình.

 Bài học này đi vào 3 yếu tính quen thuộc và tìm thấy trong đạo Phật.

1 - Yếu tính thứ nhất, tất cả sự hiện hữu là một tiến trình kết nối của sanh diệt là một giòng chảy.

2 - Thứ hai, nếu chúng ta lấy một phần nào đó trong cuộc đời mình mà gọi  là "Tôi" là "Ta" thì hoàn toàn sai. Ví dụ, nhà diễn thuyết nổi tiếng về triết học và tinh thần, ông Krishnamurti khi còn là một đứa bé cũng đúng mà cũng sai tại vì khi là đứa bé thì ông chưa có tư tưởng triết học, sau đó ông Krishnamurti được mời làm hội trưởng hội Thông Thiên Học thì cũng phải, và sau này ông lại có tư tưởng khác, thì tên gọi Krishnamurti là tổng hợp có lúc vầy lúc khác, có khi này khi khác, mình nắm có một thời điểm một mảng đời nào đó, một giai đoạn nào đó mình gọi là nhà triết học Krishnamurti thì hoàn toàn sai, đây là một điểm rất là khó ở trong kinh điển của Phật Pháp.

3 - Thứ ba, điều này liên quan đến đời sống của chúng ta khi nói cái "Tôi" ở quá khứ, "Tôi" đã từng vinh dự như vậy, Tôi" đã từng nhục nhã như vậy, "Tôi" đã từng khổ đau như vậy, và bây giờ khi mình nghĩ lúc đó người ta đã chửi "Tôi", người ta đã hạ nhục "Tôi", người ta đã mắng "Tôi", "Tôi" đã phiền não. Lúc đó là mình phiền não bởi cái "Tôi" của quá khứ, mặc dầu hiện tại thì không có nhưng cái "Tôi" nằm ở quá khứ, mà cái "Tôi" nằm ở trong tương lai, mai mốt "Tôi" sẽ trở thành cái này, "Tôi" sẽ trở thành cái kia. Thật ra cái khó trong kinh sách của Phật Pháp không phải là ở chỗ điều Đức Phật Ngài dạy khó hiểu mà cái khó là dựa trên kinh nghiệm của đời sống chúng ta, chúng ta vốn dĩ thường chấp đây là "Tôi", đây là của "Tôi", đây là "Tự Ngã Của Tôi", bây giờ nói cái chấp đó không đúng tự nhiên mình nghe khó chấp nhận. 

Nhưng kỳ thật, trong kinh đưa ra rất nhiều thí dụ, như bài kinh Tệ Túc trong Trường Bộ Kinh, Ngài Kumàra Kassapa đưa ra 2 thí dụ chúng ta nên suy ngẫm:  

1 - Thí dụ thứ nhất. Có một người cầm cái tù và làm bằng vỏ ốc lớn thổi lên âm thanh thì một người khác thấy vậy tìm cách lấy cái tù và đó và đập bể nó để xem âm thanh nằm ở chỗ nào, nhưng khi đập nát cái tù và kiếm không thấy âm thanh, tại vì âm thanh đó vốn là một sự kết hợp giữa hơi thổi vào cái tù và, và có người thổi, biết cách thổi, có hơi thổi xuyên qua cái tù và mới tạo thành âm thanh, nếu chỉ vì muốn kiếm âm thanh mà đập cái tù và ra thì mất đi yếu tố tạo thành âm thanh và không thể tìm âm thanh như vậy. 

2 - Thí dụ thứ hai. Ngài Kumàra Kassapa kể: có một thiếu phụ là vợ lẽ cho một gia đình giàu có, sau đó người vợ và người chồng giàu có đó chết, bấy giờ người ta quy định một thời gian nào đó nhất định để họ chia của, người vợ nhỏ mới nói với những người trong gia tộc là "khoan chia của tại vì tôi đang mang thai, nếu mà qúi vị chia của sớm quá nếu tôi sanh ra con trai thì đứa con trai này phải hưởng phần lớn của tài sản thì đứa con trai đó sẽ thiệt thòi",  nhưng người ta nhất định không đợi, thì thiếu phụ này tự mình mổ bụng để lấy đứa con trai ra thì đứa con trai đó chết và bà cũng chết, tại vì ý tưởng để xác minh đó là đứa con trai cách đó là không đúng cách, đứa con trai đó phải sanh ra đúng thời gian thì đó mới là một đứa con trai thật sự được quyền thừa hưởng gia tài hay không.

Ngài  Kumàra Kassapa đề cập đến 2 thí dụ để nói nên tại sao có những người làm thiện họ không tự nguyện chết để được sanh về cõi trời, Ngài nói như vậy nhưng ở trong đó chúng ta cũng hiểu qua một cái nhìn khác với thí dụ này là một người như thế này người như thế kia phải hội đủ nhiều yếu tố,  không đơn giản một yếu tố mà có được,  ví dụ như tiếng âm thanh của tù và hay là một đứa nhỏ nhận được tài sản nó phải đúng thời đúng lúc và phải đúng cách. 

Giống như trong câu thơ:

-  "kinh sách đốt không tìm ra Xá Lợi, mà chân ngữ xưa vùi dưới lớp tro tàn". 
"Kinh sách đốt không tìm ra xá lợi mà chân ngữ xưa vùi dưới lớp tro tàn"  lời kinh đẹp không phải đem đốt rồi mình đem cúng, đúng ra, những cao siêu trong kinh phải được đọc phải được ngẫm mới tạo thành chân ngữ tạo ra những ý tưởng cao qúi, chứ nếu mình đem ra đốt thành tro rồi làm thuốc uống thì không lãnh hội được ý kinh.

Trong kinh Phật qua lời dạy của Đức Phật lý duyên sinh hay duyên khởi là những pháp sanh ra do nhân do duyên, diệt cũng do nhân do duyên. Và nhân duyên đó từ sát na này sang sát na khác, từ năm tháng này sang năm tháng khác kết thành một tiến trình và trong tiến trình đó chúng ta gọi "Tôi là như vậy"  "Ta là như vậy" nhưng quả thật mình gọi hai cũng không đúng, gọi một cũng không đúng. Như một đứa nhỏ sau này lớn lên là vị tổng thống tuy rằng một người, nhưng không thể gọi là một được tại vì đứa nhỏ tâm thức và thể xác hoàn toàn khác và khi lớn lên làm Tổng Thống tâm tính và thân xác hoàn toàn khác, nhưng mình gọi là hai không được, nói cách nào cũng sai hết.

Như vậy ý nghĩa đoạn cuối bài kinh Kinh Potthapàda cho chúng ta biết nhận thức của chúng ta về ngã, về "Tôi" là ai, "Ta" là ai, vốn thường dựa trên 3 thứ:

1 - Thô phù ngã chấp: là dựa trên vật thể như ngoại hình, như trắng đen, mập ốm, tốt xấu, đi xe này, mặc quần áo kia v.v... chúng ta gọi vật thể.

2 - Ý sở thành: tức là sự nghiệp, về những gì tạo nên thế giới chúng ta đang sống, tôi là người thành đạt, tôi là người làm chính trị được quần chúng ủng hộ, tôi là người cao sang v.v.... 

3 - Vô sắc ngã chấp, hay là thuộc về tâm thể. Về tâm thể thì mình chấp vật chất thì nó không tồn tại, nhưng chúng ta có một bản ngã về nhận thức (saññā), nhận thức đó tồn tại. 

