Monday, July 8, 2013

Người xuất gia có thể hoan hỷ với những vật cúng dường hợp pháp hay không?

Hỏi: Người xuất gia có thể hoan hỷ với những vật cúng dường hợp pháp hay không, và sự hoan hỷ đó có phải là một sự vọng cầu về tứ sự cúng dường của bậc xuất gia hay chăng?

(Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Giác Đẳng: Có một vài điểm cho bậc xuất gia, điều đó nó gợi ý rất lớn từ cái nhìn và sự hướng dẫn của Đức Phật, thường thường chúng ta nghĩ rằng một người xuất gia cắt ái từ thân, đối với tài sản, đối với vật dụng, đối với những nhu yếu của đời sống, tốt hơn hết tâm buông xả hoàn toàn không có dính mắc. Cái nhìn này  là một cái nhìn rất lý tưởng và rất đẹp ở môt phương diện nào đó, nhưng lại có một khía cạnh khác liên quan đến nghệ thuật sống mà chúng ta được biết, được Đức Phật Ngài dạy là chúng ta lựa trọn một đời sống, đời sống đó là một đời sống hạn chế trong nhiều phương diện. 

Thì cái gì nằm trong phạm vi hạn chế mà hợp đạo chúng ta nên hoan hỷ, điều này  là một ý nghĩa có thể làm chúng ta bậc ngửa ra, tại sao lại có trường hợp như vậy? Bởi vì, có đôi lúc những thứ đó không phải khiến cho chúng ta hoan hỷ, bởi vì nó đẹp hơn trong quan điểm của so sánh, nó có giá trị hơn trong quan niệm về giá trị vật chất tiền bạc mà người ta nói ở bên ngoài.  Người ta nên hoan hỷ,  thứ nhất là nghệ thuật tri túc, tri túc tức là biết đủ không có mong cầu nhiều, ít muốn không tham.  

Nhưng căn bản của sự tri túc là bằng lòng, hay vừa lòng cái mình có. Cái mình có không phải dễ dàng để mình bằng lòng, thông thường chúng ta có cái gì trong tay của mình, thì mình nhìn nó rất rẻ rúng, chúng ta nhìn những cái có trong tay với một thái độ xem thường, chính thái độ xem thường đó, nó không có nghĩa là chúng ta không có dính mắc với nó, thái độ xem thường đó có thể bởi vì chúng ta tự trong lòng mình nói rằng cái này nó không đáng gì hết. 

Nhưng một trong những nghệ thuật để chúng ta ít ham muốn, là chúng ta nên vui với cái mình đã có, đang có, và cái đó là một nghệ thuật của hạnh tri túc. Vui với cái mình có nghĩa là thế nào, cái mình có mình nên dành cho nó một sự quan tâm, ngoài sự quan tâm đó chúng ta tìm thấy sự lợi lạc, vào thời đại mà con người sống có quá nhiều cái mới.  Có nhiều người họ than phiền rằng một máy computer mua về, chúng ta không tận dụng được hết những công năng của nó, chúng ta mua một máy casset về, chúng ta không sài hết chức năng của máy mang lại, và chúng ta chỉ mong cầu cái gì mới, chúng ta chỉ mong cầu cái gì ở xa.

Do vậy có khi chúng ta có rất nhiều mà chúng ta không sài hết, nếu chúng ta thật sự biết nó, chúng ta thật sự sài hết chắc chắn rằng chúng ta sẽ rất hoan hỷ.  Nên cái đức tánh tri túc, không có nghĩa đơn thuần chúng ta không có thích thú đối với những cái  không có, và còn có hàm ý nghĩa rằng chúng ta biết tận dụng cái  mình có và dùng nó một cách xứng đáng.  Và nên hoan hỷ với điều đó, hoan hỷ với ý niệm, nghĩ rằng đây là vật phát sanh lên do chánh mạng, chúng ta sử dụng vật đó với một mục đích hoàn toàn hợp tình hợp lý.

Ở trong kinh có đưa ra một số các trường hợp một người xuất gia. Ví dụ như sau mùa Tăng y Kathina  một vị xuất gia có một số quyền lợi, 5 quyền lợi được đề cập đến sau mùa an cư, là cho phép vị này được nhẹ nhàng thoải mái hơn trong sự sử dụng y phục, thực phẩm và những nhu yếu khác.  Những điều này một người xuất gia nên hoan hỷ, hoan hỷ không phải vì những thứ đó ngon hơn, nó đặc biệt hơn, nó tốt hơn mà  hoan hỷ, mì`nh hoan hỷ là bởi vì đã được phép sống ở trong một cái khuôn khổ luật nghi, mà Đức Thế Tôn đã đưa ra điều đó là trọng, là khinh, là một cái gì rất nghiêm khắc hay  cái gì được mở rộng ra, thì ở trong phạm vi nào mình cũng vui, vui khi thấy rằng mình sống trọn vẹn ở trong cái phạm vi đó.

Điểm này là điểm tương đối rất khó hiểu, một trong những điểm khó hiểu về phương diện tâm ly', về phương diện ứng dụng vào trong đời sống, nếu quí vị nào nghe Sư Uyên Minh thường giảng bài trong rơom này, Sư Uyên Minh thường hay nói câu "có đôi lúc người ta không nên cầu nguyện lấy được người mi`nh thương, mà mi`nh hãy xin cầu nguyện làm sao thương được người mi`nh lấy".  Câu nói đó nghe như một câu nói khôi hài, nhưng thật sự chúng ta có nhiều lúc chúng ta không nên mong mỏi sẽ đạt những gi` mi`nh thích, mà mi`nh phải làm sao mi`nh có thể thích được những gi` mà mi`nh đang có được, đó là một bí quyết sống rất lớn và thưa quí vị, phải nói rằng nó không có đơn giản.

