Tuesday, April 8, 2014

Tại sao phiền não hay là lậu hoặc chúng ta đề cập tại đây là một mấu chốt rất quan trọng?

Hỏi: Tại sao phiền não hay là lậu hoặc chúng ta đề cập tại đây là một mấu chốt rất quan trọng?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 7-4-2014, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Nếu đọc kỹ kinh Phật thì chúng ta thấy rằng cuộc trầm luân này và cả  kiếp nhân sinh này và cả sự hiện hữu của chúng sanh trong cuộc đời đều là tác động bởi giòng luân chuyển mà chúng ta gọi là nghiệp quả và phiền não. Và phiền não hay là lậu hoặc chúng ta đề cập tại đây là một mấu chốt rất quan trọng. 

Nói theo ngôn ngữ của người đời là: một tác phẩm có nghệ thuật cao nó phải đến từ một nghệ nhân tay nghề rất là cao. Một nghệ nhân vụng về hay một người vụng về thì tạo ra tác phẩm thì tác phẩm đó phải là tác phẩm vụng về. Nếu chúng ta là một kết tinh mà nó sản sinh ra từ phiền não thì tự nhiên chúng ta phải chấp nhận cuộc sống là không hoàn hảo. 

Và khi chúng ta nói về điều này, đối với Phật Pháp là một chuyện rất lớn. Một trong những lý do làm cho đời sống chúng ta không có hoàn hảo đó là chúng ta không bao giờ thoả mãn và cái không bao giờ mãn nguyện thoả mãn một cách hoàn toàn, đạo Phật gọi là dukkha là sự trống rỗng, nó không có một ý nghĩa chân thật. Đời sống của chúng ta là đi tìm cái gì đó hoàn hảo nhất, chúng ta truy cầu điều đó. Nhưng mà rồi, tại vì tất cả nó đều là thành quả của phiền não.

 Chúng tôi nhớ có một lần ở chùa Từ Quang nghe pháp sư Thông Kham nói chuyện về một việc mà lúc đó chúng tôi còn nhỏ, chúng tôi nghe một cách thú vị nhưng khi  lớn lên càng nghĩ càng thấm thía. Pháp Sư nói rằng con người mình có 5 khối, đạo Phật gọi là 5 uẩn, thì mỗi uẩn là một gánh nặng, mỗi uẩn là một cái phiền lụy, rồi mình cộng thêm 5 uẩn nữa, rồi cộng thêm 5 uẩn nữa, thì cái phiền lụy mà cộng thêm nó sẽ tạo thêm phiền lụy thôi, nhưng có nhiều khi mình bị phiền não mình cộng thêm các phiền não khác mình nghĩ rằng mình sẽ có hạnh phúc, đó là giải pháp. Nhưng thật ra từ hệ lụy này mình cộng thêm  hệ lụy khác mà thôi. Đó là điều chúng tôi nghe Pháp Sư giảng ở chùa Từ Quang, lúc đó TT Tuệ Siêu và chúng tôi đang ở chùa Từ Quang để đi học. 

Chúng ta phải nghiền ngẫm lâu ngày thì chúng ta mới hiểu rằng: Tại sao sắc thọ tưởng hành thức, tại sao nhãn nhĩ tỉ thiệt thân, tại sao 12 xứ 18 giới của chúng ta nó từ một cách trực tiếp là sắc tâm tức sắc pháp do tâm tạo, hay là cách dị thục như quả của nghiệp quả dị thục mà tất cả những điều đó đều không có hoàn hảo và khi nó không hoàn hảo nó làm cho chúng ta thất vọng. Chúng tôi biết rằng mỗi chúng ta đều có mơ ướt là tìm cái gì chí thiện, cái gì mà toàn hảo, nhưng phải nói rằng trong suốt cuộc đời từ lúc chúng ta sanh ra cho đến lúc nhắm mắt thì chúng ta luôn luôn nhận thấy rằng có rất nhiều thứ,  và hầu hết ở trong đời sống mà có người họ nói 10 chuyện xảy ra mà 3 chuyện vui là may mắn lắm rồi, chứ thật ra 10 chuyện xảy ra thì hết 9 rưỡi là phiền. 

Tại vì sao vậy? Tại vì đời sống chúng ta là phiền não. Cái phiền não đó nó không phải đơn giản chỉ là sự lầm lỗi của con người. Mà là nó đã tạo ra con người, nó tạo ra chúng sanh, và nó tạo ra con người chúng ta. Thì một nghệ nhân hay người tạo ra một sản phẩm mà người đó vụng về thì họ không thể tạo ra một sản phẩm tốt được. Chúng ta đôi khi rất tự hào bản thân của mình, mình có hình sắc đẹp như vậy, mình thông minh tài trí như vậy v.v... nhưng nhìn lại trong kinh Phật thì chúng ta thấy là bản thân của chúng ta đây là thân, đây là tâm, đây là sở hành, đây là nguyện vọng, đây là mong mỏi, tất cả những điều đó nó đều vướng vào trong dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. 

Dục lậu là mình chạy theo cái gì mình thích, mình dính mắc với cái gì mình thích. 
Hữu lậu là mình muốn mình sẽ là như vậy mình sẽ là như thế kia.
 Vô minh lậu là hành động mà chúng ta không ý thức rõ cái đó như thế nào và chúng ta giống như người mù đi đêm. 

