Wednesday, August 7, 2013

Biết là biết như thế nào?

Hỏi: Biết là biết như thế nào?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, ngày 24-7-2013 Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng giảng: Có lẽ chúng ta thường nghe câu nói "họa hổ họa bì năn hoạ cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm"  nghĩa là vẽ cọp người ta chỉ vẽ da chứ không vẽ được xương và khi chúng ta biết người thì thường chúng ta biết mặt biết ngoại hình chứ chúng ta không biết được lòng người.

 Nói một cách cụ thể, nếu chúng ta chỉ biết ngoại hình biết mặt mũi mà không biết bên trong, có nghĩa trong nhiều trường hợp chúng ta chỉ biết bằng mặt không biết bằng tâm. Hai điều đó có sự khác biệt có ý nghĩa rất là quan trọng. 

 Bây giờ, chúng ta đưa ra một vài ví dụ, trong Phật Pháp dạy rằng cũng là cái biết nhưng cái biết của ngoại giới không quan trọng như cái biết của nội giới, cái biết chuyện của người không quan trọng bằng cái biết chuyện của mình, cái biết chuyện ở xa không bằng cái biết chuyện ở gần.

  Ở đây, không phải là bài học luân lý mà nó đơn giản, rất thiết thực với một người tu tập. Lấy một ví dụ, chúng ta có những cái biết về chuyện xa xôi như chuyện thời sự chảng hạn, nó dựa trên sự suy đoán, nhưng nếu chúng ta biết hơi thở ra hơi thở vào thì đó là cái biết trực nhận. 
  
  Cái biết trực nhận tuy rất đơn giản, mình ngồi xuống trong 5, 10 phút và mỗi thời khắc đi qua chúng ta biết rõ là mình đang thở ra mình đang thở vào thì cái biết rõ những gì đang xảy ra ở trên thân và tâm của chúng ta cái biết đó được gọi là cái biết của chánh niệm. Cái biết của chánh niệm giúp cho chúng ta bớt đi những ý tưởng miên man bớt đi những sự giao động và bớt đi thái độ chủ quan, mà chúng ta chỉ nhìn sự vật nó là sự vật mà thôi. 
  
  Phải nhận rằng, ở trong cuộc sống của chúng ta thường có điều chủ quan mình biết rất là nhiều. Lấy ví dụ, chúng ta thường tự hào mình sống tại Hoa Kỳ lâu ngày thì chúng ta biết về đất nước Hoa Kỳ, mình sống ở đây 20, 30 năm ai hỏi rằng bạn có biết về Hoa Kỳ không thì mình không nên nói là mình không biết nhưng mà hỏi biết đến mức độ nào thì đó là câu chuyện khác nữa. 
  
  Khi chúng ta nói, mình lớn lên trong nền văn hóa Việt Nam, chúng ta biết về ngôn ngữ, chúng ta biết về Việt Nam, nhưng chưa chắn hẳn là cái biết của chúng ta nó đi đến đâu, nó cho chúng ta biết một phần.
  
   Và hình ảnh trong kinh đề cập đến chúng ta thường thấy, đó là cuộc sống của chúng ta, chúng ta biết về sự vật giống như người mù sờ voi, có những người họ rờ chân voi thì nói con voi giống cây cột, người rờ đuôi voi thì nói con voi giống cây chổi, có người rờ lỗ tai voi thì nói con voi giống cái quạt, không phải là người ta không biết rõ nhưng cái biết đó có tánh cách phiến diện. Bởi vì tánh cách phiến diện nên chi nó dẫn chúng ta đến sự suy diễn và thường thường những sự suy diễn dựa trên sự tưởng tượng nhiều hơn. Đây là một điểm hết sức tế nhị giữa một người tu tập chánh niệm và người không tu tập chánh niệm. 
   
   Người tu tập chánh niệm thì dừng lại ở một mức độ nào đó không suy diễn thêm, có nhiều khi chúng ta quên đi lời dạy của Đức Phật Ngài,là với một người thực hành chánh niệm thì khi thấy chỉ biết là thấy, khi nghe chỉ biết là nghe, khi ngửi biết là ngửi, và dừng ở tại đó không đi xa hơn, không tô hồng chuốt lục, không vẽ rắn thêm chân, mà chỉ biết ở cái biết rất là trực tiếp và cái biết đó là đủ rõ đủ chính xác và như vậy chúng ta không rơi vào sự nhầm lẫn. Điều này là một điều rất là khó khăn.
   
    Đôi khi, nếu chúng ta học trong kinh điển như là trong duyên hệ có những trường hợp một người giờ phút sắp lâm chung họ có nhiều điều để nghĩ đến cuộc sống và tất cả cái nghĩ đó nghĩ rằng mình đã từng trải mình đã biết và mình có thể nghĩ sự việc nó là như vậy, tài sản là như vậy, con cái là như vậy, tương lai là như vậy, nhưng mà thật ra những suy diễn đó làm cho chúng ta bối rối.
Trong rất nhiều trường hợp chúng ta biết được là mình đang thở ra hay đang thở vào, cái biết đó là cái biết của thực tại mình có thể có những cảm thọ ở trên thân  như là khổ là lạc, ở trong tâm mình có những cảm thọ như là ưu hỉ và xả. Khi chúng ta biết rõ như vậy thì tâm của chúng ta không bối rối lúng túng tại vì chúng ta biết rõ thật tình thì những cái biết chân xác tức là những cái biết đơn giản nhưng chính xác như vậy nó giúp cho chúng ta xóa đi tâm hoài nghi. 
Và khi xoá đi tâm hoài nghi thì chúng ta đưa tâm tư của chúng ta khỏi những cảnh giới mà những cảnh giới đó là lo âu do sự suy diễn mà ra. Lấy một ví dụ, là chúng ta thường miên man về tương lai của mình, mình nghĩ rằng mình biết cái chuyện xảy ra, mình suy diễn là ba năm nữa năm năm nữa mình sẽ ra sao mình sống như thế nào,  tiền hưu trí mình ra sao, rồi con cái lớn lên như thế nào. Nhưng kỳ thật, đó chỉ là sự suy diễn và ở đằng sau sự suy diễn đó là một cái sự bất an nếu như chúng ta không có thấy rõ thấy chính xác về sự việc mà nó chỉ là do sự phỏng đóan của chúng ta, nó có rất nhiều chuyện xảy ra. 
Chúng tôi lấy một ví dụ, khi chúng ta nhìn chiếc máy bay Asiana airlines của Đại Hàn đáp xuống phi trường San Francisco, chúng ta thấy rằng có những sự kiện xảy ra mà hành khách đi trên chuyến bay khó mà suy nghĩ, máy bay Boeing 777 là máy bay tốt của hãng Asiana Airlines tương đối được ghi nhận quá trình tốt về các chuyến bay nhưng khi đáp xuống người phi công đáp thấp quá làm đuôi máy bay đập vào bờ tường bị gãy phần đuôi, sự việc xảy ra, có những người ngồi phía cuối máy bay  bị bắn ra bên ngoài bởi lực chấn động mà họ lại sống sót, và rồi có một cô gái khi Hoa bị những chất liệu chữa lửa phun phủ lên những chiếc xe chữa lửa chạy cán lên cô và cô bị chết . Thì chúng ta thấy một điều là ở trong tai nạn, trong cái rủi cái may, cái sanh cái tử có nhiều điểm chúng ta không suy diễn được và nếu chúng ta cứ nghĩ rằng mình rồi sẽ ra sao, và mình sống  như thế nào, mình sống trên cõi đời này 50 năm, 20 năm mình như thế này như thế khác những điều đó chỉ dựa trên sự tưởng tượng của chúng ta mà thôi. 