Là một người xuất gia, trong thời gian chúng tôi sống với Ngài Achan Chaa, chúng tôi để ý thấy rằng Ngài có một số điểm hết sức đặc biệt, đó là điều mà chúng tôi học được ở Ngài, là một vị đệ tử mà xuất gia sống với Ngài thi` bất kể là cái y, cái bát được phát sanh, lúc phát sanh cái bát có thể tốt hay không tốt, hoặc y có thể tốt hay không tốt.  Nhưng Ngài khuyên  nên chăm sóc cho đoàng hoàng, cho tươm tất và Ngài thường nhắc rằng mi`nh là người xuất gia mà mi`nh không xem trọng cái y của mi`nh, mi`nh không xem trọng cái bát của mi`nh, thi` cơ nguy của sự dễ dui, hay sự dễ ngươi phát sanh.  Ở trong chùa vị nào với cái y, cái bát, với bàn Phật, mà mi`nh không  trân trọng, mi`nh xem thường, thi` rất có khả năng là vị đó sẽ rời bỏ đạo tràng sớm, rời bỏ cuộc tu rất sớm. 

Ở trong cuộc tu, trong thế giới đó nó phải có cái gi` mà chúng ta gọi là gởi gấm cái tâm tư của mi`nh, trong sự gởi gấm tâm tư của mi`nh nó mang lại ý thức về sự có mặt của mi`nh ở trong cảnh giới đó, ví dụ như người Nhật Bản mà họ có những nghệ thuật như nghệ thuật ekinawa, nghệ thuật trưng hoa chẳng hạn, một căn pho`ng rất đơn giản họ cố gắng sắp xếp như thế nào đó, có một cái bàn đơn giản, một cái bi`nh hoa đơn giản, nhưng mà nó làm sao cho chúng ta bước vào, mà cảm thấy rằng cái không gian đó đang chứa đựng cả một thế giới, có cái gi` thâm trầm và căn nhà đó trở nên có ý nghĩa, mặt dầu nó chỉ có vài ba thước vuông thôi, chớ nó không phải là cái gi` to tát, một căn nhà hào nhoáng, nhưng có thể làm cái không gian nó trở lên có y' nghĩa.  Đó là một nghệ thuật rất lớn, nghệ thuật đó đã nuôi dưỡng bao nhiêu cái tinh anh, bao nhiêu cái tâm tư của những con người và nó thật sự phải nói rằng chính cái nghệ thuật của Zen nó đã duy trì được nền văn hoá của Nhật Bản không bị sự xâm thực văn hoá từ nước ngoài.

Nên chi trong đời sống của vị xuất gia, thi` Đức Phật Ngài dạy rằng chúng ta nên biết chăm sóc lấy y bát, những vật dụng, thứ nhất không có hoang phí những gi` mà tín thí họ đã cúng dường cho mi`nh, và thứ hai nữa mi`nh có thể hoan hỷ trong đó, thi` điều đó nó có y' nghĩa lợi lạc cho sự tu tập.  Và cũng tương tựa như vậy những người Phật tử đi chùa, có nhiều khi không phải chùa to Phật lớn, thi` chúng ta mới cùng nhau chăm sóc ngôi chùa, chúng ta cố gắng chăm sóc cái gi` đang có trong ngôi chùa, và phải nói rằng người Phật tử Việt Nam rất  hờ hững về việc này, làm sao cho ngôi chùa từ trong ra bên ngoài, từ bàn Phật cho đến ngoài sân ít người hay đông người, thi` chúng ta cũng cố gắng để chăm sóc và ti`m được nét đẹp, ti`m được cái hay, thi` như vậy chúng ta mới có thể gợi gấm được tâm tư của chúng ta trong cuộc sống đó.

Sunday, July 7, 2013

Phải chăng bố thí cho loại bàng sanh ăn thì một lần bố thí được hưởng 100 kiếp?

Hỏi:. Nếu bố thí cho loại bàng sanh ăn, thì một lần bố thí được hưởng 100 kiếp. Câu hỏi là một lần làm phước bố thí trổ liên tiếp 100 kiếp hay chỉ trổ trong kiếp thứ nhất rồi phải làm phước nữa thì mới trổ trong kiếp thứ hai.... v.v...? 

(Câu thảo luận trong lớp Phật Pháp Buddhadhamma ngày 5-7-2013, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu: Thực ra, ở đây trong lý nghiệp quả bất khả tư nghì tức là nghiệp quả không thể lượng trước được, không thể cân đo đong đếm được. Một người bố thí dầu chỉ là bố thí cho loài bàng sanh cũng khó có thể nói được là người đó hưởng quả được bao nhiêu kiếp. 

Bởi vì việc bố thí thì tùy, có người bố thí cho loài bàng sanh chẳng hạn như ở trong nhà nuôi chó, mèo, heo, trâu, bò, v. v... họ bố thí vật thực cho những con thú đó ăn nhằm hai mục đích: 

- Một là, họ thích nuôi thì phải cho chúng ăn, không cho ăn thì những con thú đó chết đi thì không còn thú vui nữa cho nên họ cho ăn vì muốn chúng sống để họ lấy đó làm thú vui.
- Còn có trường hợp thứ hai, họ nuôi để con vật chóng lớn rồi giết làm thịt ăn hoặc bán, thì như vậy không là làm chuyện bố thí mà có phước được.

 Chúng ta thấy khác nhau. 

Một người thấy một con vật, họ tội nghiệp họ cho ăn, thì đó mới gọi là bố thí. 