Và nếu chúng ta nghiệm thấy điều này thì dần dà chúng ta sẽ thấm thía là mỗi lần mình nói "không có cái gì trong đời này hoàn hảo hết" chúng ta không phải chỉ một lời là để chắc lưỡi hít hà hay là một câu an ủi mà khi chúng ta nói "không có gì hoàn hảo hết" thì mình hiểu rằng tất cả điều đó là sản phẩm của phiền não, nó vốn là sản phẩm của dục lậu, của hữu lậu, của vô minh lậu. Và bởi vì nó là sản phẩm của phiền não thành ra mình bảo nó hoàn hảo thì nó không bao giờ hoàn hảo được. Và nếu nó không hoàn hảo được thì chúng ta nên có một ý thức tỉnh táo rằng tại sao chúng ta đi tìm hoài mà không thoả mãn. Cho đến một ngày răng long tóc bạc nếu chúng ta sống thọ chúng ta không tìm thấy được một cái giá trị vĩnh hằng ở giữa cuộc đời nó giống như một người mà lột cây chuối lột củ hành hết lớp này đến lớp kia cuối cùng cũng không thấy cái lõi của nó.

 Kể ra thân phận của chúng ta rất đáng thương và nếu chúng ta nghiệm kỹ về điều này thì chúng ta sẽ  thấy rằng có một cái giá trị rất lớn ở trong cuộc sống đó là chấp nhận thực tại và chúng ta không bao giờ ngây thơ nói rằng nếu mà mình được cái đó mình được cái kia thì mình sẽ hoàn toàn thoả mãn. Tại vì ở trong cuộc sống không có chuyện hoàn toàn thoả mãn. Nếu mà thoả mãn hoàn toàn thì không là dukkha. Mình nghèo thì mình muốn giàu vì mình nghĩ rằng giàu thì hạnh phúc. Mình vô danh tiểu tốt mình thấy khổ mình nghĩ nếu mình có chức vụ thì mình hạnh phúc nhưng mà khi có chức vụ thì mình lại không có hạnh phúc. Mình ở chỗ này không hạnh phúc mình nghĩ mình đi chỗ kia thì hạnh phúc nhưng mà đi chỗ kia rồi mình cũng không hạnh phúc và thân 5 uẩn này mình lê lết đến đâu thì nó cũng mang theo cái hệ lụy của nó đến đó.

 Khi mà chúng ta hiểu cuộc trầm luân này là sản phẩm là một thành quả của phiền não thì rất nên đặt lại vấn đề là sự tha thiết của chúng ta nó có đáng hay không, và điều đó không có đơn giản ./.

Sunday, April 6, 2014

khi chúng ta phấn đấu với phiền não thì chúng ta phải có một vài chỗ đứng

Hỏi: khi chúng ta phấn đấu với phiền não thì chúng ta phải có một vài chỗ đứng

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, Minh Hạnh chuyển biên)

TTGiác Đẳng: Những người tu tập hay những người muốn thay đổi cuộc sống của mình, trước nhất chúng ta phải trọn một số điều để tự nhắc nhở lấy mình, và những điều này đối với chúng ta phải là những gì có ý nghĩa rất lớn, không phải chúng ta  nhắc mình như là những điều răn của thánh thần, mà chúng ta chỉ nhắc mình về những điều đến từ những lời dạy của Đức Phật, những điều này khi chúng ta đọc vào chúng ta cảm thấy thấm thía, cảm thấy có đủ sức mạnh để cho chúng ta vượt qua những phiền não.

Một người xuất gia có những pháp quán tưởng, quán tưởng về bốn món vật dụng: y phục, trú xứ, thực phẩm thuốc men. Khi đi xuất gia, cái ăn, cái mặc, thuốc uống, chỗ ở rất dễ trở thành những thứ làm cho mình sanh ra tâm phiền não. Bởi vì khi đã giảm bớt những nhu cầu khác, nó chỉ tập trung vào những nhu cầu hết sức tương đối thì những nhu cầu đó lại có sức quyến rủ rất đặc biệt.

Nói chung, đời sống khi dẫn đến sự tu tập, thường thường những nhu cầu về vật chất nằm ở trong bốn nhu yếu phẩm, bốn nhu yếu của một người tu đó là thực phẩm ,chỗ ở, thuốc men và y phục, những thứ đó làm cho người tu tập dễ dính mắc và để đối trị với những thứ này Đức Phật Ngài dạy cho một người xuất gia quán tưởng, quán tưởng trước khi dùng, quán tưởng khi đang dùng, quán tưởng sau khi dùng, và mỗi buổi sáng trước khi mặt trời mọc, các vị Tăng sĩ  đọc những bài về quán tưởng như một điều tâm niệm, bởi vì những điều tâm niệm này ví dụ như Đức Phật Ngài dạy một người xuất gia nên tâm niệm rằng mình ăn uống không phải để mập, để mạnh, để làm cho cơ thể được đẹp đẽ, ăn uống để trừ cái khổ của đói, ăn uống để nuôi mạng tu tập v.v... Sự nhắc nhở như vậy ban đầu nghe giống như thủ tục, giống như những điều răn. Nhưng với một người tu tập, những điều đó có ý nghĩa lớn, tại vì trả cho chúng ta trở về với ý thức chân thực về thái độ nào là thái độ nên có đối với những món vật dụng những nhu yếu của đời sống. 