Có một lần Đức Phật Ngài đang đi ở ngoài trời và Ngài thấy một ông Bà la môn vừa cất xong ngôi nhà mà ông đã bỏ ra số tiền rất lớn rất, xây rất kiên cố, và khi ông cất ngôi nhà xong ông cảm thấy rất mãn nguyện, rất vui, đi tới đi lui xung quanh căn nhà đó, ông nói rằng nhà cửa đã xây xong kèo cột thì kiên cố và mái được lợp một cách bảo đảm, mưa hãy mưa đi mưa đi. Ông nói rằng mưa hãy mưa đi mưa đi tức là căn nhà quá tốt thậm chí còn thách thức mưa cứ mưa đi để mình cảm thấy là mình sống trong một ngôi nhà an ổn như thế nào. Thì Đức Phật Ngài mới dạy Tôn giả Ananda rằng ông Bà la môn đó không biết rằng mình sẽ chết trong vòng 7 ngày. Cất một ngôn nhà mình nghĩ rằng rất là bảo đảm mà mình chỉ sống được 7 ngày và cái nghiệp lớn, vì nhiều lý do không phải căn nhà xây dựng chắc chắn thì bảo đảm cho sinh mạng của mình. Nhưng mà đó là cái nhìn của chúng ta rất chủ quan.

Bởi vậy khi chúng ta có những dự phỏng về tương lai nhiều quá đôi lúc mình phải nhận rằng đằng sau sự tính toán đó nó là một sự âu lo, đằng sau sự tính toán đó là một sự ngờ vực, chúng ta không bảo đảm 100%, không ai bảo đảm 100% là cái gì mình làm ra mình sẽ hưởng, "vật ở đời tay lại trao tay." Chúng tôi đến tham dự lễ khánh thành một ngôi chùa mà vị viện trưởng xây cất ngôi chùa rất đẹp, xây xong rồi thì một vài tháng sau vị đó ra đi để ngôi chùa cho những người học trò thừa kế, khi chúng tôi trở lại lần nữa để dự lễ chung thất thì chúng tôi mới thấy rõ rằng "vật ở đời tay lại trao tay", khi mình xây cất thì mình không nghĩ gì hết, mình đi bỏ lại nhiều cái như vậy.

Nên cái biết về cuộc sống phải nhận là tuy mình nói mình biết dù sao đi nữa thì mình cũng nên khiêm tốn là mình chỉ biết có chừng mực nào đó. Riêng đối với Đức Phật Ngài dạy rằng: 

Chúng ta nên biết về chính mình hơn là biết chuyện của người khác. Nói một cách khác là chuyện của mình mình biết rõ thì tốt hơn chuyện của thiên hạ, chuyện ở bên trong biết rõ tốt hơn chuyện ở bên ngoài,chuyện đang xảy ra ở hiện tại tốt hơn chuyện của tương lai chuyện của quá khứ. Khi chúng ta ý thức như vậy thì trong bài học này Ngài Na Tiên đề cập đến khi một người nói biết về muối là biết như thế nào, mình biết màu sắc của muối, mình biết vị của muối, trọng lượng của muối, cái biết nó có một cái đo lường riêng một cách phân lượng riêng chứ không phải cái biết nào cũng là giống nhau./.                

Tuesday, August 6, 2013

Có nên cúng dường tàn thực không?

Hỏi: Nhiều khi Phật tử họ đến chùa, mang trái cây hay mang thực phẩm để cúng vong, Chư Tăng thường nói rằng thực phẩm đó Chư Tăng không thọ dụng. Xin  hoan hỷ giải thích cho Phật tử biết là theo luật, và cũng như theo tinh thần chung, tại sao có những thứ tàn thực, tức là thực phẩm dư thừa mà có thể cúng dường được, và trong trường hợp nào không nên cúng dường. Bởi vì chúng ta cũng nghe những câu chuyện là có những người họ đến chùa, họ không dám nêm nếm thức ăn,  họ sợ ăn trước Chư Tăng bị tội, và đồng thời cũng có những người họ hay mang đồ cũ đến chùa, cái nào đồ dư đồ thừa họ đem đến chùa cúng dường. Đây là một điểm chẳng những liên quan đến giới luật mà còn liên qua đến tinh thần nhân quả, liên quan đến luật cư sĩ. Xin  làm sáng tỏ cho điễm này.

(Thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu trả lời:  Ở đây, như chúng ta đã biết rằng vấn đề tàn thực có nên cúng dường, hay không nên cúng dường, chúng ta có hai sự kiện: là trên phương diện khách quan và trên phương diện chủ quan.

Nếu trên phương diện chủ quan, có nghiã người thí chủ họ cố tình đem tàn thực để cúng dường, cố tình dùng thực phẩm đã dùng trước, còn dư lại mới đem cúng dường, điều đó không nên, là bởi vì nếu họ làm như vậy đã tạo một điều phi công đức, nếu như họ có sự khinh thường đối với đối tượng xuất gia, đối với Ðức Phật hay là các vị Tỳ kheo Tăng.

Trường hợp thứ hai, dù cũng gọi là tàn thực, nhưng trong trường hợp đó thí chủ không có sự cố ý dùng trước để dành phần tàn thực cúng dường cho Chư Tăng, mà vì họ đã lỡ dùng một phần trước đó, rồi họ mới gặp được Ðức Phật hay gặp được Chư Tăng, họ mới nhịn miệng để lấy phần còn lại mà cúng dường đến Ðức Phật và Chư Tăng, nếu trường hợp họ không còn vật thực nữa.  Lúc bấy giờ tàn thực này được xem như là vật thí hợp pháp, bởi vì tàn thực phát sanh sau tư tưởng, sau sự cố ý hướng đến sự bố thí.

Trong một trường hợp khác, đó là trường hợp như Tôn Giả Racdhabala, Khi Ngài trở về quê nhà để thăm cha mẹ, lúc bấy giờ Ngài đi gần đến nhà, Ngài cũng ôm bát đi khuất thực, một người tớ gái ở trong gia đình quyến thuộc của Ngài, mang một thứ cháo đã thiu tính đem đi bỏ, lúc bấy giờ Ngài Racdhabala đang đi khuất thực, và Ngài cũng muốn nhân dịp này tạo cơ hội thân báu nhân khi Ngài trở về nhà. Ngài đã hỏi rằng: "Này chị, nếu như cháo mà chị đang bưng trên tay, cháo đó cần phải đổ bỏ, xin hãy đổ vào trong bát ".  Lúc bấy giờ người tớ gái liền đem tô cháo nguội đó sớt qua bát cho Tôn Giả  Racdhabala . Trong trường hợp này chúng ta cũng biết là không phải người tớ gái của gia đình Ngài Racdhabala, cố tình đem loại tàn thực đó để mà sớt bát bố thí cho Ngài Rachdhabala với sự khinh bỉ, mà tại do Ngài gợi ý như vậy, yêu cầu như vậy cho nên nàng làm theo lời yêu cầu đó.  Trong trường hợp này chúng ta thấy hoàn toàn không lỗi lầm gì cho người tớ gái khi họ cúng dường tàn thực.