Đức Phật dạy tất cả pháp do nhân mà sanh, do duyên mà sanh, do duyên mà diệt. Đặc biệt nếu mình nhìn lại thì nó có cái này không có cái kia, và ở trong quá khứ nếu nhận "Tôi" đã từng có trong quá khứ như vậy  thì chẳng lẽ cái đó nó không còn nữa thì mình không còn. Hay là ở trong tương lai tôi là như vậy đó, chẳng lẽ bây giờ tôi không có. Thí dụ như mình nghĩ  trong câu chuyện "chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng" là một người đi học nghĩ rằng mình đỗ làm trạng nguyên hay thám hoa rồi dọa nạt hàng xóm nhưng thật ra đó chỉ là ảo tưởng thôi. Ở trong tương lai "Tôi" là như vậy, trong hiện tại "Tôi" không là như vậy, nhưng hiện tại không là không có nghĩa một chúng sanh nào đó không có mặt và vì vậy nó tạo nên một giả danh, một tên gọi cho một cuộc đời làm ngã chấp thì đó là một chuyện sai. Đức Phật Ngài dạy bản thân của Ngài vẫn dùng những từ ngữ "Tôi", "Ta", "Như Lai" nhưng Ngài không nhận qua cái nhìn của ngã chấp. 

Chúng tôi nhớ câu chuyện rất cổ điển, nói là cổ điển ở đây là ở trong chùa ở đây là nói nhóm Vi Diệu Pháp, Thầy của chúng tôi đó là HT Tịnh Sự, một lần Ngài kể chuyện về Ngài Jotika một vị cao tăng từ Miến Điện sang dạy A Tỳ Đàm tại Thái Lan,  nhân một lần Ngài tới một nhà cư sĩ giảng về giáo lý vô ngã, gìống những điều chúng tôi giảng nãy giờ: 

- "Tôi là cái này tôi là cái kia nhưng thật sự nó chỉ là ảo giác và cái tôi đó không thật sự ,thành ra mình nên quán tưởng đây không phải của "Tôi", không phải là "Tôi", không phải tự ngã của "Tôi".  

Sau khi giảng xong Ngài đứng dậy, một người cư sĩ chỉ vào cái đãi còn gọi là cái dèm mà Chư Tăng thường đeo, và hỏi 

- "Cái dèm này của vị nào?"

 Ngài trả lời

- "Nó của tôi"

Thì vị cư sĩ nói rằng:

- "Sao lúc nãy Ngài nói rằng không phải của "Tôi", không phải là "Tôi", không phải tự ngã của "Tôi", bây giờ Ngài lại nói là của "Tôi"

Thì Ngài nói "Đó là nói theo thường thức, còn nếu nói theo chân đế thì nó khác." 

Và ở đây, tạo cho chúng ta 2 thế giới, một là thế giới của tri thức và một là thế giới thường tình mà chúng ta nói là nói cho cùng, nói cho tận, nói một cách tuyệt đối. Thì 2 thế giới đó, hai cảnh giới đó có hai ngôn ngữ khác nhau. Đức Phật Ngài vẫn thường dùng ngôn ngữ tục đế ngôn ngữ của thường tình nhưng ở trong ngôn ngữ Ngài xưng là "Như Lai" thì Ngài không chấp có cái ngã. Chúng tôi biết có một vài vị tu sĩ cố gắng để tìm cách giải thích về cái gọi là cái ngã qua lời dạy của Đức Phật "Ta là nơi nương tựa của ta, không ai thương ta hơn mình" rồi có câu nói "Thiên thượng thiên hạ, Duy ngã độc tôn v.v.... nhưng thật ra, cách nói đó là một cách nói xuyên tạc lời Đức Phật dạy, chúng ta đọc kỹ câu này ở trong bài kinh này thì Đức Phật Ngài nói rất rõ Ngài cũng dùng những danh từ của thế thường như vậy nhưng Ngài không có chấp cái ngã trong đó.

 Đối với nhiều người khi luận bàn về ngã, về đây là "Tôi", đây là "của Tôi",  đây là "Tự ngã của Tôi" mang tánh cách triết học và mang tánh cách như tranh luận.  Nhưng kỳ thực đối với một người tu tập thì điều đó là bước đầu để chúng ta thực hành khả năng buông xả.

 Ngài Xá Lợi Phất Ngài dạy nếu có ai chửi mắng thì mình nhớ rằng lời chửi đó là âm thanh, cái nghe đó là nhĩ căn, biết đó là âm thanh là nhĩ thức, sau đó ý suy nghĩ ở trong đó không có "Tôi" không có "Ta".

Trái với nhiều người suy nghĩ rằng mình có ngã chấp thì đời sống mình hãnh diện, mình thấy là mình có, mình thấy "Tôi" như thế này, "Tôi" như thế kia. Nhưng trong cái nhìn một góc cạnh khác của Phật học thì chính cái nhìn đó làm cho chúng ta đau khổ, hầu hết tất cả những đau khổ của chúng ta đều đến từ ngã chấp, và nó là vết thương do có một mũi tên bắn vào, Đức Phật Ngài dạy chúng ta nên nhổ mũi tên đó thay vì chúng ta lo tìm hiểu do đâu và ai đã bắn mũi tên. 

Thì tại sao Đức Phật Ngài khuyên chúng ta nên nhìn cuộc sống bằng góc cạnh của đau khổ, như Đức Phật dạy rằng "Như Lai dạy về sự khổ", khi mình nhìn bằng góc cạnh của đau khổ thì mình thấy rằng vấn đề chính là giải quyết đau khổ không phải là vấn đề tranh luận là có cái "Tôi", mình bớt đi sự đau khổ. 

Chúng tôi lấy một ví dụ là con người chúng ta ai cũng có được khen hoặc bị chê, và khi người ta khen mình bằng lời đãi bôi, không thật, nhưng mình cũng cảm thấy nở mũi cảm thấy hạnh phúc, nhưng thật ra lời khen đó hư ảo, người ta khen được thì người ta chê được, khi người ta khen khi người ta chê cái gọi là "Ta" thì mình biết rằng có lúc cũng giỏi rồi nhưng cũng có lúc mình dở. Như vậy cái "Tôi" là cái dở, hay cái "Tôi" là cái giỏi, thật ra, nói cho cùng thì lời khen và tiếng chê đó chỉ là cái gì hư ảo là hư danh, và nếu là hư danh mình không nên khoát vào, mình càng nặng lòng thì mình càng khổ. 

Trong đời sống của chúng ta hơn thua nhau một chút, hơn thua nhau một lời, hơn thua nhau trong một khoảnh khắc nó làm cho chúng ta khổ trong nhiều năm tháng. Chúng tôi có nghe một người thống trách giận một người khác vì đã làm việc gì đó xúc phạm đến họ mặc dù người kia bây giờ đã chết vài năm rồi nhưng người này vẫn còn nhắc vẫn còn nhai đi nhai lại và vẫn còn phiền còn giận. Chúng ta thấy một điều với một người học Phật hiểu Phật Pháp thật sự thì người đó đủ khả năng để cảm nhận rằng ngã chấp khiến  chúng ta đau khổ hơn là cho chúng ta được niềm vui, cái đó là cái mình phải thấy đầu tiên.

Nói chung là chấp  thân kiến thấy "Tôi" là thế này, "Tôi" là thế kia mình nói hay lắm, nhưng kỳ thật ở trong thế giới của người tu tập những điều đó là những vết thương, và những vết thương đó sẵn sàng làm cho mình nhức nhối, làm cho mình đau,  làm cho mình dễ dàng bị tấn công, dễ dàng bị xúc phạm, bị tổn thương. Khi mình đặt mình vào sự dễ dàng bị đau bị tổn thương, và mình bị đau, bị tổn thương thì đó là lỗi của mình, nhưng mình không nhận được đó là tại vì sở chấp.

