Monday, February 23, 2015

Niết-bàn

Bài học: Niết bàn

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buddhadhama ngày 13-5-2014, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Hôm nay chúng ta đọc câu Phật ngôn Đức Phật dạy có hai Niết-bàn giới tức hai cảnh giới Niết-bàn: Một là Vô Dư, hai là Hữu Dư, đây là danh từ rất chuyên môn. 

Chúng ta nói đơn giản hơn:

- Hữu Dư Niết-bàn đề cập đến trạng thái một vị đã viên thành quả giải thoát đã đoạn tận phiền não gọi là phiền não Niết-bàn. Vị này không còn phiền não tham sân si. Ở đây cũng nói rõ vô minh và ái hoàn toàn không còn nữa nhưng vị này vẫn còn thân ngũ uẩn đó là hình ảnh của Đức Phật và các đệ tử của Ngài sau khi đã viên thành quả vị giải thoát. Chúng ta gọi là hữu dư Niết-bàn.

- Vô Dư Niết-bàn còn gọi là ngũ uẩn Niết-bàn, đó là mầm tương lai không có, nhưng quả quá khứ cũng đọan. Thí dụ như Đức Thế Tôn Ngài viên tịch tại Kusinārā hay Ngài Xá Lợi Phất viên tịch tại Nàlandà. Điều đó chúng ta gọi là vô dư Niết-bàn hay ngũ uẩn Niết-bàn.

Cả hai trạng thái Hữu Dư và Vô Dư đều không dễ dàng để hiểu đối với tất cả chúng ta ngay cả những nhà tư tưởng Phật học lớn. Và điều thú vị là những vị tổ của Phật giáo Đại Thừa như Ngài Long Thọ, Ngài Thế Thân, Ngài Vô Trước, đặc biệt là Ngài Long Thọ và Ngài Vô Trước đều có những linh họa về Niết-bàn rất gần với Phật giáo Nguyên Thủy. Nhưng về sau các vị thừa tiếp Phật giáo Đại Thừa đặc biệt ở Trung Hoa và Việt Nam nhìn sự việc khác đi, điều này  chẳng những ảnh hưởng lớn cái nhìn của Phật tử đối với cứu cánh giải thoát mà còn có một tác động vô cùng quan trọng trong sự phân hóa cái nhìn khác biệt của các bộ phái khi nhìn về cứu cánh của đời sống tu tập.  

Như tất cả chúng ta đều biết để hiểu Niết-bàn chúng ta phải hiểu Sanh Tử. Sanh Tử ở đây là sự hiện hữu của chúng ta, sự hiện hữu Đức Phật dạy chúng ta có trong giờ phút này đó là sắc thân, cảm thọ, sự trải nghiệm, sự tạo tác và nhận thức của các giác quan. Trong danh từ Phật học gọi ngũ uẩn, sắc uẩn là thành phần vật chất đó là thân của chúng ta. Thân này do tứ đại hợp thành bằng xương bằng thịt phải ăn phải uống và phải chịu bệnh tật. Ngay cả một tấm thân già nua đau bệnh nhưng chúng ta vẫn thương vẫn qúi. Có những người rất già rất bịnh vẫn chăm chút hằng giờ trước gương để làm đẹp. Có những người rất già rất bệnh nhưng bỏ thân này ra đi thì không đành không cam lòng. Cho chúng ta thấy rằng đây là thân của chúng ta nó khổ, nó là ổ bệnh tật nhưng chúng ta bỏ nó không dễ tại vì nó là của mình. 

Tương tựa như một người mua một dàn máy stereo cách đây 20 năm và thời đó dàn máy họ mua rất tốt, tốn hàng ngàn Mỹ kim để mua bây giờ dàn máy đó đã cổ lỗ xĩ đã lỗi thời không đáng giá bao nhiêu, nó kềng kàng nhưng đem quăng đi một món mình đã bỏ ra bao nhiên ngàn Mỹ kim để mua cách đây mười mấy năm thì không đành lòng.

 Chúng ta cũng vậy nếu sắc thân này cho dù giả hợp bệnh hoạn già nua chúng ta cũng không đành bỏ , cảm thọ hay trạng thái vui buồn không vui không buồn, cảm thọ đó là những cái gì dày xéo cuộc sống chúng ta rất nhiều. Cụ Nguyễn Công Trứ viết rằng "Kiếp sau xin chớ làm người Làm cây thông đứng giữa trời mà reo " Nhiều người trong cuộc sống trước những vui buồn thăng trầm cảm thấy cuộc đời nản quá chỉ mong làm sao đời sau làm cây thông reo ở giữa núi rừng bạc ngàn. Bởi vì người ta nghĩ như vậy là hạnh phúc hơn nhiều.

   Có bao nhiêu người trong chúng ta lãnh đủ thứ những chuyện vinh nhục thăng trầm, đủ thứ sự bất an nhìn một cặp thiên nga hay một con vịt lội trên bờ hồ hay con sáo tắm trên thác nước nghĩ rằng ước gì mình là chim, ước gì mình là con thiên nga bơi lội thanh thản nhởn nhơ vậy mà hạnh phúc.
   
     Chúng ta thường cảm thấy:
      - Cảm thọ làm cho mình khổ, cảm thọ nhiều khi nó thường là một vết thương không băng bó đụng đến là đau nhức. Nhưng chúng ta vẫn yêu thọ uẩn, chúng ta vẫn dính mắc vào thọ uẩn.
 
   - Tưởng uẩn, là sự trải nghiệm, sự hấp thụ, sự giáo dục chúng ta có được trong cuộc đời. Nói một cách cải lương hơn đó là dĩ vãng là quá khứ. Và khi nói về dĩ vãng quá khứ thì theo năm tháng chồng chất rất nhiều. Có nhiều người muốn sống với quá khứ và thường nhai đi nhai lại quá khứ một thời oanh liệt một kỷ niệm êm đềm. Nhưng cũng có nhiều người muốn quên đi quá khứ. Thậm chí người ta uống rượu để tiêu sầu bởi vì người ta không muốn nhớ không muốn nhắc.
   
   - Hành uẩn, là một cơ phận năng động tạo tác chủ trương thiện ác. Có nhiều thứ liên quan đến hành uẩn nhưng chính là một bộ phận của cuộc sống và cho chúng ta những quyết định nên làm thế này không nên làm thế kia. Không thể dễ dàng để chúng ta làm một quyết định và những quyết định đó tạo rất nhiều hệ lụy, nhất là tạo nghiệp. Nếu chúng ta đóng vai trò của một vị lãnh đạo thì chúng ta hiểu rằng để làm một sự lựa chọn không dễ, không dễ chút nào hết. 
   
   - Thức uẩn, là cái biết của các giác quan thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng. Nếu chúng ta sanh ra có phước thì những gì mình có như cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị, cảnh xúc, cảnh pháp tương đối tốt. Nếu  chúng ta kém phước, trong đời quá khứ đã tạo những ác nghiệp thì đúng rằng những sắc, thinh, khí, vị, súc không có khả ái. 
   
      Cho dù năm uẩn mình nói thế nào, mình nhìn thế nào thì nếu năm uẩn của ta chúng ta cũng cảm thấy mình dính mắc với nó mặc dầu nó cho chúng ta rất nhiều hệ lụy. Đức Phật dạy sự hiện hữu của chúng sanh tức là sự hiện hữu của năm uẩn và nếu một người học Phật hiểu được nguyên lý duyên khởi thì năm uẩn là quả và quả tạo ra bởi nghiệp và nghiệp tạo ra bởi phiền não, phiền não nghiệp quả là vòng luân chuyển để tạo sự hiện hữu của chúng ta. 
 
      Nói cách khác, cái gọi chúng sanh, cái gọi anh, chị, tôi, cái gọi ông này bà kia trên phương diện thuần túy Phật học đó là sự hiện hữu của năm uẩn. Và năm uẩn là sản phẩm của phiền não, năm uẩn là quả của nghiệp, và nghiệp được tác động bởi phiền não, vô minh và ái chính là đầu mối. Sản phẩm của vô minh và ái, của sự mê mờ và dính mắc, mê mờ và khao khát thì nó không thể là sản phẩm tuyệt hảo, một sản phẩm hoàn hảo như chúng ta nghĩ. 
 
Trong vòng luẩn quẩn của duyên khởi hành trình dẫn đến giác ngộ giải thoát Đức Phật đưa ra không phải nói rằng mình có thân mình khổ bây giờ leo lên lầu nhảy xuống tự tử thì hết khổ. Đức Phật không dạy như vậy. Tại cái khổ không đơn thuần là mình khổ về mắt thì mình khoét mắt, khổ về tai mình phải thọc tai cho điếc thì mình hết khổ, không phải như vậy. Vấn đề không phải giải quyết ở tại đó. Chúng tôi thấy có trường hợp cha mẹ đôi khi không có thì giờ cho con cái, con cái hư hỏng sang hàng xóm ăn cắp ăn trộm hoặc giả phá làng phá xóm, cha mẹ kêu về đánh, đánh đứa con thậm chí những trận đòn chí tử, hoặc giả là đòi giết đứa con, điều đó chỉ là một giải pháp có tánh cách bề ngoài, nhưng thật sự sâu xa một điều là cha mẹ không thể giết con được, và cha mẹ không thể làm cho con tốt hơn vì những trận đòn chí tử mà cha mẹ phải có sự giáo dục khác, sự giáo dục đó đòi hỏi có chiều dài, đòi hỏi giải quyết vấn đề tận gốc. Đứa con ham chơi lêu lổng vì nó không thích học, nó không siêng học, mình phải làm sao để cho con thích thú với việc học hành thì đó là một chuyện mà chỉ có những bậc cha mẹ có trình độ mới làm được. Thì ở đây chúng ta nói như vầy, năm uẩn tuy là khổ nhưng bảo rằng mình hủy hoại năm uẩn bằng cách đoạn mạng đi thì không có nghĩa giải quyết được vấn đề tại vì mầm mống vô minh và của khát ái vẫn còn đó. Nên Đức Phật đã dạy chúng ta con đường tu tập để đoạn trừ phiền não bằng định, bằng niệm và nhiều thiện pháp khác.

Bây giờ chúng ta nói sang một chuyện rất tế nhị. Rồi đến một ngày ở cuối hành trình hành giả nhờ vào sự tu tập đoạn tận được phiền não. Ở đây chúng ta chỉ nói đoạn tận được phiền não chứ chúng ta chưa nói đoạn tận được quả cũ, chúng ta gọi đó là hình ảnh của các bậc thánh các bậc đã đoạn tận phiền não như Thinh Văn Giác, Độc Giác và Toàn Giác.

Và câu hỏi chúng ta đặt ra: Đối với một vị sống ở trong cuộc đời này đoạn tận phiền não thì vị đó ra sao?
 Thật ra mình không mường tượng được. Ông bà chúng ta nói "lấy bụng ta suy ra bụng người", suy bụng ta ra bụng người. Cái suy bụng ta ra bụng người là mình dựa trên kinh nghiệm của mình, mình sống thì mình dựa trên nấc thang giá trị của xã hội trên danh lợi, dựa trên những đam mê những tha thiết bây giờ không có những thứ đó thì nó ra sao? "Phật dữ Phật tri, Thánh dữ Thánh tri" chuyện đó của bậc Thánh  chúng ta khó có thể hiểu, thật khó hiểu.

   Nó khó hiểu bởi vì ba lẽ: 
   
    -Thứ nhất, tất cả những gì chúng ta suy nghĩ đều dựa trên hữu vi pháp, dựa trên kinh nghiệm của quá khứ. Một bậc Thánh đã chứng đã tỏ ngộ Niết-bàn, vị đó nhìn sự việc một khác đi. Nó khó cho chúng ta hiểu về bậc Thánh là tại vì các vị hành động bằng tâm kiriya citta là tâm duy tác, tâm này là một trạng thái  thí dụ như Đức Phật thuyết pháp hay tôn giả Xá Lợi Phất, Ngài hoằng pháp Ngài dạy dỗ các vị sadi, tất cả những việc đó đều không mang dấu ấn của nghiệp của vô minh của ái dục và không tạo nghiệp. Các Ngài hoằng pháp độ sinh thuần vì tâm bi mẫn nhưng không tạo phước không tạo ra quả tại vì đối với các Ngài thì việc tạo tác nhân quả nghiệp báo để sanh tử thì không còn nữa. 
    - Thứ hai. Nói cách khác, chỉ đơn thuần trên phương diện vị Alahán hành xử bằng tâm duy tác đã là chuyện khó hiểu cho chúng ta, thật sự khó hiểu, đừng nói chi chúng ta bàn nhiều. Lấy ví dụ trong cuộc đời chúng ta khi nói về chuyện gì đó mình phải nói cho lâm li bi đát cho nhiều kịch tính. 
    Ví dụ, trong Phật giáo Bắc Truyền có hình ảnh của Ngài Mục Kiền Liên đi vào trong địa ngục thấy mẹ là bà Thanh Đề đang chịu tội khổ, người ta diễn tả Ngài đã khóc, khóc thật nhiều, cầm bát cơm dâng lên cho mẹ mà rưng rưng nước mắt. 
    Thật ra hình ảnh của một người con thấy mẹ bị khổ trong địa ngục xót xa rung động sầu não, hình ảnh đó thật sự là hình ảnh rất con người rất gần gủi và rất cảm động đối với chúng ta.
     Nhưng bây giờ giả xử như hình ảnh của một vị Alahán trong trường hợp thấy mẹ bị tội khổ như vậy nhưng trong bản tâm của một vị Alahán không mảy may có sự xúc động thì chúng ta thấy có cái gì đó lạ không giống chúng ta. 
 
      Trong kinh Pháp Cú có đề cập đến hình ảnh của một vị Sadi và vị Sadi đắc đạo chứng quả Alahán đoạn tận phiền não, vị sadi này có người mẹ, người mẹ cũng là tỳ kheo ni xuất gia và đặc biệt người mẹ rất thương người con của mình nhưng vì hoàn cảnh nên mẹ cũng đi tu và con cũng đi tu, và con chứng quả Alahán. Vị tỳ kheo ni này vẫn thường đứng đầu đường để mong được thấy người con của mình là vị Sadi nhỏ đi khất thực. Có một lần vị Sadi Alahán nghĩ rằng mình phải tế độ mẹ mình, thành ra vị này đã gặp bà mẹ là một vị tỳ kheo ni và nghiêm nghị nói với vị tỳ kheo ni là sự dính mắc đối với con sự dính mắc bằng ái dục không xứng đáng đối với một người mặc áo càsa xuất gia như vậy.
 