Như trường hợp trong duyên sự khi ông Bà la Môn đó biết rằng mình còn thứ tàn thực, ông ta mới đi đến bạch hỏi Ðức Phật về việc nếu như tàn thực này Ngài có nhận được không?, thi` lúc bấy giờ Ðức Thế Tôn Ngài đã gợi ý rằng đời sống của vị Sa Môn, của một vị Tỳ kheo đi khuất thực thì vật thực nào cũng là vật thực, dù đó là tàn thực cũng có thể thọ dụng được, Ðức Thế Tôn đã gợi ý như vậy cho nên hai ông bà hết sức là hoan hỷ, phát lòng tịnh tín và đem vật thực đó đến cúng dường Ðức Phật, trong trường hợp đó cả hai ông bà đều không có lỗi lầm, bởi vì hai ông bà đã lên tiếng trước, đã hỏi trước, và được sự chấp của Ðức Phật,  mới đến cúng dường cho Ðức Phật.

Khi một người bố thí cúng dường nếu như họ biết đó là tàn thực, và họ cố tình ăn trước để làm những thực phẩm đó trở thành tàn thực rồi mới đem bố thí sau, đối với sự kiện này không nên cúng dường, bởi vì làm như vậy họ sẽ mang hậu quả xấu về sau này khi họ được phát sanh lên quả vật thực phát sanh  chỉ là đồ vật thực cơm thừa canh cặn mà thôi.

Còn ở đây, nếu như gọi là tàn thực, nhưng thực sự người này hoàn toàn không có sự cố ý mà chỉ vì đang lỡ dịp, và trông thấy một vị Tỳ kheo người đó phát tâm hoan hỷ cúng dường phần còn lại nếu như họ không có một thức ăn nào khác nữa, trong trường hợp đó vẫn là có phước./.

Monday, August 5, 2013

Pháp quán tưởng đoàn thực

Hỏi: Pháp quán tưởng đoàn thực .

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Đoàn thực ở đây chỉ cho những thức ăn hàng ngày trong đời sống của chúng ta giống như cơm canh cháo hủ tíu v.v... tất cả những gì mà chúng ta ăn để nuôi mạng thì chúng ta gọi là đoàn thực, thì đoàn thực đó nuôi dưỡng sự sống của thân. Và thưa qúi vị, ăn, thưởng thức ăn, đam mê ăn, sống không thể không ăn, đó là một phần lớn trong đời sống của chúng ta. Làm thế nào chúng ta thấy được sự chi phối của nó, thấy được sự dính mắc của nó. Không phải là dễ dàng. Từ cái ăn thì thay vì chúng ta thấy nó là một gánh nặng thì chúng ta thấy nó không là gánh nặng. Ngày xưa thời chúng tôi sống ở VN sau 1975 có một người đã từng nói một câu rằng "ở trong cuộc sống mà không phải chạy gạo từng bữa là một hạnh phúc lớn nhất trong cuộc đời" lúc đó gạo châu củi quế, lúc đó quả thật là miếng ăn là quan trọng nhất, có cái miệng và có bao tử khổ quá, người ta nắm bao tử là người ta nắm được vận mệnh của mình, người ta nắm bao tử là người ta dễ sai xử mình, và ăn giống như là chúng ta đổ xuống hố xâu vậy, đổ hoài nó không đầy, cả cuộc đời đi làm chỉ nghĩ đến ba bữa ăn cho mình cho những người thân trong gia đình, mệt mỏi quá, nhưng dầu vậy đôi khi chúng ta không thấy thèm ăn hay chúng ta ăn không ngon là có vấn đề, như vậy chúng ta không có thấy ăn là vấn đề mà chúng ta thấy ăn là một hưởng thụ và hơn thế nữa là chúng ta chắp chặc vào thế giới hưởng thụ đó, làm sao mà bữa ăn đó nếu chúng ta có tiền trình bày cho đẹp, mình nấu ăn mình phải để hành để ngò cho tô canh thấy đẹp, kho cá phải làm sao màu cho đẹp. Và thỉnh thoảng ở trong những bữa ăn chúng ta lại ghiền cái âm thanh, hồi nhỏ chúng tôi nhớ là một âm thanh từ thức ăn mà làm chúng tôi thích đó là âm thanh của mỗi lần bà ngoại chúng tôi nướng bánh tráng hay thân mẫu chúng tôi nướng bánh tráng, bánh phồng bánh tráng khi đưa lên lửa nó có âm thanh đặc biệt rất dễ thương, và thật sự nó cũng là thứ dính mắc. Mùi của thực phẩm thì khỏi nói. Vị của thực phẩm là điểm chính. Cái xúc chạm đôi lúc cũng là một vấn đề lớn. Chúng tôi lấy ví dụ là có những thức ăn chúng ta cảm nhận được cái mềm, cái cứng, cái dòn của thực phẩm, khi chúng ta cảm được cái mềm, cái cứng, cái dòn, cái dai của nó, tất cả những cái đó thuộc về cảnh xúc không thuộc về cảnh vị. Cảnh vị là, lạnh đắng cay chua ngọt v.v... và vì vậy Đức Phật Ngài dạy ở tại đây là, ai hiểu đoàn thực thì người đó hiểu năm dục trưởng dưỡng. Năm dục trưởng dưỡng gồm, sắc thinh khí vị xúc, cái gì mình thấy, cái gì mình nghe, cái gì mình ngửi, cái gì mình nếm, cái gì mình đụng, nói một cách khác là đối tượng của nhãn thức, thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, của xúc giác và bên cạnh đó nó chi phối lớn đời sống của chúng ta. Chúng ta cần có cái gì đẹp để thấy, có cái gì hay để nghe, có cái gì thơm để ngửi, có cái gì ngon để nếm, có cái gì êm ái để đụng chạm, và những thứ đó nó trở thành tạo nên một trạng thái mà chúng ta gọi là hưởng thụ cuộc sống, nhưng giữa cái hưởng thụ và cái giá phải trả cho sự hưởng thụ, cái khổ của sự có đó chúng ta không biết cân như thế nào.