Nên chi một góc nhìn khác của Phật Pháp vấn đề không phải mình đánh bóng cái "Tôi" cái "Ta" của mình, mà vấn đề là làm sao giải quyết sự đau khổ của cuộc sống. Người ta khen đáng cho mình hãnh diện thì không biết mình hạnh phúc bao nhiêu nhưng chắc chắn nếu mình vui khi người ta khen mình thì lại rất phiền não, khi người ta chê mình và cái phiền não người ta chê mình là cái giá quá đắc. 

Cụ Nguyễn Công Trứ có câu thơ" Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa trời mà reo". Tại vì sống giữa danh lợi gót danh lợi bùn pha sắc xám có bao nhiêu là hơn thua bao nhiêu tranh chấp, đời sống con người mệt mỏi quá chỉ muốn làm cây thông đứng giữa trời mà reo, đó là một cuộc chạy trốn đời sống, tại sao mình chạy trốn cuộc sống? tại vì mệt mỏi quá.

 Đức Phật Ngài không dạy chúng ta chạy trốn cuộc sống, Ngài dạy chúng ta nhìn thấy nó là hư ảo, nếu mình vui được  khi người ta khen thì mình sẽ rất khổ khi bị chê, nếu mình vui được khi giàu có thì mình rất khổ khi bị nghèo, nếu mình vui được khi còn trẻ, mình rất buồn khi mình già. Trong kinh Phật dạy chúng ta nên thường quán mình không thể trẻ mãi rồi có lúc phải già, mình không thể khỏe hoài có lúc mình sẽ mệt, mình không thể sống hoài có lúc mình sẽ chết, mình không thể mãi mãi sống với những người thân yêu mà mình phải chịu cảnh sanh ly tử biệt chia cách với người thân của mình, và mỗi chúng ta có nghiệp riêng của chính mình. Những quán tưởng có tánh cách cân phân là có lúc này, có lúc khác, làm cho tâm của chúng ta nhẹ nhàng, tâm của chúng ta bớt chấp thủ bớt khổ.

Một câu chuyện Đức Phật Ngài dạy trong kinh. Đức Phật có lần hỏi chư Tỳ kheo rằng:

- Này chư tỳ kheo những người quét lá rụng lá vàng ở trong sân chùa Kỳ Viên đem đốt các Thầy có buồn không? 

- Bạch Đức Thế Tôn không, 

- Tại sao không? 

- Tại vì chúng con không nghĩ nó là của ta là tự ngã của ta.

Thì ở đây, Đức Phật cũng dạy tương tự như vậy. 

Đối với chúng ta 3 ý niệm: "Ta" là "của Ta" là "tự ngã của Ta" hạnh phúc thì ít mà khổ thì nhiều, khổ vô tận, đau vô tận, tại vì nó đụng đến cái của "Ta". Một cái ghế để lăn lóc ở sân chùa không ai quan tâm đến nhưng có người lấy đem đi tự nhiên mình giận ai ăn cắp, ai lấy của chùa, mình phiền não "của tôi" "của ta". Cái này rất khó hiểu trong đời sống nhưng chúng ta trả giá cho cái đặng, cái được, cái vui, cái hạnh phúc, Ngài Buddhaghosa nói hạnh phúc đó giống như chó phản chủ, tức là chó quay lại cắn chủ, có những niềm vui nó quay lại cắn mình, niềm vui đó là niềm vui khi hãnh diện cái gọi là "Tôi" "của Tôi" là "tự ngã của Tôi" nó quay lại cắn chúng ta thì chúng ta rất là đau ./.

Hết Bài Kinh Potthapàda

Wednesday, December 26, 2018

có những đứa trẻ dù chưa chứng đắc thiền định mà biết được kiếp quá khứ, do nguyên nhân gì?

Thảo luận 1. Tại sao có những đứa trẻ dù chưa chứng đắc thiền định mà biết được kiếp quá khứ, do nguyên nhân gì? Và phải chăng hễ kiếp trước mình là người thì sau khi chết cũng sẽ tái sanh làm người? 

Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Budhadhamma ngày 4 tháng 12, 2018. Minh Hạnh chuyển biên

 TT Tuệ Siêu:

 Câu hỏi thứ nhất. Đã có trường hợp một cậu bé kiếp này sanh làm người đã nhớ được tiền kiếp là người ở chỗ đó chỗ đó.

Một người ở kiếp này có thể nhớ được tiền kiếp của mình thì có 3 trường hợp:

1- Trường hợp thứ nhất: Đối với các chúng sanh thuộc về loài hóa sanh có 3 cách như các vị Chư Thiên, Phạm Thiên, hoặc những hạng ngã qủi v.v..., đó là người hóa sanh cho nên khi họ là loài phi nhân họ biết được tiền kiếp của họ, khi Ngài Xá Lợi Phất đang đi kinh hành lúc còn canh hai, canh cuối của đêm thì có một bóng của một ngạ qủi hiện ra phía trước đường kinh hành của Ngài, Ngài dừng lại hỏi: 
- Người là ai?
- Bạch Tôn Giả, tôi là ngã qủi.
- Tại sao ngươi đến đây?
Ngạ qủi trả lời: 
- Con 5 đời trước là thân mẫu của Ngài nhưng vì kiếp đó không biết làm phước, tạo nhiều nghiệp xấu cho nên bây giờ phải sanh vào ngã qủi đói khổ, xin Ngài từ bi tế độ.
Lúc đó Tôn Giả Xá Lợi Phất Ngài nói:
- Sáng mai ta đi khất thực xong về đem cho người bát thực phẩm rồi ngươi đem cúng dường đến Chư Tăng rồi tùy hỉ với phước báu mình đã làm hoan hỉ với phước báu mình đã làm. 
Ngạ qủi mới nói:
- Thân phận như thế này thì làm sao tiếp cận được với Chư Tăng.
Ngài nói:
- Vậy ta sẽ nhân danh ngươi để cúng dường thực phẩm đó đến chúng Tỳ Kheo, và người hãy tùy hỉ phước. 
Qua hôm sau thực hiện như vậy ngạ qủi được tái sanh vào cõi trời.
Như vậy, loài ngã qủi biết kiếp trước, Đức Trời Đế Thích, Tứ Đại Thiên Vương cũng đều biết, các Chư Thiên nói chung, như ông Cấp Cô Độc, bà Visàkhà sanh làm Chư Thiên, là một Thiên Tử. Sau khi làm vị Chư Thiên rồi thì trở xuống cõi người đảnh lễ Đức Phật. 
Đức Phật hỏi: 
- Này Thiên nhân, ngươi là ai?
Vị Chư Thiên đó thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn, con là Thiên Tử Sudatta, kiếp trước con là trưởng giả Anāthapiṇḍika Cấp Cô Độc, đệ tử của Ngài.
Đức Thế Tôn Ngài biết nhưng Ngài hỏi để có duyên cớ thuyết pháp cho các vị Chư Thiên, cho chúng Tỳ Kheo nghe luôn.
Như vậy, Chư Thiên, Phạm Thiên biết. Phạm Thiên biết thí dụ như Phạm Thiên Ghatikàra thường đến đảnh lễ Đức Phật nhắc lại chuyện quá khứ xa xưa bởi vì Phạm Thiên Ghatikàra là một vị A Na Hàm thời Đức Phật Kassapa kể lại câu chuyện trong thời quá khứ cho Đức Phật nghe, Đức Phật xác nhận điều đó, Ngài đã thấy đã biết. Cho nên, Chư Thiên, Phạm Thiên, ngã qủi, loài hóa sanh nói chung, loài phi nhân có thể nhớ được đời sống trước của họ. 

