Saturday, August 17, 2013

Pháp Chân Đế có thể coi là không thay đổi hay không ?

Hỏi: Pháp Chân Đế có thể coi là không thay đổi hay không ?

(câu thảo luận trong lớp A Tỳ Đàm, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Ðẳng:  Chữ chân đế (paramattha), trước khi nói về ý nghĩa đặc biệt thì chúng ta phải nói một điểm, đây là một trong những cuộc tranh luận rất lớn ở trong lịch sử Phật học. Nói tranh luận lớn bởi vì đề tài này là một đề tài khó hiểu, tuy vậy theo nhiều nhà sử học thì những khái niệm về pháp chân đế đã khiến cho một số các hệ phái Phật Giáo sau này không có cơ sở phát triển, khi họ dùng chữ “phương tiện” để diễn tả Ðạo Phật hay diễn tả chân lý và thậm chí có nhiều vị đã lên án một cách gay gắt rằng truyền thống A Tỳ Ðàm là một truyền thống của Phật Giáo Theravada, Phật Giáo Nam Truyền.

Điển hình, bộ Thanh Tịnh Ðạo và những lời dậy của những vị Thiền Sư về phương pháp hành thiền quán, được xem như bất cứ một hành giả nào muốn đạt đến một ý trí chân thật của các pháp, người đó phải tự mình nhận thấy danh và sắc trong ý nghĩa tuyệt đối của nó chứ không phải qua cách suy diễn ở bên ngoài.

Cho dù thế nào đi nữa, khi chúng ta nói đến A Tỳ Ðàm, chúng ta đề cập đến pháp chân đế, pháp chân đế là tâm thuộc tánh của tâm ,vật chất, và Niết bàn. Chúng ta có thể nói rằng pháp chân đế bao gồm tất cả vật chất và hiện tượng của tâm lý nói chung, cái gì thuộc về hữu vi và cái gì thuộc về vô vi tất cả được chia ra làm 4 pháp, và chúng ta thường nghe ở trong các bản dịch truyền thống là tâm vương, tâm sở, sắc pháp, và Niết bàn. Dĩ nhiên chúng tôi có một chút ý kiến để đề cập đến ở đây là thiền vipassana, và thuộc tánh của tâm, tâm sở là một điều chúng tôi sẽ trình bày sau này khi đề cập đến phần thứ hai quan trọng này.

Nhưng nói đại loại, khi chúng ta đề cập đến A Tỳ Ðàm, môn A Tỳ Ðàm đã trình bày nhận thức nhiều thì giờ để trình bày 4 thức pháp chân đế, và ý nghĩa của pháp chân đế là một trong những khái niệm tiên khởi là chúng ta không kể một cách hời hợt khi chúng ta bước vào thế giới của A Tỳ Ðàm. Nói một cách khác, lấy một thí dụ thường thức ở bên ngoài khi chúng ta học về văn học hay tất cả các môn học về nhân văn về mỹ học chúng ta có những môn học có giá trị, những giá trị tương đối mang tánh cách ướt lệ theo thời theo xứ.

Ví dụ, một lần chúng tôi đã đề cập đến quan niệm về mỹ học thời xa xưa, người ta nói về cái đẹp của người phụ nữ từ đời nhà Ðường hay thời Cổ Hy Lạp, khi nói về cái đẹp của người phụ nữ, thì người phụ nữ phải tròn trịa đầy đặn chứ không gầy ốm như ngày nay, ở trong thế kỷ 20 này, có lẽ trước sự dư giả của thực phẩm và bây giờ một số lớn người phụ nữ, đặc biệt ở các quốc gia kỹ nghệ, sức nặng hơi quá nhiều do đó người ta có khuynh hướng quan niệm rằng, một người đẹp tức là người có thân hình không mập mà thon và gầy, và nét gầy cũng là một nét về mỹ học của thời này. Cái quan niệm về đẹp ốm như vậy là quan niệm có tánh cách ướt lệ chảy theo thời đại, ướt lệ theo khuynh hướng và lúc đó người ta nói đẹp đi với quan niệm như vậy, quan niệm đó không có một giá trị tồn tại theo thời gian .

Nhưng có một thứ khác ngoài văn học, ngoài mỹ học ra chúng ta biết rằng có môn học về khoa học tự nhiên chẳng hạn, đặc biệt về toán học đòi hỏi sự chính xác, sự chính xác này dựa trên những con số, và tất nhiên chúng ta không nói rằng tất cả những khái niệm về toán học đều đề cập đến chân đế. Nhưng chúng ta có thể nói rằng ngay cả trong môn học của loài người, trong kho tàng kiến thức của loài người chúng ta thấy rằng khoa học nhân văn gần với quan niệm tục đế, khoa học tự nhiên gần với chân đế theo cái nhìn mà chúng ta gọi là tạm, thí dụ là như vậy.

Chân đế được hiểu như vậy đó là những gì thuộc về bản thể, đã là bản thể, thí dụ như tâm biết là biết cảnh, và sắc là những gì cấu tạo bởi bốn đại, hoặc giả là thuộc tánh của tâm có đồng sanh đồng diệt, đồng nương với tâm, những điều đó không thay đổi theo thời gian, phải nói như vậy thôi, nó không khác hơn được.

Chúng tôi có một lần xem một cuốn phim nói về cách sinh hoạt văn hoá của người Machu, tức là một giống dân rất là văn minh, có thể nói rằng khi người Tây Ban Nha đặc chân đến Nam Mỹ, họ đã có những nền văn minh rất rực rỡ, chúng ta tìm thấy thành phố Machu nằm trên trường núi cách Lima không xa ở Peru. Khi đọc những công trình của họ tìm hiểu về một xã hội liên quan đến luật, liên quan đến cái vui cái buồn, liên quan đến cuộc sống của họ chúng ta tự hỏi một điều rằng một nền văn hoá hoàn toàn biệt lập đối với thế giới ở bên ngoài. Thí dụ như chúng ta nói lục địa Á Châu, lục địa người Âu Châu liên hệ với nhau qua vùng Trung Ðông, Tiểu Á. Nhưng vùng đất này hoàn toàn biệt lập địa dư thời bấy giờ, hầu như nhân loại ở Âu Châu và Á Châu hoàn toàn không biết tới, về sau này Kha Luân Bố mới khám phá ra Châu Mỹ, và các giáo sĩ dòng trên tiếp xúc đầu tiên với bộ tộc này. Chúng ta thấy họ có nền văn minh rất giống với nhân loại ở trên các vùng đất khác, có nghĩa là từ trong cách diễn tả sự đau khổ cho đến diễn tả niềm vui cho đến trật tự trong xã hội có lớn có nhỏ và cái quan hệ giữa người già người trẻ v.v....

Thì có những hiện tượng của tâm lý và hiện tượng của vật chất, và hiện tượng đó không bị chi phối bởi thời gian hay không gian. Khi con người vui thì cười, khi buồn thì khóc và khi mình ham muốn nhiều thì sanh ra lo sợ, sanh ra phiền não, tất cả những thứ đó nó sự thật đương nhiên có ở trong cuộc đời này và đây là một quan niệm có thể nói rằng rất cổ điển của xã hội Ấn Ðộ, nếu chúng ta muốn nhìn toàn bộ văn học Phật Giáo là một phần xã hội của Ấn Ðộ.

Để nói về một ý niệm vượt ngoài tánh cách ướt lệ mang dấu ấn của thời gian, thì chân đế nó đã trở thành một khoa học tự nhiên, mặt dầu thời xưa người ta không gọi nó như vậy, nhưng đây là những điều mà thời nào, lúc nào cũng không thay đổi. Lấy một thí dụ cổ điển mà từ xưa đến giờ chúng ta thường nghe là vàng thì lúc nào nó cũng là vàng, cho dù người thợ kim hoàn có khéo tay tạo nó thành ra những chiếc nhẫn, hoặc giả là dây chuyền v.v... Nhưng dù hình thức nào, tên gọi nào thì cái bản chất vàng nó vẫn là vàng.

Thì ở trong quá khứ hiện tại và vị lai khi chúng ta đề cập đến pháp chân đế về những hiện tượng về tâm, hiện tượng về thuộc tánh của tâm, hiện tượng về sắc pháp, hiện tượng về Niết bàn. Nếu chúng ta nói về Niết bàn thì cả những pháp đó vốn không có mảy may thay đổi và không bị chi phối bởi quốc độ, bởi thời gian, bởi văn hoá, nó như vậy thì phải làm như vầy. Chữ chân đế được hiểu nếu chúng ta muốn hiểu chữ chân đế thì chúng ta phải nhìn tính tương đối của nó đối với tục đế chúng ta mới thấy được  giá trị rõ ràng chân đế và tục đế.

Trong Tạng A Tỳ Ðàm, đồng thời có rất nhiều điểm chúng ta phải đào sâu lại vấn đề chân đế và tục đế, bởi vì trong truyền thống lịch sử của Ðạo Phật, pháp chân đế, tục đế đã trở thành một đề tài lớn khả lấp sự phân hoá và có những sự chống đối gay gắt nhau nhiều cách và dòng tư tưởng được sản sanh sau này của Phật Giáo, bên cạnh đó  ngay cả quan niệm để lãnh hội pháp chân đế cũng là quan niệm đặc biệt tế nhị đối với phương diện nhân quả, tế nhị đối với phương diện thực hành thiền quán và nó tế nhị ở trong sự giả lập cái từ ngữ mà chúng ta đề cập đến trong Phật học và riêng ở trong Tạng A Tỳ Ðàm. 