       Có lẽ khi chúng ta nghe câu chuyện một bà mẹ nhìn thấy đứa con đi xuất gia con còn nhỏ đi khất thực mình không nuôi được thương quá đứng lề đường trông dõi mắt để nhìn từng bước chân đứa con mình, hình ảnh đó rất cảm động. Nhưng rồi đứa con lại có thái độ rất nghiêm nghị đối với mẹ thì hình ảnh đó không cảm động chút nào hết.
  
Bây giờ chúng ta lại nghe câu chuyện Ngài Mục Kiền Liên gặp mẹ là bà Thanh Đề trong địa ngục, ngồi trên bàn chông Ngài đã khóc Ngài đã sầu não. Tại vì câu chuyện mang nhiều kịch tính điều đó cho chúng ta thấy rằng ở trong thế giới loài người chúng ta cảm nhận và cảm nhận hết không đủ, khó lắm. 
Thứ ba: Đừng nói chi phàm với Thánh, đừng nói chi Niết Bàn với Sanh Tử. Chúng ta chỉ nói đơn giản một chuyện người VN mới qua Mỹ. Ở đây chúng tôi thỉnh thoảng gặp một vài vị nhiều cái ở bên Mỹ mà ở VN hiểu không ra. Thí dụ như người bên Mỹ rất bận rộn gặp người nào ở VN qua thì dành thì giờ rất ân cần giúp đỡ việc này việc kia xong thì thôi, nhưng các vị ở VN thì nghĩ người giúp đỡ mình phải là tử tế lắm và cứ thường xuyên liên lạc gọi điện thoại nói tới nói lui làm cho những người này trốn hết, tại vì sao vậy? Tại vì cách suy nghĩ của người ở Mỹ và người ở VN rất là khác. Hay hoặc giả chúng tôi sống bên Mỹ lâu, giả sử Phật tử đến chùa mang cơm đến chư tăng trong lúc họ bận rộn và chúng tôi đến bàn ăn ngồi xuống và thấy thiếu ly nước, chỗ lấy nước kế bên ở đằng sau lưng thôi mình đứng dậy đi lấy ly nước thì mấy vị bên VN ngạc nhiên, các vị nói rằng có Phật tử sao không gọi họ lấy. Bây giờ mình sống ở Mỹ quen rồi mình thấy Phật tử đang bận lăng xăng việc này việc kia họ chưa mang nước ra thì mình đứng dậy đi lấy ly rót nước lạnh là chuyện bình thường. Ý chúng tôi muốn nói trong văn hóa đã là khó cảm thông khó có thể hiểu nhau thì đừng nói chi là giữa bậc Thánh và người phàm, giữa Niết-bàn và Sanh Tử. 
Một vị đoạn tận vô minh và ái, đoạn tận phiền não thì đời sống vị đó không dễ để chúng ta hình dung. Nhưng trong kinh nói rằng người đoạn tận vô minh và ái vị đó vẫn còn thân ngũ uẩn và tại vì còn ngũ uẩn do đó các hệ lụy của quá khứ còn lại. Thí dụ như là Ngài Rahula khi Ngài chứng Alahán  Ngài vẫn còn có dáng đẹp do phước trong quá khứ Ngài còn để lại. Hay là Ngài Cakkhupala đắc đạo quả Alahán nhưng Ngài vẫn chịu nghiệp trong quá khứ làm cho Ngài mù mắt v.v... Thì điều đó Đức Phật gọi là hữu dư Niết-bàn.
 
Chúng ta nói Vô Dư Niết-bàn. Nếu sự hiện hữu của 5 uẩn làm sản phẩm của vô minh, của ái, của phiền não, của nghiệp, chấm dứt vô minh và ái thì không còn sanh tử. Đa số Phật tử đều thấy sanh tử trầm luân là điều Đức Phật Ngài dạy chúng ta phải giải thoát nhưng khi không còn sanh tử trầm luân nữa thì chúng ta sẽ ra sao? Đây là điều có nhiều người luận bàn, cái gì sẽ xảy ra sau khi một vị A la Hán viên tịch Niết-bàn. Vị đó còn tồn tại hay không tồn tại, vị ấy còn hiện hữu hay không hiện hữu. Thậm chí trong lời tựa của cuốn sách "Đọc kinh Pháp Cú Nam Tông " của HT Trí Quang, HT cũng nói là HT không tin một vị Alahán sau khi viên tịch Niết-bàn chấm dứt 5 uẩn, nói chấm dứt 5 uẩn tức là đoạn kiến. HT nói rằng Đức Phật đã từng làm cha làm mẹ làm thầy làm bạn để độ chúng sanh thì sau khi viên tịch Ngài cũng sẽ trở lại làm cha làm mẹ làm thầy làm bạn để độ chúng sanh.

 Chúng tôi hoàn toàn hiểu tại sao một số các vị suy tư và nghĩ như vậy. Nhưng chúng ta thử lấy 3 thí dụ.
  
1.Thí dụ thứ nhất, mình đang bị nhức răng bây giờ có người đề nghị một phương pháp để trị bịnh nhức răng  như lấy gân máu ở chân răng chẳng hạn. Chúng ta đặt vấn đề là sau khi hết nhức răng rồi thì mình sẽ ra sao? Thật ra không cần đặt vấn đề như vậy, nếu bịnh thì mình cứ chữa thôi, bịnh thì bịnh thôi không cần phải đặt vấn đề mình sẽ ra sao. Đó là một thí dụ

Thí dụ thứ hai, một đứa nhỏ đi học, nó muốn biết là đi học lớn lên sẽ thành ông gì bà gì và mình hết còn thơ dại nữa, không còn nhút nhác nữa thì mình sẽ ra sao, rất khó. 

Thứ ba: Một học giả người Tích Lan viết một đoạn rất thú vị đó: ở trong thế giới trẻ con cái đẹp là những món đồ chơi, con gái thì có búp bê, con trai có xe tăng vũ khí bằng nhựa bằng mủ. Cha mẹ dẫn đứa con đến trường để học và nói rằng một ngày nào đó con sẽ lớn lên thành người tốt thì đứa con đó hỏi rằng khi con thành người tốt phải chăng con có nhiều đồ chơi hơn, thì cha mẹ nói những thứ con chơi bây giờ đến lúc đó không còn giá trị gì nữa. Rất khó khăn để cho một đứa nhỏ nghĩ đến cái gọi là tương lai tươi sáng mà không có những món đồ chơi đó tại vì những món đồ chơi đó là tất cả là sự khao khát ở trong cuộc sống đối với một đứa nhỏ, nhưng với người lớn thì nó không có nghĩa gì hết.

Thì, Hữu Dư Niết-bàn đã khó để cho chúng ta hiểu rõ, để chúng ta mường tượng nói gì đến Vô Dư Niết-bàn. 

Nên phương cách Đức Phật Ngài đề ra cho chúng ta là chúng ta phải thấy rõ sự khổ, thấy rõ nhân sanh khổ, thấy rõ sự diệt khổ và thấy rõ con đường đưa đến sự diệt khổ. Một thí dụ chúng ta nghe trong kinh một người bị mũi tên bắn không cần phải hỏi dài dòng,  vấn đề quan trọng làm sao để rút mũi tên ra. Nếu chúng ta ý thức được khổ trong đời sống này, ý thức thật rõ, thật kỹ về Vô Thường, Khổ, Vô Ngã thì chúng ta chấp nhận Niết-bàn ở trong tri kiến của chúng ta Niết-bàn là cái gì vượt qua ngoài những thứ đó. Vì vậy, Đức Phật đặc biệt Ngài chú trọng đến tính cách thực tiễn. Thực tiễn ở tại đây là chúng ta phải nhìn nhận mình đang có khổ và từ cái nhìn nhận mình đang có khổ chúng ta tìm phương linh dược, tìm phương cách để trị cái khổ đó. Nói cách khác là cái nhìn qua giáo lý Tứ Đế. 

Không dễ dàng để một người phàm chúng ta hình dung được điều đó. Riêng đối với bản thân của chúng tôi thì chúng tôi có hai điều đơn giản thôi:
1. Một là Giác Ngộ.
2. Hai là Giải Thoát.

 Giác ngộ tức là khả năng nhận ra bản chất chung thực của các pháp, nó là Vô Thường thì mình nhận nó là Vô Thường. Nó là khổ mình nhận nó là Khổ. Nó là Vô Ngã mình nhận nó là Vô Vgã. Đó là giác ngộ.
 Và sự giải thoát là nguyện ước khả cầu giải thoát ở đây tức là giải thoát những nỗi đau khổ ở trong cuộc sống chúng ta có những bất an khổ đau. 

 Như mấy hôm nay chúng tôi đi tụng kinh đám tang một người phụ nữ có 7 đứa con nuôi lớn lên thành người trong cuộc sống bao nhiêu vui buồn bây giờ nằm đó thì trở nên vô nghĩa, bây giờ nằm đó nó không có ý nghĩa gì hết. Tại vì một khi thức lìa bỏ thân này thì thân này nằm ở trên mảnh đất nằm, ở trong quan tài giống như khúc gỗ vô dụng. 

Do vậy, Đức Phật Ngài dạy chúng ta rất rõ ràng nếu chúng ta nhìn thấy Sự KhổNhân Sanh Khổ thì chúng ta đủ để tha thiết với sự Diệt KhổCon Đường Dẫn Đến Sự Diệt Khổ. Khi chúng ta hiểu như vậy, khi chúng ta nhận thức như vậy thì chúng ta có thể mường tượng được thế nào là Niết-bàn.

 Qúi vị nhớ một điều rằng Đức Phật chưa bao giờ khuyến khích chúng ta phải thấy được Niết-bàn qua ngôn từ. Mà Ngài nói rằng chỉ có những vị Đoạn Sanh Tử mới thấy được Niết-bàn như là trong bốn tầng thánh vức chẳng hạn.

  Đó là vài điều chúng tôi muốn chia sẻ bài học hôm nay về Vô Dư và Hữu Dư Niết-bàn ./. 

Thursday, February 5, 2015

Ba tiêu chí của cuộc sống

Hỏi: Ba tiêu chí của cuộc sống - Kinh Như Thị Thuyết (LIV) (Tik. I, 5) (It. 48)

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, ngày 30-3-2014, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Đối với tất cả những người tu tập, chúng ta đều biết hoài bảo hay trí hướng trở nên rất quan trọng, ảnh hưởng sâu xa vào đời sống của mình. Đặc biệt đối với một người hành thiền. Ngày hôm nay chúng ta nói về ba sự tầm cầu và sự tầm cầu trong bài kinh đề cập đến chữ "esanà" có nghĩa là hoài bảo  là trí hướng, là sự mong mỏi. Thật ra, khi chúng ta đi vào ý nghĩa của những điều này rất cần để chúng ta trả mình về một thế giới tương đối rất riêng tư bớt đi nghĩa lý để có thể hiểu và có thể áp dụng được những gì Đức Phật dạy ở trong đời sống của chúng ta.

Trước nhất, chúng ta nói về Dục Tầm Cầu. Dục tầm cầu là một sự đi truy tìm, mong mỏi điều gì để thỏa mãn thị dục. Thị dục trong đời sống chúng ta có rất nhiều thứ. Ví dụ như, ăn ngon, mặc đẹp, cuộc sống có đầy đủ những khoái lạc về vật chất. Và phải nói rằng ở trong thế giới ngày hôm nay, thế giới chúng ta sống ở tại đây là một thế giới đặc biệt rất tinh vi về sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc.

Chúng tôi nhớ hồi còn nhỏ  định nghĩa thế nào là đẹp, thế nào là ngon, thế nào là thơm, thì những định nghĩa đó giản dị, giản dị đến nỗi nhiều khi mình không thể hình dung ra được cái gì là cái ngon ở trong đời sống. Một tô canh chua, hay một chén nước tương ớt chan vô cơm mình gọi là ngon. Nhưng trong xã hội tiêu thụ chỉ mới mấy mươi năm thôi nhìn lại thì định nghĩa gọi là ngon tinh tế hơn nhiều. Từ đông sang tây, từ quốc gia này sang quốc gia khác cái gọi là ngon và đặc biệt là tiêu chuẩn  trên thế giới này thì chúng ta phải nhận rằng càng ngày càng trở nên rất tinh tế. Sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc, những thứ đó có thể làm cho chúng ta cảm thấy thích, cảm thấy bằng lòng, cảm thấy đam mê. Nhưng mà rồi, nếu nó trở thành cái tiêu trí để chúng ta theo đuổi thì có lẽ suốt cuộc đời của chúng ta lúc nào cũng nghĩ mình sẽ thoả mãn thị dục của chính mình. 

Vấn đề của thị dục là chúng ta không biết bao nhiêu là tận cùng, bao nhiêu là đủ. Một người thích uống trà ngon không phải mình được uống một hai bình trà ngon là mình hết uống, không phải mình uống một hai tách trà ngon mình sẽ thoả mãn mà nó tạo ra một cảnh giới khó có thể đo lường được. Với một hành giả đang tu tập ở trong trường thiền khi nghĩ đến đồ ăn ngon điều đó sẽ dẫn đến một hành trình không có chỗ chấm dứt được. 