2. Nguyên nhân thứ hai, một người có thể nhớ được tiền kiếp đó là vị đắc thiền có thần thông (iddhipāda) vị đó hướng tâm đến quá khứ biết ở kiếp quá khứ sanh ở đâu, giai cấp như thế nào, tên họ là gì, họ biết được là do năng lực phát sanh.

3. Nguyên nhân thứ ba, là trường hợp hy hữu, trường hợp một số người họ sanh ra có thể nhớ được tiền kiếp của họ. Trường hợp này do nơi nguyện lực, chúng ta gọi chung là nguyện lực của quá khứ. Ở trong quá khứ khi họ làm việc gì họ nguyện :"Nguyện cho tôi được đời sau có thể nhớ được kiếp sống quá khứ như thế này", thì cũng thành tựu nếu dựa trên căn bản về phước báu bố thí, trì giới người đó đã làm thì đời sau sanh ra vẫn có khả năng biết được, nhưng rất hạn chế.
Người mà biết được tiền kiếp của mình mà biết được nhiều kiếp quá khứ thì chỉ có bậc đã đắc được Túc mạng thông (pubbe-nivasanussati), do đắc thiền đạt được túc mạng thông biết được tiền kiếp của mình.
Về trường hợp có nguyện lực là: 
1 - Là người đó tạo phước rồi nguyện,
2 - Là người này có cột oan trái rồi chú nguyện, do tâm lực gọi là pakatūpanissaya - thường cận y duyên mạnh hơn là nissayapaccayo - Y chỉ duyên, Thường cận y duyên là lập đi lập lại tư tưởng nhiều lần thì nhớ biết. Tức là ý muốn đời sau sẽ nhớ được kiếp trước thì chúng sanh đó đời sau sanh trở lại làm người nhớ được kiếp trước của mình, nhưng rất hy hữu. Người mà nhớ lại được tiền kiếp của mình nếu không phải do thần thông do phát sanh nếu sanh làm người mà nhớ được kiếp quá khứ là chuyện hy hữu.

Như vậy do 3 nguyên nhân này giúp chúng ta nhớ được tiền kiếp.

Câu hỏi 2. Nếu trường hợp một vài đứa bé mà có thể nhớ kiếp trước làm dân làng ở chỗ này rồi bị giết hại như thế nào, rồi được chôn thây ở đâu v.v... nó chỉ cho người ta nói người ta nghe đúng y sự thật 1.29.12 mặc dầu nó mới đến làng đó thì lần đầu tiên cha mẹ nghe câu chuyện mới nhớ, thì chúng ta hỏi rằng là nếu vậy thì đời sống quá khứ của nó cũng là kiếp người từ người rồi sanh trở lại làm người. Có phải chăng tất cả con người khi chết đều sanh trở lại làm người?

Câu trả lời là "không". 

Trong Tam Tạng kinh Điển Đức Phật Ngài dậy rằng: "Này các Tỳ Kheo, ít thay một người sau khi mệnh chung từ thế giới loài người mà sanh trở lại làm người. Này các Tỳ Kheo, ít thay những người ở thế giới nhân loại sanh làm Chư Thiên sau khi chết. Này các Tỳ Kheo, nhiều thay là chúng sanh đó sau khi từ bỏ thân người mệnh chung sanh xuống địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh thì nhiều, cho nên đi đến cõi vui thì khó chứ đi đến cõi khổ thì dễ".

Còn trường hợp đứa bé nhớ từ kiếp quá khứ thì Đức Phật Ngài nói chết từ cõi người mà sanh làm người là điều ít có, Ngài nói là ít có trường hợp đó chứ Ngài không bác bỏ là không thể, từ ở thân nhân loại sau khi chết đi xuống địa ngục hay cõi súc sanh, ngã qủi, a tu la một thời gian rồi mới trở lại làm người. 

Đức Thế Tôn đã dạy hiện tại thân nhân loại này chết rồi sanh trở lại cõi nhân loại là một điều hiếm có, rõ ràng là như vậy./.

Thursday, December 6, 2018

Quán thân - Quán Tứ Đại - TT Giác Đẳng

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
22. Đại kinh Niệm xứ (Mahàsatipatthana sutta)
Quán thân - Quán Tứ Đại

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 22 tháng 10, năm 2018
Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Cái nhìn của chúng ta về cuộc sống thường dựa trên chấp thủ vì chúng ta không thấy thế giới hiện tượng là một sự giả hợp, có nghĩa là khi thì nó đi với cái này, khi thì nó đi với cái kia, và lúc nó đứng một mình thì nó như thế này, khi nó đi với cái khác thì nó tạo ra cái khác, cuộc sống cứ thế đắp đổi, tức là cái này gắn với cái kia, cái kia gắn với cái nọ tạo thành một hệ thống đạo Phật gọi là Sankhara hay pháp hành hay pháp hữu vi, Ngài Hộ Tông gọi là pháp tập hợp.

Pháp tập hợp là cái gì cấu tạo bởi nhiều điều kiện, dù là thân hay tâm của chúng ta trong cái nhìn của Phật học đều là thế giới của hiện tượng. Và trong thế giới hiện tượng đó có nhiều nguyên tố, những nguyên tố này kết hợp tạo thành một hiện tượng, khi chúng ta không có nhìn thấy sự kết hợp đó thì thông thường chúng ta phản ứng một cách rất phiến diện, cái nhìn rất nông nỗi và đầy chấp thủ.

Ví dụ, khi mình giận ai mình tìm cái gì đó để giận người đó, nhưng nếu hiểu lý nhân quả, mình hiểu sự chi phối chỗ này chỗ kia. Tất cả chúng ta dĩ nhiên là ngoài tâm ý của mình nó còn có những chi phối khác và những chi phối đó thì trùng trùng đôi khi mình nghĩ người đó là tác nhân nhưng người đó vẫn là nạn nhân. Một người thù của chúng ta họ làm cái gì đó khiến ta bực bội nhưng sau đó thì mình thấy bản thân của người đó cũng là nạn nhân, tức là nói theo lý nhân duyên vừa là năng vừa là sở. 

Thân của chúng ta cũng vậy, trong chữ Hán dịch chữ "vật chất" là "phù trần căn". Phù trần giống như mây nổi, giống như bọt nước, giống như huyển hóa. Chúng ta nhìn thân này huyển hóa vì sự hiểu biết của chúng ta về y học cho chúng ta thấy không có cái gì là cố định, hoặc bền vững, không có gì như ý của mình mà tất cả chỉ là sự đắp đổi liên hồi cái này và cái khác, chúng ta nên nhìn điều đó bằng chánh niệm. 

Trước khi chúng ta bàn thế nào là nhìn bằng chánh niệm, chúng ta nói đến một cách quan sát hiện tượng tự nhiên, mỗi một cách quan sát của chúng ta trong chánh niệm đối với hơi thở mang một tác dụng khác, quan sát đối với đại oai nghi, tiểu oai nghi, đối với những thành phần của thân thể mang ý nghĩa khác. 

Ở đây, trong bài kinh hôm nay nói về quan sát trong phạm vi tứ đại mang ý nghĩa khác.

Chữ tứ đại, đại là lớn, tứ đại là 4 nguyên tố căn bản, 4 nguyên tố lớn để cấu tạo thành vật chất và đây là một cái nhìn rất cổ điển không phải chỉ thời Đức Phật còn tại thế mà xưa rất xưa ở tại Ấn Độ người ta đã nói đến tứ đại. Thật ra  quan niệm tứ đại này rất khác với ngũ hành ở trong Kinh Dịch hay trong nền văn hóa Trung Hoa nói về kim mộc thủy hỏa thổ.Chúng ta cũng nên biết về tứ đại theo thường thức bên ngoài và tứ đại theo trong Phật học.