- Một chúng sanh mà thuộc Bồ Tát thì dầu cho loài bàng sanh mà thấy nó thiếu vật thực động lòng bi mẫn có tâm từ tâm bi thì Bồ Tát bố thí. 
- Người bố thí cho bàng sanh mà trong sự bố thí đó họ vẫn ước muốn quả dị thục mong rằng sự bố thí này đời sau họ không bị khổ không bị đói thì quả sẽ khác. 

còn người bố thí như Đức Bồ Tát Ngài bố thí dầu cho loài bàng sanh, Ngài không nhắm đến quả dị thục được sanh cõi trời, cõi người, được tài sản, mà Ngài chỉ muốn ban tâm bi tâm từ thì quả nó khác.

 Chúng ta phân tích nhiều khía cạnh như vậy thì sẽ thấy ở đây không thể có sự bố thí cho loài bàng sanh phước được hưởng 100 kiếp không bị đói khát. 

 Trong bài kinh "So sánh phước" Đức Phật Ngài có so sánh:
 100 lần bố thí cho loài bàng sanh không bằng bố thí một lần cho loài người.
 100 lần bố thí cho người không làm thiện không bằng bố thí cho người hiền thiện.
 100 lần bố thí cho người hiền thiện không bằng một lần bố thí cho vị đắc Tu Đà Hườn Tu Đà Hàm A Na Hàm, A La Hán v.v... 

 Cứ so sánh lên 100 lần như vậy. Ở đây, chúng ta không thể ước lượng là 100 kiếp không bị đói khát. 

 Cũng như có người nói rằng: những bậc cha mẹ cho con xuất gia thì người cha mẹ ấy 500 kiếp không bị đoạ địa ngục. Chưa chắc là như vậy, làm sao không bị đoạ được, trong khi đó đức vua Asoka (vua A Dục) đã khuyến khích hai người con mình là Hoàng Tử Mahinda và công chúa Sanghamitta xuất gia trong giáo pháp, hai vị đều đắc quả A La Hán Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, vậy mà Đức Vua Asoka trong giờ lâm chung khởi lên tâm sân hận với vị quan đại thần mà phải đọa sanh làm loài rắn loài bàng sanh. 

 Cho nên ở đây chúng ta khó mà nói được, khó mà ước lượng được.

 Để trả lời câu hỏi thì chúng tôi xin thưa rằng: vấn đề bố thí cho loài bàng sanh một lần mà hưởng được 100 kiếp thì chuyện đó chúng tôi chưa đọc thấy ở trong kinh điển, chúng tôi chỉ thấy Đức Phật Ngài so sánh 100 lần bố thí không bằng một lần bố thí cho những chúng sanh cao hơn v.v... chỉ thấy sự so sánh thôi. Còn nếu mà nói về đối với những kiếp so sánh về những số kiếp hưởng quả thì chúng tôi nghĩ rằng Đức Phật bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác Ngài cũng sẽ không thuyết như vậy là bởi vì Ngài đắc Sanh Tử Minh, trí tuệ của Ngài, thần thông của Ngài thấy rõ cái lực nghiệp quả như thế nào của chúng sanh cho nên Ngài không khẳng định như vậy. Chúng tôi nhớ trong bốn điều bất khả tư nghì Đức Phật Ngài thuyết là Kammavipāko nghiệp quả bất khả tư nghì không thể suy xét cùng tột được thì làm sao ở đây lại có thể khẳng định biết bố thí cho loài bàng sanh được hưởng 100 kiếp.

Chúng ta cần phải so sánh với kinh đối chiếu với luận rồi mới nên thọ trì điều này, chỉ những điều Đức Phật Ngài tuyên bố, 

Thí dụ như: "Này các Tỳ Kheo, nước rửa chén ở trong thau khi đổ lên trên đất với cặn bã vật thực còn sót lại trong thau nước, người này có tác ý nghĩ rằng mong nhờ với cặn bã vật thực này cho chúng sanh loài hữu tình côn trùng ở trên mặt đất chỗ đó được ăn để sống" 

Chỉ có tác ý như vậy mới có phước vô lượng nhờ việc bố thí. Ngài chỉ tuyên bố như vậy thôi.

Thì ở đây, chúng tôi không có khẳng định rằng là hưởng 100 kiếp.

Khi đã nói như vậy rồi thì câu hỏi như vậy một lần bố thí phước trổ liên tiếp 100 kiếp hay là kiếp thứ nhất làm phước thì hưởng kiếp thứ hai, kiếp thứ hai làm phước thì kiếp thứ ba hưởng. Thì ở đây đã nói như vậy thì người ta không bàn vấn đề này, với lại nếu có bàn thì chúng ta sẽ đi vào một cái rối khác, đã bố thí cho loài bàn sanh một lần bố thí hưởng phước 100 kiếp rồi nếu kiếp sau bố thí nữa thì tiếp tục hưởng một trăm kiếp nữa nó cứ chồng chất lên nhau như vậy chứ không phải là làm mồi kiếp thứ nhất bố thí quả dị thục của kiếp thứ nhất nó trổ sanh, nếu mà làm mồi nó trổ sanh như vậy thì nếu kiếp nào đó không bắp nhịp làm phước bố thí như vậy té ra là sự bố thí ở cái kiếp trước nó không trổ sanh liên tiếp, cho nên chúng ta sẽ bị rối.

Sự thuyết giảng của bậc A la Hán Chánh Đẳng Giác là không bao giờ có sự mâu thuẫn đoạn đầu đoạn cuối nếu mà chúng ta chỉ nghe người này nói vầy người kia nói khác nghe thoáng qua mà chúng ta thọ trì thì chúng ta sẽ bị rối. 

Cho nên ở đây chúng tôi có hai đề nghị hai lời khuyên.

1. Thứ nhất, chúng ta chỉ nên biết rằng bố thí với tâm xả tài dứt bỏ lòng bỏn xẻn thì đều có phước báu. Thì chúng ta nên thọ trì điều đó.