Cuộc sống tu tập hay đời sống của người xuất gia, khi chúng ta phấn đấu với phiền não thì chúng ta phải có một vài chỗ đứng, và chỗ đứng này nhất định phải của mình chứ không thể của phiền não được. Như một người lính họ ra trận, tuy rằng xông pha ngoài trận mạc sống giữa làn tên mũi đạn, nhưng họ phải trở về hậu cứ, hậu cứ tức là nơi an toàn của họ, hậu cứ là nơi họ canh gác cẩn mật để họ có thể an toàn sống ở trong lãnh vực nào đó,  hậu cứ đó sẽ giúp cho quân đội dưỡng quân, phải giúp cho những người lính tìm thấy những giây phút không phải mặt đối mặt với kẻ thù và lúc nào cũng lo sợ. Thì như vậy, một người tu tập phải có cứ điểm nội tâm, và những cứ điểm nội tâm đó khiến cho chúng ta qua đó không có tranh luận hơn thua, không phải đôi co, không có bàn thảo mà nó là như vậy để chúng ta có sự ổn định.

Chúng tôi xin được nhắc ở đây lại giai thoại liên quan đến một vị thiền sư, liên quan đến một vị Tăng sĩ, vị Tăng sĩ đó là Achaan Sumedho, người đã thành lập ra Tăng đoàn Phật Giáo Tây Phương ở Anh Quốc và nhiều quốc gia khác, Ngài là một trong những khuôn mặt Phật Giáo lớn của thế kỷ này, Ngài là một người sanh ra ở tại Mỹ, và là người da trắng, lớn lên ở tại Mỹ, khi đi sang Á Châu xuất gia tu tập dưới sự hướng dẫn của Ngài Ajahn Chah, phải nói rằng: Một con người đến từ nền văn hoá khác, một con người sống từ một xã hội như Hoa kỳ mà chọn con đường tu tập xuất gia lại trọn con đường trở thành người Phật tử, một đứa con của Phật thì phải nói rằng đó là sự lựa chọn lớn.

Ngài thường an trú trong ba câu: Buddham saranam gacchami, Dhammam saranam gacchami, Sangham saranam gacchami là con về nương tựa với Phật, con xin quay về nương tựa với Pháp, con xin quay về nương tựa với Tăng.

Đối với một người Phật tử Việt Nam quan niệm: quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng là những quan niệm rất sơ đẳng. Vào chùa thì tam quy trước, rồi ngũ giới, rồi sau đó thiền định v.v..., mà tại sao với một vị xuất gia, một vị thiền sư có thể nói rằng một người có nhiều năm tu tập mà lại trở về với những quan niệm đó. Thật ra quan niệm của một người mà đã một lần người đó quì xuống và phát nguyện từ đây trở về sau cho đến trọn đời con sẽ sống nương tựa Phật, nương tựa Pháp, nương tựa Tăng, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng đó là quyết định lớn và trong quyết định đó, tâm niệm này hoàn toàn có thể nói rằng trong sạch tịnh tính, và trong cái tâm tịnh tính đó không còn nghi hoặc nữa và vị đó lựa chọn là từ đó trở về sau sự quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng nó trở thành cứ điểm an toàn của mình, hễ khi mình nghĩ đến điều đó thì tâm mình được thuần, tâm mình được trong sạch, tâm mình được ỗn cố, nó không hoài nghi, nó không có những uế nhiễm phức tạp.

Do vậy đối với Ngài Sumedho ba câu Buddham saranam gacchami, Dhammam saranam gacchami, Sangham saranam gacchami  mang lại cả một ý tưởng rất lớn lao,  mang lại cả một vùng trời an toàn, một không gian mà ở trong đó vị đó không bị chi phối bởi những nghi hoặc, những hoài nghi, như vậy là tâm niệm của mỗi người xuất gia, và quan niệm sự tu tập nó khả dĩ cho phép chúng ta có một hậu cứ an ổn và không phải thường xuyên vật lộn đối với những phiền não mà làm chúng ta sống trong tâm trạng hồi hộp, năm ăn năm thua, trái lại tìm được một không khí hết sức ổn định về tinh thần, một cảm giác gọi là an toàn.

Như vậy, chúng ta phải tìm sự tu tập ở thế quân bình giữa giá trị tiền chế và giá trị tự nhiên của một người tu tập. Giá trị tiền chế ở đây là chúng ta phải sống bằng một số khái niệm đã được quy định sẵn. Và giá trị về tự nhiên, là ở trong trách nhiệm, là ghi nhận cái gì xảy ra mới nghe nói như vậy, chúng ta tưởng tượng như hai giá trị giữa cái tự nhiên và tiền chế  có tính cách mâu thuẫn, trái chống với nhau nhưng mà trên thực tế thì không phải như vậy. Một người mà bỏ vào trong rừng thiền sống 5 ngày ba ngày thì người đó cần rất nhiều sự trang bị, những trang bị này khả dĩ giúp cho vị đó đương đầu với nhiều phiền não, cả hai thứ đó  đều cần thiết hết và hỏi rằng những quan niệm này cần được khai triển tới đâu, thì cái khéo đó là cái khéo của mỗi người hành giả, cái khéo đó là cái khéo của mỗi người tu tập.