Trước nhất là nói về Địa Đại: Chúng ta nói cái gì đó chiếm hữu không gian, là thể rắn hay mềm như mình thấy một vật thể nào đó có chiều kích hoặc lớn hoặc nhỏ đôi khi chúng ta đụng được chúng ta tiếp xúc được dù nó mềm như là mền hay là nệm, cứng như là khối đá khúc cây chẳng hạn, thì thuộc về Địa Đại tức là nguyên tố chiếm hữu không gian.

Thủy Đại: Thường là thể loãng như nước, nhưng thực ra cái gì quyến tụ lại không có nước thì vật chất đó rã ra, chúng tôi lấy một ví dụ răng của chúng ta rất là chắn chắc nhưng do cái lực gì đó hay mình cắn cái gì đó gãy răng thì như vậy cái gãy cái vỡ nó cũng là một hiện tượng đặc biệt từ Thủy Đại mà ra, tức là cái đó không còn kết cấu không dính nhau nữa. Thì Thủy Đại ở trên một ý nghĩa cùng tận là cái gì quyến kết lại những phân tử của vật chất.

Hỏa Đại: Được hiểu nhiệt lượng, thường chúng ta thấy hơi nóng, hơi ấm hay độ nóng gọi là nhiệt độ. Chữ nhiệt thường chúng ta nghĩ đến nóng nhưng thật ra cái nào cũng là nhiệt độ cho dù 0 độ hay 100 độ. Nói một cách khác, độ Celsius scale °C đọc là độ C  thì 0 độ là độ đông đá và 100 độ là độ sôi, nhưng trong độ Fahrenheit scale độ F thì độ đông đá là 32 độ F tức là bằng với 0 °C, thì cho dù 32°F thì nó vẫn là nhiệt độ. Ở đây chúng ta không dùng chữ nóng và lạnh mà chúng ta dùng chữ nhiệt lượng. Thì cái nóng và lạnh nó là khái niệm, ví dụ như là room temperature căn bản chúng ta cảm nhận trong °C  là 32 độ đối với con người chúng ta bằng với độ F là 72 độ là mình thấy thoải mái, nhưng nếu 10 hay 9 °C   mình thấy lạnh hoặc giả là 50, 60 °F  mình thấy lạnh, nhưng cái lạnh cái nóng không có nghĩa là lúc đó không có đổ ẩm nó vẫn có nhiệt lượng, tất cả hiện tượng vật chất đều có nhiệt lượng.

Phong Đại: Là gió ở đây chỉ cho sự vận hành, các sự chuyển động đều là hiện tượng của gió nhưng ngay cả một viên kim cương, ngay cả một khối đá vẫn có gió, bởi vì trong một nguyên tử luôn luôn có sự vận hành của lưỡng cực là cực âm và cực dương, thì trong sự vận hành của âm và dương nó không thể nằm yên một chỗ mà nó là sự vận hành. Ở đây chúng tôi không muốn đào sâu vào chuyện đó nhưng đại để là ngay cả một nguyên tử thì nó cũng không là một cái gì yên mà nó luôn có luồng sinh hóa nó có sự vận hành của cực âm cực dương. 

Thì không có cái gì dù là một hạt bụi hay một hòn núi mà nó không có 4 đại, nói theo trong bản thể pháp thì trong nước những giọt nước chúng ta thấy  cũng có đất nước lửa gió: 

- Địa đại tức là sự chiếm ngữ dù là một giọt nước hay đại dương, 

- Thủy đại là sự kết hợp của những tinh thể nước mặc dầu sự kết hợp đó dễ bị phân ra, chúng ta có thể lội trong nước được nhưng nó vẫn có cái kết hợp của nó,

- Và nó có cái nhiệt của nó, 

- Đồng thời trong tất cả hiện tượng vật chất đều có sự vận hành

Bốn hiện tượng đất nước lửa gió có hai khái niệm:

1 - Một khái niệm có tánh cách thường thức; đất như bùn sình, nước như nước sông nước biển, lửa như lửa đốt trong lò như hỏa diệm sơn, và gió như phong ba bão tố như gió nhẹ v.v... đó là cách nói bình thường bên ngoài.

2. Nhưng trong bản thể, cái gì là thể rắn nó chiếm hữu không gian nào đó là đất, cái nào có tánh cách kết hợp những phân tử lại với nhau là nước, và nhiệt lượng là lửa, sự di động dù là cực âm cực dương của nguyên tử hay bất cứ sự di động nào trong thế giới vật chất đều là hiện tượng của gió.

 Nhưng riêng chúng ta, nói đến đất nước lửa gió trong hai cái nhìn; bản thể và thường thức. Bây giờ riêng khi một hành giả dùng thân của mình nhìn qua những hiện tượng đất nước lửa gió là chúng ta có thể dùng một khái niệm rất bình thường để hiểu về thân ví dụ như:

-  Cái gì thuộc về thể rắn như tóc, lông, móng, răng, da v.v... gọi là đất. 

- Rồi mật, đàm, máu, mủ, mồ hôi, nước mắt, nước tiểu, nhớt, khớp xương v.v... gọi là nước.

- Và chất ấm, ở trong người chúng ta luôn luôn có độ ấm, mình thấy một xác chết lạnh, khi còn có chất ấm tiêu hóa chất ấm trong thân gọi là lửa, là nhiệt lượng của thân, 

- Gió là khí vận hành.

Trong cái nhìn về vật chất của người Tây Phương họ có khái niệm gần gần như vậy khi họ nói về solid là đất, liquid là nước, plasma là hỏa đại, gas là thể khí như phong đại. 

Chúng ta không bàn về sự so sánh, nhưng đại để một hành giả tu tập nhìn thấy những thành tố của thân chúng ta cũng hiểu bản thân của chúng ta là một thế giới của hiện tượng, ở trong thế giới hiện tượng đó nó được tập khởi được sanh ra được tồn tại và bị xáo trộn dẫn đến hủy diệt là bởi vì sự đắp đỗi của những yếu tố này. Khi nó điều hòa thì chúng ta khỏe mạnh khi nó bất hoà thì cái nào quá đáng như thân nhiệt nóng quá thân nhiệt lạnh quá chúng ta bị bệnh, hoặc giả chúng ta đi tiêu chảy hoặc bị bón cũng là bịnh, hoặc giả ở trong người chúng ta ợ hơi nhiều cũng là bịnh không ợ hơi cũng là bịnh v.v...

Cái nhìn như vậy là một cái nhìn đại loại gọi là một cái nhìn chung chung về hiện tượng giới.

Nếu một hành giả có khả năng ghi nhận liên tục quán sát với sự tập trú như vậy thì hành giả có thể nhìn thấy bốn đại của mình, và trong bốn đại là những nguyên tắc về thể rắn, thể loãng, nhiệt lượng, và thể khí mà xáo trộn thì gây ra nhiều vấn đề của cuộc sống.

 Chúng tôi lấy một ví dụ, trong một gia đình hay trong một tổ chức đâu đó êm xuôi người trên nói người dưới nghe, người dưới cần người trên giúp đỡ, chị ngã em nâng rồi bít nón che tai với nhau rồi tạo thành một guồng máy thì mỗi thứ vận hành tốt, tuy nhiên có lúc nào đó có một thành viên hay một lý do nào đó người ta không vừa lòng nhau, người này nói người kia không nghe, giận hờn cãi cọ tạo nên những xáo trộn khủng hoảng, thì cơ thể của chúng ta cũng vậy.