Friday, August 16, 2013

so sánh cách nhìn thường thức ở bên ngoài và cái nhìn của Phật học về đời sống nội tâm.

Hỏi: so sánh cách nhìn thường thức ở bên ngoài và cái nhìn của Phật học về đời sống nội tâm. 

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, ngày 7-6-2013 Thiên Ân chuyển biên, Minh Hạnh hiệu đính)

 ĐĐ Pháp Tín: Trong Phật học hoặc ở trong đời sống tu tập, với những cách nói ở bên ngoài, có đôi khi sẽ làm cho những người cư sĩ rất lúng túng.

 Một lần, chúng tôi nghe một vị sư giải thích về sự ăn chay và ăn mặn ở trong đời sống tu tập và ở đời sống bên ngoài. Vị sư này từ nhỏ đến lớn xem kinh điển nhiều, nên dùng những từ Phật học, còn người nghe dùng những từ ngữ bên ngoài "có cung mới có cầu, có cầu mới có cung," vị sư đó lúng túng. Vị sư trong chùa thường xem kinh điển, ít xem sách ở bên ngoài, người kia thì không xem kinh điển mà chỉ xem sách ở bên ngoài, thành ra khi hai người ngồi nói  chuyện với nhau. Lúc đó chúng tôi ngồi nghe cảm thấy hai người nói chuyện rất là rối, vì một người cứ nói "tại vì có người giết nên mới có người ăn," người kia thì nói rằng "có cung mới có cầu, có cầu mới có cung," hai bên nói qua nói lại không hiểu nhau. Rồi vị đó mới nói rằng "bây giờ không nói về cung hay cầu nữa, có người bán có người mua, có người mua có người bán." Lúc đó chúng tôi xen vào, chúng tôi nói rằng "bây giờ đừng nói đến cung cầu," chúng tôi nói "vì có người bán có người mua, có người ăn có người giết, có người giết có người ăn v…v," thì từ ngay chỗ đó mới gỡ rối ra được, gỡ ra những mắc rối. Cuối cùng thì người dùng chữ cung và cầu họ cũng hiểu được sự tu tập nói về không sát sanh và sát sanh, chứ không liên quan gì đến với vấn đề đó.

    Cũng như, trong Phật Giáo nói về tâm hoặc là thọ, tưởng, hay tưởng uẩn v…v. Còn thế gian thì có những hội chúng mình nói về những điều này họ không hiểu, còn nói về tình cảm và lý trí thì cũng thuộc về tâm. Ví dụ, đời sống của người ta cư xử có tình có nghĩa. Hoặc, có những người Việt, khi mình đi đến mình nhờ người ta giúp điều gì hoặc mình hỏi gì, thì người ta có sự chân tình với mình, thì mình nói là người đó sống có tình cảm, có tình người. Khi mà người Việt gặp nhau ở xứ xa v…v, thì người này gặp gỡ, tiếp đãi với mình một cách nhiệt tình, thì mình thường nói người đó có tình cảm, hay có sự hiểu biết. 
Trong Phật Giáo, người được khen có tình cảm, có lý trí, có tâm tốt, hay có tâm từ, có trí tuệ, nghĩa là có sự hiểu biết. Thì lý trí này  nói về trí tuệ. Khi chúng ta học ở trong Phật Giáo, nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu nhiều thì chúng ta không bị lầm lẫn. 
Nhiều lần chúng tôi gặp trong trường thiền, có người nói rằng tu tập không có tưởng gì hết, không cần tưởng, thì thật sự ra có nhiều khi người ta hiểu sai, có những người ngồi tưởng tượng trạng thái này giống trạng thái kia, trạng thái của sau thiền giống trạng thái của người mới vừa đi nắng về, rồi tắm rửa mát mẻ, có chỗ để nghỉ ngơi. Người ta tưởng tượng trạng thái của sơ thiền là một người đau khổ vừa được bình phục, hạnh phúc, v…v. Thì sự tưởng đó không cần ở trong thiền, vì sao, vì nó thuộc về sự tưởng tượng. Tưởng tượng thì không cần, nhưng đối với sự tưởng tu tập trong thiền, ví dụ như chúng ta cần tưởng mạnh, tức sự ghi nhớ, vị thiền sư dạy chúng ta tu tập đề mục đó như thế nào, chúng ta cần tưởng mạnh để ghi nhớ những điều đó. Từ chỗ vị thiền sư, chúng ta trở về cốc của chúng ta, trở về chỗ hành thiền, chúng ta đều nhớ được điều đó, thì chúng ta cần cái tưởng (Saññā), nhận biết như vậy, để mà chúng ta có cái tâm nhớ lại để tu tập, thì những điều đó thực sự chúng ta muốn có những cái cách như vậy thì phải nhờ vào tưởng mạnh. 
Một người hiểu rõ trong trường hợp nào được gọi là tưởng, tưởng (Saññā) để tu tập, để học hỏi, v…v, nó khác biệt với sự tưởng tượng, thì khi mình hiểu được điều đó thì mình không bị sự đối lập. Còn nếu chúng ta không hiểu những từ này, ví dụ như có những người nói rằng trong Phật giáo không có tình cảm và lý trí, thật sự ra điều này không phải.
 Ngay Đức Vua Pasenadi, có thời gian ngày nào cũng đi thăm Đức Phật, do Đức Vua có sự tôn kính Đức Phật. Còn ở ngoài đời thì người ta không biết dùng chữ này, không biết chữ tôn kính, người ta nói rằng vị đó có tình nghĩa, hoặc có một cái ơn gì đó v…v, thì những điều này gọi là Ngôn ngữ Chế Định.
 
Trong đời sống bình thường, có những người mình gọi người ta bằng “cô” họ không chịu, kêu bằng “chị” thì được. Nhưng mình chỉ dùng ngôn ngữ đó để mình giao tiếp thôi, chứ điều đó không chuyển tải gì hết. Hoặc là trong đời sống này, có nhiều khi hai người đó hay hai nhóm đó, người ta có sự qua lại với nhau, thì quý vị thấy rằng bình thường người ta cũng dùng chữ “xin lỗi”, nhưng “xin lỗi” ở đây không phải là nhóm A có lỗi hay nhóm B có lỗi, không phải như vậy, nhưng vì người ta tôn trọng mối quan hệ này nên người ta nói xin lỗi. Trong giao tiếp có khi mình dùng ngôn ngữ này ngôn ngữ kia để mình chuyển đạt lại những ý gì mà mình muốn nói cho người nghe để họ hiểu được điều đó. Trong Phật Giáo nếu một người đã từng học từng nghe rồi thì vị giảng sư khi trình bày ngũ uẩn, thức uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn để nhanh và gọn, để nhanh và không thiếu. Còn đối với những người mới vào trong Phật học thì mình phải dùng sự hiểu biết, lý trí hoặc mình dùng ngôn ngữ gì đó để mình chuyển tải cho người nghe hiểu được, như vậy mới gọi là mình biết cách để dùng ngôn ngữ chế định để mình diễn tả điều này điều kia, nhằm mục đích để cho người ta hiểu được vấn đề, thì nó sẽ giúp ích được cho mọi người trong sự tìm hiểu về Phật Giáo, do đó chúng ta liên thông hai vấn đề này thì nó cũng không ảnh hưởng gì nhiều.

Thursday, August 15, 2013

Thế nào là hữu duyên trong Phật Giáo

Sư Trưởng: Chư Tăng đi khuất thực để những người khác “để bát” cúng dường để rồi họ nguyện cầu những gì họ mong ướt đó gọi là hoá duyên. Nhưng người Tây Tạng khi có người hỏi tại sao Chư Tăng phái Kim Cang Thừa hay Mật Tông mà thông thường gọi là Phật giáo Tây Tạng lại không ăn chay mà ăn những động vật như là thịt bò thịt trừu v.v… Chúng tôi đến vài chùa ở Ấn Độ và thấy đôi khi có ngôi chùa treo khô dắt (trâu núi), khi hỏi như vậy thì những vị Tăng sĩ Tây Tạng trả lời và viết thành sách thành báo, câu trả lời là: Khi ăn những thịt chúng sanh như vậy không phải là không có tâm từ với chúng sanh mà là để kết duyên với chúng sanh.
Do đó có câu thảo luận số một là: Thế nào gọi là hữu duyên, làm thế nào đễ có duyên lành với người khác. Tức là chúng ta có thể dùng bố thí, lợi hành, đồng sự để có duyên lành với người khác hay chúng ta nên đi hoá duyên khuất thực như Chư Tăng Nguyên Thủy Nam Tông hay chúng ta nên sử dụng lối kết duyên lành của người Tây Tạng, hay còn phương pháp nào khác. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

(Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Trong câu thảo luận đầu tiên thì trước nhất có một vài trình bày quan điểm mang tính thuần túy kinh điển, sau đó xin trả lời câu hỏi mà Sư Trưởng đưa ra liên quan đến Phật giáo Tây Tạng.
Trước nhất đạo Phật quan niệm rằng ở trong cuộc đời này sự quan hệ giữa con người và con người, chúng sanh với chúng sanh nó không đơn giản là đẹp là xấu, là hay, là dở mà bên cạnh đó nó còn có những yếu tố chúng ta gọi là túc duyên hay là tiền nghiệp.
Ví dụ như qúi vị nghe pháp của vị Pháp Sư, có vị họ thuyết rất hay nhưng quí vị lại không thấm thiá, không cảm thấy gần, không cảm thấy thân thiết với vị đó, không phải vị đó thuyết dở mà tại vì giữa vị đó và qúi vị không có duyên. Trái lại có một vài vị dùng ngôn từ rất đơn giản, nói rất ngắn gọn khô khan nhưng vì vị đó có duyên lành với mình nên mình cảm thấy hết sức thân thiết, hết sức qúi mến. Thì như vậy vấn đề ở đây không phải là hay hay dở hay có tài hay không có tài.
Lấy ví dụ như hồi xưa có Ngài Hộ Tông, Ngài Hộ Tông viết nhiều sách, nhưng nếu chúng ta nói chuyện với Ngài thì chúng ta thấy Ngài không phải là vị Pháp Sư theo cách mà chúng ta nói là dùng ngôn ngữ nhẹ nhàng, nói năng một cách rất mạch lạc như một bài thuyết giảng, có thể nói ngược lại là trong cách dậy đạo thì Ngài hay la hay rầy, chúng ta dùng chữ la rầy không phải là quá đáng là vì có nhiều khi Ngài la rầy Chư Tăng và quí Phật tử, nhưng ở trong chùa Ngài thì Phật tử tu tập rất đông người xuất gia cũng vậy, người tại gia cũng vậy, nhất là những vị cư sĩ, những vị tu nữ và những vị này không phải tu một cách bình thường mà tu hành rất tinh tấn. Nếu chúng ta đem vị pháp sư giỏi chưa chắc đã cảm hoá được 5 người 3 người có thể tu hành tinh tấn được như những đệ tử của Ngài, và ở gần Ngài thì chúng ta thấy rằng thường thường Ngài không dùng sự thuyết phục bằng ngôn từ nhiều, bằng mỹ từ, bằng cách nói nhẹ nhàng cảm hóa mà thường la rầy, nhưng lại có sự thành tựu rất lớn trên phương diện hoằng phápm và khi chúng ta nói về điểm này thì ai cũng nói rằng đó là đức độ của Ngài, quả thật Ngài là một vị chân tu có nhiều đức độ về niềm tin về giới hạnh v.v... Nhưng cũng phải nói thêm một điểm rằng Ngài có rất nhiều duyên lành ở trong quá khứ. Như ở Đài Loan có những vị như Pháp Sư Ấn Thuận là một vị thông suốt Tam Tạng kinh điển nhưng cũng không có nghĩa vì vậy mà Pháp Sư Ấn Thuận lại có nhiều đệ tử hơn những vị khác, có những vị không có tài năng về kinh điển như Pháp Sư Ấn Thuận trong lúc đó lại có rất đông đệ tử.
Dĩ nhiên mỗi hiện tượng, mỗi sự kiện nó có nhiều cách giải thích, nhưng riêng với đạo Phật thì chúng ta biết một điều rằng con người mà có thể cảm thông nhau, có thể thân thiết với nhau thì phải có một cái mà chúng ta nói là có duyên lành với nhau. Duyên lành đó là gi`? Hoặc ở trong quá khứ chúng ta từng là người có những pháp như bố thí, ái ngữ, lợi hành đồng sự cho nhau.
Ví dụ như mình đã từng cho ai cái gì đó mà người đó rất cảm kích rất lợi lạc, đời sau sanh ra có thể mình sẽ gặp lại người đó, người đó có thể rất cứng đầu, rất ngang bướng với người khác, nhưng mà gặp lại chúng ta, chúng ta chỉ nói một lời nhẹ thôi, một lời rất ngắn mà người đó có thể cảm thấy rằng chịu khó lắng nghe, hay không ương ạnh như đối với người khác, mặc dầu lời nói của chúng ta chưa chắc là có sức thuyết phục hơn, hay chưa chắc đã hay hơn người khác.
Nhiều khi có người nói rất hay nhưng lại không thuyết phục được chúng ta mà lại có những người có câu nói rất tầm thường mà chúng ta lại thay đổi được thì đó là có duyên lành.
Thì ở trong đời sống hàng ngày phải nói như vậy, bốn nhiếp pháp này khi chúng ta đọc vào thì chúng ta hiểu rằng đó là những pháp làm cho chúng sanh mở lòng với chúng sanh, chúng sanh gần gủi thân thiết với chúng sanh khác.
T thì ở đây bố thí tức là mình cho, cái cho đó là sự mở rộng bàn tay, mở rộng bàn tay ban bố, bố thí, giúp đỡ cái gì đó.
Ái ngữ tức là đối với người chung quanh là dùng lời nói ôn hoà, dùng lời nói vừa lòng đẹp ý, chúng ta không có dùng lời nói cáu kỉnh gay gắt khích bác người khác.
Lợi hành là chúng ta sống biết nghĩ lợi ích cho nhau.
Đồng sự là chúng ta biết chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ gánh nặng với nhau.
Bốn pháp này thật ra đều căn bản ở trên lòng từ hết, sống bằng tâm từ, thể hiện tâm từ thì con người có duyên lành với nhau. Chúng ta đừng nghĩ rằng Ðức Phật Ngài thuyết một bài pháp mà Ngài độ nhiều vị tri thức như Ngài Xá Lợi Phất hay các vị vua như vua Bình Xa Vương hay Ngài độ Chư Thiên, Phạm Thiên như Đức Trời Đế Thích, Tứ Đại Thiên Vương là tự nhiên Ngài giỏi, Ngài thuyết pháp hay là đủ, mà thật sự ở trong vô lượng kiếp Ngài đã cho, Ngài đã sống, Ngài đã ban bố, Ngài đã dùng tứ nhiếp pháp để ban bố cho những chúng sanh này rất nhiều, những chúng sanh đó thọ những ân lành của Chư Phật, thọ được ân lành của những Đức Bồ Tát trong quá khứ nên chi trong kiếp này những vị đó mà nghe các Ngài, chỉ nhìn thấy Đức Phật là mở rộng lòng ra. Như ngày hôm qua chúng ta có dịp nói về ông Cấp Cô Độc chỉ nghe nói đến Đức Phật không thì trong tâm hồn đã cảm thấy rằng rất hoan hỷ, rất mong muốn để gặp. Thật sự đó cũng là cái duyên lành.
Bởi vậy mình sống trong cuộc đời có nhiều người rất là lạ, ví dụ nói là mình đi xuất gia không muốn thọ dùng của đàn na tín thí, chỉ tiền của mình để dành rồi dùng thôi, vấn đề không phải là mình nhận hay không nhận, vấn đề là mình có cho với nhau, mình có ban bố điều gì gọi là tốt đẹp và mình có thể đón nhận những điều từ những người gọi là thiện trí hay không.
Ví dụ như mình ở gần bậc thiện trí , ở gần một vị Trưởng Lão, các Ngài cho mình một chai thuốc hay một món quà gì đó thì mình nên cảm kích điều đó, tại vì đó cũng là một duyên lành, đời sau nếu vị thiện trí đó, vị trưởng lão đó sanh lên là một vị Tam Tạng Pháp Sư, các Ngài nói đạo cho mình nghe thì mình lãnh hội rất nhanh.
Hay hoặc giả ở trong đời sống này có những pháp làm cho con người gần nhau như bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, đây là những pháp gọi là Bốn Nhiếp Pháp nhưng thật ra ở trong đó nói những cái tương duyên giữa con người với con người, điều này giữa chúng sanh với chúng sanh rất đặc biệt. Như qúi vị đã từng nghe câu chuyện là Ngài Angulimala trong một kiếp xa xưa Ngài đã từng là một vị tỳ kheo đi khuất thực rồi với phần những hạt cơm còn lại trong bình bát, Ngài úp xuống ổ kiến với tác ý dụng tâm là những hạt cơm này cho những con kiến, chỉ chừng đó thôi mà đời sau những con kiến đó sanh ra là những vị thương buôn, Ngài chỉ nói vài bài pháp mà những vị thương buôn này có thể cảm hoá, trong khi những người thương buôn này không thấy được một sự mở lòng tương tựa như vậy ở những vị khác thì đều do duyên lành hết. Nên sống trong cuộc đời này rất quan trọng để chúng ta tạo duyên lành với nhau.
Người Việt Nam chúng ta nói chữ kết duyên, chúng ta nói chữ đó có tánh cách như nam và nữ dẫn đến chỗ thành vợ thành chồng tác thành hôn sự gọi là kết duyên, nhưng người Trung Hoa đặc biệt dùng chữ kết duyên là chữ mang ý nghĩa gần với đạo Phật. Ví dụ như một người Phật tử họ đem một hầu bao, một ít tịnh tài để cúng dường cho một vị Tăng hay vị Ni, mong được kết duyên với vị Tăng vị Ni, điều đó muốn nói rằng đời sau gặp nhau sẽ là bà con bạn bè từ bi trí tuệ, điều đó nghĩa là có duyên lành với nhau. Vì vậy ở trong cuộc sống của chúng ta có nhiều khi mình hay nói ông A tốt bà B xấu, nhưng thật sự không phải ông A tốt bà B xấu. Nếu mà xấu và tốt thì thưa qúi vị đa số chúng ta sống trong cuộc đời này là trung bình hết, đa số chúng ta sống trong cuộc đời ai cũng có phần tốt, ai cũng có phần xấu, chúng tôi cũng nói là cũng có người rất tốt nhưng đa số thì hầu hết.
Nhưng lạ lắm, nếu người đó có duyên lành với mình thì họ đem phần tốt để họ đối xử với mình, nhưng nếu người đó không có duyên lành với mình thì có khi họ đối với mình một cách rất tệ. Thì chúng ta nhớ như vầy, nếu một người mà họ xử không tốt với mình thì mình đừng có nghĩ rằng người đó xấu, tại vì mình với người đó không có duyên lành với nhau.