Saturday, April 5, 2014

Nếu chúng ta có tánh nhiều sân hận thì lối sống nào giúp giảm thiểu sự nóng nảy?

Hỏi. Nếu chúng ta có tánh nhiều sân hận thì lối sống nào giúp giảm thiểu sự nóng nảy? 

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 16-3-2014, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Pháp Tân: Ở trong đời sống của chúng sanh phàm phu thì dễ bị sự chi phối của phiền não, rất nhiều sân, giận, tham, vui, buồn, thích, không thích, nói chung là những điều đó rất phổ biến đối với tất cả chúng sanh phàm phu. 

Ở trong cuộc sống có thể mình gặp nhiều hoàn cảnh khác nhau, có những hoàn cảnh thuận lợi có những hoàn cảnh rất tốt, nhưng cũng có những hoàn cảnh trái nghịch. Thì trong mỗi trường hợp như vậy thì mình cần đối trị với tâm sân của mình. Thật ra, nhìn ở trong đời, có người thì hay giận nhiều có người thì ít giận, có người mỗi chuyện mỗi chút là giận, có người thì chuyện gì quá lắm thì người đó mới buồn mới giận. Thì tùy vào mỗi người. 

Nhưng trong mỗi hoàn cảnh xảy ra những việc như vậy thì với người tu cái phiền não nó hiện hữu ở trong tâm và chỉ có cách là mình biết dẹp bỏ hay làm cho nó đừng sanh khởi, hạn chế nó sanh khởi hoặc là không sanh khởi thì việc đó tùy theo sự tu tập của mỗi người.

Có một điều là khi gặp cảnh không vừa lòng thì nên nghĩ rằng mọi chuyện không bao giờ như ý mình được. Khi mình gặp những cảnh trái ngang gặp những cảnh trái ý nghịch lòng thì mình suy xét ngay là quả thật không có điều gì đúng như vừa ý của mình 

Trong kinh thường giảng là sầu bi khổ ưu não thường xảy  ra ở trong đời sống,  mình nên quán là mọi việc nó không bao giờ như ý của mình được,cho nên khi việc xảy ra không như ý của mình thì không có gì mà mình phải nặng lòng với những điều đó.

Đôi khi có ai đó làm gì đó mình buồn hay nói lời gì rồi mình buồn thì mình nên quán; bởi vì tâm phàm phu việc làm lời nói chẳng qua là do duyên họ mới làm hay nói như vậy, thì khi mình suy xét rằng lời nói đến rồi cũng đi, việc làm hành động nào đến với mình thì nó cũng phải đến một lúc nào đó rồi nó cũng lẳng lặng qua thôi chứ nó cũng không thể nào kéo dài được. Rồi cảm nhận của mình về tiếng nói, về âm thanh, về suy tư thì nó cũng thoáng chốc rồi trôi qua mình cũng đang chịu trong tác động của sự khổ mà sự khổ này là do tâm suy diễn của mình tâm tập nhiễm của mình.

Một trong những điều mình biết rằng, mọi người chúng ta tất cả chúng sanh rồi cũng phải chịu sự khổ và mọi chúng sanh là có nghiệp riêng mình. Nếu suy xét về nhân quả thì mình nghĩ rằng có lẽ mình cũng có nghiệp gì đó xấu và do cái xấu đó cho nên mình gặp sụ trở ngại, gặp những sự bất trắc, gặp điều này điều kia. Tại sao có những người gặp sự suông sẻ nhưng có người lại gặp những sự bất trắc, thì mình trong những tình huống mình gặp những sự bất trắc như vậy thì mình suy xét ngay là có lẽ mình là người không được may mắn hay là mình không có gieo nhân lành nên gặp lấy sự bất trắc đó. 

Thì mình suy xét về nghiệp báo thì có lẽ là như vậy thì giảm thiểu đi. Mọi người có nghiệp riêng như vậy thì mình cũng có nghiệp riêng của mình và người nào đó ai đó cũng có nghiệp riêng không có ai giống ai không có chung nghiệp mà là riêng biệt cho mỗi người. Mình xét thấy bởi cái việc làm gì cũng phải chịu sự vô thường chịu cái khổ

 Người xưa có câu: "một câu nhịn chín câu lành", thí dụ mình có kham nhẫn thì có lẽ là cuộc sống cái gì mà mình nghe qua hay mình thấy mình nên khéo tác ý. Khéo tác ý ở đây có nghĩa là mình trực nhận ra hành vi của việc làm hành động lời nói của ai đó mình khéo suy xét làm sao để cho tâm của mình đừng có nổi sân lên, thì đó là suy xét để cho tâm thiện sanh khởi. Người ta có xấu thì nên nghĩ tới cái tốt của người ta không nên để ý tới cái xấu của họ và nếu như để ý đến cái xấu thì tâm của mình sẽ ray rứt sẽ bực bội sẽ khó chịu, mà mình nên tìm điểm tốt của người khác thì như vậy mình sẽ thấy được điềm an lạc cũng như mình thấy được cái điểm mình cần phải học hỏi, như vậy thì làm cho tâm của mình cũng giảm thiểu được sự sân giận. 