Bản thân của chúng tôi, ngày đầu tiên đến Thái Lan vào trong trường thiền Wat Pah Nanachat cảm giác của chúng tôi về chỗ ở thật sự đơn sơ, một am thất ở nơi rất vắng, quả thật đúng nghĩa của chỗ tu thiền. Nhưng mà, thưa qúi vị, chỉ có được một buổi thôi, ngày hôm sau chúng tôi đi vào trong làng để khất thực, theo qui luật của chùa ai cũng phải đi khất thực ngay ngày hôm sau, khi đó chúng tôi mới khám phá ra một điểm lôi cuốn rất lớn tại chùa của Ngài Ajahn Chah, tất cả các chùa của Ngài đều ăn một ngày chỉ một bữa, không có bữa điểm tâm, cách của Ngài tổ chức vào buổi sáng Chư Tăng uống một chút nước mino hay càfê sữa, uống xong mới đi khất thực, sau khi xong khất thực trở về giao thực phẩm cho nhà bếp, khoảng 8 giờ rưỡi lên phước xá nghe Ngài Cả nói pháp cho quí vị Phật tử. Sau khi nói pháp xong đến giờ tụng kinh.  Chư Tăng  tụng kinh đến 9 giờ thì thọ trai tức là dùng cơm, đó là bữa cơm duy nhất trong ngày lúc 9 giờ sáng. Đến 4 giờ chiều Chư Tăng dùng nước và như vậy cho đến ngày hôm sau. Nhưng có một vấn đề chúng tôi phải nhìn nhận đó là mặc dầu ăn một ngày một bữa nhưng thức ăn ở Thái Lan rất ngon, người Phật tử cúng dường Chư Tăng rất đầy đủ và thức ăn rất phong phú, người nào chịu ăn cay một chút hay thích ăn chua một chút thức ăn có nhiều đó là chưa kể trái cây, đồ ngọt thì nhiều lắm. Khi chúng tôi ở chùa Wat Pah Nanachat hầu như ngày nào cũng có những người Phật tử từ thành phố Bangkok đến chùa. Chuyện Chư Tăng đi khất thực một lẽ Phật tử cúng dường thêm thức ăn nhiều lắm. Một lần chúng tôi phải gặp Ngài Thiền Sư để thưa với Ngài: "Con cảm thấy những thức ăn ở đây có sức chi phối con rất lớn", và Ngài dạy chúng tôi ngưng ăn ở tại giảng đường ăn mà ăn tại phước xá và từ đó chúng tôi chỉ ăn thức ăn khất thực, nhưng dù thức ăn khất thực đi nữa nó cũng trở lên một cái gì rất đầy đủ rất hấp dẫn tại vì Phật tử cúng dường rất nhiều. 

Chúng ta phải nói một điều ở trong sự trống vắng của đời sống tu tập, ở bước ban đầu khi chúng ta vẫn chưa thấy được  giá trị thật sự của việc hành đạo, một điều chúng ta thường nghĩ là chúng ta thoả mãn thị dục của chúng ta, thị dục ở đây là cái ăn cái mặc. Đặc biệt là thức ăn và những gì làm chúng ta thỏa mãn ở trong 5 dục Đức Phật gọi là sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc. Những thứ đó trở thành một cái gì đó chi phối lôi kéo chúng ta đi. Chúng ta thấy có nhiều vị lớn tuổi không làm gì hết chỉ chuyên nghiên cứu làm sao uống trà ngon là được, hay nghiên cứu về rượu làm sao uống rượu ngon là được, những điều đó nó trở thành một nhu cầu lớn và điều đó qúi vị phải để ý nhiều nhất. Điều đó Đức Phật gọi là Dục Tầm Cầu.

Điều thứ hai chi phối chúng ta rất nhiều, đó là Hữu Tầm Cầu. 

Chữ "hữu" Đức Phật Ngài dạy chúng ta ở đây, chữ hữu trong Phật Pháp mang nhiều ý nghĩa. Khi chúng ta nói đến hữu tầm cầu là chúng ta mong mỏi trở thành một ai đó với cương vị gì đó. Thí dụ, hồi còn nhỏ mình là một người vô danh tiểu tốt thì mình không quan trọng chức vụ, không quan trọng địa vị và cũng không quan trọng người khác nghĩ mình là ai. Nhưng khi lớn lên ở một tuổi nào đó, ở một giai đoạn nào đó tự nhiên mình sẽ cảm thấy rất sung sướng, cảm thấy rất vui khi người ta biết đến mình là người giữ chức vụ này, chức vụ kia, là người này, là người kia. Mình trở thành một người nào đó, mình trở thành một ai đó, điều đó trở nên ăn sâu vào trong tâm của mình. Khi có mình rất vui và khi mất mình rất khổ, tại vì chúng ta rất nặng lòng với định nghĩa mình là ai. Chính về điểm này khiến cho chúng ta nặng với danh nặng với lợi, cái nặng này nó trở thành một gánh nặng cho đời sống của mình.

Chúng ta còn nói đến một thứ khác, ở đây Đức Phật gọi là Phạm Hạnh Tầm Cầu. 

Phạm hạnh tầm cầu này được xem mình tu là để mình được một kiểu nào đó, được một cung cách nào đó, được một cái hạnh nào đó, và cái đó trở thành cứu cánh đối với mình. Như thời gian gần đây chúng tôi đọc câu chuyện về ông đạo dừa. Ông Đạo Dừa là một người tu rất là khác với kiểu cách riêng của mình. Người đi tu thì có nhiều người rất thích bày vẽ, rất thích đặt nặng một kiểu nào đó ở trong cuộc sống. Ngày xưa ở bên Nhật người ta đã ban ra một luật để cấm các nhà Sư trong việc chuẩn bị cách chết, có nhiều vị muốn chết ở trong cái chết rất là thiêng liêng rất đặc biệt như chết trong tư thế ngồi hay chết xác không bị mục rữa, các vị chuẩn bị cái chết rất là kỹ. Qúi vị nghe thấy cũng lạ người ta chuẩn bị cái sống chứ ai chuẩn bị cái chết, nhưng có thời gian các nhà Sư Nhật họ rất quan trọng họ chết như thế nào để thấy họ có nội hàm, chết như thế nào để thấy họ có đức tu, và chết như thế nào để thấy họ hiển thánh, họ trở thành cái gì rất đặc biệt. Thật ra phạm hạnh tầm cầu  nó cũng đi với một kiến giải, một kiến chấp đặc biệt ở trong đời sống.

Ở đây, chúng ta nói đến ba hoài bảo hay ba ước vọng của cuộc sống, về điều này Đức Phật Ngài dạy cho chúng ta hai điều rất rõ: 
1. Điều thứ nhất, cứu cánh của đời sống phạm hạnh hay đời sống tu tập nó vượt lên trên cả hai quan niệm thiện và ác. 
2. Điều thứ hai, ngay trong đời sống hiện tại này chúng ta phải nhận thức được tất cả bằng chánh niệm, chánh trí. Chánh niệm ở đây là chúng ta thấy rõ cái gì đang xảy ra, thấy được tâm tư của mình. Nhiều người trong chúng ta rất hãnh diện, rất tự hào vì mình đi guốc trong bụng người khác, nhưng chuyện đó không quan trọng, cái quan trọng là làm sao biết rõ mình đang muốn cái gì và khi chúng ta thấy được ý muốn đó lâu ngày những thứ đó sẽ không có trở thành một cái gì đó ám ảnh và chi phối chúng ta nhiều. 

Thành ra, nếu chúng ta đi sâu vào đời sống tu hành, đặc biệt trong giới tu sĩ thường hay dính mắc một trong ba thứ tầm cầu đó: 

- Hoặc giả một người vào chùa lâu thời gian ban đầu có bao nhiêu hạn chế khiến cho mình mong mỏi được thoả mãn cái này được thoả mãn cái kia về thị dục, chúng ta gọi là Dục Tầm Cầu. 

- Cũng có người rất nặng về Hữu Tầm Cầu. Mình đi tu rồi có khi ăn không cần, có khi gia đình không cần, có khi quyền lợi không cần nhưng rất cần cái danh. Chưa có thời đại nào như thời đại hôm nay, từ vị lớn đến vị nhỏ, đi đâu một vị tu sĩ cũng giới thiệu đủ thứ chức vụ và chúng tôi có cảm nhận một điều rằng đôi khi một người tu sĩ không chức vụ gì hết thì người ta cảm thấy người ta nhẹ thể. Thật ra đó chỉ là hư danh thôi, tất cả chỉ là hư danh. Và cũng phải nói trong thời buổi điên đảo vọng tưởng trăm chuyện thì những chức vụ đó là hư ảo. Chúng tôi lấy ví dụ là cách đây 3, 4 chục năm danh vị Hoà Thượng, một vị được tấn phong lên Hoà Thượng hay Thượng Tọa là chuyện rất lớn, nhưng ngày nay chuyện đó trở nên rất bình thường, một người trên 40 tuổi xưng là Thượng Toạ, trên 60 tuổi thì xưng là Hoà Thượng. Thì khi mình đi tu nặng về danh nó cũng là vấn đề. 

- Và có những vị đi tu chỉ thích làm theo cái hạnh nào đó, thí dụ như mình muốn người ta biết đến mình sống khổ hạnh, mình muốn người ta biết đến mình là mình sống chuyên về niệm Phật, mình muốn người ta biết đến mình chuyên về một cái hạnh nào đó. Nhưng đối với Đức Phật, cái đó không phải là cứu cánh của cuộc sống phạm hạnh, cái cứu cánh của đời sống tu tập nếu vị nào đọc ở trong bài kinh Cetanasutta là bài kinh số 45 ở trong Tương Ưng Bộ kinh, Đức Phật định nghĩa rõ một vị thật sự sống vượt ngoài những tuế toái đó là vị sống với chánh tri kiến, sống với chánh niệm và sống với một ý thức trọn vẹn về cái gì cần làm, nên làm ở trong giờ phút này.

Chúng tôi lấy ví dụ, chúng ta ở đây đang làm việc trong rơom Phật Pháp, cũng thời tích cực làm việc trong sự tích cực làm việc đó có thể chúng ta có được ba thứ:

 1. Một là chúng ta làm việc vì Dục Tầm Cầu. Chúng ta mong muốn được nghe được thấy những âm thanh những hình ảnh rất thân thương, rất quen thuộc, rất khả ái. Chúng ta gọi là Dục Tầm Cầu

  2. Và cũng có thể chúng ta làm việc ở đây vì Hữu Tầm Cầu. Bởi vì chúng ta làm việc tích cực dấn thân để mong rằng người đó biết mình là ai, mình ở địa vị nào đó, mình được sự nể trọng sao đó. Gọi là Hữu Tầm Cầu. 

  3. Nhưng cũng có những vị muốn làm việc đó như để thể hiện cái hạnh của mình, cái này là cái thật sự mình làm, cái này là cái mình nghĩ rằng quan trọng nhất trong cuộc đời của mình.

    Thì cả ba điều đó đều nằm trong thế khiến chúng ta quên đi chánh niệm. Chúng ta có thể làm, chúng ta có thể hành động, chúng ta có thể thể hiện. Nhưng cái thể hiện hành động đó chúng ta hiểu được mức độ tương đối, mức độ vừa phải, mà chúng ta không nhìn thấy ở đó sự tuyệt đối, không phải là cứu cánh của chúng ta. 

    Thật ra điều này khó lắm, rất khó để trong cuộc sống chúng ta sống bằng chánh niệm. Hễ con người nhập cuộc làm việc gì thì chúng ta cứ nghĩ rằng mình phải sống chết với điều đó, đó là tất cả. Cũng như ở trong tình yêu, trong công ăn việc làm, ở trong sự dấn thân của chúng ta, một người nào đó, một điểm nào đó, một công việc nào đó, thì thường nó làm cho chúng ta nghĩ rằng cái đó là tất cả, cái đó là mục đích tối hậu và chúng ta chỉ biết có điều đó thôi, chúng ta không muốn biết điều khác nữa mà chúng ta chỉ muốn biết điều đó. Những thứ đó thật sự là chúng ta thất niệm, thật sự là chúng ta không có quán chiếu, không biết rõ.

Khi Đức Phật trở về thành Ca Tỳ La Vệ lần đầu tiên có 7 vị, trong đó có 6 vị hoàng tử giòng Thích Ca và Ngài Upali là người thợ hớt tóc và trong số 6 vị hoàng tử đi xuất gia có Ngài Anuruddha là một vị rất lỗi lạc nhưng trong sự tu tập thì quả thật Ngài bị chướng ngại. Và Ngài đem chuyện đó nói với Ngài Xá Lợi Phất, ở trong câu nói Ngài trình bày: "Này Hiền giả tôi đã chứng ngộ điều này. tôi đã chứng ngộ điều kia". Tôn Giả Xá Lợi Phất đọc tư tưởng đó Ngài nói: "này Hiền giả, khi nói tôi chứng cái này, tôi chứng cái kia, nó là sự kiêu mạn sanh khởi". 

Chúng ta thường có những hi cầu có một sự mong mỏi mình sẽ đóng một vai nào đó, trở thành một người nào đó quan trọng trong cuộc  đời. Thật ra nói cho cùng tất cả những điều chúng ta biết được trong cuộc sống nó đều rất tạm, nó đều phù du. 

Một lần Ngài HT Hộ Giác bệnh, chúng tôi ở trong bệnh viện với Ngài và lúc đó bác sĩ họ đã chuẩn bệnh Ngài xong, chúng tôi cầm tay của Ngài thoa bóp, một phần là trưởng lão, phần nữa đôi khi chúng tôi cảm tưởng chúng tôi xoa bóp tay chân của Ngài như một cử chỉ nói lên sự quan tâm của chúng tôi đối với Ngài. Và hôm đó chúng tôi thấy da của Ngài trổ đồi mồi, nhăn nheo. Chúng tôi nói với Ngài rằng: 

- "Bây giờ con xoa tay cho Ngài con nhớ khi Ngài Ananda khi xoa tay cho Đức Phật thấy tay Đức Phật giống như vậy thì Đức Phật Ngài nói rằng sự vô thường".

 Ngài Hộ Giác Ngài hiểu chúng tôi nghĩ cái gì vì câu chuyện đó Ngài đọc nhiều lần lắm, Ngài nói trong kinh Pháp Cú Đức Phật Ngài dạy 

 - "Thân ta như lá úa, diêm chúa đang trực chờ. Đường dài không quán trọ, dặm trường thiếu tư lương" 

 Và Ngài cũng nhắc với chúng tôi rằng câu đó đọc chánh văn Pali nghe thắm thía và Ngài đọc bằng tiếng Pali. 

 Thì lúc nói chuyện với Ngài và nhìn Ngài chúng tôi có cảm nhận một điều; Ngài đã sống qua một cuộc đời, ở trong cuộc đời đó có đủ thăng trầm, có đủ vinh nhục, có rất nhiều những giai đoạn. Nhưng khi Ngài nằm ở trên giường bệnh trong tuổi già, trong tuổi giống như ngọn đèn leo lét sắp tắt. Thì thưa qúi vị, những địa vị, những danh vọng, những cái này cái kia nó không quan trọng mà chúng ta thấy quan trọng nhất đó là Chánh Trí và Chánh Niệm. Chánh Trí và Chánh Niệm đó là khả năng có thể nhìn, có thể thấy mà không có tha thiết với những điều vốn tạm bợ. 