2. Thứ hai, chúng tôi muốn nhắc các Phật tử rằng việc bố thí tùy theo đổng lực tâm trong lúc bố thí như thế nào mà quả mạnh hay yếu nặng hay nhẹ, do đó thì nó không thể khẳng định được một lần bố thí như vậy là bao nhiêu kiếp không bị đói khát, chúng ta không thể khẳng định.

Đó là hai điều mà chúng tôi muốn nhắc để qúi Phật tử chúng ta lưu ý và thực hành như vậy  

Saturday, July 6, 2013

phải chăng tất cả mọi sự giải thoát ở trong Đạo Phật đều phát xuất từ khả năng tự lực ?

Hỏi: Theo quan niệm cứu cánh giải thoát, nếu chúng ta gọi một người tự mình giải thoát, thì thỉnh thoảng chúng ta cũng nghe  một quan niệm khác là có những người giải thoát do sự khai thị, ví dụ như những bậc Thanh Văn đệ tử Phật là do Đức Phật khai thị, phải chăng sự khai thị của một vị Phật có nghĩa là một hành giả trông cậy hoàn toàn vào vị Đạo Sư của mình, hay có một phần nào đó vị đó phải tự mình làm lấy, tự mình giải thoát.  Thì câu hỏi là phải chăng tất cả mọi sự giải thoát ở trong Đạo Phật đều phát xuất từ khả năng tự lực  hết?

(Câu thảo luận trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Pháp Đăng trả lời: Theo câu hỏi này có nghĩa là tất cả những gì Đức Phật khai thị là không cần có sự tự lực của mình, điều này không đúng. Vì đối với Đức Phật Ngài khai thị nơi đây chỉ có một trong ba loại tuệ là:

Tuệ văn có nghĩa là do nghe lời dạy của Đức Phật rồi suy tư theo lời dạy đó.

Tuệ tu là tự mình chứng đắc được, bởi vậy khi Đức Phật thuyết giảng hay trình bày phương pháp để cho vị đó vừa với căn cơ sở tánh của mình, gọi là khéo thuyết chứ không phải tự  thuyết, vì Đức Phật thuyết theo căn cơ, theo pháp môn,  theo trình độ của cơ tánh của chúng sanh đó. Đức Phật Ngài thuyết giảng với ngôn  tâm, hoặc lời dạy của Ngài để cho vị đó hiểu biết được là tuệ văn.

Từ tuệ văn, vị đó theo lời dạy mà suy tư, và suy tư là tuệ tư. 

Tuệ tu do vị hành giả đó chứng ngộ chứ không phải Đức Phật làm thế cho, trong vấn đề tuệ tu là tuệ liễu tri gọi là  tuệ đắc chứng hay là tuệ đạt tri, hay là tuệ trừ phiền não, tự vị đó có tuệ sanh lên để trừ phiền não, chứng đắc đường tầng thánh.

Còn thánh quả đó không phải là Đạo Sư Ngài làm thế cho mình, mà chỉ có Ngài khéo thuyết giảng và đệ tử gọi là khéo nghe, khéo thọ trì, khéo suy tư và cuối cùng gọi là khéo đắc chứng.  Có nghỉa là chứng đắc được tầng thánh, tuệ đó gọi là tuệ tu, chứ không phải là tuệ văn. 

Tuệ văn là do nghe, và từ cái nghe đó, vị đó có được thẩm sát suy tư, do thẩm sát trí tư đó có mà phát sanh lên, thì như vậy tuệ tu là tuệ chứng đắt bậc thánh đạo là tuệ trừ phiền não, tuệ đoạn tận những tham ái kết sử, chính hành giả đó hay người đệ tử phải tự mình chứng đắc được tầng thánh đạo quả,

Bởi vậy Đức Phật nói tuệ đó là tuệ vượt ngoài thời gian, vượt ngoài không gian, và vượt ngoài nghiệp lực, có nghĩa là nghiệp luân hồi, quả luân hồi thì có nghĩa vị đó chứng đắc tầng thánh.  Tuệ đó nó vượt ngoài thời gian, không gian và nghiệp lực là như vậy.

Lời bổ túc của TT Giác Đẳng: xin cảm ơn Sư Pháp Đăng, nếu mà quí vị nào theo dõi thật kỹ câu trả lời của Sư Pháp Đăng, thì quí vị sẽ phảI thốt lên lời tán thán rằng Sư Pháp Đăng đã dùng một pháp hết sức rõ ràng để trả lời.  Trong câu trả lời của Sư Pháp Đăng thì Sư đã rõ ràng phân biệt có ba trí : trí văn, trí tư và trí tu.

Trí do nghe, trí do suy tư và trí do tu tập, thì bất cứ cái gì mình học từ người khác thì nó chỉ đến từ trí văn mà thôi, và trí tu là phải do tự mình nỗ lực và điểm này đã trả lời cho chúng ta rất  rõ ràng câu hỏi mà chúng tôi vừa hỏi khi nãy

Friday, July 5, 2013

Tại sao có người sanh ra đời nhớ được kiếp trước có người không nhớ được kiếp trước?

Hỏi : Tại sao có người sanh ra đời nhớ được kiếp trước có người không nhớ được kiếp trước?

. (Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên )

TT Giác Đẳng trả lời: Chúng ta nghe câu chuyện của nàng Patipùjikà, một người sanh ra nhớ kiếp trước mình là một vị Chư Thiên, thì thưa qúi vị, ngày hôm nay cũng có rất nhiều tài liệu cho chúng ta biết rằng có một số người nhớ được kiếp quá khứ. Chúng tôi có gặp một người họ nhớ rất nhiều về kiếp quá khứ ngày xưa đã là một vị tăng sĩ như thế nào và họ đã làm gì và ngày hôm nay thì họ vẫn còn nhớ rất nhiều kinh điển mặc dầu còn rất nhỏ tuổi. Nhưng nói chung đó là con số này rất hiếm trong cõi nhân loại này, không phải ai cũng nhớ kiếp trước hết. Thường thường những người sanh ra là hạng hoá sanh như Chư Thiên thì nhớ rất là rõ, còn những chúng sanh trải qua thời kỳ như ở trong trứng hay thai bào hay trong ẩm thấp thì nhớ rất ít, nhưng cũng có những biệt lệ tại vì do nghiệp đưa đẩy.