Nói tóm lại, trong cuộc sống mình vẫn còn là phàm phu thì vẫn còn những phiền não chi phối nhưng mình nghĩ mỗi chúng sanh có nghiệp riêng, mình và họ cũng có nghiệp riêng. Rồi mình suy xét về sự khổ sự vô thường của mỗi sự hiện diện sự vật trên đời, mình cũng vậy người khác cũng vậy, âm thanh tiếng nói việc làm vạn vật vô thường cũng vậy, nó cũng chịu sự thay đổi vô thường. Rồi chuyện gì mắt mình thấy tai mình nghe tâm mình suy nghĩ chẳng hạn thì mình có cái khéo tác ý tức là mình chợt tỉnh ra bằng với những cái suy niệm cái tác ý của mình làm cho tâm của mình hướng đến điều mà mình khó có thể sân hận mà được mát mẻ trong trường hợp người ta có thể làm tổn hại nhưng mình vẫn cảm thấy an lạc hay là bình an vô sự là như vậy./.

Friday, April 4, 2014

Khi sân hận nổi lên chúng ta nên quán tưởng để nhàm chán sanh tử

Hỏi: Khi sân hận nổi lên chúng ta nên quán tưởng để nhàm chán sanh tử

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 16-3-2014, Minh Hạnh chuyển biên)

TTGiác Đẳng: chúng tôi đi làm việc thường thì đôi khi thấy có trường hợp như vầy, mình không  muốn tạo nên oan trái trong cuộc sống và mình không gây hấn với ai và cũng không muốn cột oan trái với ai nhưng người ta cố tình gây oan trái với mình và những lúc đó thì chúng tôi thường nghĩ đến một chuyện đó là mình nên lấy cái đó để làm cái đề mục quán tưởng để mà nhàm chán sanh tử. 

Tất cả chúng ta đều có khuynh hướng ưa thích sanh tử đó là chuyện bình thường nhưng có một điều như vầy là Đức Phật Ngài dạy bản chất tự nhiên của dục lạc, Ngài nói do ngũ dục mà cha tranh chấp với con, bạn bè tranh chấp với nhau, anh chị em tranh chấp với nhau. Nhiều khi mình sống ở trong đạo mình thấy chuyện vai trò chức vụ nó không là cái gì hết, thật sự nó chỉ là hư danh, nó phù du, nhưng người ta có thể sống chết với điều đó thì nói gì với chuyện ở ngoài đời.

Chúng ta thỉnh thoảng đọc hồi ký của những người làm chính trị hay là trong giới có quyền nhiều khi họ đạt được chức vụ đó thì  nào là bao nhiêu cái oan trái nó trùng trùng điệp điệp. Ở trong đời sống hàng ngày, chúng ta làm cái gì cũng vậy, hễ mình không làm thì thôi mà khi mình làm thì nó lại lớn chuyện. Đức Phật dạy mắt tai mũi lưỡi, chỗ nào cũng là lửa, lửa đốt cháy cả thế gian này. Trong truyền thống Phật Giáo chữ Hán có câu "Tam giới như hoả trạch - ba cõi như nhà lửa". Rồi chúng ta cũng nghĩ đến chuyện là ở trong cuộc sống này khổ nạn trùng trùng nó đi tới chỗ này nó đi đến chỗ kia, mình sống thì cứ sống làm thì cứ làm nhưng mình không ý thức được thực tại đó thì thật sự mình khó có thoát khỏi sanh tử. 

Trong kinh có một câu chuyện rất thú vị:  Có một vị vua, buổi sáng đi vào rừng săn bắn, Ngài bất chợt khám phá có cây xoài trĩu nặng trái loại xoài rừng ăn trái rất ngon nhà vua rất thưởng thức cây đó rồi nhà vua tiếp tục đi. Chiều hôm đó Ngài trở về Hoàng cung thì nhà vua nhìn lại cây xoài đó thì bây  giờ lá sơ sát bởi vì có một đoàn thương buôn hồi trưa đi ngang qua đây họ thấy cây xoài họ thích quá họ hái và cách hái của người đi đường thì không nương tay, họ giựt, họ kéo họ chỉ hái trái mà làm cành lá bị gãy tơi tả, nói theo nghĩa ngoài đời là bị te tua, tơi tả không còn có hình ảnh một cây xoài đẹp nữa. Thì nhà vua chợt nhận ra một điều, điều nhà vua nhận ra đó là; quả thật tất cả những gì mà mình có trong đời này là chức quyền, địa vị, lợi dưỡng những điều đó là chỗ tương tranh của thiên hạ, người dân thì có tranh chấp người dân, quan có tranh chấp của quan, các vì vua có tranh chấp của các vì vua, bao nhiêu là tranh dành từng tất đất ở biên thùy. Thì nhà vua nhìn cây xoài và nhìn thân phận của chính mình nhà vua giác ngộ và nhà vua trở về hoàng cung truyền ngôi lại cho vị tân vương mà nhà vua thấy có khả năng và nhà vua đi xuất gia làm đạo sĩ .

Có những câu chuyện, đôi khi cha mẹ già  bị con cái tranh chấp tài sản rồi đứa này nói cha mẹ không thương nó, rồi tủi thân nghĩ rằng; mình già nó không nhìn mình nó không nghĩ đến mình mà nó chỉ nghĩ đến tài sản thừa kế thôi thì cuộc sống rất phũ phàng. Cái phũ phàng đó thì phải nói rằng nó đến từ bản chất cố hữu của đời sống, bản chất tự nhiên của đời sống, mình cứ than phiền mình trách móc mình chê cuộc đời. 