Thật sự về điều này rất khó để tất cả chúng ta có thể tỉnh táo ngay trong giờ phút hiện tại và sự tỉnh táo thấy biết rõ Đức Phật gọi là sati sampajañña  là biết rõ ràng. Theo các nhà sớ giải sự biết rõ ràng cũng gọi là trạng thái bujjhati tức là giác niệm hay tỉnh giác biết rõ. Chúng ta cứ tưởng tượng rằng ở trong cuộc tu có những thứ rất hấp dẫn nó chi phối chúng ta rất nhiều và chúng ta nghĩ rằng nó là tất cả. Có nhiều vị tha thiết với những chuyện ăn, có người tha thiết chuyện mặc, có người tha thiết với danh, có người tha thiết với lợi, và họ dở sống dở chết với cái đó, không có cái đó họ sống không được, không có cái đó thì họ chịu không nổi, không có cái đó thì họ khổ. Cho dù đó là Dục Tầm Cầu, Hữu Tầm Cầu, Phạm Hạnh Tầm Cầu thì đối với Đức Phật chúng ta phải vượt lên trên sự tầm cầu đó bằng chánh niệm trong hiện tại. 

Có một lần Đức Phật ngồi trong hội chúng Tỳ Kheo và lúc đó Ngài đang im lặng, Tôn Giả Xá Lợi Phất ngồi không xa Ngài bao nhiêu, trong lúc Thế Tôn không nói gì hết thì Ngài Xá Lợi Phất nhìn vào hơi thở ra hơi thở vào, Đức Phật Ngài đọc được tư tưởng đó Ngài mới dạy Chư Tỳ Kheo rằng đó là hình ảnh của một vị Tỳ Kheo, Đức Phật muốn tất cả chư Tỳ Kheo biết và thực hành đó là an trú chánh niệm
Chánh niệm ở đây là không đi tìm nó, không đặt nặng nó trở thành một cứu cánh của đời sống, nó không trở thành mình phải là thế này phải là thế kia. Bởi vì chúng ta có vẽ vời bao nhiêu đi nữa chúng ta muốn trở thành bao nhiêu người đi nữa thì nó cũng không bằng chúng ta ngồi xuống nhìn hơi thở  ra hơi thở vào. Cái khả năng có thể nhìn vào hơi thở ra hơi thở vào, cái khả năng ý thức biết được thân và tâm của mình ở trong từng chập từng phút nó đang sanh đang diệt đối với Đức Phật điều đó quan trọng.

 Nên chi, trong truyền thống Phật Giáo thì sự vô  cầu, vô tranh, vô trước là những từ ngữ được nhắc đi nhắc lại rất nhiều, chúng ta sống vốn luôn luôn đi với sự truy cầu:  
 -"Ra đi khắp bốn phương trời,
 Tìm ai mỏi mắt trọn đời không kham,
Ta về gặp lại tình ta,
Dấu chân viễn mộng cũng là phù du".

 Chúng ta đã là một người như vậy từ thời nhỏ lớn lên mình luôn luôn đi truy cầu, truy cầu cái gì mình thích, mình luôn luôn truy cầu, truy cầu là mình sẽ trở thành một người nào đó, hay truy cầu mình sẽ làm việc gì đó trong đời sống tu tập của mình. Nhưng mà đối với tất cả thì Đức Phật dạy chánh niệm mới là quan trọng. Bởi vậy chúng ta có làm gì đi nữa thì chúng ta phải trở về với ý thức là mình đang cỡi rô bôt, đang bước bằng chân phải, đang bước bằng chân trái, mình đang thọ khổ hay thọ lạc, tâm mình đang định tỉnh hay là phân tán. Những điều đó rất quan trọng, và đặc biệt thiết yếu đối với người tu tập hơn là sự đuổi bắt. Chúng ta có thể đi đuổi bắt cả cuộc đời nhưng mà rồi chúng ta không tìm ra được chân lý thật sự, không tìm ra được cứu cánh thật sự. Thậm chí chúng tôi thấy một điểm như vầy là có những người suốt cuộc đời họ giống như một nhân vật trong một cuốn phim nào đó, họ bỏ ra cả cuộc đời chỉ đi trả thù, suốt cuộc đời họ chỉ có tranh chấp, suốt cuộc đời họ để ra sẽ chống lại một ai đó và cái đó nó là lý tưởng nó là cứu cánh. Thật ra nó không là lý tưởng là cứu cánh, chúng ta sanh ra đời để hận thù, sanh ra đời để chống người này chống người kia, đó không phải là cứu cánh của người con Phật. Cứu cánh của người con Phật là thắp sáng được ý thức thực sự thân mình như thế nào, tâm mình như thế nào. Và khi chúng ta thắp sáng được ý tưởng đó, thắp sáng được chánh niệm đó, thắp sáng được chánh trí đó thì dần dà chúng ta sẽ làm được như lời Đức Phật dạy:

 - "Này chư Tỳ Kheo, bậc Thanh Văn được nghe và thấy như thế rồi liền sanh tâm nhàm chán đối với sắc thọ tưởng hành thức, do nhàm chán vị ấy ly tham, do ly tham tâm được giải thoát, khi tâm được giải thoát vị ấy biết rõ sanh đã tận phạm hạnh đã thành những gì nên làm đã làm và không còn tái sanh nữa". 

Bài học này thật ra là bài học rất lớn, chúng ta vẫn thường đưa ra những gì rất dao to búa lớn, đưa ra những gì rất hấp dẫn, đưa ra cái gì để chúng ta đuổi bắt nhưng trên thực tế tất cả những điều đó chỉ làm cho chúng ta mất đi khả năng quán chiếu hiện tại.

 Có một lần chúng tôi gặp  một anh Phật tử tên Steven đi dự hai khóa thiền ở thiền đường IMS. Sau khi tham dự hai khóa hành thiền anh muốn trở thành thiền sinh thật thụ, anh mua một ngôi nhà ở trong khu tương đối rất yên tịnh, dọn một phòng thờ Phật rất đẹp, ở trong phòng thiền đó được trang trí rất đầy đủ gồm toạ cụ kể cả bộ quần áo mặc để hành thiền anh cũng lựa rất kỹ dệt bằng cotton và bông hoa rất là kỹ kể cả mọi thứ đều rất là kỹ như là một thiền sinh chính hiệu. nhưng mà rồi có một lần anh thỉnh một Thiền Sư người Anh là Ngài Amaro đến nhà, sau khi nghe pháp thì anh mới hỏi Ngài Amaro "chỗ con sắp xếp ở đây Ngài thấy có thích hợp cho sự tu tập không?" Thì Ngài Amaro trả lời rằng "lẽ ra thì nó lý tưởng lắm nhưng nếu anh chấp rằng chỉ có trong nhà này, chỉ có trong bối cảnh này, chỉ có trong bộ đồ này, chỉ trong khung cách này anh mới tu thiền được, anh mới tu tập được thì anh có vấn đề". Anh nghe như vậy anh rất thất vọng, tại vì anh nghĩ rằng anh cố gắng làm theo một thiền sinh thật thụ. Nhưng mà thưa quí vị, nói cho cùng tất cả sự truy cầu đó đều là sự đóng khung, và sự đóng khung đó khiến cho anh không tu tập được. Có nhiều sự tu tập ở trong đời, mình tu tập ở giữa chợ, mình tu tập ở trong hoàn cảnh khó khăn, mình tu tập ở chỗ không ra cái gì hết, có nhiều khi mình không là ai hết cũng như một thi sĩ nói rằng "xin đại nguyện giữa vô cùng sa mạc lấy muôn thân đảnh lễ Phật lên đường". Lấy muôn thân đó thật sự là một mình có thể lên đường bất cứ giờ phút nào. 

 Bài học ngày hôm nay,  chúng ta nói về ba sự truy cầu của cuộc sống và khi nói ba sự truy cầu ở đây ý nghĩa rất rộng. Chúng ta tha thiết theo đuổi và nghĩ rằng đó là cứu cánh, đó là tất cả, đó là điều chúng ta mong mỏi trong cuộc sống. Nhưng kỳ thật thì đối với người Phật tử điểm chính của chúng ta đó là thắp sáng Chánh Niệm, thắp sáng Chánh Trí và thấy rõ được hiện tướng thực tướng của thân tâm mình. Và chúng ta không có kỳ vọng, không truy cầu một cái gì đó nó trở thành lý tưởng hoàn toàn của chúng ta. Cũng như tất cả chúng ta đang sống ở trong giây phút này cho dù qúi vị đang ở Hoa Kỳ, đang ở Âu Châu, đang ở Việt Nam, cho dù buổi sáng hay buổi chiều, cho dù khoẻ hay không khỏe, với giờ phút chúng ta có được và chúng ta hãy đem tất cả chánh niệm ý thức mình đang hiện hữu, đây là thân, đây là tâm, đây là hơi thở vô, đây là hơi thở ra, đây là pháp Đức Phật chúng ta đã nghe. Nhưng chúng ta không nhất thiết ngồi đây để tưởng tượng rằng vốn mình sẽ trở thành thế này mình sẽ trở thành thế kia. Bởi vì tất cả sự truy cầu thường dẫn chúng ta đến rời xa với thực tại 

Sunday, February 1, 2015

Người tu tập cầu giải thoát có cần thể hiện hạnh bố thí chăng?

Hỏi: Người tu tập cầu giải thoát có cần thể hiện hạnh bố thí chăng? 

Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma. Ngày 11-1-2015, Minh Hạnh chuyển biên

TT Pháp Tân: Trong kinh Đức Phật Ngài dạy trong sự tu tập có ba loại phước, đó là: phước vật, phước đức và phước trí.  

 Trong giai đoạn tu của một người tu tập có loại phước như phước vật, bồi bổ phước vật rồi bồi bổ phước trí cũng như bồi bổ phước đức. Như mười công đức thiện sự chư Phật tử  chúng ta cũng thường nghe từ việc bố thí, trì giới, rồi tham thiền, cung kính phục vụ, tùy hỉ phước, hồi hướng phước và thính pháp, thuyết pháp chánh tri kiến, đó là mười việc làm tạo nên ba loại phước là phước đức, phước vật và phước trí. 

  Đối với người cư sĩ có những điều kiện thuận lợi để bố thí, tùy vào mỗi một người, tùy vào những hoàn cảnh đời sống khác nhau nhưng có những điều kiện thuận lợi để bố thí cúng dường. Vì người cư sĩ có công việc làm tạo ra tài sản bằng bàn tay lao động chính đáng của mình tạo ra.
  
   Đức Phật Ngài dạy trong kinh Thi Ca La Việt, một người cư sĩ tạo ra tài sản chia làm 5 phần, là trả nợ cũ  cho vay nợ mới, đền ơn cha mẹ ông bà, nuôi cha mẹ ông bà, nuôi con cái cháu chắc, nuôi những người thân của mình, rồi lo chi dụng cho đời sống hàng ngày, để dành tiếp đãi một phần là chôn của để dành, tạo phước để dành hoặc để dành của  trong tương lai. Khi nói chia tài sản ra làm 5  trong đó có một phần là bố thí cúng dường để tạo phước cho mình, người cư sĩ có những thuận lợi là do tạo ra những của cải tài sản nên chúng ta có thể dể dàng bố thí cúng dường. 
   
   Trong kinh Tăng Chi, công chúa Sumana hỏi Đức Phật: "có khác chăng giữa hai người xuất gia đồng niềm tin, đồng chí tuệ, đồng giới hạnh giống nhau nhưng một người có bố thí một vị không bố thí có khác nhau ở chỗ nào?" 
   
   Đức Phật Ngài dạy rằng: "vị có bố thí vị đó sẽ được những vật dụng thí dụ như được những người đàn tín mời đi trai tăng cúng dường những vị đó sẽ được y áo cũng sẽ được những thuận lợi trên phương diện vật chất. Còn vị không bố thí sẽ bị thiếu đi những điều đó". 
   
   Chúng ta chưa kể những nhân chúng ta gieo làm cản trở phước. Chẳng hạn như chúng ta thấy trong những đệ tử của Đức Phật có vị đệ nhất về tài vật là Ngài Sivali Ngài có đầy đủ những tài vật đi đâu dù Chư Tăng ở trong rừng trong một đoạn đường vắng không có xóm làng thôn ấp nhưng nếu có Ngài Sivali trong đoàn thì Chư Tăng không bao giờ bị thiếu thốn về vật thực, tức là do phước của Ngài Sivalilớn vậy. Nhưng ngược lại, một vị cả một buổi ăn cũng không được no đó là Tôn Giả Losaka, Tôn Giả bị đói là do quả của đời trước có thể một là do không bố thí hoặc do cản trở hay hủy hoại vật thực của một vị Alahán nên bị quả đói trong nhiều kiếp, kiếp cuối cùng mặt dù đã chứng quả vị Alahán nhưng vẫn bị đói không có một bữa no cuối cùng thì Ngài Xá Lợi Phất biết được điều đó Ngài mới cho dùng một bữa cơm cuối cùng rồi Ngài Losaka tịch diệt. 
   
   Đó là chúng tôi nói hai mảnh đời cuả hai vị Thánh, một vị đầy đủ về vật thực, một vị thiếu thốn về vật thực. Thì ở đây, hạnh bố Đức Phật Ngài dạy chung, dạy cho những ai biết tu. Trong mười pháp độ Balamật có pháp bố thí Ba la Mật. Thì bây giờ muốn tu để đạt được sự giải thoát, mình tu ở vai trò một người cư sĩ hay tu ở vai trò của một bậc xuất gia thì hạnh bố thí vẫn cần thiết cho đời sống tu tập của mình.
   
   Người ta có câu "Tại gia thí tài, xuất gia thí pháp". Thí pháp thì tạo phước trí có thể là nhân để tạo phước trí. Nhưng thí tài là nhân tạo phước vật. Nếu mình tạo phước vật thì mình có nhiều thuận duyên hơn như trường hợp chúng tôi đã nói khi nãy Đức Phật trả lời công chúa Sumana là :"cả hai vị xuất gia cùng đồng niềm tin, đồng giới hạnh, đồng trí tuệ thì chuyện đắc đạo đắc quả giống như nhau nhưng về một vị có bố thí cúng dường thì vị đó sanh trong đời nhiều kiếp sẽ đầy đủ vật dụng hơn, còn nếu như vị không bố thí cúng dường thì vị đó sẽ thiếu thốn vật thực thiếu thốn về tài vật v.v... 
   