Trong cái nhìn của hành giả tu tập cái gọi là bịnh. gọi là bất an của thân chúng ta là do sự xáo trộn của bốn đại, sự xáo trộn của bốn thể, địa giới, thủy giới, hoả giới, phong giới. Thì những cái này nếu chúng ta chịu khó nhìn một cách trung thực một cách liên tục bằng chánh niệm, do nhìn liên tục bằng chánh niệm mình thấy cuộc sống quả là một cái gì đó tồn tại. Lấy thân mình làm một thí dụ, sự tồn tại đó do tinh cha huyết mẹ mà thành, do vật thực nuôi dưỡng, tứ đại phải điểu hoà, nếu tứ đại bất hoà thì chúng ta không ngồi nói chuyện như chúng ta đang nói chuyện với nhau tại đây, nếu nhẹ thì có thể uống thuốc ăn cháo nằm đắp mền, nếu nặng thì có thể bị tai biến mạch máu não, nặng hơn nữa thì chúng ta bị mất mạng, mình thấy rằng quả thật cái thân chúng ta thường ái luyến, cái thân mình thường chấp nó mỏng mảnh, cái thân nó phù du đến nỗi nó vượt ngoài sự suy nghĩ của chúng ta, cái nhận thức đó nó chỉ đến khi nào mình có khả năng để nhìn liên tục.

Về vấn đề này chúng tôi chia sẻ một kinh nghiệm của Thiền Sư Ajahn Liêm, một người chúng tôi có dịp đi đầu đà chung trong 6 tháng. Vị này tu quán tứ đại, vị này nói với chúng tôi là từ công việc nhà nông mưa thuận gió hoà cho đến đời sống ở trong rừng lúc trời lạnh trời nóng trời mưa trời nắng đến cái thân lúc mạnh lúc yếu thì vị đó luôn luôn nhìn thấy tất cả đều là hiện tượng của địa đại, hoả đại, thủy đại, phong đại. 

Tại vì thấy như vậy?

Chúng tôi lấy một ví dụ như mỗi người học một môn học nào đó, thí dụ như một người học về vật lý, học về khoa học, một người học về văn, người học về triết học thì họ dựa trên cái nhìn đó để nhìn về thế giới này, cũng chiếc lá rụng đó trong cái nhìn của một nhà thơ và chiếc lá rụng đó trong cái nhìn của một nhà học về thực vật học, học về sinh vật học rất khác, cũng trong hiện tượng chiếc lá vàng đó đối với một thi sĩ thì khác và cũng hiện tượng lá vàng đó đối với nhà nông thì nó khác.

Thì đối với hành giả tu tập trước nhất hành giả hiểu rằng vật chất nó vốn có những nguyên tố và những nguyên tố này nếu nó vận hành nhịp nhàng đều hòa thì đời sống an lạc thân thể khỏe mạnh. Nhưng không may cho chúng ta là ở trong thế giới hiện tượng đó không ai làm chủ kể cả bản thân của chúng ta, khi mình nhìn lâu ngày thì hiểu rằng thiệt ra nó không thuộc về ai hết nó là một sự hỗn độn hỗn mang của một dòng chảy của thế giới, mặc dầu hàng ngày mình trau chuốt nói là thân của mình mình muốn nó làm gì cũng được.

 Ngài HT Hộ Giác có lần Ngài nói với chúng tôi: "Khi già rồi bịnh đến thân mình lạ lùng, tự nhiên buổi sáng mình rất khỏe ăn điểm tâm xong về phòng tự nhiên chân bị chuột rút hay chân đau, cái đau cái nhức nó đến với mình hồi nào mình hoàn toàn không tiên liệu được, nó trăm muôn ngàn thứ." Đó là lời nói của vị Lão Tăng, của vị HT lớn tuổi. Chúng ta còn nghe những lời khổ hơn nữa, đó là Đức Phật Ngài nói với Tôn Giả Ananda là "thân của Ngài giống như một chiếc xe cũ, chiếc xe lúc mới còn tốt thì hào nhoáng đẹp đẽ nhưng khi nó cũ rồi thì phải ràng phải buộc phải làm thế này thế kia để gìn giữ cho chiếc xe chạy được", vị nào có xe cũ thì biết mình bảo trì nó rất là mệt mỏi.

Từ những hiện tượng đó dễ dàng cho chúng ta thấy ba đặc tính và ba đặc tính Vô Thường, Khổ và Vô Ngã là cả một thuyết phục rất lớn giúp cho chúng ta rất nhiều:

- Đặc tính thứ nhất là tính bất định vô chừng. Cái bất định vô chừng đó Đạo Phật gọi là anicca là vô thường. Thật ra chữ vô thường nhiều người nghĩ là sự thay đổi, nhưng vô thường có nghĩa là cái gì đó vượt ngoài trù tính vượt ngoài định đặt của chúng ta mà nó vô chừng chúng ta không tính trước được, nó khi vầy khi khác nó bất chừng giống như bây giờ mình sống với người nào đó tính tình họ vô chừng khi vui khi buồn, vì tính vô chừng đó họ vui khi nào buồn khi nào mình không biết. 

- Đặc tính thứ hai là Khổ. Thì thân của chúng ta cũng vậy, cái thân của chúng ta lúc nó đau nó khỏe mình không biết được, nay như vầy mai lại khác dù già dù trẻ cũng vậy, dĩ nhiên là có những người bịnh nhiều hơn người khác nhưng căn bản nó có tính là vô chừng nên khổ. 

- Đặc tính thứ ba là Vô Ngã: Và khi nhìn vào những hiện tượng chúng ta cảm nhận điều Đức Phật nói nó là rỗng không, là bất toàn, là không có hoàn hảo. Cái rỗng không đó giống như một canh bạc có người tụ tập với nhau cùng đánh bạc thì có người chơi, có người làm cái, có người thua, có người thắng, khi tàn cuộc mọi người giải tán thì chẳng còn gì hết, một canh bạc đúng là tụ rồi tán. Thì thế giới này nó là rỗng không là bất toàn.

Khi tứ đại hợp thành thân của chúng ta mình thấy thân của mình đẹp như vầy, mỹ miều như vầy, tốt như vậy, mình thương nó như vậy, mình nghĩ về nó là như vậy, nhưng quả thật bởi vì nó là một kết cấu của nhiều thành tố, bởi vì nó là một cái gì đó thuộc về vật chất, nó là thể rắn hay thể loãng, hay nhiệt lượng, hay sự vận hành di động đi nữa thì những nguyên tố vật chất chỉ là nguyên tố thôi, nó không là gì hết. Mình bảo nó đẹp, nó vĩ đại, mình có tô hồng chuốc lục thì nó vẫn vậy bởi vì bản chất của nó chỉ là thế giới của hiện tượng. Do vậy nó bất toàn, do vậy là khổ, do vậy nó rỗng không.

Và chẳng những vậy, khi quan sát thân bốn đại này chúng ta nhận ra một điểm mình hoàn toàn không làm chủ tại vì nó luôn luôn tương tác, luôn luôn biến đổi, nó không thể nào ai làm chủ hoàn toàn được. 