Nhưng cuộc đời là như vậy. Có một nhà thơ viết câu "Đời là thế thiên thu sầu bất diệt" cuộc đời là như vậy. Thì khi chúng ta nói về oan trái, chúng ta nói về đụng chạm, thì chúng ta cũng phải nói rằng cuộc sống vốn là như vậy. Những cái điều trái ý nghịch lòng, những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Nó không phải là chuyện mình nên trách người này, trách người hay trách mình mà cách tự nhiên của cuộc sống nó là như vậy. Ở đâu có danh có lợi thì ở đó có tranh chấp, ở đâu có cuộc sống có dục lạc thì ở đó có hệ lụy của cuộc sống. 

Nên nếu chúng ta tỉnh táo thấy được điều đó thì chúng ta mới hiểu được rằng thay vì buồn khổ vì chuyện đó, giận dữ về chuyện đó thì chúng ta nhìn nó như những bài học rất đẹp cho đời sống, những bài học làm cho chúng ta được tỉnh táo an lạc và rồi từ bài học này xin cho tất cả chúng ta đến gần Phật Pháp hơn, đến gần với lời dạy của Đức Phật hơn và có những khi mình không nhìn thấy điều này mình cảm thấy thấy như là những điều Đức Phật dạy có cái gì xa cách với chúng ta lắm, nhưng mà sống chiêm nghiệm thật kỹ đem vào lòng những điều đó thì chúng ta thấy rằng mình không có khôn hơn Đức Phật. Ngài Hộ Giác thường nhắc với chúng tôi rằng; mình nói thì nói chứ mình không khôn hơn Đức Phật. Bây giờ mỗi lần nhắc điều đó thì chúng tôi nhớ Ngài vì Ngài hay nói điều đó, những điều thật sự thấm thía trong cuộc sống.

Thursday, April 3, 2014

bây giờ có Phật tử muốn tu để giảm bớt tâm tham thì những pháp tu nào giúp chúng ta giảm được tâm tham?

Hỏi: . bây giờ có Phật tử muốn tu để giảm bớt tâm tham thì những pháp tu nào giúp chúng ta giảm được tâm tham? 

(Thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 4-3-2014, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Quyền: Pháp tu để giảm bớt tâm tham thì trước nhất chúng ta phải tu tập pháp đối trị. Chúng ta quán về bất tịnh quán, về thể trược, quán về nhờm gớm. Thí dụ như 32 pháp thể trược. 

Kinh Pháp Cú có câu: Nhìn ta thân thể mỹ miều, tấm thân chồng chất bao nhiêu khổ sầu. Chẳng qua 32 thể trược được bao bọc bởi một lớp da. Nhìn bên ngoài thấy lớp da bao phủ thì nó đẹp nhưng sự thật khi dưới lớp da đó phơi ra thì chúng ta thấy khủng khiếp vô cùng. 

Có một lần, bên Thái Lan có chụp lại cảnh mổ sẻ xác của một tử tù rất khủng khiếp, từng bộ phận gan phèo phổi thì con người như là con heo mổ ra như thế nào thì con người thể trược cũng như vậy. 

Thì ở đây, thí dụ cho chúng ta thấy nhàm chán về xác thân và chính là quán về thể trược quán về bất tịnh, hay các vị tu Thiền Quán thường lấy tử thi hay lấy xương khô để các thiền sinh tu tập. Hoặc quán xác thân con người mình cũng giống như khúc xương khô có gì đâu mà phải câu chấp có gì đâu mà phải ái chấp liên tục. Quả thật nó nguy hiểm chứ không đơn giản như chính chúng ta thấy.

Tập cho tâm mình tu tập quán về bất tịnh, quán về nhờm gớm thì chúng ta mới có sự tu tập được. Nếu như chúng ta không có quán, không có một sự thiểu dục thì khó giảm thiểu tâm tham. Thí dụ, chúng ta thấy ai cũng thích tiền nhưng là người tu tập thì chúng ta phải quán thí dụ như một người nào đó, vì tiền bạc mà phải đau khổ thế này đau khổ thế kia, phải mất đi tình thân, mất đi tình bạn, tình vợ chồng cha con. Thì suy nghĩ như vậy mình cảm thấy sợ thấy ngán đồng tiền và cảm thấy rằng do chính đồng tiền này do lòng tham mà chúng ta làm những điều tội lỗi. 

Thì khi quán về sự mất mát sự bất tịnh, chính đồng tiền này đã khiến cho ta gây ra biết bao nhiêu là điều tội lỗi biết bao nhiêu là điều khổ sầu. 

Mặt khác, chúng ta phải có tâm thiểu dục tri túc. Đây chính là một điều chúng ta biết đủ chúng ta thiểu dục thì lòng tham mói giảm thiểu được. Cuộc đời này chúng ta luôn luôn nô lệ phục vụ cho tham ái, nô lệ phục cho tham ái tức là chúng ta muốn, chúng ta mong cầu, con người chúng ta đa tham cái gì cũng muốn. Một người sống thiểu dục tri túc thì không bị lệ thuộc không bị dính mắc đối với người khác,

  không phải vay mượn cái ân tình rồi phải nặng nề phải mệt mỏi. Bởi vì chính sự phục vụ nô lệ cho tham ái của mình mà tham ái này là một túi tham không đáy, nó là hố sâu vô tận. Nếu như chúng ta không biết dừng lại thì không bao giờ có thể chấm dứt được và sự đau khổ nó dài lâu. 
  