   Thì ở đây, nếu như mình có nhiều thuận lợi về vật chất tuy rằng vật chất của cải cũng chỉ là vật tạm thôi, mình hiểu trong lý của Phật giáo nó cũng là vật ngoài thân, nó cũng chỉ là một phương tiện nhưng nếu như mình có được những sự thuận lợi đó giống như chúng tôi thường nói câu "lấy củi đậu nấu đậu" tức là mình có phước thì mình bố thí cúng dường để mình tạo những sự thuận lợi nữa để mình tu tập thêm nữa. Vì vậy cho nên việc tu tập chúng tôi nghĩ rằng dù một vị xuất gia hay một vị tại gia hạnh bố thí là hạnh rất cần thiết.
   
    Nhưng nói về người cư sĩ thì có những sự thuận lợi hơn. Người cư sĩ tạo ra tài sản bởi vì: Một là  có tinh cần, có sự siêng năng để tạo ra tài sản. Hai là có phước để giữ được tài sản, hay có được sự thuận lợi để giữ được tài sản, đó là nhờ mình có phước.
 Cho nên, tu tập bố thí cúng dường để tạo phước, vừa là tập hạnh xả ly cho chính mình và vừa tạo phước cho chính mình để có những sự thuận lợi ở trong đời sống hiện tại, cũng như là đời sống tương lai. Trong đời sống luân hồi mình cầu đạo giải thoát mình nhờ có hạnh bố thí. 
 
Tuy nhiên, trong mười thiện sự thì thiện sự nào mình có thể làm được thì mình vẫn phải làm chứ không nhất thiết phải là hạnh bố thí là dành cho người cư sĩ mà bậc xuất gia cũng có. Nhưng người cư sĩ có những sự thuận lợi do phương diện vật chất tạo ra của cải vật chất có thể bố thí cúng dường một cách dễ còn Chư Tăng xuất gia sống nhờ phước nhờ sự hộ độ của những người đàn na tín thí nhưng Chư Tăng thì thí pháp, và nếu Chư Tăng có tài vật thì đó là một sự thuận lợi để Chư Tăng bố thí cúng dường đến Tăng Chúng đó là cái điều cần thiết  ./. 

Monday, January 26, 2015

Ba Con Mắt - Kinh Như Thị Thuyết

Ba Con Mắt - Kinh Như Thị Thuyết - bài 47

Bài giảng trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 27-4-2014, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Hôm nay chúng ta nói về một giác quan so với những giác quan khác trong ngũ quan như thính giác là cái biết của tai, khứu giác là cái biết của mũi, vị giác là cái biết của lưỡi, và xúc giác là cái biết của thân, thì thị giác là cái biết của mắt chiếm một vai trò cực kỳ quan trọng. Con mắt cho chúng ta  một tầm nhìn rất xa thậm chí chúng ta có thể nhìn thấy những vì sao lấp lánh ở trên bầu trời cách chúng ta cả triệu năm ánh sáng, chúng ta cũng nhìn thấy chiều kích ngang và dọc theo trục tung và trục hoành. Và thậm chí chúng ta cũng được biết tới Three-dimensional tức không gian ba chiều, có chiều ngang chiều cao và chiều sâu, và người ta còn nói đến không gian bốn chiều. Nhưng đại để, con mắt cho chúng ta thấy nhiều chiều kích khác nhau của sự vật. Và trên phương diện truyền thông con mắt chúng ta giúp chúng ta rất nhiều. Nụ cười thân thiện hay một ánh mắt lo lắng hoặc vẻ mặt hiền hoà của người thân của mình tất cả điều đó được thể hiện bằng qua cái nhìn của chúng ta. 

Khi đề cập đến mắt, chúng ta thấy cuộc sống có những gắng bó sâu xa liên quan đến mắt của mình, liên quan đến cái gì mình thấy. Chúng tôi muốn nói trong thời gian qua tại chùa chúng tôi có nhờ Sư Chơn Thiện tạc pho tượng Ngài HT Hộ Giác. Ban đầu chúng tôi nghĩ tạc pho tượng này rất đơn giản, mình có khoảng chừng mấy mươi tấm hình chụp chiều thẳng, chiều ngang, và ở trên cao chụp xuống thì có thể tạc được pho tượng. Nhưng khi Sư Chơn Thiện bắt đầu tạc pho tượng chúng tôi mới nhận ra nó đòi hỏi vô số yêu cầu về kỹ thuật lẫn nghệ thuật. Lấy một ví dụ, hình của HT có hình lúc trẻ, có hình lúc già, có hình lúc khỏe mạnh, có hình lúc đau bịnh, có hình lúc Ngài trầm tư, có những hình lúc Ngài đang sinh hoạt bình thường. Khi đưa ra nhiều tấm hình để lựa chọn một trong những nét đó tạo thành một pho tượng của Ngài thì thật không đơn giản. Và lúc đó chúng tôi nhận ra một điểm là qua ấn tượng hình ảnh chúng ta thấy đi vào trong lòng, đi vào trong sự cảm nhận của chúng ta, thí dụ, khi Sư Chơn Thiện tạc tượng của Ngài Sư chưa bao giờ gặp Ngài, còn chúng tôi gặp Ngài ở trong rất nhiều trường hợp khác nhau và bây giờ bỏ ra một bức hình nào đó giống Ngài, lựa chọn một hình ảnh nào đó trong cả ngàn bức hình của Ngài rồi từ đó tạc lên pho tượng của Ngài thì lại là một yêu cầu không đơn giản. Chúng tôi lấy ví dụ, một hình ảnh trang nghiêm khác với hình ảnh gần gủi từ hòa, hình ảnh của Ngài lúc bệnh khác với hình ảnh lúc Ngài lúc trẻ khỏe mạnh. Nói một cách khác, quả thật ở trong sự nhận thức ở trong sự cảm nhận của chúng ta chỉ ghi nhớ một người rồi chọn ra một hình ảnh gọi đặc trưng gọi tiêu biểu thì hoàn toàn không đơn giản chút nào.

Thế giới chúng ta sống hàng ngày ở chung quanh muôn màu muôn sắc. Tuần lễ trước đây chúng tôi đi đến trại hướng đạo Phật tử Pháp Luân, các em cắm trại kỷ niệm chu niên, cũng  xa lộ đó những thảm hoa bluebonnet loài hoa dại vào mùa xuân của Texas, chúng tôi đã đi và nhìn thảm hoa đó nhiều lần nhưng hôm đó một ngày chúng tôi đi có nhiều công việc, đến đó rồi tất bậc trở về có thể nói rằng nó cho chúng tôi một cảm giác khác hơn nhiều lần trước. Ngày hôm nay khi chúng ta đọc trong kinh điển như kinh Chuyển Pháp Luân, Đức Phật Ngài mô tả giây phút khi Ngài giác ngộ và lúc bấy giờ Ngài thấy Ngài biết Ngài hiểu nhân sanh tuệ sanh, thì đặc biệt cái biết do thấy nó trở thành một từ ngữ bắt nhịp giữa cái nhìn liên quan đến thị giác của chúng ta và liên quan đến tuệ giác. Cái thấy chúng ta được nói là một sự nhận diện ở trong một hình thức sơ khai nhất. Lấy ví dụ chúng ta gặp một người cao là như vậy, thấp là như vậy, màu da trắng là như vậy, màu da đen là như vậy, mặt trái xoan là như vậy, mặt chữ điền là như vậy, cái nhận dạng đó liên quan đến thấy và cái thấy đó cũng bao gồm thế giới rất trừu tượng là khả năng nhận dạng đó đầu óc chúng ta mới phân tích cái đó là cái gì, có vai trò như thế nào, nó cần đến sự mổ sẻ phân tích chi li, nhưng sự nhận dạng đầu tiên giúp cho chúng ta phân biệt được cái này khác cái kia, cái này tròn cái kia vuông, cái này nó có hình dạng như vầy v.v... 

Ngày hôm nay chúng ta học về ba con mắt, ba con mắt ở đây là một là nhục nhãn, hai là thiên nhãn, ba là huệ nhãn.

Nhục nhãn là mắt thịt, là con mắt chúng ta có. Thật ra mắt thịt của chúng ta dù ở một người bình thường nhất cũng là cơ phận rất độc đáo. Cơ phận đó cho chúng ta biết, cho chúng ta quan sát, cho chúng ta thấy. Khi chúng ta học về cơ phận của con mắt thấy rằng nó làm một việc hết sức lợi ích cho chúng ta là mở cánh cửa qua đó chúng ta thấy nhiều thế giới ở bên ngoài từ những đường nét kỷ hà học cho đến màu sắc cho đến tính cách của con người. Không có con mắt thịt chúng ta không thấy được đường đi lối về, chúng ta không nhìn thấy ánh mắt thương yêu của mẹ, chúng ta không nhìn thấy được những đóa hoa đẹp nở trong vườn, chúng ta cũng không cảm nhận được sự khác biệt giữa hoàng hôn và bình minh. Đôi mắt đó cho chúng ta thật nhiều nhưng nó cũng làm chúng ta hệ lụy thật nhiều, những cái chúng ta thích, những cái chúng ta yêu thương, những cái chúng ta thù ghét, thậm chí nói như cụ Nguyễn Du "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng". Có lúc nào đó người ta muốn nhắm mắt, người ta muốn quay mặt không muốn thấy những điều mình không muốn thấy, nhưng mà rồi mình cũng phải thấy. Và con mắt cũng có nhiều nhu cầu. Vì con mắt đó chúng ta bỏ công rất nhiều để sửa chữa nhà cửa chăm sóc khu vườn. Vì con mắt đó chúng ta hết lòng yêu thương người này và chúng ta hờ hững với người kia. Vì con mắt đó chúng ta bỏ ra bao nhiêu tiền để đi du lịch đến nơi có những cảnh đẹp cảnh lạ những cảnh hùng vĩ. Vì con mắt đó chúng ta có nhu cầu đòi hỏi về màu sắc, có người hợp màu vàng, có người hợp màu trắng, có người hợp màu đen. Vì con mắt đó chúng ta có rất nhiều y phục thời trang thay đổi hàng năm, loài người tốn hàng tỉ tỉ tiền bạc cho thời trang cho quần áo cho các vật trang sức. Nói chung thì cái gọi là nhục nhãn hay con mắt thịt cái mà nó rất tầm thường nhưng nó chi phối đời sống chúng ta rất lớn. Tất cả cái thấy và cái biết của mắt của chúng ta đều lệ thuộc vào một thứ đó là nhãn căn hay chính con mắt của mình. 

Đời sống bình thường chúng ta không thấy qúi nhưng khi lớn tuổi mắt mờ, mắt bị cườm phải đi chữa mắt ở bác sĩ chúng ta mới thấy con mắt đó hoạt động rất tinh vi chỉ một chút vấn đề nhỏ như bị cườm chẳng hạn thì chúng ta cần có một chuyên gia nào đó để trả chúng ta lại cái nhìn bình thường, hay khi mắt chúng ta bị cận thị hay viễn thị chẳng hạn cũng cần đến kính cũng cần đến giải phẩu tia laser. Nói chung, con mắt đó cần chúng ta chăm sóc tốt.

 Con mắt đó tuy rằng vi diệu, tuy rằng tinh vi, tuy rằng đặc biệt nhưng nó có những hạn chế nhất định. Chúng ta không thể nhìn thấy bóng đêm, chúng ta không thể nhìn thấy quá xa, chúng ta không thể nhìn thấy những vật quá nhỏ. Không có thời đại nào trong lịch sử loài người trước đây có những kỹ thuật cho phép chúng ta nhìn thật xa thật rõ thật li chi những điều chúng ta vốn không nhìn thấy được. Đến thế kỷ thứ 15, 16 khi con người bắt đầu biết dùng kính hiển vi thì chúng ta có thể nhìn thấy được những vật rất nhỏ mắt thường chúng ta không thấy được. Và thế kỷ 20 với những viễn vọng kính đưa ra ngoài thái không như   Hubble hay Chandra chúng ta có thể nhìn thấy những tinh cầu rất xa xôi những thiên hà (galaxy) trước kia con người thấy rất mờ nhạt hay không thấy được. Chúng ta nói đến những tập thể cách trái đất cả hàng triệu năm ánh sáng và trở thành một điều rất thú vị những cái nhìn được giúp đỡ bởi dụng cụ như viễn vọng kính hay kính hiển vi cho chúng ta thấy những vật thể cực xa hay cực nhỏ. Rồi chúng ta lại nói đến viễn vọng kính quang tuyến X có thể cho chúng ta thấy xuyên qua một vật hay một điều gì đó hay cho chúng ta thấy những hình ảnh bình thường chúng ta không thấy được. Thí dụ như bác sĩ có thể chụp hình phổi xem phổi chúng ta không cần phải mổ ra. Thí dụ như qua viễn vọng kính dùng quang tuyến X chúng ta có thể nhìn thấy một thế giới rất xa con mắt thường chúng ta không thể nhìn thấy được. Qua những dụng cụ kính hồng ngoại (Night Vision) chúng ta có thể nhìn thấy ban đêm đối với mắt thường chúng ta chỉ nhìn thấy đêm tối tăm dầy đặc, nhưng đối với những người dùng kính hồng ngoại ban đêm họ có thể thấy được. 

Chúng tôi không có nói tất cả đó là  thiên nhãn.  Thiên nhãn Đức Phật dạy là con mắt của chư thiên nhưng chúng tôi tạm thời so sánh để chúng ta thấy được  cái gọi là con mắt thịt của chúng ta biết dùng những dụng cụ như night vision để có thể nhìn thấy trong bóng đêm, và viễn vọng kính cho chúng ta thấy cái gì đó rất xa hay kính hiển vi cho chúng ta thấy những vật rất nhỏ thì điều đó có nghĩa ở trên thế giới này có những phương tiện, có những cách nhìn thật xa thật rõ như chúng ta thấy ống dòm chẳng hạn, ống dòm đó mình có thể nhìn thấy một sự vật cách chúng ta cả một hai cây số. Chúng tôi có một lần sang bên California đến Channel Islands Park  người ta cho một ống nhòm chúng tôi nhòm thấy một con sư tử mẹ đang đùa giỡn với những con sư tử con cách xa một cây số rưỡi, nói chung chúng ta có thể quan sát qua đó mình không có sợ  làm phiền con sư tử đó và con sư tử đó gây đe dọa cho chính mình. Phương tiện ống nhòm viễn vọng kính hay kính hiển vi hay những phương tiện đó chúng ta có thể tạm hiểu được rằng ở trong đời này có những thứ giúp chúng ta đạt đến kỷ năng nhìn rất xa rất rõ những điều mắt thường chúng ta không có, thì chúng ta tạm dùng cái đó để so sánh với cái chúng ta gọi là thiên nhãn hay mắt của chư thiên. 