Nhưng một người đối xử tốt với mình không có nghĩa là người đó là người bậc thiện trí hoàn toàn hay là người tốt hoàn toàn, biết đâu mình có duyên lành với người đó rồi người đó gặp mình thì tốt với mình.
Thành ra chữ nhân duyên trong đạo Phật nó cho chúng ta hiểu cái phải chăng trong cuộc đời này, vì vậy mình sống mình hay có ý nghĩ rằng có những người hoàn toàn tốt nhất là những người thương mình, những người hoàn toàn xấu là những người đối xử không tốt với mình, chuyện đó không hẳn như vậy, cái quan trọng là cái tương duyên giữa mình và người đó đối với nhau như thế nào.
Và bốn pháp này rất quan trọng đối với người tu Phật, tại sao vậy, thông thường qúi Phật tử mà nghe nói rằng những người tu tập muốn phát tâm cứu độ chúng sanh. Thật ra không phải là mình muốn cứu độ chúng sanh là mình cứu độ được, không phải như vậy, mình nói mình muốn cứu độ chúng sanh mà mình không tạo duyên lành với chúng sanh thì mi`nh không cứu độ chúng sanh được.
Ðức Phật Ngài nói rằng cái đầu của Ngài mà Ngài cắt thủ cấp đó để ban bố cho chúng sanh, người ta nói giống như đá ở trong núi, đời sống của Ngài là Ba La Mật hạnh, mà để cứu độ muôn loài chúng sanh nó là vô lượng vô biên, chúng ta không kể được. Thành ra có khi một pháp thoại của Ngài giảng ra mà mang lại không biết bao nhiêu Chư Thiên nhân loại đắc đạo chứng quả, không phải đơn giản chỉ là giá trị của pháp thoại đó mà chính rằng ở trong vô lượng kiếp Ngài cũng đã tạo nhiều BaLaMật, nhiều phước hạnh và Ngài mang lại lợi lạc cho những người đó. Những người đó gặp Ngài bây giờ tự nhiên không bỏ đi như Upaka, Upaka không có duyên lành với Ðức Phật nên gặp Ðức Phật thì thấy Ðức Phật Ngài đẹp đẽ tướng hảo phi phàm nhưng mà đến chừng đến gần thì lại bỏ đi, trong khi đó ông Cấp Cô Ðộc chưa gặp Ðức Phật, chỉ nghe tên Ðức Phật thôi, nghe danh xưng của Ðức Phật thôi thì trong lòng đã rung động, thì thưa qúi vị đó là duyên lành hết.
Thành ra nếu trong cuộc đời mình mà phát đại nguyện độ đời, thì cái đại nguyện độ đời đó không có nghĩa là mình học điều gì cho hay là mình độ đời được, hay lời đại độ đời mình phát nguyện không mà độ đời được, mà mình đem bốn pháp bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự ra để cảm hoá chúng sanh trong cuộc đời này, mình kết duyên lành với chúng sanh trong cuộc đời này, và tạo nhịp cầu để cảm thông của mình với chúng sanh trong cuộc đời này, những người nào mình cho họ thì đời sau mình gặp họ, mình nói họ, họ dễ mở lòng ra, những người nào mình đem những lời nói hoà dịu, những lời nói an ủi để mang lại hạnh phúc cho họ, đời sau gặp họ, họ dễ lắng nghe mình.
Những người nào mình sống mà nghĩ tới lợi ích cho họ mà họ cảm kích điều đó thì đời sau mình cũng có duyên lành với họ. Những người nào mà mình chia sẻ gánh nặng chia sẻ trách nhiệm với họ thì đời sau gặp nhau cũng có nhân duyên tốt với họ. Thành ra rất cần thiết để chúng ta sống trong cuộc đời này, chúng ta sống với một tâm nguyện ví dụ mình muốn cứu độ chúng sanh thì bên cạnh đó là mìnhtạo duyên lành với chúng sanh và bốn nhiếp pháp này là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự nói lên tương duyên tốt đẹp giữa mình và chúng sanh khác.
Và cũng phải nhắc lại một điều rằng nếu ở trong cuộc đời này mà một người đối xử với mình rất tốt, thì không hẳn họ đối với mọi người đều tốt như vậy, mà họ đối với mình xấu cũng không hẳn họ đối xử với mọi người xấu như vậy, tại vì họ đối xử với mình tốt biết đâu mình với họ đã có duyên lành nhiều đời nhiều kiếp, và họ đối xử với mình xấu biết đâu mình với họ có oan trái nhiều đời nhiều kiếp. Thì như vậy đối với người họ không thương mình, hay đối với người họ thương mình, thì mình nghĩ rằng con người sống cũng có xấu có tốt, bởi vì người ta nói rằng đừng bao giờ vì thương ai mà mìnhquên đi, mình không biết cái xấu của người đó, và đừng ghét ai mà không biết cái tốt của người đó.
Lý duyên sinh rất vi diệu, ở đây là một phương diện rất vi diệu khi chúng ta học về giáo lý duyên sinh, thì thưa qúi Phật tử cái gọi là hữu duyên ở trong đời sống có nghĩa là trong đời này đời trước hay một quá khứ xa xưa nào đó mình với chúng sanh hay là chúng ta đối với Phật Pháp sanh lên mà mình có duyên lành.
Như đời này quí Phật tử đừng nghĩ rằng mình lên chùa mình đem nhang đèn hương đăng hoa quả lạy Phật, mình lạy Phật như vậy là chỉ được quả phúc thôi, thật sự nó còn có một cái khác nữa đó là tạo duyên lành với Phật Pháp, tạo duyên lành Phật Pháp như thế nào. Đời này nếu mình ngồi trước cội Bồ Ðề hay trước Bảo Tháp hay trước kim thân Phật mình đảnh lễ xong, mình thành kính cúng dường đời sau mình gặp Phật Pháp mình không khó khăn, nghĩa là không tạo nhiều oan khiên chướng nghiệp, mà mình đến với Phật Pháp rất nhanh chóng.
Như quí vị nghe câu chuyện Saccaka, Saccaka mãi cho đến nhiều thế hệ sau này sanh làm vị Ty` kheo ở Tích Lan thì Saccaka mới có thể đến gần Phật Pháp, thời Ðức Phật còn tại thế Saccaka có nhiều cuộc đàm luận với Ðức Phật nhưng không bao giờ trở thành người đệ tử thật sự của Ðức Phật mặc dầu có tâm phục và khẩu phục là bởi vì thiếu duyên lành, Saccaka cũng vậy, cũng từng đến với Ðức Phật, Ðề Bà Ðạt Ða cũng vậy, những người đó họ sống kế bên Ðức Phật, nghe Ðức Phật thuyết pháp mà không lãnh hội được.
Thành ra rất quan trọng để gọi là mình biết cái nào là hữu duyên ở trong đời này. Giả sử như nhiều khi mình gặp một bậc Trưởng Lão, mình biết vị đó là vị có rất nhiều phúc nhiều đức, mình chỉ đi lấy ly nước cho vị đó hay mình cúng dường vị đó một cái gì rất nhỏ bé, đừng coi thường việc đó, đó cũng là duyên lành.
Con người mình chỉ mong một điều rằng nếu những bước chân rong rủi trong cuộc đời mà gặp bậc thiện trí thi` cái đầu mình biết cúi xuống để mà mình cung kính, cái lòng biết mở ra để chúng ta đón nhận những lời dậy của vị đó, lỗ tai mình biết lắng nghe sự hướng dẫn của các vị đó thì thật sự mìnhlà người hữu duyên. Còn nếu trong cuộc đời mình không may mà gặp bậc thiện trí mà tâm hồn mình ù cạc cạc, tánh mình cống cao ngã mạn, mình không biết lắng nghe, không biết đón nhận, không biết cảm kích những cái hay cái đẹp thi` thật sự chúng ta là người vô duyên bạc phước.
Cái khác biệt những người hữu duyên và người vô duyên là như vậy. Nên chi ngày xưa chúng ta đọc trong Túc Sanh Truyện thấy ngày xưa bậc thiện trí để ý rất nhiều là làm thế nào để tạo duyên lành. Những người mà qúi Phật tử hay chê là bà già trầu chẳng hạn đi chùa lễ bái cúng dường chùa tháp v. v.... mình đừng xem thường những vị đó, những vị đó lại có duyên lành rất tốt. Khi mình đem nhữngmình ảnh đẹp vào trong lòng, những cái gi` trang nghiêm thanh tịnh vào trong lòng mình, ở một thời gian nào đó mà mình luân hồi, nhiều khi bị rong rủi đi vào cảnh giới đau khổ tự nhiên thấy một màu y, tự nhiên thấy cái hi`nh ảnh ngọn tháp, thấy một cái gi` đó tự nhiên trong lòng mình nó trổi dậy những điều rất tốt đẹp, những điều rất cao qúi đều nhờ mình có phúc duyên, có duyên lành. Nên một người tu biết đạo không xem thường những điều đó, hoàn toàn không xem thường.
Bởi vậy chuyện hóa duyên là chuyện rất cần, hóa duyên là vị tỳ kheo buổi sáng bưng bình bát đi vào trong làng. Những người bận rộn, những người nghèo khổ, những người ít đi chùa, những người họ thường sống rất xa chùa bây giờ nhờ nhà Sư đi ngang thấy hình bóng nhà Sư họ sẽ đặt trong bình bát một trái chuối, một nắm xôi, một trái ổi hay trái gì đó, chính những điều đó nó tạo cho những duyên lành.
Vì chúng sanh ở trong cuộc đời này thật sự nếu chúng ta ngồi chúng ta xét lại thì thấy cái duyên chúng ta đối với thiện pháp ít lắm mà cái duyên đối với ác pháp rất nhiều, quí vị không tin thì qúi vị cứ để ý hằng ngày những gì chúng ta bàn chúng ta nói có bao nhiêu thứ chúng ta bàn chúng ta nói là tốt đẹp. Nói những điều mà thường thường là không tốt đẹp, và ít có khi nào chúng ta tự cho tâm hồn mình, tự cho cuộc sống của mình nó hoà nhập với những giá trị thiêng liêng cao qúi.