Thì ở đây Đức Phật Ngài dạy cho chúng ta một thí dụ, thí dụ này xem ra là một thí dụ tương đối rất nghiêm khắc, chúng tôi nói rất nghiêm khắc tại vì nó không đơn giản, bây giờ chúng ta cứ thử tưởng tượng là Đức Phật Ngài dạy một người tu tập làm thế nào hàng ngày khi vào bữa ăn một vị tỳ kheo tâm niệm; ăn không phải để vui chơi, ăn không phải để tham đắm, ăn không phải để trang sức, ăn không phải để béo tốt, chúng ta có bao giờ vượt ra ngoài khỏi bốn ý niệm mà Đức Phật dạy, khó lắm, thấy như vậy nhưng không phải là dễ, dĩ nhiên là có những bữa ăn qua loa của chúng ta, nhưng để chúng ta tâm niệm như thế nào một bữa ăn hoàn toàn không có bốn ý niệm đó thật sự là khó, nó không có cái này thì cũng có cái kia. Không phải ăn để vui chơi, thí dụ bữa nay buồn quá kiếm cái gì ăn, gọi là ăn để vui chơi, ăn để đỡ buồn miệng. Rồi ăn để tham đắm, ăn cái gì đó cảm thấy rằng mình tận hưởng tận cùng cái hương vị của đời sống, có ăn để trang sức, ăn để làm cho đẹp da, ăn để cho đẹp mặt, ăn để béo tốt như bodybuilder như những người ăn sao cho cơ thể lớn mạnh.

Thì thật ra những tham đắm dính mắc đó muốn vượt qua không phải là dễ mà nó trở thành một nỗi ám ảnh ngự trị lớn trong lòng chúng ta và bấy giờ thì Đức Phật Ngài dùng một hình ảnh mà chúng tôi tạm gọi rất là nghiêm khắc về điểm này với chính mình. Ngài đưa hình ảnh hai vợ chồng có một đứa con băng qua một chốn hoang vu, và bây giờ để sống sót thì hoặc là chết cả ba, bây giờ giết con. Chúng tôi nghĩ rằng đôi khi câu chuyện đó chúng ta nuốt không nổi thì chúng ta nói như vầy; có những người ngày xưa đi ngựa lạc trong chỗ hoang vu bị đói mà họ nhờ vào con ngựa nhưng phải giết con ngựa để mà sống nếu không giết con ngựa thì không có gì ăn, con ngựa là phương tiện là người bạn đồng hành của mình mà mình phải giết nó. Còn hơn thế nữa, chúng tôi kể cho qúi vị nghe câu chuyện này không phải là một dụ ngôn mà là một câu chuyện thật 100%. Cách đây mấy năm chúng tôi lúc đó có lời mời của luật sư Trịnh Hội sang Philippines thăm viếng đồng bào VN còn kẹt ở Philippines, một câu chuyện chúng tôi nghe mà cho đến ngày hôm nay nghĩ đến chúng tôi vẫn còn cảm thấy đau lòng là, ở trong số người VN đi tị nạn sang Philippines thì có hai người không thể đi định cư được vì lý do họ bị bịnh tâm thần, không có một quốc gia nào trên thế giới chịu chấp nhận một người di dân vào nước họ mà mang bịnh tâm thần, thật ra những người tâm thần này không phải là những người bị bịnh tâm thần nặng, họ chỉ không còn lý tính bình thường của mình thôi. Người mà chúng tôi đang nói với qúi vị nghe đó là một người đi trên một chiếc tàu và sau 27 ngày lênh đênh trên biển thì tấp vào trong một hòn đảo san hô, đảo đó ngày nay gọi là Trường Sa, là đảo san hô nên khi tấp vào trong đó thì thuyền bị vỡ, người ta gom góp chút gì còn lại để lên đảo và ở trên đảo thì không có gì để ăn, rồi người ta làm gì? người ta uống nước thì bằng sương, buổi tối sương xuống thì họ lấy tất cả quần áo cũ để lên trên hứng sương rồi vắt những quần áo cũ để lấy nước uống cầm hơi qua ngày, nhưng không có thức ăn thì làm sao? thì người ta phải ăn xác chết, ăn xác chết chỉ là ở trên tàu có bao nhiêu người mà người nào vừa tắt thở gọi là chết thì họ xẻ thịt người đó để ăn, không có nấu nướng mà ăn sống, điều đó cũng có nghĩa là nếu mình ở trên tàu mà có một người thân của mình chết, người thân của mình chết mình đã cực kỳ đau khổ rồi ở trong cơn khủng hoảng tinh thần đó mà phải ăn chính thịt của người thân mình. Và thưa qúi vị có những đứa bé chịu không nổi nên chết, người ta đem làm thịt, không có chỗ nào kín đáo để làm nên đã làm ngay trước mặt mọi người, xẻ thịt ra rồi ăn thịt và cha mẹ của đứa bé cũng phải ăn thịt của đứa bé. Ở đây chúng tôi không nói là họ giết đứa bé mà hễ người chết thì họ làm thịt ăn. Sau nhiều ngày như vậy thì cuối cùng một chiếc tàu dầu của người Nhật đi ngang cứu họ, sau khi lên bờ thì năm người trong số những người đó đã bị bịnh tâm thần và ba người hồi phục còn hai người không hồi phục, họ mãi mãi sống trong cơn ác mộng, ác mộng của cuộc đời. Khi chúng ta nghe câu chuyện một người ở trong cảnh thập tử nhất sanh đi tìm sự sống đi tìm tự do mà họ phải tấp vào một hoang đảo không có gì ăn phải ăn thịt của con mình thì lúc đó chúng ta thấy nó không ngon lành gì hết, có ai trong chúng ta nghĩ chuyện cha mẹ thấy đứa con vừa chết của mình bây giờ bị người khác lấy dao xẻ thịt ra rồi chia cho ăn giống như là kên kên diều hâu, có bao giờ chúng ta nghĩ chuyện đó ngon không?

Đức Phật không phải là một người cực đoan nhưng Ngài đặt để một thí dụ tận cùng để cho chúng ta thấy rằng nếu chúng ta hiểu rõ thì cái mà chúng ta gọi là hưởng thụ nó là một chuyện sai lầm, tại vì sự hưởng thụ đó nói cho cùng nó chỉ là một chuyện bất đắc dĩ chẳng đặng đừng không còn cách nào khác. Về đời sống cũng vậy, thì khi nói về đoàn thực Đức Phật Ngài dạy rằng ai hiểu được đoàn thực thì người đó hiểu được năm dục trưởng dưỡng, năm dục trưởng dưỡng là: sắc, thinh, khí, vị, xúc. Thật ra ở trong chuyện ăn uống của chúng ta nó gói gém những thứ dục đó và do vậy về điểm này Đức Phật Ngài cho thấy rằng chúng ta không phải dễ dàng để ăn một bữa ăn nhất là mình đang đói ăn rất ngon mà mình có thể ngồi đó mà quán tưởng mình ăn như vầy không phải là để vui chơi, không phải là để tham đắm, không phải là để trang sức, không phải cho béo tốt, mình ăn là bởi vì bắt buộc phải ăn mà thôi, không ăn thì chết, không ăn thì khổ, không ăn thì bịnh, thành ra phải ăn mà thôi.

Sunday, August 4, 2013

Phải chăng tất cả nghiệp đều chắc chắn sanh quả?