Gần đây xe hơi có một phương tiện tuy rất bình thường nhưng lại hữu ích, đó là khi mình lùi chiếc xe lại mình có thể nhìn thấy được phía sau. Trước kia khi lùi xe lại chúng ta phải ngoái cổ về phía sau và chỉ thấy được một phần phía trên cái kính ở phía sau mà thôi, bây giờ người ta gắn vào một cái camera rất nhỏ ở phía sau chiếc xe gần nơi gắn bản số, khi chúng ta lùi chiếc xe  chúng ta có thể nhìn thấy phía sau xe qua màn ảnh trước mặt, nhìn thấy con chó hay đứa nhỏ hay trái banh nằm phía sau chiếc xe, và càng ngày thì chúng ta càng thoải mái với chính con mắt chúng ta có thể nhìn thấy những góc cạnh khuất tầm mắt mà ngày xưa chúng ta không nhìn thấy được. Phương tiện như vậy làm lợi cho chúng ta rất nhiều, bây giờ chúng ta cảm thấy yên tâm hơn mỗi khi chúng ta lái lùi xe bởi vì chúng ta thấy được phía sau.

 Điều đó nghĩa là trong lúc chúng ta sống ở tại đây ở trong thế giới loài người bằng con mắt của loài người nhục nhãn mình hiểu rằng có những giới hạn nhất định, và nếu chúng ta là chư thiên sanh ra do phước sanh ra như phạm thiên sắc giới do năng lực của thiền định thì đôi mắt chúng ta trở nên đặc biệt thù diệu, đặc biệt thù thắng đặc biệt có thể nhìn xuyên thấu nhiều thứ và nhìn thấy thật xa, nhưng mà rồi cho dù chúng ta có thiên nhãn như câu chuyện của Vương Tiễn ở trong chuyện Tàu hay con mắt của Chư Thiên được mô tả trong kinh điển thì cái nhìn những thứ  thật nhỏ thật xa thật là tối nó cũng chỉ cho chúng ta cảnh sắc cho chúng ta một hình ảnh rất sơ khởi của sự vật. Lấy một ví dụ như vầy, trong cuộc sống này nhiều khi chúng ta không thể nhìn sự vật bằng con mắt của chúng ta mà nó đòi hỏi  trí tuệ, nó đòi hỏi đến sự vận dụng của trí não. Về điểm này nó tạo nên một sự tinh tế khác biệt giữa người này và người kia. Chúng tôi lấy một thí dụ, nếu thường đọc sách thường đọc kinh điển thì chúng ta có thể thấy được rằng ở trong thế giới kinh điển quen thuộc đó khi đứng trước một quầy sách cầm cuốn sách lật một vài ba trang chúng ta dễ dàng nhận ra đây là tác phẩm giá trị hay không có giá trị. Nhưng nếu chúng ta không có sự tinh tế thì quyển sách đó giống như những quyển sách khác, có khác chăng là bao bì in đẹp hơn giấy tốt hơn, và chúng ta không có đủ khả năng để nhận định để xác nhận nó có giá trị, hay quyển sách này là quyển sách nên đọc nếu chúng ta ưa thích. 

 Có một lần chúng tôi nói chuyện với Sư Giác Nguyên, Sư rất chuộng đọc sách, Sư than phiền với chúng tôi rằng có người Phật tử nào đó đi ra tiệm sách bỏ rất nhiều tiền mua những sách Sư gọi là thấy mà thương, tức là không biết phân biệt sách nào là sách nên đọc, sách nào là sách thật sự là Phật Pháp có thể khả tín có thể tin được, hễ thấy kinh Phật thì cứ mua nên Sư thấy tội nghiệp nhìn thấy mà thương. Nhưng cũng phải nói để có được sự tinh tế nó đòi hỏi ở căn tính, ở sự lãnh hội, ở sự nhận thức. Chúng tôi nhớ trong kinh nói về những sự việc một vị tỳ kheo ni khi rửa chân nhìn thấy một giọt nước từ bàn chân của mình rơi xuống giòng suối, giọt nước đó nhanh chóng tan biến trong giòng nướcì vị này nhận ra lý vô thường. Hoặc giả một vị vua khi nhìn thấy cây xoài bị sơ xác lá cành bởi vì có nhiều trái chín rồi gặp đoàn thương buôn đi ngang, những người thương buôn này đã nhanh chóng hái những trái xoài trên cây và làm cho cây trở nên sơ xác, vị vua nhận thức ra sự nguy hiểm của ngôi vị của danh của lợi và vị này tìm một con đường xuất trần. Từ những hình ảnh rất quen thuộc rất bình thường trong đời sống một bậc trí bằng con mắt của trí tuệ có thể thấy biết xa hơn thì chuyện đó đòi hỏi đến huệ nhãn hay con mắt của trí tuệ.

Trong kinh Thánh Cầu, Đức Phật bậc Đạo Sư của chúng ta khi Ngài còn là một vị hoàng tử sống trong cung vàng điện ngọc, hầu như cuộc sống nhung lụa của hoàng cung bao phủ lấy cái nhìn của Ngài nhưng Ngài đã tự khởi đi một ý nghĩ bản thân của mình bị sanh già đau chết chi phối, phải chăng điều mình hướng đến đều bị sanh già đau chết chi phối?  Nghĩ như vậy Ngài đã quyết định từ bỏ hoàng cung từ bỏ cuộc sống nhung lụa. Cũng trong bài kinh Thánh Cầu, Ngài đã đi đến hai vị Thầy nổi tiếng là danh sư nhất thời bấy giờ đó là Alarama Kalama và Uddaka Ramaputta cả hai vị này đều có những sở chứng rất cao do đó Ngài học thành tựu được những gì hai vị Thầy đã thành tựu, và rồi hai vị đó rất hoan hỉ mời Ngài ở lại để cùng làm giáo chủ cùng hướng dẫn hội chúng. Nhưng ở trong sự thành tựu mong chóng cao vời và ở trong cương vị của vị giáo chủ không phải là cái gì Ngài hướng đến, không phải là câu trả lời cho muôn loài chúng sinh và rồi Ngài lại lên đường tiếp tục. 

Những năm tháng khổ hạnh trắc nghiệm với hạnh ép xác Ngài đã đi đến chỗ tận cùng của phương pháp khổ hạnh, một phương pháp được nhiều Samôn, Balamôn thời bấy giờ xưng tán làm phương pháp tối thượng ở trong sự hiệp thông với Thượng Đế. Và trong sự khổ hạnh tận cùng đó cũng là con mắt trí tuệ Ngài nhận thức đây là một con đường tự hủy làm hao mòn kiệt quệ bản thân. Và rồi, cuối cùng cũng bằng con mắt trí tuệ Ngài tìm ra con đường trung đạo không lợi dưỡng cũng không khổ hạnh. Ở dưới cội Bồ Đề vào một ngày rằm trăng tròn tháng Vesak, Ngài ngồi dưới cội cây trên những mớ cỏ thảm và suốt cả đêm đó bằng định lực bằng năng lực của thiền định một thứ chúng ta tạm gọi rất gần với thiên nhãn, và thậm chí còn vượt xa thiên nhãn của Chư Thiên dục giới, Ngài đã nhớ về nhiều kiếp quá khứ Ngài đã sanh ra ở đâu, là người như thế nào, có sở hành ra sao, cha là ai mẹ là ai, Ngài nhớ từng chi tiết một, và Ngài đã nhớ nhiều nhiều kiếp quá khứ như vậy, quá khứ trở về trở thành một bức tranh sinh động qua đó Ngài nhìn thấy mình đã là như vậy. Và trong canh hai khi nhìn trọn những bức tranh đó Ngài có thể tìm ra những đầu mối tương quan của nhân này, quả này, của hạnh nghiệp này, dẫn đến chỗ tái sanh chỗ kia, Ngài tìm thấy những mấu chốt liên hệ tại sao Ngài đã sanh như thế này, tại sao Ngài sanh thành một chúng sanh như vậy, và tại sao Ngài đã vui như vậy, tại sao Ngài đã khổ như vậy. Những tương quan đó cho Ngài nhìn thấy một hình ảnh khác đó là Sanh Tử Minh một thứ trí tuệ rất rõ về hiện tượng giới, sự tương quan của các pháp. Và canh cuối cùng Ngài đã nhìn thấy rõ mặt mũi của Tanhà của Khát ái, và qua đó Ngài khẳng định một điều đây chính là động lực của tất cả, đây chính là nguyên nhân của luân hồi, và bằng lậu tận minh Ngài đã đoạn tận vô minh và ái dục trở thành vị Chánh Đẳng Chánh Giác.

Khi đọc những đoạn này chúng ta nhận ra hành trình giác ngộ của Đức Phật là hành trình của tuệ giác của huệ nhãn và điều đó là bài học lớn trong đời sống của chúng ta. 

  Ngày nay, trong khả năng để làm điều gì người ta chia tiến trình làm ba phần: 

1).Phần đầu là thâu thập dữ kiện. Phần thâu thập dữ kiện người ta không cần biết chuyện xảy ra, nó như thế nào, đầu tiên tất cả những dữ kiện đó cần được thâu thập. 
2). Rồi từ việc thâu thập dữ kiện người ta dùng những phương tiện tối tân để phân tích dữ kiện từ những phòng lab (phòng thí nghiệm) đến những chuyên gia. Người ta cho thấy cái này liên hệ cái kia như thế nào. 
3).Và sau cùng người ta đưa đến chuyện xác lập báo cáo về sự việc đó đã ra sao. 

Chúng ta học về điều này chúng ta thấy chuyện sưu tập dữ kiện giống như con mắt của chúng ta ở trong đời sống hàng ngày mình thấy nó như vầy nhưng mình cũng phải xử dụng trí tuệ hay tuệ nhãn để phân tích. Có một điều rất thú vị là cuộc sống của chúng ta hay có trường hợp mình tự gạt lấy chính mình, và khi mình tự gạt lấy chính mình thì rất khó ai có thể giúp cho mình được.

 Một bài kinh ở trong Tam Tướng Phổ Thông ngày xưa các Ngài thường tụng có câu "nghe lầm ắt nói lại lầm". Có nhiều khi mình thu thập dữ kiện không chính xác mình nói ra không chính xác. Trong tuần lễ vừa rồi chúng tôi có sự kiện xảy ra; là tối thứ Bảy chúng tôi nhận được một message qua điện thoại của HT. Huyền Việt và chúng tôi đọc tin nhắn đó đại khái là HT nói "ngày mai TT. đến hương đạo xin ghé rước tôi đi bởi vì xe của tôi hư rồi, cám ơn TT.", lời nhắn như vậy. Khi chúng tôi nhận tin nhắn đó chúng tôi nghĩ HT. gửi lộn người, có lẽ là HT gửi cho Sư Thường Niệm tại vì Sư Thường Niệm dự định sáng sớm hôm sau Sư đi đến chùa Hương Đạo, chùa của Sư Bửu Đức ở Dallas, do đó chúng tôi đã chuyển tin nhắn này lại cho Sư Thường Niệm và Sư Thường Niệm đã trả lời với HT. là "con đã thay đổi chương trình ngày mai con không đi ". Và sáng hôm sau bản thân chúng tôi trên con đường để đến Austin giữa đường đến trại của đoàn hướng đạo Pháp Luân để làm lễ và nói chuyện với các em rồi chúng tôi trở về. Khi trở về chúng tôi lại nhận được tin nhắn của HT. Huyền Việt nói rằng "sao TT. bữa nay lên làm lễ cho hướng đạo mà TT. không ghé rước tôi đi với". Bấy giờ chúng tôi mới chợt nhận ra rằng message  HT. gửi cho chúng tôi không phải gửi cho Sư Thường Niệm, không phải đi chùa Hương Đạo mà đi làm lễ chỗ hướng đạo nhưng vì gửi không có dấu nên chúng tôi nghĩ sai đi.  Đó là chuyện nhầm lẫn, mình nhận cái message gửi cho mình mà mình lại nghĩ là gửi cho người khác. Chuyện đó rất thường xảy ra ở trong cuộc sống của chúng ta nhất là bây giờ chúng ta hay  gửi tin nhắn không có dấu. Cũng như làm việc trong paltalk chúng tôi cũng có những chuyện rất  buồn cười, bây giờ thì đỡ rồi vì paltalk có thể đánh tiếng Việt, ngày xưa đánh tiếng Việt không được do đó có những vấn đề phải đoán mà khi đoán mò dễ sinh ra nhiều chuyện trục trặc.

 Những điều mình thấy chưa chắc chính xác. Vô số sự việc ở trên đời này mình nói nếu mình không tự mình mắt thấy tai nghe mình không tin, nhưng ngay cả những điều mình mắt thấy tai nghe vẫn làm cho mình hiểu lầm. Tinh thần điềm đạm, một thái độ cẩn trọng, và bằng trí tuệ suy nghĩ,  dùng trí tuệ chúng ta mới thấy được vấn đề. Những người càng tự tin, những người càng nghĩ mình có trí tuệ càng thông minh thì thường hay vấp váp phải vấn đề rất là bình thường. 

Chúng tôi gặp một số người thường hay có sự hiểu lầm về đời sống nhưng họ luôn luôn tin rằng những gì họ thấy là chân lý là đúng hoàn toàn, cho đến khi nào họ sáng mắt ra được thì họ mới thay đổi ý niệm đó, họ quá tin vào chính cái nhìn của họ. Cái gì mình thấy chưa chắc là đã chính xác mình phải đặc biệt rất cẩn trọng về điểm này. Và do vậy chúng ta cần phải có huệ nhãn hay con mắt của trí tuệ. 