Thành ra chuyện đi hoá duyên là chuyện phải nói rằng ngày xưa Ðức Phật trong tôn ý của Ngài, Ngài muốn Chư Tăng ngoài chánh mạng khuất thực còn có một điểm nữa là làm thế nào đó để không rời xa quần chúng, không rời xa chúng sanh, đem duyên lành đến chúng sanh trong đời.
Quí vị Phật tử biết rằng ngày xưa có những tháng ngày chúng tôi sống ở Kanchanaburi một nơi giữa biên giới Thái Lan và Miến Ðiện, chỗ đó xa xôi hẻo lánh chúng tôi gặp những người ở trong làng, những em bé 5 tuổi 3 tuổi rất thuần thành, họ chấp tay rất đẹp, chứ không phải như người Việt Nam, người Việt Nam mình mà người có học đi nữa chắp tay cũng sượng sùng lắm, không có gọn gàng, các em 5 tuổi 3 tuổi gặp Chư Tăng gặp tượng Phật, chắp tay một cách rất nhu nhuyến, rất là nhuần nhuyễn và các em đó thật sự trong các cung cách đối với chùa chiền đối với Chư Tăng co`n biết đạo hơn là những người Phật tử chúng ta. Thì chúng ta tự hỏi rằng tại sao ở chốn hoang vu hẻo lánh này mà những người Phật tử họ lại thuần thành như vậy thì đơn giản thôi là Chư Tăng không sống xa họ, Chư Tăng mỗi ngày họ đi khuất thực, mỗi ngày họ gặp Chư Tăng họ biết phải cư xử thế nào, họ biết cúng dường thế nào thành ra đó là chuyện là đạo Phật không xa quần chúng.
Một ngày nào đó mà Phật giáo vì có chùa cao Phật lớn, vì Chư Tăng sống đời sống tiện nghi rồi quên đi chuyện khuất thực, nghĩa là sống với một số quần chúng mà mình cảm thấy là tự bằng lòng tự thoả mãn rồi mình bỏ đi quần chúng ở bên ngoài, thì lúc đó chúng ta thấy Phật giáo đi xuống. Phật giáo đi xuống thò đơn giản lắm là vì chúng ta không còn tiếp cận nữa, không chịu khó nữa, hiểu được điều đó chúng ta mới hiểu được sự hóa duyên như thế nào.
Ngài Achaan Man là một vị Thiền Sư trong thời đương đại, ở trong tiểu sử của Ngài nói rằng ngày cuối cùng trước khi Ngài viên tịch, buổi sáng Ngài vẫn bưng bình bát đi ra khỏi cổng chùa 50 thước, cho dù rằng bao nhiêu đàn tín, bao nhiêu đệ tử vẫn có mặt ở chung quanh đó nhưng Ngài vẫn đi, tại vì sao vậy? tại vì Ngài muốn làm duyên lành cho đời sau, nhưng cái hạnh của Ngài là làm sao để Chư Tăng tiếp tục trong điều kiện như vậy. Thành ra khi chúng ta nghĩ đến điều đó chúng ta mới thấy rằng chuyện sống tiếp cận và tiếp cận một cách tốt đẹp ở trong cuộc đời này là cái gi` rất quan trọng, và may mắn cho chúng ta nếu chúng ta trong cuộc đời gặp bậc thiện trí mà mình biết nghiêng mình.
Người ta nói:
“Trăm năm bố thí cúng dường, không bằng một phúc kính nhường Thánh nhân"
Mi`nh gặp bậc thiện trí mà mình biết qùi xuống lạy bậc thiện trí thì thật sự con người mình có cái may rất lớn. Còn nếu trong cuộc đời này mà mình gặp Ðức Phật đi nữa mà mình ngẩn đầu lên cống cao ngã mạn thì thật sự con người mình gọi là con người nhất xiển đề thì nó quá, nhưng phải nói là con người mình không có lợi lạc, mình là con người bạc phước, mình mất đi rất nhiều lợi ích ở trong cuộc đời.
Do vậy luôn luôn mình phải tự hỏi rằng mình có bao nhiêu duyên lành đối với bậc thiện trí, có bao nhiêu duyên lành đối với chánh pháp, có bao nhiêu duyên lành đối với những điều hay điều thiện, và liệu rằng trong những kiếp luân hồi, trong những bước chân phiêu bạc của chúng ta trong đời này và đời sau mình gặp được những điều tốt đẹp như vậy, mình có biết nghiêng mình trước những giá trị cao quí hay không, hay là chúng ta vẫn khư khư ôm chấp lấy bản ngã cái tôi đáng ghét của mình để rồi ruốt cuộc mình không được gi` hết, do đó gọi người hữu duyên và người vô duyên bạc phước nó khác nhau như vậy.
Bây giờ thì chúng ta nói đến chuyện hồi nãy Sư Trưởng có nói về chuyện người Tây Tạng ăn thịt mấy con dắt (con trâu núi) để gieo duyên với nó, thì xin thưa với qúi Phật tử một điều là ở trên thực tế thìChư Tăng Tây Tạng không ăn chay, ở trên thực tế người Tây Tạng sống ở miền núi họ không có thực phẩm nhiều, họ ăn những con trâu núi và mỗi người đều có cách giải thích khác biệt những gì chúng ta nghe giải thích nó nằm trên quan điểm cá nhân nhiều hơn là kinh điển.
Thật ra trong kinh điển Tây Tạng cũng không đến đỗi giải thích như vậy, riêng cá nhân chúng tôi thìchúng tôi cũng không nghĩ rằng mình ăn một con vật nào đó gọi là kết duyên với nó, cái đó nó mang tánh cách mà chúng tôi nghĩ là hơi ngụy biện mà thôi.
Thật sự chuyện mình ăn, nó là một chuyện chẳng đặng đừng, nói thẳng ra là chuyện ăn chẳng đặng đừng, ví dụ như mình không có cách nào khác, cuộc sống ở trong đời thi` nó tương đối thôi, người ta có gi` cho mình ăn cái đó và mình ăn trong cái tam tịnh dục, mình tránh được sự sát hại chừng nào thi` tốt chừng đó. Nhưng bảo rằng mình ăn chúng sanh để tạo duyên lành với chúng sanh thì thật ra chúng tôi không thấy quan điểm đó có một chỗ đứng trong tinh thần của Phật Pháp.
Tuy nhiên phải nhắc lại một điều là nếu chúng ta có, chúng tôi cũng đã nghe một vài vị nói những vị Tây Tạng như trường hợp Sư Trưởng đã tri`nh bày thi` điều đó cũng có một vài vị giải thích, đúng ra Phật pháp mình có vấn đề nhiều khi người ta muốn giải thích điều gi` người ta cũng giải thích hết. Ví dụ có người hỏi nhà Sư Tây Tạng là sao tu mà ăn thịt con dắt (con trâu núi) thì nhà Sư Tây Tạng nói rằng con dắt nó to như con trâu, nó là con trâu núi, mình ăn một con đỡ hơn mình ăn tôm ăn cá mìnhăn nhiều con. Thành ra đó cũng chỉ là cách giải thích thôi, chứ chúng tôi không nghĩ nó cần có một lý do, có cái gì đáng kể, đáng để ý đến chuyện đó.
Nhưng những lời giải thích đó từ những nhà Sư Tây Tạng hay là những vị nào đó thì chúng tôi nghĩ rằng nó mang tánh cách cá nhân hơn là quan điểm truyền thống của Phật giáo Tây Tạng. Phật giáo Tây Tạng là một Phật giáo đầy màu sắc và nhiều cái xa lạ, và đặc biệt người Việt Nam thì thường có một cái nhi`n tương đối rất hời hợt đối với Phật giáo Tây Tạng. Chúng tôi biết rằng điều này không dễ dàng là vi` có nhiều vị cũng công kích Phật giáo Tây Tạng, chúng tôi không phải là người có đủ tư cách để phát ngôn cho Phật giáo Tây Tạng hay binh vực Phật giáo Tây Tạng, nhưng chúng tôi phải xác nhận một điểm rằng Phật giáo Tây Tạng có một kho tàng kinh điển rất lớn về đạo Phật, rất lớn không kém bất cứ một quốc gia một tông phái nào khác và người Việt Nam thì đôi lúc thích thì quá thích, mà ghét thì quá ghét. Bản thân của chúng tôi thì có những thứ mà Tây Tạng thì chúng tôi rất thích và có những thứ Tây Tạng mà thật sự chúng tôi cũng không thích.
Nhưng phải nói Ðức Dalai Lama là một vị tu sĩ Phật giáo mà chúng tôi rất kính trọng Ngài trong tinh thần của Ngài đối với quê hương đối với dân tộc và tinh thần đối với Phật pháp. Nhưng cũng có những điểm chúng tôi không đồng ý với Phật giáo Tây Tạng, tuy nhiên cái căn bản của chúng ta như vầy là nếu để học cái hay thì có nhiều điều chúng ta học được, nhưng cái dở thì Phật giáo Tây Tạng không phải là không có điểm dở, có rất nhiều điểm dở.
Nhưng chúng ta phải rất là cẩn thận là bởi vi` người Việt Nam chúng ta có tật là bảo hoàng hơn vua nghĩa là hễ mình theo ai mình theo dữ dội và mình chửi ai thi` chửi dữ dội lắm đó là cái gi` rất nguy hiểm. Ngày xưa ngày tàn tạ của Nho học thì người Việt Nam chúng ta bảo thủ hơn ai hết, rồi đến thời ky` theo Tây thì chúng ta theo Tây hơn ai hết, rồi đến thời ky` mà hễ người ta làm một thì mìnhbắt chước làm tới mười thì chuyện đó cũng tai hại.
Kính bạch Sư Trưởng con xin có một y' kiến rất nhỏ về trường hợp Phật giáo Tây Tạng rằng: nếu trong trường hợp mà vị đó nói rằng ăn thịt con dắt hay ăn thịt chúng sanh nào đó là kết duyên với chúng sanh đó thì con chỉ xin có lời tri`nh bày một cách ngắn gọn là trong y' kiến cá nhân con là con thấy rằng điều đó nó mang tính ngụy biện hơn là hữu lý. Nhưng đó chỉ là quan điểm cá nhân của con thôi, và con cũng xin thưa rằng con không nghĩ rằng đó là lời giải thích đại diện cho tất cả quan điểm Phật giáo Tây Tạng, tại vi` Phật giáo Tây Tạng có nhiều màu sắc, có nhiều quan điểm và cũng phải nói rằng đó là một đạo Phật mà có rất nhiều cái biện thuyết nghĩa là các nhà Sư Tây Tạng có khẩu tài lắm, thi` chuyện mà các vị nói như vậy nó cũng không phải là ngạc nhiên, tại vi` đôi khi các vị biện bác nhiều quá thi` cũng có những chuyện mà chúng ta nghĩ là ngụy biện. Thì ý kiến là ý kiến thôi chứ con cũng không dám đi xa hơn về điểm này./.