  Quả thật, đúng vậy, chính vì tham ái này là nguồn gốc của biết bao điều tội lỗi nó là nguồn cơn của biết bao điều mà chúng ta phải trả giá, phải khổ sầu vì nó.

    Nguồn cơn của tất cả sự khổ là chính lòng tham.  Một người biết tu tập để giảm thiểu tham thì người đó phải biết ly tham, mà muốn ly tham thì người đó phải quán về bất tịnh phải tu tập về thể trược, tu tập về tri túc. Một người nào có sự tu tập về tri túc thì người đó sống một cách vững chắc. Vì hạnh phúc bao nhiêu cũng đủ bao nhiêu cũng thiếu, sự thật là như vậy.

   Cuộc đời này do nghiệp duy trì do nghiệp vận hành. Chúng ta tin và chúng ta suy nghĩ như vậy chứ đừng bao giờ chúng ta cứ trông cứ ngóng cứ chờ cứ đợi. Phải biết chúng ta có một phước lành và nếu chúng ta có phước thì phước đó sẽ hổ trợ cho ta sẽ đạt được an lạc tốt đẹp. Nếu như chúng ta có sự tu tập có sự an trú pháp và đặc biệt muốn thiểu dục thì chúng ta phải tu tập pháp tri túc. Thứ hai nữa là chúng ta tu tập về pháp quán thân bất tịnh hay quán về thể trược cái thân này quán về bất tịnh để nhàm chán nó và ly tham và sợ hãi trước tội lỗi ./.

Wednesday, April 2, 2014

Một người chưa đoạn tận tham nhưng giảm thiểu tham có được chăng?

 Hỏi: Một người chưa đoạn tận tham nhưng giảm thiểu tham có được chăng? 

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 12-3-2014, Minh Hạnh chuyển biên)

ĐĐ Pháp Tín: Trong cuộc sống của chúng ta, phần nhiều tham là nhân dẫn dắt mình đi sanh tử luân hồi. Một người tu tập biết để làm giảm thiểu lòng tham của chúng ta. 

Thời gian qua chúng tôi thấy có những người thì bịnh bứu, người thì bị tai nạn. Thì mình nhìn những người đó thấy rất là tội nghiệp nhưng mà nhìn lại những chốn ăn chơi thì chúng ta thấy rằng có những người có thú đi câu cá hoặc đi săn thú hoặc giết những con vật để ăn sống bằng cách này cách kia. Thì nguyên nhân làm cho chúng ta bị khổ đau là do chúng ta không kềm chế được ý của mình và hành động về thân của mình nên mới có cái nhân rồi một lúc nào đó nó sẽ trổ quả.

Thí dụ, chúng ta bị khổ đau hoặc bị chứng bịnh hành hạ chúng ta khổ đau thì bây giờ hỏi thử chúng ta biết tu tập. Tuy rằng tham tùy miên nghĩa là gốc tham của mình chưa có dứt được nhưng ít nhiều gì ở trong cuộc đời này mình đã ngăn trừ sự sát sanh, mình ngăn trừ sự hành hạ chúng sanh khác. 

Chúng ta ngồi suy ngẫm lại ít nhiều gì từ ngày mình biết Phật Pháp mình cũng không hành hạ con gì, mình cũng không giết con cá hoặc con gà hoặc mình đánh đập ai một cách tàn nhẫn v.v... tuy rằng ý nhiều khi mình còn giận người này người kia. Chúng ta giữ được như vậy thôi thì nếu ở trong giòng sanh tử luân hồi nếu mình sanh lại làm người thì chắc chắn rằng mình là người khỏe mạnh vì ở ngay trong đời này chúng ta không sát sanh đánh đập hay hành hạ những chúng sanh nào hết. Do cái nhân này nếu ở trong giòng sanh tử luân hồi nếu chúng ta sanh lại làm người thì cũng không bị bịnh tật hoằng hành, chúng ta không bị người khác đánh đập.

Chúng tôi nói điều này không phải để khuyến khích ai đời sau có tham đắm thân người. Nhưng chúng tôi nói quả báo là như vậy. Một người giảm thiểu được tham, thí dụ như ở một cấp độ thô thiển thôi thì chúng ta có được những phước báu đó chẳng những chúng ta tránh được bốn đường ác đạo.

Nhiều khi có những người chán đời thì người ta không sợ nhưng thật sự nếu đọc trong kinh điển nói về sự khổ trong bốn đường ác đạo, sự khổ không nguôi hoặc sự khổ đó cùng tột mình không thể nào chịu nổi, thành ra trước nhất là mình giữ tránh tham ác, chẳng hạn như do mình tham sự ăn uống mà mình phải giết con vật. Giữ giới không trộm cắp. Có những trường hợp tham dẫn đến trộm cắp thì mình ngăn ngừa được những điều này. 