Nghe pháp cũng vậy, đọc kinh điển cũng vậy. Chúng ta nên nhớ trong những giờ phút cuối cùng trước khi Đức Phật viên tịch, trong kinh Đại Bát Niết Bàn ghi lại Đức Thế Tôn đã đặc biệt dạy về pháp kính, dạy về 4 điều tất cả chúng ta cần phải để ý: "sau khi Đức Phật Ngài viên tịch nếu mình nghe nói có vị trưởng lão một vị TT. nào đó nói rằng đây là điều Đức Phật dạy thì khoan vội tin khoan vội bỏ,phải đem đối chiếu với kinh và luật". Và ngay cả chúng ta thường vội tin, ví dụ như mình  nói rằng Ngài Ajahn Chah là vị thiền sư nổi tiếng thì học trò Ngài Ajahn Chah nói cái gì ra cũng tin tưởng được. Không hẳn như vậy. Hay người đó học từ Ngài Ajahn Chah là hay. Cũng không phải như vậy. Đức Phật Ngài căn dặn chúng ta rất nhiều lần là "phải đem đối chiếu với kinh với luật", phải đối chiếu thật kỹ. 

Trong kinh Kalama, Đức Phật Ngài cũng cho chúng ta biết chúng ta hay dễ tin vì lời nói đó thuộc về truyền thống thuộc về kinh điển, người nói là người có uy tín, người đó là thầy của mình v.v... Chúng ta nhìn một số yếu tố để khẳng định rằng điều đó là sự thật, nhưng không hẳn là như vậy, ở đây chúng ta cũng phải dùng con mắt của trí tuệ. 

Chúng tôi rất thích một điểm, thời đại chúng ta sống là thời đại của tự do tư tưởng, chúng ta phải đặt lại vấn đề, chẳng những chúng ta có thể đặt lại vấn đề chúng ta còn có phương tiện để nhìn lại vấn đề. Và nhờ vào việc nhìn lại vấn đề chúng ta có thể nhận ra sự việc. 

Khi chúng tôi còn nhỏ chúng tôi thường tìm những đoạn kinh mình nghĩ là chân lý hoàn toàn, thí dụ như một câu kinh: "Ân Đức Pháp - Svākkhāto bhagavatā dhammo". 

Chúng tôi có biết vị nào đó, vị tiền bối nào đó đã dịch câu đó một cách rất sai nhưng đời sau cũng dùng tới: 
"Svākkhāto bhagavatā dịch là Tam Tạng Pháp Bảo của Đức Thế Tôn đã khẩu truyền y theo chánh pháp".
 "Dhammo là pháp chánh có 9 hạng : 4 đạo, 4 quả và 1 Niết-bàn". 

Mới tụng mình nghĩ rằng điều đó đúng hoàn toàn, thì Tam Tạng khẩu truyền y theo chánh pháp bốn đạo bốn quả, câu đó thật sự rất đơn giản:
 "Svākkhāto bhagavatā dhammo - Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết". 
Ngài khéo thuyết ở đây là Ngài thuyết theo phương pháp  theo trình độ văn lễ cụ túc. 
Chữ Dhammo là chủ từ. Chúng tôi cũng không biết tại sao người ta tách ra Svākkhāto bhagavatā  là một, rồi dhammo là một. 

Hay hoặc giả chuyện rất đơn giản khi chúng ta đọc câu kinh Pháp Cú: 

"Tâm dẫn đầu các pháp,
 Tâm làm chủ tâm tạo tác
 Nếu với tâm ô nhiễm
 Nói năng hay hành động
 Thì khổ não sẽ theo ta
 Như xe theo chân con vật kéo. 
Tâm dẫn đầu các pháp
 Tâm làm chủ tâm tạo tác
 Nếu với tâm thanh tịnh
 Nói năng hay hành động
 Hạnh phúc sẽ theo ta
Như bóng không rời hình
 Đó là hai câu kinh Pháp Cú kệ 1 và 2. 

Nhưng vấn đề chúng ta nói ở tại đây là "Tâm dẫn đầu các pháp". Pháp là gì? 
 Mạch văn cho chúng ta rất rõ nếu với tâm thanh tịnh nói năng hay hành động, nếu tâm ô nhiễm nói năng hay hành động. Mình nói năng hay hành động cũng là một phần của pháp, khổ não sẽ theo ta hay hạnh phúc sẽ theo ta. Như vậy đối với tất cả hành động và đối với tất cả quả, quả vui hay quả khổ, tâm thiện hay tâm bất thiện, hành động thiện hay hành động bất thiện quả vui hay khổ đều do tâm tạo nên. Chữ tâm đứng đầu các pháp. Chữ pháp rất rõ. Chữ pháp ở đây bao gồm hành vi thiện ác. Pháp đó bao gồm quả vui và quả khổ. Chữ đó rất đơn giản,  Đức Phật nói là tất cả do tâm tạo. Nói cách khác là nói luôn cả một câu chuyện bắt nguồn từ tâm của chúng ta.

 Ý Đức Phật nói như vầy: Chữ Pháp đó là câu chuyện và nguyên cả câu chuyện về một vị y sĩ chữa mắt cho một người, sau đó người bệnh đã sáng mắt đã hết bịnh nhưng người đó giả bộ chưa hết bịnh để không trả tiền. Vị y sĩ đó cảm thấy bị gạt nên giận và pha thuốc cho người này nhỏ lần cuối và người này bị mù luôn. Sau vị y sĩ này sanh lên trở thành một vị tôn giả có tên là Cakkhupàla. Vị này tu tập rất tinh tấn nhưng bị mù. 

Hình ảnh của một vị Alahán bị mù mắt, Đức Phật Ngài nói ngay cả câu chuyện đó, câu chuyện một người bị mù do hành động như vậy nó bắt nguồn từ tâm bất thiện. Đơn giản vậy thôi. "Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ tâm tạo tác, nếu với tâm ô nhiễm, nói năng hay hành động, khổ não sẽ theo ta, như xe theo chân con vật kéo". Ngay cả câu chuyện đó bắt nguồn từ tâm của mình.

Nhưng hồi nhỏ chúng tôi học thấy lạ lắm, không biết người nào đem ra bản sớ giải nói rằng "tâm dẫn đầu các pháp tức là tâm dẫn đầu các tâm sở". Thật ra chúng tôi thấy không có lý: "tâm thì đồng sanh với các tâm sở mà sao gọi là tâm dẫn đầu tâm sờ được.(cetasikas) . Nhưng các vị khẳng định nó phải như vậy. Hồi nhỏ thì chúng tôi không dám cãi điều đó, và các vị nói là  sớ giải nói là trong kinh ghi như vậy. Nhưng sau này học thì chúng tôi thấy rằng có những điều mình cũng phải xét lại. 

Do vậy, kinh Đại Bát Niết Bàn Đức Phật dạy khi mình nghe pháp nào đó từ một vị TT vị Trưởng Lão nói thì mình cũng phải đem đối chiếu với Kinh với Luật chứ không phải mình nghe như vậy rồi mình tin. 

Chúng ta thường bị bịnh nghe tin đồn rồi sao đi chép lại. Trong kinh Túc Sanh Truyện ( Jataka) có câu chuyện ngụ ngôn, con thỏ nghe một tiếng như tiếng rạn nứt nó hốt hoảng nói rằng trái đất sắp sụp, nó bỏ chạy đến nói với con vật khác là đang có động đất trái đất sắp sụp thế giới này sắp bị hủy diệt, con vật khác chạy kiếm con vật khác nữa để nói là trái đất đang bị động đất và sắp bị hủy diệt, rồi cuối cùng tin này đến một con sư tử, con sư tử bình tỉnh hỏi lại là "bạn nghe chuyện đó từ đâu?" Con này nói rằng đã nghe từ con kia, con kia nói nghe từ con nọ, rồi cuối cùng tới con thỏ đó. Sư tử mới hỏi rằng: "bạn thấy cái gì mà bạn nói trái đất sắp sụp?" Con thỏ nói có âm thanh như vậy, đến điều tra thì nó chỉ là trái cây rơi xuống đất thôi. 

Chúng ta thường như vậy, chuyện sắp tận thế và chúng ta sống chờ thời mạt pháp  và chờ vị Phật tương lai ra đời thì thật sự không có cơ sở gì trong kinh điển nói như vậy, nhưng người ta nói riết, người này nói qua người kia nói lại, và tạo ra tin đồn sắp tận thế. Sự hù dọa như vậy có ảnh hưởng rất lớn. Nhưng nếu mình tìm trong kinh điển không nói đến chuyện đó. Nhưng chúng ta quên bẳng đi, cứ nghe người này nói người kia nói. Và trong trường hợp mình gặp những chuyện khó khăn chuyện phiền phức cứ mở miệng ra là nói "nay thời mạt pháp,  sắp tận thế đến nơi". Đức Phật luôn luôn căn dặn chúng ta phải cẩn trọng, phải đem đối chiếu Kinh Luật rõ ràng. 

Có vô số vấn đề trong đời sống những con người nghĩ rằng mình càng thông minh thì đôi khi mình tự mình đào cái bẫy giăng chính mình, rất dễ dàng để mình tự gạt chính mình và mình tự xập bẫy chính mình, tại vì mình đặt mình ở trong thế như vậy. 

Do vậy khi chúng ta nói về ba con mắt ở đây chúng ta tạm hiểu như vầy: nhục nhãn hay là con mắt thịt đó là con mắt của chúng ta, con mắt đó cho chúng ta thấy được màu sắc âm thanh nhìn ở trên màn ảnh v.v... nhưng con mắt đó có giới hạn.

Khi mình nói thiên nhãn là con mắt Chư Thiên sanh lên với nhiều phước báu. Nhưng trong đời sống hàng ngày mình có thể hiểu được là chúng ta cũng có những phương tiện như ngày hôm chúng ta có thể nói chuyện với người ở thật xa qua Tango hay nói chuyện và nhìn mặt nhau qua facetime, chúng ta nhìn thấy qua màn ảnh TV, qua những hình ảnh từ vệ tinh v.v... Những điều đó cho chúng ta thấy xa hơn vượt ngoài khả năng của chúng ta, nó không phải là thiên nhãn nhưng mà nó cũng là phương tiện rất là đáng thán phục như là thiên nhãn. 

Sau cùng, huệ nhãn là con mắt của trí tuệ, nó chính là con mắt tất cả chúng ta phải có, Đức Phật gọi đó là con mắt thù thắng. 

Có huệ nhãn thì cho chúng ta nhìn thấy phần ẩn khuất ở phía sau hơn là chỉ nhìn thấy mặt nổi bề ngoài. 
Có huệ nhãn thì cho chúng ta biết ràng sự việc nó như vậy nhưng chưa hẳn là như vậy. 
Có huệ nhãn nó cho chúng ta thấy được những chiều kích của quá khứ của tương lai. 
Có huệ nhãn chúng ta mới nhìn thấy xuyên qua những sự vật ở bên ngoài để thấy rằng đây là thực tướng của các pháp không phải là "Ta" không phải là "Của Ta" không là "Tự Ngã Của Ta". 
Có huệ nhãn chúng ta mới thấy được đây là Vô Thường, Khổ, Vô Ngã. 

Tất cả những điều đó là một bài học lớn ở trong cái nhìn, cái thấy, cái biết của chúng ta. Mong rằng những lời dạy của Đức Phật sẽ giúp cho chúng ta thắp sáng tuệ giác ./. 

Tuesday, January 6, 2015

Tịnh tướng nếu không như lý tác ý đưa đến tham dục chưa sanh khởi được sanh khởi, đã sanh được tăng trưởng

Hỏi: Tịnh tướng nếu không như lý tác ý đưa đến tham dục chưa sanh khởi được sanh khởi, đã sanh được tăng trưởng

Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Tịnh tướng ở đây chúng ta nói đến tất cả những gì thuộc về hảo tướng, về mỹ tướng, ví dụ như sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc. 

Trong lý duyên sinh chúng ta biết nghiệp sanh quả và quả sanh phiền não. Khi nói quả sanh phiền não; quả khổ  cũng sanh phiền não mà quả vui cũng sanh phiền não. Một người sanh ra trong đời khi đối diện với cảnh xấu thường chúng ta khởi sanh tâm sân, khởi sanh tâm bất mãn, nhưng nếu chúng ta đối diện với những cảnh tốt và nếu không khéo tác ý sẽ dính mắc. Không phải chỉ riêng đối với những gì rất thô ở bên ngoài như sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc, mà ngay cả đối với một người tu tập có đôi lúc dính mắc vào những pháp hỉ lạc hay những ấn chứng trong lúc chúng ta thiền định, như vậy cũng là một sự không khéo tác ý. Tại các trường thiền,  những vị thiền sư thường nhắc nhở các thiền sinh ở bất cứ hiện tượng gì xảy ra cho dù hiện tượng đó là một dấu hiệu tiến bộ hay dấu hiệu trì trệ, cho dù hiện tượng đó đáng hoan hỉ hay không đáng hoan hỉ thì đối với một người tu tập thiền định cứ tiếp tục và tiếp tục. Chứ không phải cái đó là cái mình cảm thấy thoải mái, cái đó là dấu hiệu tiến bộ và mình dừng lại ở tại đó. Và các vị thường lấy ví dụ trên con đường mình đi có những chỗ rất khập khễnh gồ ghề, có những đoạn đường nóng cháy nhưng lại có những chỗ hoa lành trái ngọt bóng mát cảnh trí hữu tình, nhưng không vì cái đẹp nhất thời đó cái đẹp giai đoạn đó chúng ta bỏ dở cuộc hành trình, chúng ta phải tiếp tục lên đường. 

Đối với tất cả chúng ta những người tu tập ở trong cuộc sống phải nói rằng ý thức về chánh niệm là một ý thức vượt thoát, ý thức đó nằm ngoài cả hai cái đẹp và xấu. Khi chúng ta còn nhỏ lớn lên cha mẹ dạy cho chúng ta biết phân biệt cái đẹp cái xấu cái hay cái dở, và đối với Đức Phật thì một lúc nào đó ngay cả một điều rất tốt đẹp một giá trị cao vời hoặc giả một giá trị hết sức chánh đáng nhưng nếu chúng ta dính mắc vào đó thì nó cũng là một sự mắc kẹt. Trong kinh Lõi Cây Đức Phật Ngài dạy một người có thể tự thoả mãn đối với thế giới của mình, thoải mãn với sự thành tựu của mình, thành tựu về thiền định của mình, điều đó cũng là một sự dính mắc, do vậy vị đó tiếp tục lên đường. 