Thật ra, khi học về tứ đại, về những nguyên tố của đời sống, về thế giới của hiện tượng trong cái nhìn khoa học rất trung thực, trong cái nhìn của Phật học cũng rất là trung thực thì mình hiểu rõ lý vô ngã, tại sao lý vô ngã? là vì chúng ta thấy trong thân của mình, mình ăn ngon mình lựa thức ăn thích hợp với mình, mình mặc quần áo cho đẹp cho ấm, mình rửa tay để vệ sinh v.v... thì đồng ý là nó cũng có tương đối, nó cũng có những khả năng hữu hạn nào đó và chúng ta có thể kiểm soát một phần trong đời sống. Nhưng cái đau cái bịnh cái chết của thân chúng ta hoàn toàn không làm chủ được nó. Chúng tôi làm trụ trì một ngôi chùa chúng tôi biết là ở trong chùa từ cơ sở chùa từ nóc chùa cho đến các phòng sở, cho đến điện gas nước, cho đến Phật tử, cho đến các sinh hoạt nó hiện hữu do nhiều nhân nhiều duyên, không thể nói mọi việc theo ý của mình được, không có vị trụ trì nào nói tôi làm trụ trì tôi điều khiển hết cả ngôi chùa. Hay vị nào trong một gia đình làm chủ điều khiển vợ, chồng và con cái, hay cái thân của chúng ta mình bảo rằng mình điều khiển được nó, không có. 

Người Trung Hoa có câu: "lục thập nhĩ thuận" tức là đến tuổi nào đó mình hiểu đời hiểu cuộc sống thì mình thuận theo tự nhiên hơn là chống chế đòi hỏi phải thế này phải thế kia tại vì chúng ta nhìn thấy nó vốn là tập hợp của nhiều thành tố và ý muốn của chúng ta cũng là một thành tố thôi nó không thể nào là tất cả.  

Khi hành giả hiểu được điều đó bằng kiến thức thì hành giả có thể đem vào chánh niệm. Chánh niệm khác với kiến thức là kiến thức của chúng ta hoặc là trí văn hoặc là trí tư, tức là nghe hoặc giả là suy tư. Nhưng trí tu để hiểu biết điều đó, trí tu mà thấy bốn đại là do chúng ta ở trên cái thấy trực tiếp ở trong chánh niệm, chúng ta trực tiếp ghi nhận và ở trong sự ghi nhận đó còn có sự liên tục nó liên tục như một dòng chảy, và bởi vì chúng ta sống thấy nó. Ngài Ajahn Liem nói với chúng tôi có thời gian Ngài niệm về tứ đại thì dù đi ngang một nơi cư trú ở trong rừng hoặc giả khi thấy thân mình thì thấy tất cả đều là do bốn hiện tượng là địa đại, phong đại, hỏa đại, thủy đại, những hiện tượng đó nó chợt đến chợt đi, chợt  ẩn chợt hiện, nhưng nếu mình nhìn liên tục thì nó là một phiên chợ, phiên chợ đó mình đi vào trong chợ thì nào là người bán nào là kẻ mua nào là tiền bạc kinh tế v.v... mình thấy nó ồn ào rộn ràng như vậy, rồi phiên chợ tan nó để lại cho chúng ta một bản tiết tấu và cái phiên chợ hồi sáng nó chỉ là một phiên chợ nó là của nhiều hiện tượng nhiều nguyên nhân nhiều lý do. 

Thì nếu có cái gì đó một hành giả được hưởng lợi nhiều nhất đó là do có cái nhìn một cái vô tư tức là nhìn không có thành kiến, một cái nhìn bền bỉ chúng ta gọi là có định, và cái nhìn trung thực là cái nhìn của chánh niệm, cái nhìn trung thực rất là quan trọng. 

Một người không tu Tứ Niệm Xứ thì nhìn mỗi thứ đều dựa trên cái nghe cái suy diễn như là chúng ta đang nói tại đây qua suy diễn.

Nhưng một khi hành giả tu tập Tứ Niệm Xứ rồi thì chỉ lẳng lặng nhìn thế giới này đến, thế giới này đi, thế giới này tụ, thế giới này tán, cái thịnh, cái suy, cái khỏe, cái mạnh, cái đau, cái bịnh, mình nhìn một cách trung thực.

- Cái nhìn rất trung thực nó như thế nào mình ghi nhận như vậy, đó gọi là niệm. 

- Cái nhìn rất bền bỉ nhìn có tập trung bền bỉ thí dụ như y cứ trên bốn đại mình nhìn thì cái nhìn bền bỉ đó gọi là định.

Tiếp tục nhìn và khi có định và niệm như vậy thì hành giả phải có cái nhìn khác hơn bình thường tại vì chúng ta thấy nó là như vậy.

 Chúng tôi nhớ một trong những yếu tố các vị Thiền Sư thường dạy đó là một người tu tập là phải thấy được những lúc khó khăn, những lúc đau yếu, những lúc buồn nản, đó là một cơ hội. Ví dụ như khi đau bịnh thay vì mình  kêu la rên rỉ gọi người này gọi người kia mình mong có người đến chăm sóc đến an ủi. Nhưng một người đau nếu người đó có cái nhìn trên phương diện tứ đại thì thấy đúng là tứ đại bất hòa. Thí dụ, cơ thể mình hôm nay tự nhiên nóng hơn nhiều, thân nhiệt không bình thường, cơ thể hôm nay tự nhiên mình bị tiêu chảy chất loãng ra nhiều, hay là bớt nước nhiều, cơ thể chúng ta hôm nay mềm nhũn giống như cái mền nhúng nước, thì rõ ràng tứ đại không bình thường và mình dùng cơ hội đó thì mình có nhiều cơ hội để nuôi dưỡng chánh niệm.

Trong một cách nhìn các vị Thiền Sư thường dạy chúng ta là Yoniso ca manasikàram  yonisomanasikāra là khéo tác ý hay như lý tác ý tức là nếu một vị có kiến thức và có bản lãnh của Tứ Niệm Xứ thì những điều này tạo thành những cái gì nổi bậc rõ nét trong đời sống, thì dù nó là vui, nó là khổ, thích hay không thích, dù thuận hay nghịch, nó lại là một mấu chốt để chúng ta nắm bắt lấy thực tại. Tại sao nó lại là mấu chốt? Tại vì cho chúng ta nắm bắt lấy thực tại, là tại vì đời sống hàng ngày chúng ta sống với sự suy tư miên man, sống với ảo giác, sống xa rời thực tại, sống với ý tưởng  "tôi là, ta là, tôi đẹp, tôi xấu, tôi hay, tôi giỏi, tôi dở, tôi vinh, tôi nhục" nhưng một khi hành giả đã sống ở trong chánh niệm rồi thì thấy rằng hiện tượng này sanh khởi, hiện tượng kia diệt.

Hôm nay chúng ta chỉ nói riêng về tứ đại tức là địa giới, hỏa giới, thủy giới, phong giới, thì khi nói về bốn đại này hành giả thấy được chính những xáo trộn là cơ hội để nắm bắt lấy thực tại là cơ hội để chúng ta ghi nhận  đó gọi là Yoniso ca manasikàram  yonisomanasikāra là khéo tác ý hay như lý tác ý nhưng quan trọng là phải nhìn thấy rất bền bỉ. 

Đúng ra thì không cần phải học về y học, hay giỏi về hệ sinh học để chúng ta hiểu thế nào là sự hoạt động của cơ thể, một vài sự quan sát mang tánh cách hơi vô tư thì chúng ta thấy bốn hiện tượng đất nước lửa gió là những nguyên tố của thân, và chẳng những vậy nó rất vô chừng, nó làm cho thế giới này không hoàn hảo, nó làm cho chúng ta thấy có rất ít khả năng để kiểm soát một cách chủ quan và từ đó chúng ta nhìn sự vật một cách nhẹ nhàng hơn.