Câu thảo luận: Phải chăng câu Phật ngôn kinh Pháp Cú sau đây: 

Ý dẫn đầu các pháp
Ý chủ tri`, tạo tác
Nếu ngôn từ, hành động
Với tâm y' nhiễm ác
Khổ theo tựa bánh xe
Ði sau dấu chân bo`
(Việt dịch TT Giác Ðẳng)

 khẳng định tất cả nghiệp đều chắc chắn sanh quả?

(Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu giảng: Chúng ta đọc trong mạch văn của bài kệ, chúng ta thấy rõ một điều "Nếu với ý ô nhiễm nói lên hay hành động, đau khổ sẽ theo sau, như bánh xe lăn theo dấu chân bò kéo".  


Ở đây trong bài kệ Ðức Phật Ngài thuyết là Ngài dựa trên duyên sự nhân chuyện của Tôn Giả  Cakkhupàla, một vị đã chứng quả ALaHán nhưng vẫn không thoát khỏi ác nghiệp trổ quả, nghiệp ở trong quá khứ mà Tôn Giả trong khi luân hồi sinh tử là một vị Thầy thuốc đã có ác tâm tạo thuốc nhỏ mắt để cho một người phụ nữ bị đau mắt vì người này đã có tâm lường gạt ông Thầy thuốc, để rồi sau khi nhỏ thuốc vào, con mắt người thiếu phụ này đã bị mù.  Vì việc đó mà Tôn Giả  Cakkhupàla ngay trong hiện tại đã bị quả, bị mù mắt mặc dù là bậc thánh nhân. 


Thì ở đây chúng tôi xin được nói lên điểm này để quí vị thấy là Ðức Phật Ngài thuyết giảng khế cơ, khế lý, Ngài phải tùy theo trường hợp mà Ngài giải thích ngay vấn đề đó, chứ không nói giông dài qua một khía cạnh khác, Ngài làm như vậy để cho người nghe dễ dàng lãnh nhận  để họ đi thẳng vào vấn đề, họ nhận hiểu ngay một vấn đề và có lẽ chính vì ly' do này trong những thời pháp thoại Ðức Thế Tôn thuyết giảng đều có hiệu năng để giúp cho người nghe thành tựu thánh quả từ Tu Ðà Hườn cho đến ALaHán.

 Còn như ngày nay chúng ta đã được nghe những vị Pháp Sư, những vị giảng Sư lên thuyết pháp, vì các vị theo thời gian một bài pháp cần phải có đầy đủ chi tiết cho nên một vấn đề mà các vị có thể mổ xẻ ra nhiều chi tiết và nhiều khía cạnh làm cho người nghe họ cảm thấy lúng túng, khi họ phải hiểu ở khía cạnh này, rồi họ lại phải hiểu ở khía cạnh khác, rồi lại phải hiểu ở khía cạnh khác nữa, làm như vậy chúng ta dường như có vẻ làm cho ý nghĩa của pháp ở đâu cũng trúng cả, nói vấn đề nào cũng đúng hết.  Nhưng thật ra phải nghiên cứu để học hỏi, thì chúng ta học hỏi được, nhưng nếu để nhất tâm suy quán và thấu triệt vấn đề để sanh khởi đạo quả, có lẽ với bài pháp giảng rộng như thế, nhiều khía cạnh như thế sẽ khó có thể làm cho thính chúng được giác ngộ, đó là vấn đề thứ nhất mà chúng tôi xin được nói ở đây.


Vấn đề thứ hai, nhân câu thảo luận này chúng tôi xin được trình bày vì bài kệ Ðức Phật Ngài thuyết dựa trên duyên sự, cho nên ở đây chúng ta không thể khẳng định rằng Ðức Phật đã thuyết như thế có nghĩa là tất cả nghiệp đều chắc chắn sanh quả dị thục. Tại sao chúng tôi nói như vậy? Bởi vì trong AbTỳ Ðàm bộ Abhidhammattha Sangaha khi đề cập đến chương nói về nghiệp, thì giải thích 12 loại nghiệp trong đó có 4 loại nghiệp là: hiện báo nghiệp, sanh báo nghiệp, hậu báo nghiệp và vô hiệu nghiệp. 

Vô hiệu nghiệp (ahosi kamma) tức là sự mất khả năng trổ quả của các nghiệp thiện hay là nghiệp ác, như thế có nghĩa là khi một tâm sanh khởi, mặc dầu chúng ta nói rằng trong tất cả lộ trình tâm diễn tiến đều có tâm động lực thiện hay là bất thiện.  Tâm động lực thiện hay bất thiện trong đó có cetanà và được phân định rằng tâm động lực thứ nhất cho quả hiện tại gọi là hiện báo nghiệp, động lực thứ bảy có khả năng cho quả đời thứ hai tiếp nối theo kiếp sống này gọi là sanh báo nghiệp và 5 đổng lực giữa có khả năng cho quả từ đời thứ ba trở đi gọi là hậu báo nghiệp(aparàpariyavedanìya).

 Nhưng khi nào tâm tạo hiện nghiệp động lực không có cơ hội trổ quả thì trong trường hợp này được gọi là vô hiệu nghiệp (ahosi kamma). 

Như vậy, chúng ta nên hiểu rằng không phải tất cả nghiệp đều chắc chắn sanh ra quả dị thục, nếu như tất cả những tư tưởng, những tâm đổng lực trong đời sống hàng ngày của chúng ta đều có thể tác thành quả dị thục  thì bởi vì tư tưởng của chúng ta, ngoại trừ ra trong lúc chúng ta ngủ bằng tâm hộ kiếp lúc đó tâm không tạo nghiệp thôi. 

Và trong đời sống bình nhật khi chúng ta thức dậy cho đến đêm trước khi chúng ta ngủ lúc nào tâm khách quan cũng sanh khởi, và tâm động lực liên tục một khảy móng ta tâm liên tục hàng triệu triệu sát na, trong hàng triệu triệu sát na đó nếu chúng ta chia ra lộ tâm thì ở đây có hàng trăm ngàn lộ tâm và mỗi một lộ tâm như vậy có bảy sát na động lực, nếu chiếu theo nghiệp mà bảy sát na động lực này tác thành nghiệp để cho quả đời hiện tại, quả đời tương lai, trong trường hợp này chúng ta hết sức là nguy hiểm, và chúng ta khó tìm thấy sự an vui, sự đau khổ sẽ dày vò chúng ta, giống như chúng ta ở trong một căn nhà đang cháy đỏ, không có một chỗ hở nào để cho gió hay là mát.

Vì vậy ở đây chúng ta nên hiểu rằng nghiệp chúng ta đã làm cũng có thể trổ quả, nhưng nếu nó gặp một quả dị thục, nó gặp một loại nghiệp khác đối lập mạnh hơn, có công xuất thù thắng hơn sẽ lấn lướt làm cho quả nghiệp của nghiệp này không thể trổ sanh được, hoặc giả là có những tâm tạo nghiệp như đổng lực thứ nhất, nhưng sau đời sống này cố gắng làm sao để vượt qua khỏi đời sống này, thì những tâm đổng lực đó vô hiệu nghiệp, gọi là vô hiệu quả, vô hiệu nghiệp và cũng vô hiệu quả.