Không may cho tất cả chúng ta, chúng ta sống trong cõi trầm luân này chúng ta thường đi từ chỗ nghèo nàn, từ chỗ không có, từ chỗ khổ đau, do vậy bất cứ một sự thay đổi nào dù nó chỉ là một sự thay đổi nhất thời mà nó khả quan hơn tốt đẹp hơn một chút thì chúng ta nghĩ à điều đó là một điều chúng ta có thể thoả mãn được. Và đặc biệt là trên con đường tu tập thiện pháp chúng ta rất dễ thoả mãn với những gì chúng ta gọi là hay là tốt. Ví dụ một người từ trước tới bây giờ chưa bao giờ tu Bát Quan Trai Giới bỗng nhiên được bạn bè giới thiệu đến chùa tu tập Bát Quan Trai Giới cảm thấy hết sức hoan hỉ và họ chỉ mong rằng họ chỉ tu tập bát quan trai giới mãi mãi như vậy hay hoặc giả là một người chưa bao giờ tụng kinh bây giờ chúng ta tụng kinh thì tụng kinh thấy hoan hỉ và lúc nào cũng thấy chuyện tụng kinh đó là quan trọng nó trở thành chủ yếu trong đời sống của mình, chúng ta không nghĩ rằng việc tụng kinh dầu tụng kinh có hay đi nữa nó cũng chỉ là một phần sinh hoạt  chúng ta phải đi xa hơn. Ngay cả Đức Phật Ngài dạy rằng một người có đắc chứng những tầng thiền định nếu lấy cái thiền định đó làm cứu cánh thì điều đó cũng trở thành một ngăn ngại.

Nói tóm lại chữ tịnh tướng không khéo tác ý có nghĩa là khi chúng ta đối diện với những tịnh tướng dễ dàng để chúng ta thoả mãn dễ dàng để chúng ta đứng dừng lại. Chúng ta thường không có tri túc đối với những dục lạc nhưng chúng ta rất dễ cảm thấy biết đủ đối  với những thiện pháp. Đặc biệt riêng đối với tịnh tướng chúng ta phải rất cẩn thận, với một người tu tập thật sự những trở lực không làm cho chúng ta nhục trí nhiều nó không làm cho chúng ta dừng lại nhiều nhưng những điều chúng ta gọi là thành tựu và những điều chúng ta cảm thấy đáng hoan hỉ thì chính điều đó làm chúng ta dừng lại. 

Đức Phật Ngài dạy có nhiều nguyên nhân khiến cho một vị tỳ kheo hay một hành giả không thể đạt đến cứu cánh được, giống như một khúc gỗ có 8 lý do làm nó không thể trôi ra biển cả được, ở trong những lý do đó có thể là vì nó bị tấp vào bên này hay tấp vào bên kia, có thể nó bị mắc cạn, có thể nó bị thúi trong ruột thúi ra, có thể bị người vớt lên, có thể bị phi nhân với lên v.v.... và trong những lý do chúng ta tìm thấy Đức Phật Ngài ví dụ ở đây là có thể chúng ta hoan hỉ với cảnh giới của nhân thiên, tu tập để mong sanh vào cảnh giới nào đó, và thoả mãn với sự mong mỏi đó, hoặc giả  chúng ta bị vướng mắc vào cái đẹp nào đó,  và một cái gì mình nghĩ rằng cái này là một chỗ mình có thể dừng chân được có thể an trú được và như vậy thì chúng ta dừng lại. 

Cho nên đối với một người tu tập chúng ta quan niệm cuộc tu là một hành trình và trên hành trình đó những chông gai trở lực thường không làm cho chúng ta nản trí bằng những sự tiến bộ bằng những  thành tụ mang tánh cách giai đoạn. Và một người có trí một người khéo tác ý là phải nhìn thấy tất cả điều đó là cái chúng ta phải để lại một bên để tiếp tục lên đường. Đó là chúng ta nói về chuyện tu tập.

Còn nói chuyện ở trong đời sống hàng ngày thì tất cả những quả lành như trong A Tỳ Đàm nói rằng quả nhãn thức quả thiện, nhĩ thức quả thiện, thiệt thức quả thiện v.v... những điều đó cũng quá đủ để nắm níu chúng ta lại, để vướng mắc chúng ta lại. 

Nên chi trong bài kinh Vô Ngã Tướng Đức Phật Ngài đã đưa các vị tỳ kheo ở trong vườn lộc giả từ bậc Thánh Hữu Học sang rốt ráo bên kia bờ giải thoát. Ngài đã dạy những lời dạy rất rốt ráo rằng:

- "Này các tỳ kheo, bất cứ sắc thọ tưởng hành thức nào dù trong đời quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, thô thiển, vi tế, hạ liệt, thù thắng, gần hoặc xa tất cả các pháp ấy cần được nhận thức với chánh trí đó không phải là "ta" đó không phải "của ta" nó không phải "tự ngã" của ta"

Chỉ có một cái nhìn như vậy mới khiến cho chúng ta không bị kẹt lại. Ngay cả khi qúi Phật tử vào trong một rơom nghe pháp mà qúi vị thấy hoan hỉ rồi khởi lên ước muốn rằng những ngày giờ chúng ta an lạc như vầy sẽ xảy ra trong suốt cuộc đời của mình và mình không làm gì khác hơn là chỉ vào rơom để nghe pháp không, thì điều đó nó cũng là trở lực của mình hà huống chi là đối với những  dục lạc những sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc của cuộc sống này. 

Nên chi ở trong thiền học họ có một câu "move on" là tiếp tục lên đường. Tiếp tục lên đường, chữ tiếp tục coi vậy rất khó hơn là đi truy tìm cái mình thật sự hoan hỉ./.

Thursday, January 1, 2015

Nguyên nhân nào đưa đến sự tranh chấp ?

Hỏi: Nguyên nhân nào đưa đến sự tranh chấp ?

Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Một bài kinh rất nổi tiếng trong bộ Trường Bộ Kinh là kinh Đế Thích Sở Vấn, một lần Đế Thích đến đảnh lễ Đức Phật và Đức Phật Ngài thuyết pháp cho Đức Trời Đế Thích.  Trong buổi gặp gỡ này Đức Trời Đế Thích đã đảnh lễ Đức Phật và xin được hỏi câu hỏi là tại sao chiến tranh, tranh chấp, hận thù xảy ra ở giữa loài người và ở trong Chư Thiên  trên thế gian này,  Đức Phật Ngài giải thích rằng chính do hai pháp ganh tỵ và bỏn xẻn.  Ganh tỵ là tâm đố kỵ không vui với sự thành đạt của người khác, người ta giàu hơn mình, người ta đẹp hơn mình, người ta thành công hơn mình thì mình không hoan hỷ, mình cảm thấy bực bội khó chịu.  Bỏn xẻn là mình sợ  cái gì mình đang có sẽ bị lấy đi, sẽ bị tổn giảm, sẽ bị vơi đi, và chính hai pháp này  đã tạo ra vô số máu và nước mắt ở trong lịch sử của nhân loại.

Đạo Phật dạy về hạnh xả ly, hạnh buông bỏ, nếu chúng ta không tu tập hạnh buông bỏ, hạnh xả ly chúng ta chính là nạn nhân của chính mình.  Nạn nhân của chính mình là do ganh tỵ và bỏn xẻn, do tỵ hiềm đối với cái được của người khác và do sợ cái mất của mình. Nên chi cả hai điều này dẫn con người vào một cái nhìn, cho dù đó là một viên ngọc và viên ngọc ở trong tay người khác họ cũng không nhận đó là một viên ngọc, và cho dù họ có thể đi tìm thấy những ánh sáng từ một nơi khác thì họ cũng không tìm mà họ chỉ khư khư ôm  lấy cái gì mà họ có được. 

Ở trong thời đại người ta cổ võ chủ nghĩa tiêu thụ, người ta cổ võ tinh thần làm giàu bản thân thì trường hợp này đã tạo nên không biết bao đau khổ mất mát và những nghiệp hết sức nặng nề.  Với một người Phật tử  chúng ta tin vào lý nghiệp báo, biết  một người tu tập mình khuyến khích họ tu tập phước đức của mình tăng trưởng rất nhiều, nhưng nếu một người phát tâm tu tập chúng ta ngăn cản họ, chúng ta gây trở ngại cho họ  quả thật nghiệp bất thiện  rất nặng. 

Chúng tôi lấy ví dụ, một nhà Sư đang trụ trì một ngôi chùa và nếu một người Phật tử của mình phát tâm muốn đi tu thiền với một vị thiền sư nào đó hoặc  quen hay không quen với mình, mình có thể nghĩ người Phật tử này đi tu thiền khi trở về họ không còn đi chùa mình nữa, hay khi trở về họ nghĩ mình không cao siêu như họ nghĩ, hoặc giả họ sẽ phát tâm trong sạch cúng dường, sùng bái vị thiền sư kia nhiều hơn mình. Do vậy mình sẽ cản trở người này, mình  nói ra nói vào với họ là vị thiền sư đó không hẳn là vị tốt, vị đó tu chỉ bề ngoài thôi chứ không có thực chất v.v... Như vậy chẳng những mình làm mất đi những lợi ích của người đó mà bản thân của mình tạo một nghiệp rất lớn. Bởi vì một người phát tâm trong sạch muốn tu tập mình ngăn trở không khác gì chúng ta làm một hàng rào để người đó bị giam hãm vào, như người ta có mắt mình bịt mắt người đó lại bản thân của chúng ta sanh ra đời sau chịu nhiều nghiệp rất nặng, chỉ một chút danh lợi trong đời này mà gây ra bao nhiêu cái nghiệp nặng về sau này, có lẽ là một việc không dễ dàng để chúng ta nhận thấy như vậy.

Ngày hôm nay chúng ta thường nghe nhiều tranh chấp, nhiều lời nói đố kỵ qua lại trong cộng đồng Phật giáo về cá nhân này hay cá nhân khác.  Thường thường người ta hủy báng mạ lỵ nhau đơn giản vì danh vì lợi chứ ít khi vì giá trị thực sự.  Quí vị để ý như vầy những người  sống rất tầm thường ở trong cuộc đời này ít khi họ bị miệt thị, bởi họ không phải là đối tượng để người khác tranh chấp, nhưng những bậc tu tập thanh tịnh tốt đẹp, những bậc danh tăng có tiếng tăm rất thường bị đố kỵ bị dèm xiểm rất nhiều. Bởi vì có một số cá nhân họ rất sợ những ảnh hưởng của những vị này liên quan đến đời sống của họ và cho dù một số cá nhân  đó có khả năng, có sự tu tập ở trong đời sống đến đâu đi nữa, nhưng thái độ đố kỵ sẽ khiến cho những vị này đánh mất đi cái lợi ích của chính mình và dần dà rơi vào một hoàn cảnh mà chính mình lại đào bứng cái gốc rễ của mình.

Phải nói một điều, đối với chánh pháp chúng ta phải bỏ ra rất nhiều thì giờ để chiêm nghiệm để hiểu giá trị của chánh pháp, và trong hoàn cảnh nào  chúng ta cũng phải thấy được giá trị của chánh pháp trên hết.  Nếu chúng ta hiểu được giá trị của chánh pháp thì những ai phát tâm với chánh pháp, hoan hỷ với chánh pháp, dù rằng chánh pháp đến từ mình hay đến từ bất cứ người nào khác chúng ta cũng hoan hỷ. 

Ở trong số các vị Chư Thiên có một hạng Chư Thiên sống trong cảnh giới gọi Tusita là Cung Trời Đâu Xuất, phần lớn những Chư Thiên sanh về cõi này là những vị phát tâm trong sạch hoan hỷ đối với chánh pháp, nhìn thấy vẻ đẹp của chánh pháp, cái rực rỡ oai nghi của chánh pháp, và vị này sanh lên cõi trời đâu xuất, tại cõi trời này các vị tiên thường quây quần trong pháp hội, và những pháp hội này được thuyết giảng thường là bởi những vị Bồ Tát sắp chứng quả Vô Thượng Chánh Giác, đây là một cảnh giới rất vi diệu, cảnh giới này được thành tụ là do những người ưa thích chánh pháp.  Có lẽ trong đời sống của chúng ta một trong những điều để chúng ta vượt qua những đố kỵ những bỏn xẻn là chúng ta nên biết làm thế nào để cảm kích chánh pháp thay vì đặt mình vào thế miệt thị hủy báng chánh pháp.

Ngày hôm nay tất cả Chư Tăng trong cuộc sống hằng ngày từ y áo, cho đến thực phẩm, cho đến tứ sự, cho đến những sự cúng dường khác  Chư Tăng có được, những điều đó không phải Chư Tăng có bởi vì tài năng cá nhân của mình, thật ra Chư Tăng có được là nhờ ở Đức Phật  nhờ ở sự rạng rỡ của chánh pháp, dù chánh pháp ở thời đại nào đó đã cho cuộc đời một cái nhìn về những nhà Sư như thế nào, và ở trần gian này người ta đã giúp đỡ sao cho Chư Tăng sống như thế nào, thì một người xuất gia hay người cư sĩ khi đến chùa tu tập chúng ta quan niệm rằng cái gì chúng ta có được không phải từ cá nhân của mình mà từ di sản của chánh pháp, không có Đức Phật, không có giáo pháp thì mình không có những điều đó, nên chi bất cứ ai làm cho chánh pháp được hưng thịnh mình đều phát tâm hoan hỷ chứ không nhất thiết gì chúng ta phải đố kỵ với vị này hay chúng ta đố kỵ với vị kia.

Chúng ta rất dễ bị danh lợi chi phối, và khi con người đã mù quán trong danh lợi  thì có thể đặt mình trong bất cứ một bi kịch nào, kể cả việc tự mình đối lập với những giá trị cao qúi mà mình đã lựa trọn, tự mình làm tổn hại đến bản thân của mình, đào bứng lấy gốc rễ của mình. Điều này quả là một điều không may. 

Do vậy mỗi chúng ta ở trong hàng ngày khi nghe pháp, khi tụng kinh, khi có nhân duyên tu tập cố gắng phát nguyện là đời này và đời sau chúng ta sanh ra đời, thứ nhất là được thân cận bậc thiện hữu tri thức, thứ hai chúng ta có thể có ý thức để cảm nhận cái hay cái đẹp của chánh pháp, và xin cho chúng ta đừng bao giờ ở trong một hoàn cảnh vì danh vì lợi phải gây ra nhiều tổn giảm lớn lao cho bản thân của mình bởi vì những điều đó rất có thể xảy ra ở đời sống của chúng ta.