Nói về điểm này chúng tôi cũng đặc biệt lưu ý tất cả qúi vị rằng ở trong các quốc gia Phật Giáo và các truyền thống Phật Giáo gọi là Kim Cang Thừa hay Mật Tông rất thịnh hành ở Tây Tạng, Mông Cổ, Su....Kim..... như Phutăng... thì ở tại các quốc gia này việc tái sanh là một cái gì rất đặc biệt trong quan niệm về giáo lý người Phật tử, những người Phật tử ở đây họ luôn luôn nghĩ về kiếp trước và kiếp sau, và bởi vì sự tái sanh là nền tảng để cho họ tin vào lý nhân quả nghiệp báo, bởi vì tin vào lý nhân quả nghiệp báo do đó họ tin vào Tam Bảo rất thuần thành. Dĩ nhiên là tại tất cả các trường hợp các vị LạtMa chết tuy được trở thành những vị tuku .... tức là hậu thân của kiếp trước nhưng có một số đã cho thấy rằng các vị nhớ lại kiếp trước và bởi vì niềm tin vào tái sanh rất mạnh nên người Tây Tạng họ có một số niềm tin về nhân quả nghiệp báo, trong khi các quốc gia Phật giáo khác người Phật tử không có niềm tin mạnh như họ.

Và cũng là một điều thú vị nữa là bởi vì niềm tin của sự tái sanh rất mạnh ở trong truyền thống Phật Giáo Mật Tông do đó giáo lý về Thập Nhị Duyên Khởi (Thập Nhị Nhân Duyên) cũng là một giáo lý rất nổi bậc ở trong truyền thống của Mật Tông. Mặc dầu chúng ta biết rằng có một số quan niệm của Phật Giáo Đại Thừa thì cho rằng Tứ Đế là giáo lý của hàng Thanh Văn, và Thập Nhị Nhân Duyên là giáo lý của hàng Duyên Giác tức là Độc Giác Phật. Và như vậy đã có một số truyền thống Phật Giáo Đại Thừa xem nhẹ giáo lý Thập Nhị Nhân Duyên, bởi vì giáo lý Thập Nhị Nhân Duyên không phải là con đường của các vị Bồ Tát mà đó là con đường của các vị Duyên Giác. Tuy nhiên Phật Giáo Kim Cang Thừa thì tự nhận mình là một phần của Đại Thừa mà còn cao hơn cả Đại Thừa nữa. Nhưng giáo lý Thập Nhị Nhân Duyên thì trở lên có một địa vị rất đặc biệt. Qúi vị nhìn những bức tranh về Duyên Khởi (Thập Nhị Nhân Duyên) của Tây Tạng thì qúi vị sẽ thấy rằng họ đầu tư rất nhiều tâm trí và nghệ thuật, sự cảm nhận nghệ thuật vào đó.

Và đối với Phật Giáo Mật Tông thì người Phật tử Tây Tạng chính vì sự quan niệm về kiếp trước kiếp sau về sự tái sanh mà họ rất tin vào lý nhân quả, và vì họ có niềm tin hết sức mạnh mẽ vào lý nhân quả do đó niềm tin Phật Pháp của họ phải nói là đặc biệt. Chúng tôi có thể nói rằng chúng tôi ở gần những người Phật tử Tây Tạng chúng tôi thấy rằng niềm tin của họ đối với nghiệp quả và đối với Tam Bảo hoàn toàn khác với những quốc gia Phật Giáo khác.

Do vậy ở trong trường hợp này là chúng ta nói đến trường hợp một người sanh ra đời mà đã nhớ lại kiếp trước của mình thì thưa qúi vị chính vì như vậy niềm tin vào nhân quả gần như là bất thối.

Tại Việt Nam chúng tôi nhớ ngày xưa khi chúng tôi còn ở bên nhà thỉnh thoảng có nói chuyện với một vị cao tăng của Việt Nam lúc đó là Hòa Thượng Ẩn Lâm, HT cũng có nói rằng nếu sanh ra kiếp sau mà mình nhớ được kiếp trước mình là ai, làm việc gì, mình khỏi cần chứng thiền chứng đạo chứng quả thì mình cũng có thể độ cho người khác được. Ý HT muốn nói rằng nếu có một ai trong chúng ta mà nhớ được kiếp trước một cách rõ ràng thì chúng ta có thể chứng minh được là có kiếp trước có kiếp sau và có lý nhân quả và như vậy đó số người qui ngưỡng Phật Pháp sẽ nhiều hơn./.

Thursday, July 4, 2013

Phải chăng chỉ có giận dữ mới là trạng thái sân ?

Hỏi :  Phải chăng chỉ có giận dữ mới là trạng thái sân ?

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu giảng :  Như chúng ta được biết phẫn nộ giận dữ dĩ nhiên đó là tâm sân, và sự phẫn nộ hay giận dữ đó chúng ta gọi cái từ là Kodha, được đề cập đến ở đây như là do tâm sân. Vậy thì ở đây có một câu hỏi mà chúng ta cần phải bàn luận thêm nữa, không phải chúng ta bàn luận ngoài các câu Pháp Cú trong phẩm kodhavagga mà thôi, chúng ta nói đến cái trạng thái sân thì chúng ta phải hiểu một cách rộng rãi bao trùm cả  sự giận dữ hay là phẫn nộ. Trong trường hợp này nếu nói theo A-tỳ-dàm thì trạng thái sân chỉ là một trạng thái sơ khởi của một trạng thái tâm.