Như vậy, trong đời sống hàng ngày của chúng ta mặc dù chúng ta khởi nên tâm thiện, tâm bất thiện đều có.  Nếu tâm bất thiện chúng ta khởi lên nhiều, chúng ta cũng đừng  sợ hãi, đừng sợ e rằng những tâm bất thiện đó nó sẽ trổ sanh ra quả, chúng ta yên trí nếu chúng ta biết rằng ác nghiệp hay bất thiện nghiệp, bất thiện tâm mà chúng ta đã sanh khởi nhiều trong một ngày thì lập tức chúng ta hãy sử dụng đến tâm thiện và chúng ta tạo nhiều nghiệp lành để cho tâm thiện sanh khởi liên tục nhiều hơn số lượng của tâm bất thiện sanh khởi trong ngày hôm đó thì chúng ta sẽ tránh được hậu quả do tâm bất thiện tạo ra,.

Thật ra, cho đến khi nào chúng ta chứng ALaHán quả đã viên tịch Niết bàn, gánh nặng đã đặc xuống sau đời sống này không còn đời sống khác, việc nên làm đã làm lúc đó chúng ta mới hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của vấn đề nghiệp qủa. 

Saturday, August 3, 2013

Những Pháp liên tục có thể coi là giáo lý Duyên Sinh không?

TT Giác Đẳng hỏi:Những pháp ảnh hưởng dây chuyền, do pháp này có nên pháp kia có, tương tự như Giáo Lý Duyên Khởi trong Thập Nhị Nhân Duyên. Câu hỏi là, pháp này ảnh hưởng pháp kia, do cái này có cái kia có, có thể gọi là Giáo Lý Duyên Sinh hay Duyên Khởi được không? Hay là khi nói đến Giáo Lý Duyên Khởi thì bắt buộc chúng ta phải giới hạn trong 12 nhân duyên, mở đầu là Vô Minh rồi cuối cùng là Lão Tử mà ở đây chúng ta chỉ nói là pháp này duyên pháp kia, chứ không nhất thiết là duyên sinh, tức chín pháp này có thể gọi là Duyên Sinh được không?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, ngày 7-6-2013 Thiên Ân chuyển biên)

TT Tuệ Siêu trả lời: Tất cả những hiện tưởng nhân quả tương quan hay là Y Tương Sinh, đều có thể được gọi là Giáo Lý Duyên Khởi. Nhưng, tùy trường hợp mà nói. Trong 12 nhân duyên, Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, đó là Duyên Sinh, theo khía cạnh là tạo ra sự luân hồi Samsāra, còn những Pháp khác mà Đức Thế Tôn thuyết do cái này có mặt nên cái kia có mặt thì cũng gọi là Duyên Sinh Paticcasamuppàda, nhưng để nói đến một hệ quả chẳng hạn như được gọi là Ái căn, do ái sinh ra cảm thọ, sanh ra chấp thủ v…v, do ái sinh ra sự tầm cầu, do tầm cầu sanh ra lợi đắc, do duyên lợi đắc sinh ra có sự phân biệt, do phân biệt có tham dục, do tham dục có dính mắc, do dính mắc có chấp giữ v…v.

Thì ở trong chín pháp cần đoạn trừ cũng theo một định lý về Duyên Sinh hay là Y Tương Sinh, nó chỉ khác nhau ở chỗ là một đằng thì đem đến hệ quả là tạo ra cuộc luân hồi, còn một đằng là Đức Phật Ngài thuyết những pháp duyên sinh này sẽ tạo ra hệ quả thực tại, như cuối cùng thì chúng sanh có sự đánh giết lẫn nhau, tàn hại lẫn nhau, cũng do nguồn gốc là ái, rồi lại thêm nữa, trong bài học hôm nay nói đến sự sai biệt của các pháp Nānattā, thì sự sai biệt của các pháp ở đây, Đức Phật Ngài nói rằng, sở dĩ có sự sai biệt đó, cái này có sự sai biệt bởi vì cái tập khởi sanh ra cái này cũng là sai biệt, mà sở dĩ cái tập khởi đó có sự sai biệt về tập khởi của cái pháp đó, cũng có sự sai biệt. Dần dần Đức Phật Ngài thuyết từ gốc đến ngọn, cuối cùng thì do Giới sai biệt Dhātunānattaṃ paṭicca. Thì ở đây,như vậy chúng ta vẫn gọi là Y Tương Sinh.

Còn nếu nói theo từ ngữ thì chúng ta cần phải giải thích như thế này: 12 nhân duyên được gọi là Paṭiccasamuppāda, ở trong chín pháp này cũng đề cập đến, ví dụ như Dhātunānattaṃ paṭicca, chữ Paṭicca nghĩa là y, là nương, là do. Paṭicca uppajjati phassanānattaṃ , tức do Giới sai biệt nên sanh ra Xúc sai biệt, chữ Paṭicca và động từ Upajjati vẫn được sử dụng ở đây, nhưng ở trong Thập Nhị Duyên Khởi cũng là Paṭiccasamuppāda , mà động từ Upaccati, do khi chúng ta nhìn thấy ở trong chi pháp Pali, uppajjati thì chúng ta liên tưởng đến Paṭiccasamuppāda của 12 nhân duyên, Thập Nhị Nhân Duyên, do vậy cho nên chúng ta mới kết luận rằng bất cứ pháp nào mà cái này có mặt mới sanh ra cái kia, do có cái kia sanh ra cái nọ, thì tất cả đều gọi là Y Tương Sinh, hoặc Duyên Sinh. Chữ Paṭicca đồng nghĩa với chữ paccayā, nhưng mà Duyên Sinh trong phạm trù này hay Duyên Sinh trong phạm trù khác, hệ quả này hay hệ quả kia thì chúng ta nói tùy trường hợp, một khi chúng ta gặp trong kinh điển thì chúng ta thấy Đức Phật Ngài thuyết rất nhiều trường hợp do Duyên Sinh tạo ra các pháp.

Friday, August 2, 2013

Xin chia sẽ cảm nhận cá nhân khi nghĩ về tịnh lạc Niết bàn

Hỏi:  Xin chia sẽ cảm nhận cá nhân khi nghĩ về tịnh lạc Niết bàn 

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 1-8-2013, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Có ba điều thích thú khi nghĩ đến làm chúng tôi liên tưởng đến Niết-bàn:

- Thứ nhất, tánh cách vô định hay vô chừng của đời sống. Đời sống thì ai cũng mong muốn phải như thế này phải như thế kia. Nhưng, cuộc sống vốn do nhiều nhân nhiều duyên, mình khó có thể biết rõ và biết hết cái gì đang xảy ra. Thí dụ, một chuyện gì mình làm tốt làm thành công thì không phải chỉ do một mình làm mà trong đó có công của những  khác nữa. Và khi mình nghĩ đến cuộc sống nhiều nhân nhiều duyên chúng tôi cảm thấy rất là cảm kích giáo lý Duyên Khởi Duyên Sinh cũng như Duyên Hệ và khi cảm nhận điều này thì chúng tôi nghĩ rằng tất cả những bước đi ở trong vòng luân hồi may ít mà rủi nhiều, nó đưa đẩy mình không biết được mình sẽ ra sao. Thật ra, giống như trường hợp mình đi vào trong rừng sâu mà mình không biết đường đi lối về và mình không biết gì hết thì mình chỉ muốn ra khỏi khu rừng đó thôi. Thật tình mà nói thì càng sống và càng cảm nhận được, lấy ví dụ đơn giản là thân của mình có muôn ngàn khả năng bị bịnh tật, mình không hiểu hết nó, khi thì đau răng, khi thì đau bụng, khi thì cảm, chưa kể bị tiểu đường bị ung thư v.v... thì mình thấy thân mình rất vô chừng mình không biết được. Tâm của mình thì nó cũng có trăm ngàn thứ bấp bênh hoặc vui hoặc buồn, chợt khổ đau, chợi an lạc. Nếu mình tính ra cho kỹ thì thì ngay cả những gì xảy ra trên thân và tâm của mình nó cũng mang tánh cách vô chừng, sự vô chừng hay sự bất định làm cho tâm của chúng ta dễ dàng nghĩ đến Niết-bàn. 