Wednesday, August 14, 2013

Tại sao người ta sợ khổ đau mà thọ khổ lại duyên ái?

Hỏi : Trong Thập Nhị Nhân Duyên thọ duyên ái, vậy thọ khổ có duyên ái không. Tại sao người ta sợ khổ đau mà thọ khổ lại duyên ái?

. (Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên )

TT Giác Đẳng: Khi chúng ta đề cập đến thọ duyên cho ái có thể nó gợi cho chúng ta ý nghĩa trực tiếp là cảm thọ nào mà nó hấp dẫn khả lạc khả hỉ thì chúng ta mới dính mắc, mới lưu luyến, rồi mới phát sanh tâm ái. Thật ra ái là một sức sống mà sức sống này đến từ cả hai thái cực hoặc là chúng ta quá thích vật gì đó hoặc giả là chúng ta có thể không thích một cái gì đó, dù thích hay không thích thì chúng ta cũng hướng vọng đến tương lai. Chữ ái trong kinh được Đức Phật Ngài giảng nghĩa là sự tầm cầu chỗ này hay chỗ khác, đó là bản chất mà tiếp tục lên đường, tiếp tục hướng vọng, và cái hướng vọng đó cho dù chúng ta mơ về một cái gì đẹp như là cái gì mà mình đã từng trải qua, hay hoặc giả là chúng ta mơ về một cảnh giới vượt ngoài cái chúng ta đang có, hay là ngược lại những gì chúng ta đang có, thì điều đó nó đều mang tánh chất của ái.

Có thể nói rằng thọ duyên cho ái, thọ là một cái cảm xúc, và cảm thọ đó có thể nói là cây thước để đo tất cả những cái vui cái khổ ở trong đời sống của mình. Cho dù niềm vui và nỗi buồn nhiều lúc chúng ta thấy không quan trọng, người ta nghĩ rằng tiền bạc nhà cửa vợ con, tinh thần ái quốc rồi vận mệnh quốc gia mới quan trọng chứ xá chi cái chuyện vui buồn, nhưng chính cảm thọ lại là tất cả. Đối với bất cứ việc gì cái cảm giác trong lòng của chúng ta nói lên một động lực tuy rằng động lực nằm ở sau cái ái, nằm sau sự nhập cuộc của mình, nhưng mà nó là một sức bật, sức bật đó không thể phủ nhận được và rõ ràng là đối với mỗi chúng ta cho dù chúng ta gặp cảnh khổ hay cảnh vui thì từ đó nó cũng đều là sức đẩy cho chúng ta đi tới, bởi vì khi mà chúng ta tiêu hoá vào thì với cái gì mình thích thì mình lại thích nhiều hơn, thích nó có trong tương lai, và cái gì không thích thí nó cũng là một sức đẩy chúng ta đi tới để tìm về một vùng trời nào đó mà hoàn toàn không có cái mà chúng ta đang phải cảm thọ tại đây. Do vậy dù là thọ khổ hay thọ vui, dầu thọ vui hay thọ hỉ kể cả thọ xả nó đều có một sức bật đẩy chúng ta đi tới. Vấn đề ở đây là nó tác động được ái chứ không phải vấn đề là ái và thọ phải nhất quán, ái và thọ phải có cùng chung một đối tượng, vấn đề không phải ái và thọ phải có cùng chung một hướng, nhưng mà ái rõ ràng là duyên cho thọ tức là nó có ảnh hưởng thọ rất nhiều.

Và có một ý kiến ở đây là thọ không nhất định phải sanh ra ái, nhưng ái ở đây được hiểu là dựa trên cảm thọ, nhưng thọ thì không nhất định là có thọ thì sinh ra ái, có rất nhiều trường hợp mà thọ không sanh ra ái được 

Tuesday, August 13, 2013

Làm thế nào để tự thuyết phục chính mình thay đổi cách nhìn về tư duy và cảm thọ?

Hỏi. Làm thế nào để tự thuyết phục chính mình thay đổi cách nhìn về tư duy và cảm thọ? 

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, ngày 7 -6-2013, Thiên Ân chuyển biên Minh Hạnh hiệu đính)

ĐĐ Pháp Tín: Phải nói rằng, muốn thay đổi hoàn toàn cái tư duy hay sự suy nghĩ của mình, thì ở đây trong ý nghĩa: ví dụ, hồi trước mình từng suy nghĩ lệch lạc hoặc mình suy nghĩ mê lầm, hoặc trong khía cạnh nào đó, bây giờ mình thay đổi tư duy mới, suy tư mới thì điều này rất là khó. Nhưng nếu chúng ta muốn thay đổi những tư duy thì cần phải có sự xác định, như hồi trước giờ mình suy nghĩ con người có định mệnh, có một cái gì chờ đợi sẵn rồi, bây giờ nếu thay đổi sự suy nghĩ của mình thì người này trước nhất cần có sự xác định.  

Có nghĩa là mình phải xác định lại trước giờ mình suy tư như vậy có đúng không, mình có những sự suy nghĩ như vậy có đúng không. Điều này nếu một người nào biết thì dễ, còn người nào không biết thì rất khó. Ví như người chấp chặt quá thì rất khó gỡ bỏ. 

Trong kinh kể rằng có một vị Bà La Môn đi đến hỏi Đức Phật,

 “Bạch Đức Thế Tôn, con thấy hình như ở trên đời này có một cái định mệnh, có một chuyện gì đó sắp xếp sẵn như vậy rồi”.

  Đức Phật hỏi lại:
  
   “Này ông Bà La Môn, ông có thể tự bước tới được hay không, ông có thể tự bước lui được hay không?
   
    Tự đi tới, tự đi lui được thì chuyện đó dễ dàng, nên ông Bà La Môn trả lời với Đức Phật là tự ổng đi tới được và tự ổng đi lui được, điều đó ổng làm được. 
Cũng vậy, ở trong cuộc đời này nếu chúng ta muốn có đời sống ấm no, hạnh phúc hoặc chúng ta có sự cầu tiến thì chúng ta tiến tới, tức chúng ta có sự siêng năng, tinh tấn thì chúng ta lướt tới, chúng ta sẽ đạt đến sự hạnh phúc đó. Còn nếu chúng ta muốn bỏ cuộc đời này thì cũng như một người tự động đi lui, tự động mình buông lung, tự động mình bỏ rơi, chứ không ai sắp đặt hết. 
Cũng vậy, nếu chúng ta muốn thay đổi những suy nghĩ đó thì chúng ta phải có sự xác định, mà sự xác định này có nhiều khi chúng ta nhìn lại cuộc đời của chúng ta, ví dụ một người học sinh nghĩ rằng, tại sao ở trong cuộc đời ngày hôm nay mình không thành đạt, thì họ nghĩ rằng, ở trong quãng đời mình còn đi học, mình không chịu cố gắng học nên bây giờ mình phải chịu hậu quả, đồng lương của mình không cao bằng người có học.
 Thật ra, khi mình suy nghĩ lại những điều này thì mình thấy rằng là không có một cái gì sắp đặt sẵn, chỉ do mình, mình làm ác cũng do chính mình hoặc mình bị ô nhiễm cũng do chính mình, không ai làm cho mình ô nhiễm cũng như không ai đem điều gì đến sắp đặt, gán vào cho mình. Khi mình có suy nghĩ đúng điều đó đem lại cho mình rất nhiều điều an vui hoặc nhiều sự an lạc ở trong cuộc đời này.
 