          Cũng như khi đối diện trước cảnh nghịch lòng trái ý thì đưa đến tình trạng giận dữ hay phẫn nộ. Khi  chúng ta nói rằng phẫn nộ hay giận dữ là trạng thái sân chăng ? thì chúng ta trả lời rằng; đúng giận dữ là  một trạng thái sân, nhưng bây giờ chúng ta hỏi ngược lại vậy thì trạng thái sân là giận dữ phải chăng ?. Ở đây, trong vấn đề này chúng ta cần phải phân tách vì theo trong Vi Diệu Pháp A-tỳ-dàm thì nó bao gồm cả trạng thái sân nội phần và sân đối với cảnh ngoại phần.

          Sân cảnh nội phần là trường hợp trục trặc tâm lý thí dụ do bất toại nguyện hoặc là do chúng ta có nỗi đau nào đó chẳng hạn như là bị nhức đầu, bị đau răng, bị đau bụng bị chóng mặt v.v.. thì trong những trường hợp như vậy nếu chúng ta khéo tu tập, hay là đối với bậc thánh khi Ngài gặp cảm thọ khổ này thì thân thọ khổ nhưng tâm không có thọ ưu, còn khi kẻ phàm phu của chúng ta tác ý thì trong trường hợp này hễ mà thân thọ khổ thì tâm thọ ưu.  tâm thọ ưu lúc bấy giờ là trạng thái tâm bực bội khó chịu không an vui, không an lạc thì trong trường hợp đó trong A-tỳ-đàm gọi đây là trạng thái tâm sân. Chúng ta cũng nên minh định lại ý nghĩa tâm sân , bởi vì thường thường thì chúng ta dùng danh từ tâm sân hay hiểu trong một ý nghĩa như phẫn nộ, giận dữ , chứ chúng ta không nghĩ rằng lúc chúng ta đau răng, nhức đầu, hay bực bội trong người chúng ta phản khán liền, tức là mình không chấp nhận chỉ là trạng thái khó chịu do bị đau thôi chứ đâu có giận dữ ai đâu, đâu có oán thù ai đâu.

        Thì ở đây chúng ta cần phải xác định lại cái ý nghĩa này," chữ nghĩa bất định nghĩa, Phật pháp bất định pháp". Từ ngữ đó khi mà chúng ta sử dụng thì chúng ta sự dụng câu này tùy trường hợp mà chúng ta sử dụng bởi vì đây là một cái từ tục đế do đó cho nên chúng ta cũng khó xác định  được ý nghĩa, nhất là những danh từ tiếng Việt của chúng ta về những từ đại loại là như vậy, và danh từ thuộc về Phật học thì danh từ đó có một số từ chúng ta lại thấy nó có khác đi  với cách dùng ngữ nghĩa của thế gian.

 Do vậy, ở đây chúng tôi xin xác định rằng nếu chúng ta sử dụng với cái từ thuộc về Phật học chuyên môn , hay A-tỳ-đàm thì chúng ta phải nên biết rằng bất cứ một trạng thái tâm nào thọ ưu, buồn bực bất mãn, bất hỷ đối với cảnh thì như vậy đều là tâm sân cả, là dosakita cả , tuy nhiên từ dosakita đó nếu như tâm sân này mà bắt lấy cảnh làm một đối tượng bên ngoài, và cái đối tượng đó mình có sự oan trái thì lúc bấy giờ sự phẫn nộ, sự giận dữ mới sanh khởi thì trường hợp này, chúng ta nên hiểu rằng trạng thái giận dữ là một trạng thái sân, và ngược lại khi người ta hỏi rằng trạng thái sân là sự giận dữ phải chăng, thì điều đó chúng ta cần phải phân tách ra như thế đó và ở đây chúng tôi xin được trình bày như thế. 

Wednesday, July 3, 2013

Quy y thầm lặng trong tâm có được gọi là quy y không?

Hỏi:  Nếu một người chưa bao giờ qui y Tam Bảo bằng lời mà họ chỉ qui hướng về Tam Bảo bằng tấm ḷòng  và họ chưa bao giờ đối diện với Chư Tăng để đọc câu: "Con xin quy y Phật, con xin quy y Pháp, con xin quy y Tăng " nhưng mà họ rất hoan hỷ , họ rất tin tưởng vào Pháp. Vậy sự quy y mà mang tánh cách thầm lặng   ở tâm họ, có được gọi là quy y Tam Bảo không?

(Câu hỏi trong lớp Diệu Pháp, Minh Hạnh chuyển biên)

TT Tuệ Siêu trả lời : Một câu hỏi về vấn đề có liên quan đến việc thành tựu tam qui.  Ở đây chúng tôi xin được phép trình bày theo chỗ của chúng tôi biết.

        Chúng tôi xin được phép trình bày chỗ mà chúng tôi biết theo kinh điển Tạng Luật thì sự quy y ở đây có bốn cách:

1.)  Một người mà tuyên bố qui ngưỡng Ðức Phật, Giáo Pháp và Chư Tăng thì người đó gọi là thành tựu tam qui, đây là một cách.

 2.) Một người mặc dầu họ không tuyên bố là qui ngưỡng , quy y Phật, quy y Pháp , quy y Tăng, nhưng mà người này bái Ðức Phật là Thầy, bái giáo Pháp là Thầy ,bái Tăng chúng làm Thầy hướng đạo tinh thần thì như vậy cũng là một cách quy y.