Không có một vị hành giả nào lợi lạc cho bằng là một ngày nào đó chúng ta trở về với cái gì rất là tự nhiên, ở trong đạo Phật gọi là tự tánh,  tánh riêng của mọi sự vật, cái gì vô thường mình nhận nó là vô thường, cái gì bất toàn mình nhận nó bất toàn, cái gì vô ngã mình nhận nó là vô ngã, cái gì thuộc về thân biết là thân, cái gì thuộc về tâm biết là tâm, cái gì sanh biết là sanh, cái gì diệt biết là diệt, đó là sự trở về tự tánh của các pháp. 

Khi chúng ta có thể nhìn thấy những điều đó như một dòng chảy, như một phiên chợ, như là một đám mây phù vân có tụ có tán, có đến có đi, lâu ngày thì hành giả chỉ đóng một vài trò của một người quan sát và quan sát bền bỉ, quan sát được liên tục với định và niệm, chứ hành giả không vốn có ý định phải phê phán cái này đòi hỏi cái kia, phải đặt vấn đề như thế nọ.

 Cái khổ của chúng ta là vấn đề gì chúng ta cũng có ý kiến "tôi thích" hay "tôi không thích". Khi mình đã quan sát, điều thứ nhất là nó không có chuyện gì thích hay không thích, giống như đối với nhiệt lượng trong thân thể hay đối với nước trong cơ thể, hay 32 thể trược lông móng răng da chúng ta biết tất cả những thứ đó không nằm yên một chỗ, ngay cả răng cứng nhất thì nó cũng có tốt cũng có lúc hư, tóc thì có lúc nó ngắn lúc dài, có lúc nó bạc, rồi da chúng ta cũng thay đổi liên tục, màu da bên ngoài nó đẹp đẽ thực ra nó chỉ là cái gì đó mà chúng ta chưa nhìn kỹ nhìn rõ thôi.

Khi hành giả đứng ở một vị thế của một người sống bằng chánh niệm, nuôi dưỡng chánh niệm và dựa trên cái nhìn về tứ đại thì lúc đó chúng ta sẽ hiểu ngay ra một lý lẽ là để thân thể mình được bình an khỏe mạnh thì tứ đại phải điều hòa, còn chuyện tứ đại bất hòa sanh ra bịnh thì chuyện rất thường chuyện đó mình không kiểm soát được, và khi nó sanh ra bịnh rồi thì không phải lúc đó mình than mình trách, uống thuốc thì cứ uống thuốc nhưng mình phải chấp nhận đó là một thế giới của hiện tượng. Và cũng dựa trên bốn đại này hành giả sẽ có được một tư thế là lẳng lặng quan sát nhiều hơn có ý kiến, hơn là đòi hỏi hay bực bội, hay là có một đề quyết là nó phải thế này nó phải thế kia, cái nhìn đó là cái nhìn rất là đặc biệt của hành giả tu tập Tứ Niệm Xứ.

Trở lại một lần nữa, Đức Phật Ngài dạy ở trong bài kinh hôm nay Ngài luôn luôn nhắc lại đó là : 

- "Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân"; là mình lấy thân của mình để quán, 

- "Quán thân trên ngoại thân"; tức là mình thấy thân của mình thân người khác cũng là một thể, mình ngồi ở bên giường người bịnh, thân người bịnh như vậy thì mình biết thân của họ cũng là thân tứ đại, thân của mình cũng là thân tứ đại, tuy đó là ngoại thân đây là nội thân nhưng nó cũng đồng thể. nó cũng nhất thể. cũng giống nhau thôi.

- "Sống quán thân trên nội và ngoại thân", cả hai, mình lấy cái này so sánh cái kia, lấy cái kia so sánh cái này, mình bây giờ già thì người kia cũng sẽ già, hay người kia bịnh rồi mình cũng sẽ bịnh giống như vậy, tức là sống quán thân nội và ngoại thân.

- "Vị ấy quán tánh sanh khởi  trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân". Những hiện tượng từ có trở thành không, không trở thành có, cái không trở thành có gọi là sanh, cái có trở thành không gọi là diệt, thì hiện tượng sanh diệt là đến đi chợt ẩn chợt hiện, cái có trở thành không cái không trở thành có thấy rất là rõ, thật ra thì hiện tượng của tứ đại rất là dễ nhận ra.

-   "'Có thân đây', vị ấy an trú chánh niệm như vậy với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm". Cái thân này không phải là để chán để bực bội, cái thân này không phải để lên án, cái thân này dùng làm phương tiện để làm quán chiếu, để đạt đến chánh trí và chánh niệm. Chánh trí ở đây tức là biết được sự thật, chánh niệm là khả năng tỉnh táo. Thân của chúng ta thường làm đầy đọa mình, cái thân làm phiền mình, nhưng bây giờ với hành giả có một thái độ tích cực nghĩa là có thân ở đây thay vì mình giận mình phiền khi nó đau mình khổ, một hành giả có tu tập rồi thì thân này phải dùng thế nào mà nó vẫn là phương tiện tốt, có thân này đây đễ sống với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm 

-  "Vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời", là vị này sống không có định kiến hay thành kiến, không cố chấp. Không sống nương tựa không chấp trước vật gì ở đời là không đòi hỏi nó phải thế này bảo đừng như thế kia mà chỉ ngồi nhìn thôi có sao biết nó như vậy, đó là có chánh niệm.

-  "Này các Tỷ kheo, như vậy vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân".

Một lần nữa, về bốn pháp quán tưởng, chúng ta gọi là quán tưởng tứ đại này nó cũng đòi hỏi một chút kiến thức nhưng dù sao đi nữa thì nó đỡ hơn phần quán 32 thành phần của thân thể. 

Về cách quán tóc, lông, móng, răng, da chúng ta cần trang bị cho mình một số kiến thức do các vị Thiền Sư hướng dẫn hay trong sách vở hướng dẫn.

 Về quán tứ đại này thì có thể qua một hai bài giảng của vị Thiền Sư có kinh nghiệm việc này chia sẻ thì chúng ta có thể dùng bốn nguyên tố này để như một hướng dẫn cụ thể chúng ta nhìn vào thân nhìn vào vật chất và đặc biệt vào thân chính mình thì qua đó nuôi dưỡng được chánh niệm. Đối với Đức Phật đề tài này về bốn đại hay về những thành phần của thân thể hay về tiểu oai nghi, đại oai nghi, hơi thở thì tất cả đều là những phương cách để hành giả duy trì được chánh niệm, cái khéo của một người tu tập chánh niệm tại đây là làm thế nào đó để có thể nhìn sự vật qua cái nhìn của bốn nguyên tố của vật chất và làm sao cho cái nhìn đó nó bền bỉ liên tục, cái nhìn bền bỉ chúng ta gọi là định và cái nhìn trung thực gọi là niệm, Tứ Niệm Xứ đòi hỏi hai niệm và định, nếu chúng ta chỉ nhìn một lần thấy nó như vậy rồi bỏ không nhìn nữa thì chúng ta có niệm mà thiếu định cái định nó không bền bỉ thì tuệ không sanh, niệm chỉ đóng vai trò ghi nhận thôi nhưng mà cái định là tố chất bền bỉ .

Nói tóm tắt: tứ đại trong cái nhìn thường thức đất nước lửa gió khác tứ đại trong cái nhìn của bản thể pháp như trong Vi Diệu Pháp lại khác và tứ đại trong cái nhìn của Thiền Quán ở đây nó lại có hàm nghĩa khác chúng ta nên phân biệt rõ điều này và đây cũng là phương cách giúp chúng ta tiếp xúc với thực tại, nắm bắt thực tại, ghi nhận thực tại, và sống với thực tại, và sống với thực tại đó nó lợi cho chúng ta rất nhiều để thấy rõ ba hiện tướng là Vô Thường, Khổ, và Vô Ngã./.