Mình nhìn lại cuộc đời của chúng ta. Mình thấy tại sao mình có tánh ưa nóng giận, thì đây là tập khí mà mình huân tập. Có tập khí, có thói quen của mình nên chắc chắn rằng ở trong quá khứ mình cũng đã từng có những hành động này rồi, nên mình biết rằng do những hành động ở trong quá khứ mình không hiểu biết, hoặc do mình tham chấp cái gì đó thành ra mình mới có những việc làm bất thiện, do vậy ở trong đời sống này mình phải gánh chịu những hậu quả chứ không phải một người nào đó đặt ra cho mình. 
 
 Nhân gian có câu “cha mẹ sanh con, trời sanh tánh,” điều này nói ngoài thế gian thì được, nhưng trong Phật Giáo không phải trời sanh tánh mà tánh người con đó là do sự huân tập ở trong quá khứ chứ không phải tại cha mẹ hay tại gien di truyền của cha mẹ. Có những cha mẹ là thầy cô giáo nhưng người con lại là người đốt sách, người con rất dở. Điều này không phải gien di truyền mà là do nghiệp của người đó trong quá khứ và hành động của chúng sanh đó trong hiện tại có những hành động như là không siêng năng, chăm chỉ, v…v, nó dẫn đến những hậu quả như vậy, chứ không phải là gien di truyền của cha mẹ. 
 
 Nếu chúng ta muốn có sự thay đổi thì chúng ta phải có sự xác định lại. Ví dụ, mình ngồi suy tư lại hoàn cảnh của mình hồi trước giờ, hồi trước giờ mình thất bại là do đâu, do mình bị những lỗ hỏng nào hoặc do mình có những khuyết điểm gì đó, thì khi mình thấy được, gặp được những điều đó chúng ta muốn khắc phục, muốn sửa chữa thì chúng ta sẽ lần lượt thay đổi những cách suy nghĩ, những cách làm, những hành động hoặc những lời nói. 
 
 Ví dụ như, có những người khi họ nói chuyện không hợp với người nào, nếu mình biết mình như vậy thì mình phải suy nghĩ lại tại sao vậy, tại vì người ta nói mình cũng nói, hoặc người ta nói một mình nói hai, không có sự thay đổi hoặc không có chia sẻ với nhau được, thì mình suy nghĩ lại, có khi mình cần lắng nghe người ta nói, hoặc có khi mình cũng phải chờ người ta có dịp để mình nói người ta nghe v…v. Khi chúng ta biết nhìn lại như vậy thì những suy tư hay những tư duy của chúng ta thay đổi dần dần. 
 
 Chúng tôi nhớ rằng là ngày xưa khi chúng tôi còn đi học trong thời phổ thông lớp bảy lớp tám, do thói quen khi nói chuyện với bạn bè thường xưng hô với nhau là mày tao không. Một lần có một cô gái nói với chúng tôi rằng bạn nói chuyện mày tao không à, nói chuyện với bạn ngại quá, kỳ quá nên thôi không nói chuyện nữa. Thật sự ra lần đó chúng tôi mặc cảm, rất mắc cỡ thưa quý vị, chỉ trong một thời gian ngắn sau thôi, những người bạn đó gặp chúng tôi nói chuyện thì lúc đó chúng tôi chỉ xưng bạn với bạn thôi, thì cũng chính người đó không ngờ chúng tôi thay đổi quá nhanh, có nghĩa là lúc đó chúng tôi chuyển tình huống từ bại sang thắng rất lẹ, cũng như lúc đó mình thu phục được tâm của người đang nghe mình nói. 
 
  Ở đây, chúng tôi nói điều này với ý nghĩa gì. Có nghĩa là nhiều khi chúng ta phải nhìn lại cái tâm của chúng ta, chúng ta thấy rằng mình bị khuyết điểm nào hoặc mình bị trục trặc chỗ nào thì mình sửa lại chỗ đó, mình cố gắng mình biết được là mình bị khiếm khuyết ngay chỗ đó để mình sửa lại thì dần dần những suy nghĩ hay suy tư của mình nó sẽ thay đổi hoàn toàn. Một lúc nào đó chúng ta sẽ hoàn chỉnh lại nhờ chúng ta có những sự thay đổi này. 
  

Monday, August 12, 2013

có phải sự diệt tận là Niết Bàn?

Hỏi: có phải sự diệt tận là Niết Bàn?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, ngày 30-7-2013, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Trong câu hỏi và trả lời của vua Milinda và Tôn giả Nan Tiên đề cập đến một vấn đề rất xâu xa trong đạo Phật, đó là cứu cánh giải thoát, ngay cả chữ giải thoát có nghĩa là vượt ra ngoài vượt lên trên những khổ ải của đời sống.  Nói một cách khác, trong thế giới của ngôn từ chúng ta dùng kinh nghiệm đang có được nhận thức rõ ràng để hiểu cái gì khác biệt. 

Ở đây, đau khổ là một cái gì rất gần gủi trong đời sống và khi chúng ta hiểu ngược với đau khổ là hạnh phúc thì ở đó chúng ta hiểu được một phần nào của giải thoát của Niết-bàn. Dĩ nhiên, lãnh hội về sự đau khổ của mỗi người trong chúng ta có mỗi khác, khi mình còn nhỏ nhìn cái khổ của cuộc sống khác, khi lớn lên mình có trách nhiệm nhất là những vị có vợ, có chồng, có con cái thì nhận thức sự khổ khác, và khi mình lớn tuổi trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm trong cuộc đời mình cảm nhận cái khổ khác. Và riêng với người Phật tử hiểu rằng một người có tu tập thì nhận thức sự khổ khác và người không có tu tập thì nhận thức sự khổ khác. 

Một câu chuyện về vua A Dục, khi nhà vua nói chuyện với người hoàng đệ của mình và vị hoàng đệ có lời phê bình về chư tăng về đời sống của chư tăng, vua A Dục đã ôn tồn giải thích cho vị hoàng đệ biết được là Chư Tăng xuất gia tu tập bởi vì ý thức được cái khổ. Tuy nhiên, những điều đó không thay đổi cái nhìn của người em và cuối cùng thì nhà vua phải lập kế rủ vị hoàng đệ đi tắm biển cùng với những người thân trong hoàng tộc và theo lời dặn dò của nhà vua thì trong lúc nhà vua đang tắm những vị quan trong triều đến trước vị hoàng đệ nói rằng:

- "Theo luật định của vương quốc chúng ta nếu đương kim Thánh Thượng băng hà thì vị hoàng đệ sẽ được thừa kế ngai vàng trước khi trao ngai vàng lại cho hậu duệ tức là con cháu, bây giờ thì đâu ngài thử mặc hoàng bào vào để chúng tôi thấy có oai phong không." 

Vị hoàng đệ nghe nói như vậy thì cũng vui và nghĩ rằng mình với nhà vua chỗ thân tình nên lấy hoàng bào của vua A Dục mặc ướm thử. Lc đó vua A Dục xuất hiện và vua xem đó là tội khi quân truyền lệnh đem chém đầu, các vị quan quì năn nỉ, cuối cùng nhà vua đã cho hoàng đệ một ân huệ là được làm vua bảy ngày, trong bảy ngày đó được ăn thức ăn của vua, được sống trong hoàng cung, được người hầu kẻ hạ, tức là tất cả những gì hưởng thụ tốt nhất của nhà vua có thì vị hoàng đệ có thể hưởng được, duy chỉ có một điều là mỗi buổi chiều trước khi mặt trời lặn một viên quan lên cổ lầu đánh ba hồi trống rồi hô to rằng:

- "hôm nay là ngày thứ nhất còn sáu ngày nữa thì hoàng đệ của nhà vua sẽ bị xử tử." Ngày hôm sau cũng tuyên bố như vậy nhưng số ngày giảm dần năm ngày, bốn ngày, ba ngày, hai ngày, một ngày. Đến ngày thứ bảy vua A Dục đến thăm vị hoàng đệ và hỏi vị hoàng đệ trong mấy ngày qua những người hầu cận có làm tốt không, thì vị hoàng đệ trả lời là có, và hỏi rằng vậy hoàng đệ có hạnh phúc không, thì vị hoàng đệ trả lời rằng mặc dù sống ở trong cung điện nguy nga, mặc dù có người hầu kẻ hạ, mặc dù có hưởng thụ những dục lạc nhưng thật ra trong lòng không vui khi nghĩ đến cái chết sẽ đến trong ngày thứ 7 và đặc biệt vị này cũng nói rằng ảm đạm nhất là mỗi buổi chiều nghe tiếng của các viên quan sau ba hồi trống hô lên hôm nay là ngày thứ mấy còn bao nhiêu ngày nữa là đem ra xử tử thì thật sự tất cả mọi thứ khác đều vô vị. Nhân đó nhà vua A Dục đã nói với vị hoàng đệ về bản chất của đời sống xuất gia là ý thức được cái khổ của đời sống và hướng cầu giải thoát. 

Thật ra, câu chuyện đó gợi nhắc cho chúng ta một điểm, một người tu Phật dù xuất gia hay tại gia khi nghĩ đến giác ngộ giải thoát khi nghĩ đến tịch tịnh Niết-bàn chúng ta phải cảm nhận cái đau khổ sâu sắc ở trong đời sống và đau khổ là cái gì có thừa, đau khổ là cái gì hiển hiện ngay trước mắt, đau khổ là bài học lớn bài học rất gần gủi . Có lẽ bây giờ nói về Niết-bàn chúng ta không cảm nhận được nhiều vì chúng ta chưa chứng đắc được Niết-bàn nhưng nói về đau khổ thì chúng ta có thể cảm nhận được và đối lập với đau khổ chính là Niết-bàn.