Thì nếu nói về hai giới này thôi cũng tránh không sa vào 4 đường ác đạo. Nếu mình có sanh lại làm người là người có sức khỏe hoặc có tuổi thọ. Chỉ mới có sự tác ý thôi mà đã ngăn ngừa được thân khẩu ý của chúng ta. 

Bây giờ, nếu nói ngay trong hiện tại, tại sao chúng ta khổ, tại vì sự ham muốn của chúng ta đòi hỏi quá nhiều. Một người tri túc là biết vui với cái mình có. Người không biết tri túc là thấy người ta có máy laptop hiệu Apple mới ra mình mơ ước hiệu đó hoài, tâm ao ước cũng làm cho tâm chúng ta khổ. Do vậy, một người biết tri túc với những gì mình đang có thì mình sẽ được thảnh thơi, tâm không lo ngại nhiều. Đó là lợi ích ngay trong hiện tại.

Tại sao mà người ta khổ hoặc tại sao người ta dẫn đến những phạm tội thì cũng do nhân tham dẫn đầu, đa phần là do tâm tham dẫn đầu. Vậy, một người biết tu tập thì con người mình thoát hoặc là chúng ta không có sự tham đắm quá, chúng ta biết cái gì cũng vừa sức mình, làm ra được nhiêu đó thì mình sẽ hưởng bấy nhiêu v.v... chúng ta không có sự vọng móng ở cái khía cạnh nào hết,  thành ra chính ở trong hiện tại mình được an vui.

Vậy thì ở trong câu thảo luận này, tuy rằng chúng ta chưa nhổ được tận gốc hoặc đoạn tận tham nhưng ở trong đời sống chúng ta nếu giảm thiểu được những tham mà ở trong A Tỳ Đàm gọi là tâm tham thô thì chúng ta sẽ được an lạc ngay trong hiện tại, và trong tương lai chúng ta sẽ được thân thể khỏe mạnh, đời sống an vui v.v... nếu chưa đoạn tận được tham do hoài nghi do việc .... tham san đoan tan duoc phan thi du nhu vị thánh Tu Đà Hườn đã không còn tà kiến, hoài nghi ngủ ngầm trong tâm và các Ngài không còn tâm tham, Các Ngài không còn tái sanh vào khổ cảnh nữa.. Vị thánh A na hàm đoạn tận tham trong dục giới. Do vậy từ một phàm nhân tu tập đoạn tận tham hướng đến quả vị thánh là như vậy./.

Tuesday, April 1, 2014

chữ tham ở đây được hiểu ở phạm trù nào?

Hỏi:  bài học hôm nay có một câu "này chư tỳ kheo nếu chấm dứt thì đoạn tận sanh tử đó là đoạn tận tham" . Thì chữ tham ở đây được hiểu ở phạm trù nào?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 12-3-2014, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu: Ở trong câu Phật ngôn này có nói đến việc Đức Phật bảo đảm rằng hễ diệt  trừ tham thì sẽ không trở lại,

Chữ Anàgàmi nghĩa là không trở lại,

 Ở trong phạm trù này, y cứ vào sự đoạn trừ do thành đạo thành quả siêu thế và đoạn trừ được thì chúng ta không trở lại.

Chữ Anàgàmi có ba nghĩa:

- Nếu như một bậc đã đoạn trừ tham tà kiến, tham tương ưng tà kiến Ditthigatasampayutta đoạn trừ được tham tà kiến này thì không có trở lui bốn đường ác đạo tức là vị Tu Đà Hườn.

- Nếu đoạn tận được dục tham (Kàmaraga)  chứng quả A Na Hàm thì không trở lui cõi dục giới, bậc A Na Hàm do đoạn tận tham đoạn tận sân nên vị đó cho dù không có đắc thiền thì vị A Na Hàm khô phiền não này sau khi từ giả cõi người thì hóa sanh về cõi sắc giới sơ thiền, còn nói chi nếu vị này chứng được nhị thiền tam thiền tứ thiền ngũ thiền với lại đắc quả A Na Hàm thì sẽ hóa sanh về cõi sắc giới tịnh cư và không trở lui lại cõi dục giới nữa Anàgàmi gọi là bất lai, nghĩa là không trở lại cõi dục giới.

Và nếu như một vị đã đoạn tận luôn cả Rūparāga  Arūparāga tức là sắc ái  vô sắc ái, tham ở trong thượng phần kiết sử đo đó là quả vị Alahan, vị đó sẽ chấm dứt sự sanh tử luân hồi không có sanh lại trong tam giới nữa không còn luân hồi.

Thì như vậy, ở đây trong câu nói rằng "Hãy từ bỏ tham ta đảm bảo cho các ngươi sẽ không có trở lại". Chữ tham trong trường hợp này nếu chúng ta phân tích ra thì trong ba phạm trù tức là nếu đoạn tận tham tà kiến thì không trở lui lại bốn đường ác đạo địa ngục ác quỉ xúc sanh a tu la.

 nếu đoạn tận tham ly tà kiến như là đoạn tận dục tham ly tà kiến thì sẽ không trở lại cõi dục giới này nữa đắc A Na Hàm.

, nếu đoạn tận tham ly tà kiến mà thuộc về sắc ái vô sắc ái thì không trở lại sanh tử trong vòng luân hồi trong tam giới này nữa.

Đó là ý nghĩa chữ "tham" trong Phật ngôn Đức Phật giảng trong bài học này./.