  3.) Một người xưng mình, tự hạ mình là học trò của Ðức Phật, học trò của Giáo Pháp, học trò của Tăng chúng từ nay đến trọn đời thì như vậy đó cũng là một cách quy y.

  4) Và một người tuyên bố rằng từ nay trở đi bất luận nơi nào con đi đến con đều tán thán Phật , tán thán Pháp , tán thán Tăng chúng thì trong kinh chú giải ghi nhận rằng đó cũng là  hình thức quy y.

         Như vậy trong bốn cách quy y đó cách nào cũng được chỉ do niềm tin và do sự quyết định của nội tâm mà thôi, nếu như một người đã có niềm tin nhưng họ không có cơ hội để họ thốt lên lời và họ chỉ âm thầm lặng lẽ hướng tâm và quyết định dứt khoát về tư tưởng quy y Ðức Phật, Giáo Pháp, Tăng chúng thì như vậy cũng được coi như là đã thành tựu tam quy.

          Có một vị du sĩ được nghe đến những hạnh đức của bậc Ðạo Sư Ðức Thế Tôn Gotama , vị du sĩ này liền phát tâm tín thành và tự nguyện là một đệ tử của Ðức Phật, và đang trên đường đi đến yết kiến Ðức Phật thì vị du sĩ này ghé qua nhà ngừơi thợ làm đồ gốm, vì trời tối cho nên vị du sĩ ấy xin nghĩ tạm một đêm và lúc bấy giờ Ðức Thế Tôn Ngài nhận thấy duyên lành của vị du sĩ này ngày hôm nay sẽ chứng quả A La Hàm và sẽ mệnh chung trong nay mai, Đức Thế Tôn đã đi đến đó Ngài cũng xin cư ngụ tại nhà người thợ gốm một đêm, người thợ gốm để Đức Thế Tôn vào ngụ chung với vị du sĩ này, vị du sĩ  chỉ chào hỏi Đức Thế Tôn cột cách thân hữu như là một đồng đạo với nhau chứ không có sự cung kính như là một đệ tử đối với bậc Đạo Sư bởi vì vị du sĩ này chưa từng thấy mặt Đức Thế Tôn. Đến khuya du sĩ chợt tỉnh thức thấy bên góc nhà bên kia Đức Thế Tôn đang ngồi thiền định với hào quang sáng chói và có nhiều ánh sáng của các vị Chư Thiên xuống viếng thăm và thính pháp bên Đức Phật, sáng hôm sau vị du sĩ đến hạch hỏi Samon  Ngài là ai, và ai là bậc Đạo Sư của Ngài, đêm hôm qua Ngài có hào quang sáng chói và những hào quang kia là của ai vậy, thì Đức Thế Tôn đã giải thích cho nghe và sau đó Đức thế Tôn hỏi rằng : "này Butsati , chẳng hay ai là Thầy của ngươi". Butsati mới trả lời rằng "Thưa samôn Đức Thế Tôn Gotama là Đạo Sư của tôi". Đức Thế Tôn mới hỏi rằng: "Vậy ngươi có từng gặp vị ấy chưa" thì vi du sĩ trả lời rằng chưa bao giờ gặp mặt và đang trên đường đi tìm đến yết kiến Ngài, lúc bấy giờ Đức Thế Tôn Ngài bảo rằng " này Butsati hãy đến đây Như Lai sẽ thuyết pháp cho ngươi" rồi vị du sĩ đến gần Đức Phật, sau khi nghe một thời pháp vị du sĩ mới chợt hiểu rằng đây là bậc Đạo Sư người mà mình đã quy ngữơng từ bấy lâu nay , đã quy y từ bấy lâu nay. vị ấy đảnh lễ Đức Phật và xin xuất gia.

            Chúng tôi xin dừng lại ở đây để chúng ta có thể hiểu rằng một người quy y Tam Bảo không nhất thiết phải là đối diện với Tăng chúng và phát nguyện thành lời là con xin quy y Phật, con xin quy y Pháp, con xin quy y Tăng .  Bây giờ trong những kinh nhật tụng chúng ta có những lời kinh đó để cho thống nhất nghi lễ trong hàng tại gia cư sĩ , nhưng nếu nói đến việc quy y Tam Bảo và thành tựu tam quy nhất là đem đến lợi ích cho sự tu tập thì sự quy y phải bằng đức tin và trí tuệ với  sự quyết tâm như vậy là đủ rồi. Chúng tôi xin chấm dứt câu trả lời ở đây. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Monday, July 1, 2013

Sự cung kính có đánh mất đi sự thân thiện và cởi mở hay không?

Hỏi: Sự cung kính có đánh mất đi sự thân thiện và cởi mở hay không? 

(Thảo luận trong lớp Phật Pháp Buđdhadhamma, ngày 7-5-2013 Thiên Ân chuyển biên)