- Và một điều khác làm chúng tôi cảm thấy rất thích thú đó là, tâm không có kỳ vọng không mong mỏi. Chúng tôi quen biết với nhiều Chư Tăng và khi đi làm việc thì nhiều khi qúi vị có kỳ vọng là đặt chân đến nơi nào đó thì mong sẽ được cái này mong sẽ được cái kia và riêng với cá nhân chúng tôi thì khi đi sinh hoạt chỉ là điều tự nhiên thôi chứ chúng tôi không mong mỏi gì. Trong thời gian gần đây có một chương trình văn nghệ do một số ca sĩ dẫn đầu là cô Ngọc Đan Thanh thực hiện chương trình văn nghệ ủng hộ cho chùa Pháp Luân và lúc bấy giờ thì họ tìm những người bảo trợ chương trình văn nghệ và có một Phật tử nói với chúng tôi là sao tụi con quen với Sư khoảng chừng hơn 30 năm rồi mà con đi chùa này chùa kia cúng dường mà sao con thấy Sư gặp tụi con mà không kêu gọi, chúng tôi thật tình mà nói thì nghe người Phật tử này nói vậy chúng tôi trả lời rằng "làm việc Phật sự thì tùy theo sự pháp tâm", nhưng chúng tôi nói thì nói như vậy mà trong lòng chúng tôi nhớ đến câu chuyện của Đức Bồ Tát trong kinh Bổn Sanh dạy rằng: một người mà mong mỏi người khác, kỳ vọng người khác thì nếu sự kỳ vọng đó không được thì mình cũng không an lạc và người đó cũng không an lạc. Chúng tôi làm việc chùa thì chúng tôi nghĩ là qúi Phật tử nào phát tâm thì tốt không có thì thôi, nhưng nếu mình kỳ vọng mình mong mỏi người này thế này người kia thế kia thì vừa phiền cho họ và vừa phiền cho mình, thì mình cứ làm việc tùy duyên. Những giây phút đó chúng tôi cảm thấy an lạc thật sự tại vì mình không có mong muốn nhiều quá không có kỳ vọng nhiều quá và không có khao khát nó thì chúng tôi nghĩ đó là hạnh phúc, một thứ hạnh phúc tương tựa như hạnh phúc của Niết-bàn là hạnh phúc không có khao khát. Khi mình quá mong đợi quá khao khát chuyện gì nó làm cho chúng ta khổ. 

- Chúng tôi cũng có một suy tư khác làm cho chúng tôi nghĩ đến Niết-bàn đó là, ở trong cuộc đời của chúng tôi có được kinh nghiệm là mình sống ở trong một số cảnh hoàn mãn mà nó hoàn toàn khác nhau. Ví dụ như hồi chúng tôi còn nhỏ chúng tôi thấy những con sông những cánh đồng ở miền quê chúng tôi ở rất là đẹp, nhưng khi lớn lên được đi qua những rặng núi như Alpes của Âu Châu hay là rặng Rocky của Hoa kỳ thì thấy nó cũng đẹp, và thấy sở dĩ hồi nhỏ mình thấy miền quê sông núi mình đẹp nhất là bởi vì mình không biết gì về thế giới bên ngoài, và do mình không biết nên chi mình chỉ tha thiết với cái gì hạn hẹp mà thôi. 

Khi chúng tôi đang nói chuyện với qúi vị ở đây chúng tôi hoàn toàn tin rằng cái gì mà mình thật sự biết về thế giới tâm linh thật sự rất hạn hẹp so với cái mình không biết và trong thế giới đó nó có trăm muôn ngàn thứ mà mình không biết, do đó, thường thường người ta mô tả một cách nghèo nàn người ta đưa ra những ước vọng mà những  ước vọng thật ra bị hạn chế về nhiều phương diện. Nên khi chúng tôi nghĩ đến một điều Đức Phật Ngài dạy: "không phải chỉ có thủ đắc tài sản là hạnh phúc mà biết cho cũng là một điều hạnh phúc." Điều này nó lạ với nhiều người. Không phải chỉ có sự tự do phóng túng thì mới có sự thích thú mà ngay cả sự tự chế cũng có sự thích thú. Không phải chỉ có cõi người mới có tất cả những cái đẹp mà nếu so sánh với thiên cung ở cõi trời thì cõi trời không biết bao nhiêu là cái đẹp. Không phải chỉ có sự hưởng thụ các cảnh dục mới hạnh phúc  mà chính sự ly trần vô cấu cũng là hạnh phúc. Và Đức Phật Ngài cũng dạy không phải chỉ có đời sống bên ngoài là hạnh phúc mà đời sống xuất gia cũng có hạnh phúc. 

Khi mà nghĩ tới những cái vượt ngoài tầm hiểu biết của mình nó đối lập với những gì mình có và mình cũng phải tự khẳng định một điều rằng sự tha thiết của mình rất là nghèo nàn về nhiều phương diện, về những điều đó làm chúng tôi rất là thích thú./.  

Thursday, August 1, 2013

Tự biết bản thân của mình có khó không.?

Hỏi: Tự biết bản thân của mình có khó không. Và nếu không khó thì tại sao không khó và nếu tự biết bản thân mình là khó thì tại sao khó?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 7-6-2013. Thiên Ân chuyển biên, Minh Hạnh hiệu đính

ĐĐ Pháp Tín: Đối với một người biết được tâm mình thì điều này rất là khó. Tại sao nó khó? Dường như là chúng ta thường thường đưa ý bên ngoài, có nghĩa đối với sự tu tập mình ít khi nào mình để ý ở trong nội tâm. Những người cố gắng tu tập để gìn giữ chánh niệm thì do sự tu tập, huân tập lâu ngày của mình, mình có chánh niệm biết  được phiền não của mình. Thường thường chúng ta thường ưa nhìn ra bên ngoài. Ví dụ như mình gặp một hoàn cảnh nào đó mình cứ đổ thừa, tại người đó như vậy, tại môi trường như vậy, tại cha tại mẹ, tại anh em, bạn bè v.v. thì thật sự đó chính là mình không nhìn được tâm của mình, mình không ý thức được những phiền não trong tâm của mình, là do mình hướng ngoại nhiều quá. 