Ngày hôm nay, chữ Niết-bàn ở trong Anh ngữ dùng chữ "Nirodha" là tiếng Phạn, được biết rất nhiều  khái niệm. Người ta cũng nói đến một thứ hạnh phúc vượt lên trên, một hạnh phúc hoàn toàn không có khổ, tuy nhiên chữ "Nirodha" người Tây Phương hiểu ý nghĩa khác với trong Phật Pháp, trong Phật Pháp thì nghĩa là vượt lên trên tất cả những gì thuộc về hữu vi Pháp, nó vượt lên trên tất cả những gì thuộc về vô thường, khổ, nó vượt lên trên tất cả những gì mà cái phàm tình chúng ta có thể nhận thức.  Dù sao đi nữa thì chúng ta cũng có thể lãnh hội được Niết-bàn qua sự diệt khổ. 

Thỉnh thoảng trong đời sống có nhiều nét để mình chiêm nghiệm điều này. Ví dụ, mình đang lo lắng về một chuyện gì đó, chẳng hạn người có con đi chơi đêm qúi vị ở nhà lo lắng, thì qúi vị thấy cuộc sống khổ, khi nào con lớn qúi vị không lo nữa lúc đó qúi vị thấy rằng đây chính là không lo nghĩ thì mình bớt đi cái khổ. Hoặc giả, chúng ta bị nhức răng nó hành hạ chúng ta nhiều ngày rồi đi bác sĩ họ chữa không bị nhức răng nữa, hay chúng ta chi tiêu nhiều tiền nợ thẻ tín dụng lúc nào cũng thấy cái bill rất lớn sợ không có tiền để trả bây giờ trả hết thì cảm thấy giống như trút được gánh nặng. 

Tất cả những thí dụ đó đều cho chúng ta những bài học lớn về cái gọi là Niết-bàn. Chúng ta thường không phân biệt được với cái khổ và sự thoát khổ, nhiều khi chúng ta nhận giặc làm cha tức là nhiều khi chúng ta nhận cái khổ làm niềm an lạc cho chính mình. 

Ví dụ, nhiều người thích giữ con giữ cháu cho vui, thì lúc giữ cháu vui thì cũng vui nhưng trong cái vui đó có mệt mỏi cực khổ phải quan tâm. Hay là mình đi bộ không cần có cái xe rất là khỏe khoắn bây giờ mình mua một chiếc xe thật đẹp rất là tốt nó quá tốt đến nỗi mình đi đâu cũng lo sợ bị ăn cắp lo sợ bị người ta làm trầy. Thì cái vui cái khổ lẫn lộn như vậy. Hay hoặc giả là mình sống cuộc đời rất an vui tự tại tự nhiên rồi mình nhận một chức vụ một vai trò gì đó thì địa vị nó chẳng đem lại lợi lộc gì mà địa vị đó làm cho mình khổ, làm cho mình trở thành cái bia, nó làm cho người ta nhìn vào làm cho người ta soi mói làm cho người ta thích phê bình thì dĩ nhiên là mình khổ.

Nói tóm lại là khổ là bài học rất lớn, với người Phật tử và đặc biệt với vị hành giả tu tập thì khổ không nên là một điều làm chúng ta dãy nảy, khổ không nên là một điều chúng ta bực bội, khổ không nên là một điều chúng ta chối bỏ. Trái lại, mình biết sự khổ không tránh khỏi thì mình dùng sự khổ đó để tạo ra đề mục cho sự quán tưởng, sự quán tưởng thế nào là sự khổ trong cuộc đời này. 

Chúng tôi có một vài lần đọc những câu kinh, thí dụ như có một lần Đức Phật Ngài dạy Tôn giả Ananda rằng cái thân của Ngài đã lớn tuổi rồi nó giống chiếc xe vua một thời lộng lẫy bây giờ muốn xử dụng được nữa thì phải ràng phải rịt phải bảo dưỡng thế nào để chiếc xe có thể gìn giữ được, Ngài ví dụ thân này già nua giống như chiếc xe cũ. Lúc chúng tôi sống gần Ngài HT Hộ Giác, lúc Ngài đi lọc thận, lúc Ngài nằm bệnh viện, lúc Ngài đang chữa bệnh, và những lúc Ngài sắp ra đi thì lúc đó chúng tôi mới thấy rằng Ngài được nổi tiếng là một vị Pháp Sư, lúc Ngài còn trẻ được nổi tiếng là người có tướng hảo rất quang minh bây giờ Ngài nằm đó cái thân của Ngài trở thành gánh nặng, gánh nặng đó Ngài phải chịu đựng cái khổ của thân, chịu đựng với những cái khổ của những phương pháp chữa trị, chịu đựng với sự vật vã của thuốc men. 

Nói tóm lại. bây giờ chúng ta thấy cái thân là gánh nặng và điều đó nó trở nên đề mục tốt để chúng ta quán tưởng. Thường thường chúng ta rất yêu cái thân này, chúng ta xem cái thân này như của báu, chúng ta xem thân này như cái gì phải nâng niu. Nhưng mà, một lúc nào đó do điều kiện hoàn cảnh phương tiện thì mình có thể ngồi lại và mình thấy được rằng chính thân này là ổ của bệnh tật, chính thân này là một gánh nặng, chính thân này bắt buộc chúng ta phải chịu đựng rất nhiều thứ bệnh khổ. Dần già mình nhận thức được cái khổ dựa trên thân của mình thì đối lập với cái khổ đó là sự giải thoát giác ngộ. Và chúng ta hi vọng rằng sự quán tưởng về tịch tịnh Niết-bàn là một ở trong pháp quán giúp cho chúng ta nhiều để chúng ta nâng cái nhìn của chúng ta lên cảnh giới của giác ngộ giải thoát./.    

Sunday, August 11, 2013

Giáo lý duyên khởi là do nhiều điều kiện từ bên ngoài và bên trong, chúng ta làm được gì và điều gì chúng ta không thể làm được?

Hỏi: Giáo lý duyên khởi là do nhiều điều kiện từ bên ngoài và bên trong, chúng ta làm được gì và điều gì chúng ta không thể làm được?

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, Thiên Ân chuyển biên, Minh Hạnh hiệu đính)

TT Tuệ Siêu: Trong tinh thần Phật Pháp, thái độ của một người tu tập trước hết là phải tự mình nỗ lực, thứ hai nữa là chúng ta phải có sự tích cực để chúng ta thực hiện tu tập. 

Khi nói đến tự mình, thì Đức Phật có thuyết là Attaa hi attano naatho ko hi naatho paro siyaa , chính mình là chỗ nương tựa cho chính mình, không ai là nơi nương tựa cho mình, và tự chúng ta phải nỗ lực, chúng ta phải sống với chân thật, tích cực, nhiệt tâm. 

Thanh niên Sotaka đi đến Đức Phật, “Bạch Đức Thế Tôn xin Ngài hãy giải thoát cho con”.

 Đức Phật Ngài dạy rằng, “Này Sotaka Pháp mà Như Lai đã thuyết giảng một cách rõ ràng về con đường đưa đến giải thoát, một vị đệ tử hãy tự mình thực hành theo Pháp ấy, tất sẽ đưa đến giải thoát." Đức Phật Ngài khuyên Sotaka như thế. T

 rường hợp mà chúng ta nhắm mắt đưa chân thì thái độ đó không có trong Đạo Phật. Đối với Thập Nhị Nhân Duyên, ở trong đó thì những Pháp nào thuộc về quả luân hồi thì Pháp đó chúng ta cần phải biến tri, điều này thì chúng ta khó mà sửa được, nếu nhắm mắt đưa chân thì chỉ có quả luân hồi là chúng ta phải chịu thôi. Bởi vì nó sanh khởi do nhân đã tạo.

 Nhưng khi nói đến nghiệp luân hồi, tức Hành và Hữu, thì điều đó chúng ta cần tích cực để chấn chỉnh lại, sửa lại, chúng ta hành động chỉnh sửa lại. Nhưng, chúng ta muốn chỉnh sửa cho dễ thì chúng ta cần chú ý những pháp cần đoạn trừ là phiền não luân hồi, Vô Minh, Ái và Hữu. Như vậy, khi chúng ta học về Pháp Thập Nhị Nhân Duyên thì chúng ta tu tập, chúng ta dùng đến phương pháp thực hành, tức là Hành và Hữu và chúng ta cố gắng đoạn trừ phiền não luân tức Vô Minh, Ái, Hữu. Khi chúng ta đã làm xong hai việc đoạn trừ phiền não và chấn chỉnh hành vi, hành động thân, khẩu, ý thì như vậy chúng ta sẽ tự giải thoát được. Chứ không phải Thập Nhị Nhân Duyên khi nói đến là chúng ta xem như định mệnh an bài, hễ việc đó sanh ra do Tập Khởi có mặt, do Tập Khởi có mặt nên pháp này có mặt rồi chúng ta cứ để như vậy. Ở đây, phiền não là thứ chính, phiền não sanh khởi tự nơi đây và chính hành động theo phiền não cho nên nó đưa đến hậu quả. 

 Thì bây giờ biết như vậy thì chúng ta kiểm soát và tẩy chay phiền não. Khi kiểm soát tẩy chay phiền não thì bây giờ thân, khẩu, ý chúng ta mới định hướng lại theo đường lối của thiện pháp một cách đúng nghĩa. Tức là thiện pháp thực hành không phải do mãnh lực của phiền não Vô Minh, Ái, Hữu, Sanh, Tử mà thiện pháp đó do nơi mãnh lực của đức tin, tin tấn, trí tuệ cùng với chí nguyện đạt đến sự giải thoát, thì như vậy nó sẽ đưa đến sự tốt đẹp.