TT Pháp Tân giảng: Trong một gia đình, người con tôn kính, kính trọng cha mẹ là điều tất nhiên, không vì sự tôn kính mà tạo nên sự khác biệt, xa lánh, bởi một người con có kính trọng cha mẹ mới có thể vâng lời. Trong bạn bè ngang hàng ngang lứa với nhau cũng cần tôn trọng lẫn nhau; tôi nói anh nghe, anh nói tôi nghe, thì như vậy mới trở nên gắn bó, khắng khít được. Còn ở trong gia đình, con biết tôn kính cha mẹ. Chữ “tôn kính” ở đây chúng tôi hiểu rằng đó chính là sự gắn bó lâu dài. Bởi bên ngoài người ta có câu là “Cá mè một lứa” tạo nên sự đấu khẩu, hoặc tranh cãi, xung đột trong gia đình. 
Trong Phật Pháp, sự cung kính, đó là sự gắn kết. Bởi vì trong kinh, Đức Phật có nói đến hai sự tiếp đãi, một là tiếp đãi bằng phương tiện vật chất, hai là tiếp đãi bằng pháp, cho nên khi khách Tăng, hoặc một vị Tăng ở phương xa đến thì mình có cách tiếp đón, như trả nước, cơm nước, dâng thực phẩm hoặc lời nói thân thiện, hoặc cách tiếp đãi bằng phương tiện vật chất, tuy rằng thanh đạm nhưng nói lên tình gắn bó. Vị khách Tăng từ phương xa đến được tiếp đón như vậy cũng là sự gắn bó, bởi mình đặt tâm lý ngược lại, khi mình đi đến một nơi nào đó mà chỗ đó họ không tiếp đón mình thì mình cảm thấy ngại, không muốn đến. Cũng như vậy, mình tiếp đón khách Tăng, các vị Chư Tăng hay bạn đồng phạm hạnh bằng của cải vật chất, ở đây không phải cao lương mỹ vị hay những gì cao sang phú quý lắm, mà chỉ là những bữa cơm thanh đạm, hay sự tiếp đón thì sự tiếp đón đó bằng phương tiện vật chất cũng là sự gắn bó. Nhưng sự gắn bó nhất chính là tiếp đón bằng pháp. 
Nên trong Phật Pháp thường thấy rằng một vị nhỏ hạ, đảnh lễ hay tôn kính vị lớn hạ hơn, đó không phải khoảng cách mà là tạo nên sự gắn bó hơn, bởi một người lớn mà đến nhà không ai tiếp đãi, không ai chào hỏi mình, không tôn trọng mình; không phải tôn trọng hay cung kính để được cái gì nhưng chính văn hóa cung kính trong Phật giáo. Ví dụ như một vị Sa Di thấy một vị Tỳ kheo đến thì mình tiếp đón vị Tỳ kheo đến, rồi mình lấy nước cho vị Tỳ kheo rửa chân, dọn chỗ cho vị Tỳ kheo ngồi hoặc nằm nghỉ, khi rước bát vị Tỳ kheo đó vào rồi thì trải chỗ ngồi rồi quý xuống đảnh lễ, thì đó là sự cung kính, đó không phải là khoảng cách, mà là tạo nên sự gắn bó, bởi một vị Sa Di hay một vị Tỳ kheo nhỏ hạ hơn mà làm đúng pháp mình đối với vị cần cung kính, đáng cung kính, chính điều đó tạo nên thiện cảm, khiến vị lớn hạ hơn cảm thấy đối với vị nhỏ sự thiện cảm và thân thiện. 
Như vậy thì sự tôn kính ở đây, không làm mất đi sự thân thiện, khi mình hiểu với nhau phẩm hạnh của một vị Tỳ kheo, thì chính đó tạo nên sự gắn bó, ví dụ như bạn đồng phạm hạnh, đồng chung niềm tin, đồng chung giới hạnh, đồng chung tri kiến thì khi mình hiểu vấn đề đó thì mình tôn kính vị đó, và vị đó cũng tôn trọng vị nhỏ, thì như vậy đó không tạo nên khoảng cách giữa vị này và vị khác mà là sự gắn bó, bởi không có gì mà đối xử tốt với nhau bằng Pháp hết, mình sống đúng theo Pháp mà Đức Phật đã ban hành trong luật thì đó cũng là sự tiếp đãi bằng Pháp, là sợi dây kết tạo nên sự gắn bó thân thiện. Ví dụ như mình nói là những vị lâu ngày sống chung với nhau, không phải là mình e dè, rụt rè, mặc dù vị đó lớn hơn mình, nhưng không vì thế mà vị nhỏ e dè, rụt rẻ, đáng sợ mà chính trong việc sinh hoạt hằng ngày, nói năng, cư xử, vị nhỏ không thể nào mất pháp cung kính được. Chính nhờ pháp cung kính đó nên trong Chư Tăng với nhau có sự gắn bó, nếu không có cung kính thì mình không biết suy nghĩ rằng mình tin tưởng vào ai, mình nghi ngờ vị này, nghi ngờ vị kia, thì đó là khoảng cách, còn khi mình đã hiểu rằng vị này có phẩm hạnh, vị này có tri kiến, vị này có niềm tin chân chánh thì mình gần gũi vị đó mình sẽ học hỏi và trao đổi với nhau một cách rất rõ ràng, thân thiện. 
Ở trong Phật Pháp, xuất thân từ mỗi người một hoàn cảnh khác nhau, từ một gia đình, gia tộc khác nhau nhưng có chung với nhau là đồng chung trong Giáo Pháp này, cho nên chúng ta chỉ dựa trên Pháp và Luật, tức những điều mà chúng ta tiếp rước bằng Pháp, bằng những gì mình có được, đó là sự thân thiện. Cho nên ở đây theo chúng tôi nghĩ, điều mình tôn trọng, kính trọng một vị nào, một người nào không có nghĩa là có khoảng cách xa vời, mà chính sự tôn trọng, kính trọng đó là sợi dây gắn kết. Cũng như trong gia đình, cha mẹ, anh em, con cháu, trong Phật Pháp như sư thầy, huynh đệ hay những người đồng chung phạm hạnh có sự gắn kết với nhau, vì mình hiểu rõ sống theo Pháp để duy trì và có sự an lạc cho mình cũng như cho người khác. 
Qua câu hoi, ở đây đối với pháp cung kính thật sự ra chính là sợi dây gắn kết giữa mình và người khác, và không phải là cung kính là mất đi sự thân thiện cởi mở, đánh mất sự cung kính, tôn trọng thì đó là sự rạn nứt và xa vời, chứ không phải sự thân thiện, còn nếu mình có cung kính thì chính là sợi dây nối kết giữa mình và những người khác với nhau, đặc biệt là những chuyện tu Phật Pháp.