Trong kinh có đoạn Đức Phật Ngài dạy cho Ngài Rāhula là phải quán xét tâm mình như một người dùng gương soi rọi khuôn mặt mình. Thì cũng vậy, một vị tu sĩ, đời sống tu tập thường thường chúng ta phải nhìn nội tâm của mình, xem nội tâm mình có cấu uế hay không có cấu uế. Hoặc quý vị thấy rằng những vị tu tập, tâm mình có tham biết tâm có tham, tâm có sân biết tâm có sân.

Một vị hành giả tu tập về thiền, ví dụ như tâm vị ấy có tham vị ấy biết có tham, tâm vị ấy Đại Thiện biết tâm Đại Thiện, tâm vị ấy có Đại Hành biết tâm Đại Hành, thì trong những trường hợp này có những lúc mình phải vừa tu thiền Định vừa phải tu thiền Quán. Có nghĩa là nhiều khi quý vị thấy rằng có những người nhiều khi người ta tu, tâm Đại Hành biết tâm Đại Hành, có nghĩa là sao thưa quý vị. Có nghĩa là vị này trong tâm có Định, Định của Sơ Thiền Sắc Giới hoặc Định của Nhị Thiền, v…v. Thì gọi đó là Đại Hành. Vị đó tu biết được tâm mình có Đại Hành hay không có Đại Hành tức là có Định hay không có Định, thì mình có tu tập, có chứng đắc được rồi thì mình biết rằng tâm mình có Định. 

Những điều này mình nghe nói thì cảm thấy dễ, nhưng thật ra rất khó. Ngay cả một sự việc bình thường thôi, tâm của mình bình thường mà mình còn chưa biết nữa. Ví dụ như có những lúc mình trải qua một thời gian mình sân rất nhiều nhưng mình không biết. 

Điển hình, có một lần chúng tôi gặp một người, người mới vừa tập tễnh bước vào giáo Pháp, bước vào lời dạy Phật Giáo Nguyên Thủy, người này nói với chúng tôi rằng: tại sao người ta Bát Quan Trai Giới. Trong đó có giới là không ăn chiều, mỗi lần phát nguyện như vậy thì mới chiều chưa đến tối, mới chiều chiều thôi người này thèm món này, người ta thèm món kia, rồi đến tối người ta bị xót ruột, bị khó chịu, v…v. Cuối cùng không nhịn ăn được, rồi sau đó phải ăn mới chịu được, thì người đó khi họ gặp chúng tôi nói rất là lạ. Có những lúc người ta giận chồng, giận cha, giận mẹ, giận anh, giận em, giận người nào đó, người ta nhịn ăn hai ngày cũng được, không ăn hai ngày cũng được mà không thấy đói. Nhưng một lần nào đó mà họ thọ trì Bát Quan Trai Giới chỉ bỏ một bữa ăn chiều thì đói nhịn không được. 

Thì, trải qua một thời gian dài người đó nhìn lại mới thấy được do lúc đó mình sân hận quá, tâm mình sân hận quá đến nỗi mình không màng đến sự ăn uống, mình không màng đến điều gì hết. 

Thành ra, thường đối với sự phiền não hay tu tập của bản thân mình, thì mình ít nhận ra được, nhưng đối với người nào đó ở xung quanh mình thì thường thường mình nhìn lỗi của người đó rất dễ. Ví dụ như, bình thường chúng tôi thuyết mà nó trôi chảy, mình nói đúng thì không ai nói gì hết, giờ mình thấy room hình như yên lặng lắm, giống không ai nghe mình thuyết hết. Nhưng thử mình mà nói cái gì đó trật thì quý vị thấy rằng rất nhiều người phản đối, có những người người ta phản kháng rất lẹ. Thành ra quý vị thấy rằng những gì ở bên ngoài mình nhận định nó rất lẹ, mình nhận định rất nhanh, nhưng những gì ở trong tâm của mình thì mình nhìn rất chậm. Đây là thói quen, nhưng thói quen này là do chúng ta không chịu kiểm soát tâm của mình, như người ta hay nói rằng nhà mình mình không coi chừng nhưng mình lại đi coi chừng nhà của hàng xóm. Đây là bệnh nói chung của tất cả. 

Người mà Giác Ngộ từ từ thì họ sẽ bỏ bớt đi những đối tượng đó, Giác Ngộ ở đây không phải nói về bốn sự thật, nhưng mình nhận định ra được mình đó là trước giờ mình để ý xem người này có tu hay không tu, nhưng bây giờ vấn đề của mình là mình xem mình có tu hay mình tu vấn đề đó được chưa, hay mình chưa thực hiện được cách tu tập đó. 

Một người mà thật sự có sự tu tập thì quý vị thấy rằng họ sẽ nhận định ra thiện pháp này mình đã làm được chưa và mình đã làm viên mãn chưa, người đó thường có sự quán tâm của mình, gọi là người có sự tu tập.

Còn người mà chỉ nhìn ở bên ngoài, ví dụ như nhìn đối tượng bên ngoài như thế này, như thế kia, thì có lẽ chuyện đó mình bị sai rất nhiều. 

Đối với sự nhìn lại trong tâm của mình, mình biết được thói quen của mình hay phiền não của mình, v…v, thì điều này rất khó mà nhìn được. Vì sao vậy? Vì thói quen chúng ta thường bắt cảnh bên ngoài, nhìn đối tượng bên ngoài, là do sự huân tập. Nhưng ngày hôm nay khi mình gặp được Giáo Pháp này thì từ từ mình phải chỉnh sửa lại.

Câu Phật Ngôn Đức Phật nói rằng: “Dầu lợi người bao nhiêu chớ quên phần tự lợi”

Có nghĩa là phải chuyên tâm về sự lợi ích của mình, không có nghĩa là mình bỏ mặc tha nhân, nhưng những điều đó trước nhất là chúng ta phải tu tập cho bản thân mình trước. Cũng như quý vị thấy rằng, trong Phật Giáo, tự giác và giác tha, có nghĩa là khi chúng ta tu tập, chúng ta có sự hiểu biết rồi, thì tha nhân, “giác tha” là những người xung quanh của chúng ta, khi người ta cần thì mình có sự nhiệt tình, mình chia sẻ những sự hiểu biết đó lại, thì người đó gọi là có sự tự giác, giác tha ở trong cấp độ bình thường, ở trong đời sống bình thường. 

Vậy thì ở trong câu thảo luận này, theo ý của chúng tôi là đối với sự nhìn nhận trong tâm của mình là khó, còn nhìn vào tâm người khác, nhìn vào hành động, sai hay đúng của người khác thì thường dễ bắt gặp, dễ đánh giá những điều đó, nhưng ở trong tâm của mình là khó đánh giá. Vì sao vậy? Vì tâm của chúng ta luôn bị phóng túng ở bên ngoài, luôn luôn bắt cảnh ở bên ngoài. Do đó không có sự Chánh Niệm ở trong tâm. Do vậy rất khó nhìn thấy những phiền não hay thói quen ở trong tâm của mình.